Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChủ Trương - Chính Sách

 
Chủ Trương - Chính Sách
 
Theo đề nghị của UBND tỉnh Long An, ngày 28 tháng 11 năm 2016, Bộ Công Thương vừa có văn bản về việc đồng ý thỏa thuận điều chỉnh Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Long An. 
 
Đến hết quí I/2002, bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị cơ bản được sắp xếp ổn định. Trong năm 2002 rà soát đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị để có kế hoạch sắp xếp, bố trí đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách được giao, cán bộ lãnh đạo chủ chốt đều được kiện toàn đầy đủ, có kế thừa và phát triển. 
 
Mục tiêu chung của Chương trình là xây dựng chiến lược cán bộ của hệ thống chính trị một cách toàn diện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh giai đoạn 2001-2005 và đến 2010. Trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các doanh nghiệp Nhà nước thật sự vững vàng về chính trị, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý. Đào tạo các nhà khoa học có trình độ cao trong một số lĩnh vực quan trọng. 
 
Chương trình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo (GQVL-XĐGN) giai đoạn 2001- 2005 và đến năm 2010 là một trong 4 chương trình trọng điểm của tỉnh được đề ra trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VII, với quan điểm: GQVL- XĐGN là sự nghiệp của toàn Đảng- toàn dân, của hệ thống chính trị.  
 
Nhằm khắc phục tình trạng đào tạo nguồn nhân lực không gắn với bố trí sử dụng; đào tạo, bố trí sử dụng sai địa chỉ; đào tạo không phục vụ đúng cam kết ..., còn diễn ra khá phổ biến hiện nay, gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, ngày 19/12/2006, UBND tỉnh ban hành Công văn số 6285/UBND-TH chỉ đạo chấn chỉnh công tác đào tạo cán bộ 
 
Vành đai xanh cách ly giữa các khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh và các khu, cụm công nghiệp và đô thị của Long An ven kênh Thầy Cai 
 
Định hướng quy hoạch dân cư nông thôn tại các khu vực mật độ dân cư cao tại Tân Trụ, Châu Thành, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hoà và một phần phía Nam các huyện Thủ Thừa và Bến Lức 
 
Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh cao hơn mức trung bình chung của cả nước, cao hơn mức trung bình của vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng thấp hơn so với trung bình của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hiện tại, tổng thu ngân sách của tỉnh đã vượt 1.000 tỷ đồng. 
 
Đến cuối năm 2006, khu công nghiệp (KCN) Đức Hòa 1-Hạnh Phúc đã lấp kín 100% diện tích cho thuê mặt bằng giai đoạn 1 gồm 70 ha với 40 doanh nghiệp trong và ngoài nước.  
 
Vùng kinh tế trọng điểm Long An bao gồm 9 huyện, thị phía Đông Nam tỉnh gồm: thị xã Tân An và huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Trụ, Châu Thành, Thủ Thừa, Đức Huệ, Thạnh Hóa. Ranh giới của vùng được xác định như sau :  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Điều chỉnh Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp Long An đến năm 2020Điều chỉnh Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp Long An đến năm 2020
Theo đề nghị của UBND tỉnh Long An, ngày 28 tháng 11 năm 2016, Bộ Công Thương vừa có văn bản về việc đồng ý thỏa thuận điều chỉnh Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Long An.

Theo đó, Bộ Công Thương đồng ý điều chỉnh Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đến năm 2020 tỉnh Long An, trong đó: Rút 04 cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Cần Giuộc và 01 cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Cần Đước ra khỏi Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Long An; đồng thời bổ sung mới 04 cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa và 01 cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Tân An vào Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đến năm 2020 của tỉnh Long An

          Bộ Công Thương yêu cầu trong quá trình thực hiện Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đến năm 2020, UBND tỉnh Long An chấp hành đúng quy định của pháp luật về đất đai, đồng thời, chỉ đạo các đơn vị có liên quan tổ chức triển khai công tác thành lập, quy hoạch xây dựng, đầu tư cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp theo quy định tại Quy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ.

          Danh mục cụ thể các cụm công nghiệp rút khỏi và bổ sung  Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đến năm 2020 của tỉnh Long An như sau:

          05 cụm công nghiệp rút khỏi Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Long An có tổng diện tích 533,4 ha bao gồm: Trên địa bàn huyện Cần Giuộc: (1) CCN Caric - Hồng Lĩnh (xã Phước Vĩnh Đông) diện tích 100 ha; (2) CCN Nam Hoa (xã Trường Bình) diện tích 280 ha; (3) CCN Tân Phú Thịnh (xã Trường Bình) diện tích 100 ha; (4) CCN Tân Kim diện tích 17,4 ha. Trên địa bàn huyện Cần Đước: CCN - tiểu thủ công nghiệp Bình Tây (xã Long Khê) diện tích 36 ha.

          04 cụm công nghiệp bổ sung vào Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Long An có tổng diện tích 295,16 ha bao gồm: Trên địa bàn huyện Đức Hòa: (1) CCN Thịnh Hưng (các xã Đức Hòa Thượng và Hòa Khánh Đông) diện tích 50 ha; (2) CCN Tân Mỹ (xã Tân Mỹ) diện tích 50 ha; (3) CCN tiểu thủ công nghiệp – vật liệu xây dựng Lộc Giang (xã Lộc Giang) diện tích 75 ha; (4) CCN Đức Hòa Hạ (xã Đức Hòa Hạ) diện tích 74,16 ha. Trên địa bàn thành phố Tân An: CCN Tú Phương (xã Lợi Bình Nhơn) diện tích 46 ha.

Thái Chuyên​

21/12/2016 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2016-12/image001.png2024873No
  
Đào tạo nguồn nhân lực: Các giải pháp thực hiện và kinh phí vận hànhĐào tạo nguồn nhân lực: Các giải pháp thực hiện và kinh phí vận hành
Đến hết quí I/2002, bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị cơ bản được sắp xếp ổn định. Trong năm 2002 rà soát đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị để có kế hoạch sắp xếp, bố trí đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách được giao, cán bộ lãnh đạo chủ chốt đều được kiện toàn đầy đủ, có kế thừa và phát triển.

I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
     1. Về tổ chức:
     Đến hết quí I/2002, bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị cơ bản được sắp xếp ổn định. Trong năm 2002 rà soát đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị để có kế hoạch sắp xếp, b​ố trí đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách được giao, cán bộ lãnh đạo chủ chốt đều được kiện toàn đầy đủ, có kế thừa và phát triển.
     2. Về qui hoạch và đào tạo:
     2.1. Công tác qui hoạch:
     Trong năm 2002 hoàn chỉnh công tác qui hoạch cán bộ trong hệ thống chính trị.
     - Tập trung qui hoạch cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở giai đoạn 2002- 2005 và giai đoạn 2006-2010. Đặc biệt là qui hoạch cấp Ủy, Ban Thường vụ các cấp nhiệm kỳ 2006-2010, chú trọng cán bộ nữ.
     - Qui hoạch đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có số lượng và chất lượng theo yêu cầu cơ cấu từng ngành. Đặc biệt chú trọng lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học (chủ yếu là công nghệ ứng dụng).
     - Chọn con em gia đình có truyền thống Cách mạng, có công với nước; những học sinh hiếu học, học giỏi có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt để qui hoạch cán bộ dự nguồn.
     2.2. Công tác đào tạo:
     Trên cơ sở qui hoạch, từng ngành, từng địa phương có kế hoạch cụ thể cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
     - Trước mắt đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ hiện có để đảm bảo theo tiêu chuẩn chức danh nhằm chuẩn hoá đội ngũ cán bộ. Nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học để nâng cao hiệu quả trong công việc và làm cơ sở cho học tập cao hơn.
     - Có kế hoạch đào tạo cán bộ chiến lược cho nhiệm kỳ 2006-2010 và giai đoạn tiếp theo. Chú trọng đào tạo cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý kinh doanh, cán bộ công nghệ thông tin, cán bộ sinh học, cán bộ ngành nông nghiệp.v.v...
     - Chú trọng đào tạo cán bộ có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ ở các ngành kinh tế- kỹ thuật, ở các đơn vị như Y tế, Giáo dục, Trường Chính trị, Trường Cao đẳng sư phạm, ngành Văn hoá- nghệ thuật.v.v...
     - Phương thức đào tạo: tập trung, tại chức, từ xa, thông qua công việc, thông qua luân chuyển, thông qua hội nghị, hội thảo, tham quan, tự đào tạo, liên kết. Đối với cán bộ trẻ, dự nguồn thì phải đào tạo chính qui, tập trung. Ngoài ra có kế hoạch cụ thể, chặt chẽ đưa cán bộ đi tham quan học tập kinh nghiệm và đào tạo nước ngoài.
      Chọn số con em của Long An có phẩn chất chính trị, đạo đức, năng lực học tập tốt đang học các Trường Đại học để đầu tư (có cam kết) đào tạo tiếp tục có trình độ sau Đại học sau về công tác tại tỉnh, đây cũng là nguồn cán bộ cho những năm về sau. Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Chính quyền chịu trách nhiệm phối hợp cùng các cơ quan liên quan có kế hoạch chọn nguồn, tuyển sinh và kế hoạch về kinh phí đưa đi đào tạo và quản lý cán bộ dự nguồn của tỉnh.
     2.3. Công tác dạy nghề:
     - Trong giai đoạn 2001-2005 qui hoạch đào tạo nghề theo hai hướng:
       Đào tạo nghề mũi nhọn: Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ lành nghề, đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, công nghệ trung bình, tiên tiến đáp ứng nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm trong, ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động.
       Đào tạo nghề diện rộng: Đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề để tăng cơ hội học nghề, từng bước phổ cập nghề, chuyển đổi nghề cho người lao động theo sự thay đổi công nghệ sản xuất.
     - Qui hoạch các ngành nghề dạy ở các Trung tâm và Trường dạy nghề. Đổi mới phương thức, chương trình, nội dung và phương pháp dạy nghề. Có kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên bổ sung cho các Trung tâm dịch vụ việc làm, Trường dạy nghề hiện có và Trung tâm dạy nghề Cần Giuộc, Trường dạy nghề Đồng Tháp Mười (Mộc Hoá) .v.v... để đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao phục vụ yêu cầu về lao động các vùng kinh tế trọng điểm trong và ngoài tỉnh gắn với giải quyết việc làm.
     - Tiếp tục liên kết với các Trường dạy nghề ngoài tỉnh để đào tạo lực lượng lao động có tay nghề bậc cao.
     - Sở Lao động-Thương binh và xã hội kết hợp cùng các cơ quan chức năng có kế hoạch cụ thể đào tạo ngành, nghề gắn với giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động.
     - Giai đoạn 2006-2010: Phát triển thêm các Trung tâm dạy nghề ở các huyện có qui mô dân số trên 100.000 người để đáp ứng nhu cầu dạy nghề diện rộng và phổ cập nghề.
     3. Qui hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống các trường đào tạo trong tỉnh:
 
     - Xây dựng mới Trường dạy nghề Đồng Tháp Mười (Mộc Hoá).
     - Xây dựng mới Trung tâm dạy nghề Cần Giuộc.
     - Xây dựng mới Trường Trung học Kinh tế-kỹ thuật của tỉnh ở Bến Lức.
     - Xây dựng mới Trường dạy nghề của tỉnh (di dời địa điểm mới).
     - Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho Trung tâm dịch vụ giải quyết việc làm Bến Lức, Đức Hòa. Từng bước nâng cấp Trung tâm dịch vụ việc làm Đức Hòa lên thành Trường dạy nghề Đức Hoà.
     - Xây dựng mới Trường nghiệp vụ Thể dục thể thao
     - Đầu tư nâng cấp Trường Trung học Y tế.
     - Xây dựng mới Trung tâm ngoại ngữ-tin học tỉnh.
     - Đầu tư củng cố, nâng chất Trường chuyên Lê Quí Đôn.
     - Xây dựng mới Trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh, đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp các Trung tâm giáo dục thường xuyên, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị.
     - Xây dựng hoàn chỉnh Trường Chính trị (giai đoạn 2).
     - Xây dựng mới Trường Đại học của tỉnh Long An trên cơ sở hợp tác với Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu mở được Trường Đại học tại tỉnh Long An thì hàng năm chúng ta có thể cử tuyển số lượng sinh viên của Long An học ở các ngành mà chúng ta còn thiếu như: Giao thông, Xây dựng, Thuỷ hải sản, Nông lâm nghiệp, Công nghệ thông tin.v.v...
     - Xây dựng Trường Trung học cơ sở cho những xã mà điều kiện học sinh đi lại học tập khó khăn (hiện còn 85 xã chưa có Trường Trung học cơ sở riêng).
     - Xây dựng nhà nội trú cho Trường Phổ thông trung học ở các huyện Đồng Tháp Mười. Đồng thời xây dựng khu ký túc xá cho sinh viên Long An học tại trường Đại học Cần Thơ để tạo điều kiện cho học sinh học tập thuận lợi.
     Sở Kế hoạch-Đầu tư cùng các cơ quan liên quan cân đối nguồn vốn để đầu tư xây dựng hệ thống các trường trong tỉnh, tập trung đầu tư cho vùng kinh tế trọng điểm, những vùng có yêu cầu bức xúc. Phấn đấu đến hết năm 2005, hệ thống trường lớp được đầu tư xây dựng cơ bản hoàn chỉnh. Từng bước qui định rõ chức năng, những ngành nghề mà từng trường đảm nhiệm, tránh sự chồng chéo, trùng lắp.
     4. Các chính sách đào tạo và phát huy nguồn nhân lực:
    
Hàng năm tỉnh đầu tư thoả đáng ngân sách cho chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực để chi cho:
     - Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ công chức của hệ thống chính trị.
     - Chi cho giáo dục-đào tạo (chi cho đào tạo).
     - Đào tạo nghề.
     - Đào tạo dự nguồn.
     - Chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài.
     Từng ngành, từng địa phương có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể, hàng năm được cơ quan chức năng thẩm định (Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Ban Tổ chức Chính quyền) và được UBND tỉnh duyệt, từ đó ngành Tài chánh mới phân bổ kinh phí đào tạo.
     Xác định cán bộ dự nguồn:
     - Lựa chọn con em nhân dân ở Long An là gia đình truyền thống Cách mạng, có công với nước, có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực học tập tốt, đã tốt nghiệp Phổ thông trung học để đào tạo cán bộ dự nguồn cho xã, phường, thị trấn và huyện, thị.
     - Lựa chọn số con em Long An có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực học tập tốt đang học ở các Trường Đại học đầu tư ngân sách cho các em học tập (có cam kết) để khi ra trường về phục vụ quê hương Long An.
     - Lựa chọn một số sinh viên ở Long An có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực học tập tốt và tốt nghiệp Đại học từ loại khá, giỏi trở lên (các ngành của tỉnh có yêu cầu) để đầu tư cho đào tạo sau Đại học sau này về bổ sung cho đội ngũ cán bộ khoa học đầu đàn của tỉnh.
     - Có chính sách khuyến khích, đầu tư cho cán bộ học tập trình độ cao, khi tốt nghiệp có phụ cấp ưu đãi hàng tháng. Có chánh sách đầu tư, đãi ngộ và khen thưởng những cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật có những công trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống mang lại hiệu quả thiết thực. Có chế độ, chánh sách phù hợp cho giáo viên Trường Chính trị và các Trường dạy nghề, cán bộ quản lý ngành giáo dục gốc là giáo viên. Có chính sách khuyến khích cán bộ khoa học kỹ thuật về cơ sở, nhất là kỹ sư nông nghiệp.
     - Có kế hoạch xây dựng nhà công vụ để bố trí chổ ở cho cán bộ, công chức ổn định, an tâm công tác.
     - Ban hành chế độ chính sách thu hút nhân tài, đặc biệt là thu hút những người làm công tác khoa học kỹ thuật có trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi ở các lĩnh vực, ngành, nghề mà Long An còn thiếu, trước hết là những người quê ở Long An, những người ngoài tỉnh có tâm huyết với Long An (kể cả những người ở nước ngoài), phục vụ theo yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và được một Hội đồng xem xét quyết định.
     - Có chủ trương hỗ trợ tiền ăn, ở (hoặc cho vay tín dụng) cho số sinh viên học giỏi có hoàn cảnh khó khăn (có cam kết) sau khi tốt nghiệp về phục vụ quê nhà.
     - Có chính sách khuyến khích các cơ sở dạy nghề, chính sách khuyến khích học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở, Phổ thông trung học học nghề, chính sách miễn, giảm học phí cho con em gia đình chính sách, bộ đội xuất ngũ, gia đình nghèo.

29/11/2014 10:00 SAĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2016-12/Bai-Dao-tao-nghe-Long-An.jpg15Chương trình đào tạo nguồn nhân lực32710No
  
Chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực của tỉnh Long An giai đoạn 2001-2005 và đến 2010.  Chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực của tỉnh Long An giai đoạn 2001-2005 và đến 2010. 
Mục tiêu chung của Chương trình là xây dựng chiến lược cán bộ của hệ thống chính trị một cách toàn diện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh giai đoạn 2001-2005 và đến 2010. Trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các doanh nghiệp Nhà nước thật sự vững vàng về chính trị, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý. Đào tạo các nhà khoa học có trình độ cao trong một số lĩnh vực quan trọng.

Đây là một trong 4 chương trình trọng điểm nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Long An lần thứ VII.
     Mục tiêu chung của Chương trình là xây dựng chiến lược cán bộ của hệ thống chính trị một cách toàn diện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh giai đoạn 2001-2005 và đến 2010. Trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các doanh nghiệp Nhà nước thật sự vững vàng về chính trị, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý. Đào tạo các nhà khoa học có trình độ cao trong một số lĩnh vực quan trọng. Tạo sự chuyển biến về trình độ tay nghề và cơ cấu lực lượng lao động của tỉnh phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
     Thời gian thực hiện chương trình từ năm 2001-2005 và đến 2010.
     Đối tượng:
     - Trong giai đoạn 2001-2005 ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị. Chú trọng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ khoa học xã hội- nhân văn tập trung ở một số ngành trọng điểm.
     - Đào tạo nghề cho lực lượng lao động, phục vụ vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, gắn với giải quyết việc làm. Sau 2005 mở rộng việc đào tạo nguồn nhân lực cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, chú trọng đào tạo cán bộ dự nguồn và nâng cao trình độ dân trí.
     - Đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo để tạo nền tảng cho việc đào tạo và phát huy nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2010.
     Nội dung gồm có:
     1. Chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực của tỉnh Long An giai đoạn 2001-2005 và đến 2010.
     Được UBND tỉnh ban hành chính thức theo Quyết định số 645/2002/QĐ-UB ngày 26/02/2003.
     2. Chế độ trợ cấp đối với cán bộ-công chức đi học, cán bộ-công chức được điều động tăng cường về công tác ở các xã và chính sách thu hút nhân tài. Là một trong các chính sách để triển khai thực hiện Chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực.
     Được UBND tỉnh ban hành theo Quyết định số 2751/2002/QĐ-UB ngày 23/8/2002, và sửa đổi bổ sung một số điểm theo Quyết định số 3740/2002/QĐ-UB ngày 28/10/2002./.

29/11/2014 10:00 SAĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2016-12/23b.jpg16Chương trình đào tạo nguồn nhân lực10871No
  
Kết quả thực hiện chương trình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2006-2010 Kết quả thực hiện chương trình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2006-2010
Chương trình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo (GQVL-XĐGN) giai đoạn 2001- 2005 và đến năm 2010 là một trong 4 chương trình trọng điểm của tỉnh được đề ra trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VII, với quan điểm: GQVL- XĐGN là sự nghiệp của toàn Đảng- toàn dân, của hệ thống chính trị.

Chương trình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo (GQVL-XĐGN) giai đoạn 2001- 2005 và đến năm 2010 là một trong 4 chương trình trọng điểm của tỉnh được đề ra trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VII, với quan điểm: GQVL- XĐGN là sự nghiệp của toàn Đảng- toàn dân, của hệ thống chính trị. Vì vậy, mọi hoạt động của chương trình phải được xã hội hóa, trước hết tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo là nhu cầu, là trách nhiệm của từng người nghèo, từng hộ gia đình nghèo, phải tự tạo việc làm, tự vươn lên để thoát khỏi đói nghèo, sau đó mới cần đến sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng. Huy động mọi nguồn lực cho việc thực hiện chương trình GQVL-XĐGN, trong đó phát huy nội lực là chủ yếu, đồng thời tranh thủ vận động sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
     Mục tiêu phấn đấu: Nâng cao mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi nhằm hỗ trợ cho người nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập để thoát khỏi cảnh đói nghèo, vươn lên hòa nhập cùng sự phát triển chung của tỉnh; giảm tối đa hộ nghèo một cách bền vững.
     Qua 4 năm (2001- 2004) tổ chức thực hiện đạt được kết quả như sau:
     - Bằng sự tác động của các chương trình phát triển kinh tế- xã hội và các chính sách khác, giải quyết việc làm cho 151.897 lao động; Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 5,43% xuống còn 4,9%; Nâng hệ số sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 76% lên 80% ; Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 15,53% lên 24% (176.630 lao động), trong đó đào tạo nghề là 17% (kế hoạch 23%- 171.891 người, trong đó đào tạo nghề 17% (127.050 người).
     - Hạ tỷ lệ tăng dân số còn 1,3%; Giảm hộ nghèo từ 9,8% xuống còn dưới 3,6% (kế hoạch dưới 6%)
     - Phổ cập trung học cơ sở cho 109 xã/188 xã phường thị trấn và 3/14 huyện- thị xã, (chỉ tiêu giao 80% xã, phường, thị trấn).
     - 70% hộ chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân tại địa phương; Không còn xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 15%.
     - 180/188 xã có đủ điểm trường học, trạm y tế, điện lưới đến trung tâm xã, chợ xã hoặc chợ liên xã; 90% số hộ dân sử dụng điện sinh hoạt; 77% hộ dân dùng nước sạch; 95% hộ có phương tiện nghe, nhìn.
     Ngoài ra, các ngành và các địa phương thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người nghèo như: Tín dụng cho hộ nghèo- hộ ngưỡng nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho 100% người nghèo; miễn, giảm học phí và các khoản đóng khác cho trẻ em nghèo; xây dựng nhà tình thương và sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo,... chính sách cứu tế, cứu trợ xã hội cho người khuyết tật, người già cô đơn và trẻ mồ côi, nạn nhân chất độc da cam,...
     Do vậy, tỉnh cơ bản hoàn thành Chương trình GQVL- XĐGN giai đoạn 2001- 2005 về trước kế hoạch 1 năm.
     Năm 2005, UBND tỉnh Long An ban hành tiêu chí hộ nghèo với mức Bình quân thu nhập đầu người:
     - Ở thành thị từ 250.000đ/người/tháng trở xuống.
     - Ở nông thôn từ 200.000đ/người/tháng trở xuống.
     Theo tiêu chí này, toàn tỉnh có 39.943 hộ nghèo- chiếm tỷ lệ 12,37%, có 77 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 15%- 30% và xã Bình Hòa Hưng- Đức Huệ có tỷ lệ hộ nghèo 50%.
     Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010:
     - GQVL cho 150.000 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 2.500 người.
     - Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống còn 4%.
     - Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 85%.
     - Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 35%, (đào tạo nghề dài hạn 27%).
     - Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lao động kỹ thuật; Tăng tỷ trọng lao động lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại- dịch vụ; giảm tỷ trọng lao động khu vực nông- lâm- ngư nghiệp. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng lao động khu vực nông- lâm- ngư nghiệp 42%, công nghiệp- xây dựng 31%, thương mại- dịch vụ 27%.
     - Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 12,37% năm 2005 xuống còn dưới 5% năm 2010, bình quân mỗi năm giảm 3.500 hộ nghèo; không còn hộ chính sách thuộc diện hoä nghèo; không còn xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 15%.
     - 100% xã có đủ điểm trường học, trạm y tế, điện lưới đến trung tâm xã, chợ xã hoặc chợ liên xã.
     - 100% số hộ dân sử dụng điện sinh hoạt.
     - 90% hộ dân dùng nước sạch.
     - 100% hộ có phương tiện nghe, nhìn.
     - 100% xã có đường ô tô tới trung tâm xã.

29/11/2014 10:00 SAĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2016-12/giảm nghèo.jpg17Chương trình đào tạo nguồn nhân lực30997No
  
Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh (giai đoạn 1996 - 2000)  Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh (giai đoạn 1996 - 2000) 
Long An là tỉnh có nguồn lao động dồi dào, đa số người lao động có tinh thần chịu khó, cần cù, sáng tạo trong lao động và tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ sản xuất. Trình độ học vấn người dân (trong độ tuổi đi học) từ tiểu học trở lên chiếm 90,1%, (số liệu Cục Thống kê năm 1999), người lao động trong độ tuổi từ 15-34 tuổi chiếm tỷ lệ 61,13% (504.505 người) trong tổng số lực lượng lao động.

Long An là tỉnh có nguồn lao động dồi dào, đa số người lao động có tinh thần chịu khó, cần cù, sáng tạo trong lao động và tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ sản xuất. Trình độ học vấn người dân (trong độ tuổi đi học) từ tiểu học trở lên chiếm 90,1%, (số liệu Cục Thống kê năm 1999), người lao động trong độ tuổi từ 15-34 tuổi chiếm tỷ lệ 61,13% (504.505 người) trong tổng số lực lượng lao động. Nguồn lao động bổ sung hàng năm là 4,5% (khoảng 30.000 người). Đây là tiềm năng, cơ hội về nguồn nhân lực và cũng là thách thức rất lớn về đào tạo và giải quyết việc làm.

Về công tác đào tạo và dạy nghề đã có những bước phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo giai đoạn 1996-2000 mỗi năm tăng bình quân 1% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng bình quân 0,8%. Số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ từ Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ chiếm tỷ lệ 1,56% trong lực lượng lao động (trong đó nữ chiếm 0,75%, Thạc sĩ chiếm tỷ lệ 0,007%, cán bộ khoa học kỹ thuật trẻ dưới 40 tuổi chiếm 62,5%). Số cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành Giáo dục chiếm tỷ lệ 45,2%. Về đội ngũ Bác sĩ và chuyên môn có trình độ Đại học trở lên chiếm tỷ lệ 4,7%, có 43,3% xã-phường-thị trấn có bác sĩ. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhằm tiêu chuẩn hoá từng chức danh. Từ năm 1996-2000 đã đào tạo, bồi dưỡng 20.114 lượt cán bộ (trong đó đào tạo 4.004 lượt cán bộ). Qua đào tạo, bồi dưỡng trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, cán bộ khoa học kỹ thuật được nâng lên đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong những năm qua.

Mạng lưới trường lớp ngày càng tăng về số lượng ở các cấp học, được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập (có cả Trường dạy nghề). Trình độ đội ngũ giáo viên từng bước được chuẩn hoá. Từ đó đã góp phần tích cực vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo của tỉnh trong thời gian qua.

Nhìn chung, nguồn nhân lực của tỉnh có những bước phát triển so với những năm trước đây. Tuy nhiên, nguồn nhân lực so với yêu cầu vẫn còn hạn chế và bất cập đó là :

 - Về trình độ kiến thức, năng lực đội ngũ cán bộ tuy có nâng lên, nhưng chưa đồng bộ giữa kiến thức lý luận chính trị và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, và chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành. Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng kịp yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ mới. Phần đông cán bộ yếu về ngoại ngữ, tin học, kiến thức quản lý kinh tế. Một bộ phận cán bộ chưa thật sự vươn lên, chưa nhiệt tình trong công việc, thiếu rèn luyện về phẩm chất đạo đức. Đội ngũ cán bộ vẫn ở trong tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, thiếu cán bộ kế cận, cán bộ dự nguồn, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, đầu đàn, cán bộ quản lý kinh doanh (cán bộ khoa học kỹ thuật ở các ngành Nông-lâm-thủy sản chỉ chiếm 4,1%; Xây dựng 2%; Vận tải 0,49% trong tổng số cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh v.v...). Riêng giáo viên Trung học cơ sở thiếu 653 người, giáo viên Phổ thông trung học thiếu 645 người. Số cán bộ được đào tạo cơ bản chính quy còn ít, phần lớn vừa học vừa làm, chủ yếu qua các lớp tại chức, đào tạo từ xa, ngắn ngày nên chất lượng không cao.

Trình độ dân trí của tỉnh có nâng lên nhưng vẫn còn ở mức thấp, trình độ học vấn Phổ thông trung học chỉ chiếm 18,4%, người trong độ tuổi chưa đi học chiếm 8,4% (số liệu Cục Thống kê năm 1999), đại bộ phận xã-phường-thị trấn chưa đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở. Tỷ lệ lao động được qua đào tạo còn ít (năm 2000 chỉ chiếm 14,13%), lao động được đào tạo giữa Cao đẳng, Đại học, Trung học, công nhân kỹ thuật chưa hợp lý, thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật (tỷ lệ 1-1,2-0,8). Lực lượng lao động ở nông thôn chủ yếu là lao động phổ thông (83,69%), lao động chưa qua đào tạo (541.650 người). Tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm những năm qua dao động ở mức 5,30% so với tổng số lao động trong độ tuổi.

Hệ thống cơ sở dạy nghề còn ít, cơ sở vật chất còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu học nghề hiện nay. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Chưa có chính sách khuyến khích việc dạy nghề, học nghề. Chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy chậm đổi mới, không theo kịp công nghệ sản xuất, do đó chưa nâng cao được chất lượng trong công tác đào tạo nghề.

Việc quản lý, đào tạo không chặt chẽ, chất lượng đào tạo chưa cao, còn nặng về hợp thức hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ, chưa gắn với yêu cầu nhiệm vụ và quy hoạch. Việc bố trí, sử dụng chưa đúng ngành nghề đào tạo. Chính sách đối với cán bộ, nhất là chính sách đối với cán bộ khoa học kỹ thuật còn bất hợp lý, chưa động viên khuyến khích họ cống hiến nhiều hơn cũng như phấn đấu tự học tập để nâng cao trình độ.

Những hạn chế trên là do tỉnh chưa có một chiến lược cụ thể cho việc đào tạo và phát huy nguồn nhân lực, chưa có chính sách thu hút nhân tài, chưa có chiến lược nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Do đó chưa phát huy được nguồn nhân lực sẵn có và nguồn lực bên ngoài. Việc đào tạo còn phân tán, không đồng bộ trong cơ cấu, chưa chú trọng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, chưa có qui hoạch nguồn nhân lực nên trong đào tạo thường bị động, chấp vá.

29/11/2014 10:00 SAĐã hủy ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg18Chương trình đào tạo nguồn nhân lực244No
  
UBND tỉnh Long An chấn chỉnh công tác nguồn nhân lực UBND tỉnh Long An chấn chỉnh công tác nguồn nhân lực
Nhằm khắc phục tình trạng đào tạo nguồn nhân lực không gắn với bố trí sử dụng; đào tạo, bố trí sử dụng sai địa chỉ; đào tạo không phục vụ đúng cam kết ..., còn diễn ra khá phổ biến hiện nay, gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, ngày 19/12/2006, UBND tỉnh ban hành Công văn số 6285/UBND-TH chỉ đạo chấn chỉnh công tác đào tạo cán bộ

Nhằm khắc phục tình trạng đào tạo nguồn nhân lực không gắn với bố trí sử dụng; đào tạo, bố trí sử dụng sai địa chỉ; đào tạo không phục vụ đúng cam kết ..., còn diễn ra khá phổ biến hiện nay, gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, ngày 19/12/2006, UBND tỉnh ban hành Công văn số 6285/UBND-TH chỉ đạo chấn chỉnh công tác đào tạo cán bộ dự nguồn như sau:

1. Thủ trưởng các Sử ngành tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã chỉ đạo tiến hành rà soát và nắm chính xác số lương, đối tượng, ngành, thời gian, loại hình đào tạo, đơn vị cử đi đào tạo dự nguồn; số lượng cán bộ dự nguồn sau khi đào tạo không bố trí sử dụng; bố trí sử dụng không đúng địa chỉ, đào tạo không phục vụ đúng cam kết...; nêu rõ nguyên nhân tồn tại đối với công tác đào tạo nguồn tại cơ quan, đơn vị, ngành minh, cấp mình. Trên cơ sở đó, đề ra giải pháp chấn chỉnh khắc phục tình trang trên; đảm bảo đào tạo cán bộ dự nguồn phải có địa chỉ và bố trí sử dụng đúng địa chỉ sau khi đào tạo.

 

2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cần nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc chọn, cử, bố trí sử dụng cán bộ dự nguồn, đảm bảo đào tạo gắn với quy hoạch, kế hoạch và gắn với yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và cơ quan, đơn vị mình. Việc đào tạo không bố trí sử dụng, bố trí sử dụng sai địa chỉ, người có thẩm quyền cấp có thẩm quyền cử đi đào tạo phải chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ và của UBND tỉnh về công tác này. Đối tượng sau khi được đào tạo không phục vụ đúng cam kết phải bồi hoàn kinh phí và các chế độ được hỗ trợ trong quá trình đào tạo.

 

3. Giao Sở Nội vụ làm đầu mối phối hợp với Ban điều hành chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực của tỉnh thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra về quy trình lựa chọn, xét duyệt cử đi đào tạo dự nguồn; kiểm tra việc bố trí sử dụng khi đào tạo; đề xuất hướng giải quyết đối với đào tạo không bố trí sử dụng, bố trí sử dụng sai địa chỉ; hướng dẫn quy trình, thủ tục thu hồi kinh phí đào tạo và các chế độ hỗ trợ đào tạo đối với việc đào tạo không phục vụ đúng cam kết./.

 

Thanh Bùi

29/11/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg19Chương trình đào tạo nguồn nhân lực15362No
  
Định hướng quy hoạch các vành đai xanh  Định hướng quy hoạch các vành đai xanh 
Vành đai xanh cách ly giữa các khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh và các khu, cụm công nghiệp và đô thị của Long An ven kênh Thầy Cai

Các vành đai xanh dự kiến như sau:

-         Vành đai xanh cảnh quan:

·         Vành đai xanh ven sông Vàm Cỏ Đông

·         Vành đai xanh ven sông Vàm Cỏ Tây

·         Vành đai xanh trên các sông, rạch khác.

-         Vành đai cây xanh cách ly giữa các đô thị và khu công nghiệp
-         Vành đai xanh cách ly giữa các khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh và các khu, cụm công nghiệp và đô thị của Long An ven kênh Thầy Cai
-         Vành đai xanh giữa các khu công nghiệp Đức Hòa 1,2,3 với các đô thị Đức Hòa - Mỹ Hạnh Nam, Hậu Nghĩa - Đức Lập.
-         Vành đai xanh giữa khu cảng - công nghiệp Tân Tập và các đô thị mới Tân Tập, Phước Vĩnh Đông.
-        Vành đai cây xanh cho các khu công nghiệp Bến Lức .

 

 

 

 

28/11/2014 6:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2016-12/IMG_4197-0f7a1.jpg1430782No
  
Khu dân cư nông thônKhu dân cư nông thôn
Định hướng quy hoạch dân cư nông thôn tại các khu vực mật độ dân cư cao tại Tân Trụ, Châu Thành, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hoà và một phần phía Nam các huyện Thủ Thừa và Bến Lức

 -         Định hướng quy hoạch dân cư nông thôn tại các khu vực mật độ dân cư cao tại Tân Trụ, Châu Thành, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hoà và một phần phía Nam các huyện Thủ Thừa và Bến Lức.

-         Định hướng quy hoạch khu dân cư nông thôn tại vùng ngập lũ: Thạnh Hoá, Thủ Thừa, Đức Huệ.

-         Từng bước chuyển dần mô hình tuyến trên các kênh, rạch kéo dài, phân tán thành mô hình cụm, tuyến dân cư nhằm đảm bảo tốt hơn nhu cầu dịch vụ cho người dân.

-         Thu hút các hộ sống riêng lẻ trong đồng ruộng ra các cụm tuyến dân cư ổn định.

-         Các tuyến dân cư ổn định là các tuyến dọc theo sông rạch, kênh cấp 1 và 2. Các tuyến dân cư chính của huyện Thủ Thừa là tuyến dân cư kênh Bo Bo, tuyến ven sông Vàm Cỏ Tây v.v. . . Các tuyến dân cư chính của huyện Thạnh Hoá là các tuyến ven sông Vàm Cỏ Tây, tuyến cụm dọc quốc lộ 62, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ N1 v.v. . .  Các tuyến dân cư chính của huyện Đức Huệ là cụm, tuyến đường tỉnh 838, tuyến N1, tuyến kênh Trà Cú Thượng, tuyến Mỹ Quý Đông - Thủ Thừa v.v. . .

-        Xây dựng các trung tâm xã, ấp thành các khu vực tụ cư có quy mô từ 2000 - 3000 ngàn dân có đủ các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg12Chương trình vùng kinh tế trọng điểm22543No
  
Hiện trạng vùng kinh tế trọng điểm  Hiện trạng vùng kinh tế trọng điểm 
Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh cao hơn mức trung bình chung của cả nước, cao hơn mức trung bình của vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng thấp hơn so với trung bình của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hiện tại, tổng thu ngân sách của tỉnh đã vượt 1.000 tỷ đồng.

1/. Kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh cao hơn mức trung bình chung của cả nước, cao hơn mức trung bình của vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng thấp hơn so với trung bình của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hiện tại, tổng thu ngân sách của tỉnh đã vượt 1.000 tỷ đồng.

2/. Xã hội:

-         Dân số trong vùng năm 2003 là 1.148.991 người, chiếm 83,18% dân số toàn tỉnh.

-         Mật độ dân số khoảng 429 người/km2, tương đương với mật độ dân số trung bình của đồng bằng sông Cửu Long (nguồn nhân lực dồi dào). Đất thổ cư và nhà ở có tỷ lệ khá lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên.

-         Lực lượng lao động trong vùng hiện có khoảng 650 ngàn người.

 3/.Hệ thống giao thông:

Giao thông đường bộ:

-         Giao thông đối ngoại:

-         Quốc lộ: 1A, 50, 62, N1 và N2 (đã hình thành hướng tuyến và một số công trình trên tuyến).

-         Đường tỉnh: 821, 822, 823, 824, 825, 826, 827, 830, 832, 833, 834, 835, 836, 838, 839.

-         Giao thông nối vùng: Bao gồm các tuyến hương lộ nối từ các Quốc lộ, đường tỉnh vào các trung tâm thị xã, các tuyến, điểm, dân cư. Trong vùng kinh tế trọng điểm tỉnh Long An có một bến xe liên tỉnh tại thị xã Tân An, tại các huyện cũng có bến xe nhưng quy mô nhỏ hơn.

Giao thông đường thủy:

-         Trong vùng kinh tế trọng điểm tỉnh Long An có các sông chính sau: Sông Soài Rạp, Sông Vàm Cỏ, Sông vàm Cỏ Đông, Sông Vàm Cỏ Tây.

-         Ngoài các sông chính trên còn có các sông khác có thể sử dụng cho vận tải thủy như: Sông Chợ Đệm, Sông Bến Lức, sông Cần Giuộc . . .

2/.Cấp nước:

Cấp nước đô thị:

Hiện tại chỉ có một số đô thị trong vùng được cấp nước bằng trạm cấp nước có quy mô lớn, các thị tứ và khu dân cư nông thôn hiện sử dụng nước sạch từ nhiều nguồn khác nhau.

Cấp nước cho các cơ sở công nghiệp:

Hiện tại các cơ sở công nghiệp trên địa bàn đều sử dụng nguồn nước ngầm từ các giếng khoan đặt trong khuôn viên nhà máy.

Cấp nước cho dân cư nông thôn:

Nước sinh hoạt cho dân cư nông thôn chủ yếu là nước mặt bị nhiễm phèn, mặn và nước ngầm từ các giếng khoan của UNICEF. Hiện có khoảng 52% số dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch.

3/.Hệ thống điện:

Nguồn điện:

Khu vực vùng kinh tế trọng điểm tỉnh Long An được cấp điện chủ yếu từ lưới điện quốc gia qua trạm biến thế 500/220/110 KV Phú Lâm.

Lưới điện:

-         Tuyến điện 220 KV qua khu vực quy hoạch, gồm:

·         Tuyến 220 KV Phú Lâm - Cai Lậy số 1 dài 80 km.

·         Tuyến 220 KV Phú Lâm - Cai Lậy số 1 dài 66,63 km.

-         Tuyến điện 110 KV qua khu vực quy hoạch, gồm:

·         Tuyến 110 KV Phú Lâm - Bến Lức - Tân An - Mỹ Tho dài 57 km.

·         Đoạn 110 KV rẽ nhánh Chung Shing dài 0,7 km.

·         Tuyến 110 KV Nhà Bè - Cần Đước - Gò Công dài 47,7 km.

-         Các trạm biến thế 110 KV trên khu vực quy hoạch, gồm:

·         Trạm Bến Lức: đấu nối vào tuyến 110 KV Phú Lâm - Mỹ Tho, cấp điện cho hầu hết huyện Bến Lức, một phần các huyện Đức Hòa, Tân Trụ, Cần Đước.

·         Trạm Tân An: đấu nối vào tuyến 110 KV Phú Lâm - Mỹ Tho cấp điện cho thị xã Tân An, huyện Châu Thành, Thủ Thừa, một phần huyện Tân Trụ, Bến Lức.

·         Trạm Chung Shing: đấu nối vào tuyến 110 KV Phú Lâm - Mỹ Tho cấp điện chuyên dùng cho nhà máy Chung Shing.

·         Trạm Cần Đước đang xây dựng: đấu nối vào tuyến 110 KV Nhà Bè - Cần Đước-Gò Công sẽ cấp điện cho huyện Cần Đước, một phần huyện Cần Giuộc và nối lưới 220 KV về trạm 110 KV Bến Lức.

Hện nay, huyện Cần Giuộc nhận điện từ trạm 110 KV Phú Định thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Huyện Đức Hoà và huyện Đức Huệ nhận điện từ trạm 110 KV Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh.

-         Tuyến trung thế: có 2 cấp điện áp là 15 KV và 22 KV, các tuyến trung thế đều là đường dây trên không.

-         Trạm biến áp phân phối: phần lớn các trạm được lắp đặt trên trụ ngoài trời.

-         Tuyến hạ thế: là đường dây trên không có cấp điện áp 0,4 KV (3 pha) và 0,2 KV (1 pha).

Phụ tải điện:

-         Sản lượng điện thương phẩm của tỉnh Long An trong các năm như sau:

·         Năm 2000: 312.128.009 KWh.

·         Năm 2001: 339.380.662 KWh.

·         Năm 2002: 428.287.677 KWh.

·         Năm 2003: 494.766.794 KWh.

-         Mức tăng bình quân điện thương phẩm từ năm 2000-2003 là 16,6%.

-         Số xã có điện trên toàn tỉnh là 100%.

-         Bình quân tiêu thụ điện là 360 KWh/người/năm.

4/.Vệ sinh môi trường:

Chất thải rắn:

Việc xử lý chất thải rắn đang gặp nhiều khó khăn do chưa có bãi rác và khu xử lý rác thải tập trung.

Chất thải lỏng:

Hiện chưa có công trình xử lý chất thải lỏng trên địa bàn tỉnh Long An. Nước thải đô thị và nước thải từ các nhà máy đều thải trực tiếp ra sông rạch.

Vấn đề môi trường khác:

Hiện còn nhiều khu vực bị nhiễm phèn và nhiễm mặn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2016-12/6-14_48_44_793.jpg13Chương trình vùng kinh tế trọng điểm21262No
  
Đức Hòa tập trung phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểmĐức Hòa tập trung phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm
Đến cuối năm 2006, khu công nghiệp (KCN) Đức Hòa 1-Hạnh Phúc đã lấp kín 100% diện tích cho thuê mặt bằng giai đoạn 1 gồm 70 ha với 40 doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Trong đó có 30 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho 4.200 lao động, chủ yếu là lao động tại địa phương. Cũng như các KCN khác trên địa bàn huyện, KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc hoạt động theo hình thức thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và sau đó cho các doanh nghiệp thuê lại để xây dựng nhà xưởng và phát triển sản xuất.

  
 Trong xưởng sản xuất sơn nước ở KCN Đức Hòa I

            KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc là KCN hình thành đầu tiên trên địa bàn huyện Đức Hòa theo Quyết định số 1601 ngày 15-12-1999 của Bộ Xây dựng. KCN được quy hoạch tại xã Đức Hòa Đông với tổng diện tích 274 ha, ưu tiên phát triển ngành Công nghiệp nhẹ ít gây ô nhiễm môi trường như: Chế biến nông, thủy sản, sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng. Đến nay, KCN đã hoàn chỉnh giai đoạn 1 và đang triển khai 204 ha giai đoạn 2. Hiện tại, KCN đang khẩn trương thu hồi đất để trong năm 2007 sẽ xây dựng hạ tầng, chuẩn bị đón nhận đầu tư. Bởi khi Việt Nam gia nhập WTO thì khả năng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam sẽ gia tăng, nhất là những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Một đại diện của đơn vị chủ đầu tư, công ty liên doanh khai thác kinh doanh và xây dựng KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc cho biết, đầu tư tại địa bàn huyện Đức Hòa có nhiều lợi thế như: Vị trí địa lý tiếp giáp TP.HCM, giao thông thuận lợi, môi trường đầu tư thông thoáng, được hưởng những ưu đãi đầu tư theo luật định, được sự hỗ trợ thiết thực từ chính quyền địa phương như: Tư vấn pháp luật, hỗ trợ xin giấy phép giúp nhà đầu tư tiết kiệm được thời gian và chi phí, đặc biệt lực lượng lao động tại địa phương khá dồi dào.

            Với những thuận lợi ấy, từ nay đến năm 2010, huyện Đức Hòa sẽ tập trung hơn nữa huy động mọi nguồn lực để tăng tốc phát triển công nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm. Quan điểm của huyện sẽ chú trọng đầu tư phát triển toàn diện các lĩnh vực công nghiệp, thương mại - dịch vụ, dân cư - đô thị và nông nghiệp; trong đó, công nghiệp làm nền tảng. Ưu tiên thu hút đầu tư cho ngành Công nghiệp, thương mại - dịch vụ ở các khu, cụm công nghiệp đã quy hoạch, chú ý đến các ngành nghề nhiều lao động; đồng thời tạo thuận lợi để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ không gây ô nhiễm đan xen trong cụm tuyến dân cư. Chính vì thế, huyện đang ráo riết thực hiện việc rà soát bổ sung quy hoạch; tập trung cao cho công tác kê biên bồi thường giải tỏa; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KCN, đô thị; cũng như phát triển nông nghiệp để phục vụ vùng công nghiệp, đô thị và các chương trình phục vụ dân sinh.

            Đến thời điểm này, huyện Đức Hòa có 4 KCN bao gồm: KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc, KCN Đức Hòa II (Xuyên Á), KCN Đức Hòa III, KCN dân cư dịch vụ Tân Đức và nhiều cụm công nghiệp. Hầu hết các khu, cụm công nghiệp của huyện Đức Hòa đều tập trung ở vùng trọng điểm của huyện bao gồm 11 xã, thị trấn với tổng diện tích của vùng này khoảng 18.000 ha. Tuy hiện nay đang trong giai đoạn thu hồi đất, xây dựng hạ tầng nhưng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện đã có những đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế-xã hội tại địa bàn như: Đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, tham gia các chương trình từ thiện xã hội. Đặc biệt, KCN dân cư dịch vụ Tân Đức mặc dù là đơn vị  sinh sau đẻ muộn so với các KCN khác nhưng đơn vị này đã đầu tư xây dựng trường học, đóng góp về trang thiết bị cơ sở vật chất cho ngành Giáo dục huyện cũng như các nguồn quỹ khuyến học của địa phương với giá trị lên đến hàng tỉ đồng. Trong tương lai không xa cùng với sự phát triển không ngừng của các KCN sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển ngày càng rõ nét hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  

 

Theo Báo Long An

05/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/KTTD.jpg2Chương trình vùng kinh tế trọng điểm19027Yes
  
Vùng kinh tế trọng điểm Vùng kinh tế trọng điểm
    Vùng kinh tế trọng điểm Long An bao gồm 9 huyện, thị phía Đông Nam tỉnh gồm: thị xã Tân An và huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Trụ, Châu Thành, Thủ Thừa, Đức Huệ, Thạnh Hóa. Ranh giới của vùng được xác định như sau :

-         Phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng và huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh.

-         Phía Nam giáp các huyện thuộc tỉnh Tiền Giang.

-         Phía Đông giáp các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

-         Phía Tây giáp các huyện Thạnh Hóa, Mộc Hóa ( Long An ), và huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang.

    Tổng diện tích tự nhiên của vùng khoảng 2.679 km2, chiếm 59,66% diện tích tự nhiên của tỉnh Long An.

 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
05/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/VungKinhTe.jpg3Chương trình vùng kinh tế trọng điểm20942Yes
  
Mục tiêu quy hoạch xây dựng vùng kinh tế trọng điểm Long An đến năm 2020 Mục tiêu quy hoạch xây dựng vùng kinh tế trọng điểm Long An đến năm 2020
Mục tiêu tổng quát: Vùng này sẽ có quan hệ trực tiếp với các hoạt động kinh tế - xã hội với thành phố Hồ Chí Minh và là cầu nối của sự phát triển công nghiệp và dịch vụ từ thành phố Hồ Chí Minh tới toàn tỉnh nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Mục tiêu cụ thể:

-         Định hướng quan hệ phát triển không gian giữa thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm Long An.

-         Xác định tính chất và quy mô các khu công nghiệp, các đô thị và khu dân cư tập trung của vùng tới năm 2020.

-         Định hướng quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, cấp nước, cấp điện, thoát nước mưa, xử lý chất thải rắn .v.v... của vùng.Xác định các dự án ưu tiên tới năm 2010 nhằm tạo cơ sở cho vùng phát triển nhanh và bền vững

 

 

 
 
 
 
 
 
05/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg4Chương trình vùng kinh tế trọng điểm14775No
  
Các đô thị và công nghiệp Các đô thị và công nghiệp
        Bao gồm phần phía Nam của huyện Đức Hòa gồm 2 thị trấn Đức Hòa, Hậu Nghĩa và 6 xã Mỹ Hạnh Bắc, Mỹ Hạnh Nam, Đức Hòa Đông, Đức Hòa Hạ, Đức Hòa Thượng và Hựu Thạnh. Diện tích tự nhiên của khu vực này khoảng 14.000 ha. Dân số hiện nay khoảng 70.000 người.

1/. Các hành lang đô thị dự kiến phát triển:

1.1/. Định hướng phát triển không gian công nghiệp và đô thị Đức Hòa:

a/ Phạm vi ranh giới:
        Bao gồm phần phía Nam của huyện Đức Hòa gồm 2 thị trấn Đức Hòa, Hậu Nghĩa và 6 xã Mỹ Hạnh Bắc, Mỹ Hạnh Nam, Đức Hòa Đông, Đức Hòa Hạ, Đức Hòa Thượng và Hựu Thạnh. Diện tích tự nhiên của khu vực này khoảng 14.000 ha. Dân số hiện nay khoảng 70.000 người.

b/. Các chỉ tiêu kỹ thuật:

-         Quy mô phát triển khu công nghiệp: 2000 - 3000 ha (hiện đã quy hoạch 1100 ha gồm Đức Hòa 1 - 300 ha, Đức Hòa 2 - 400 ha, Tân Đức 400 ha).

-         Dân số đô thị khoảng 250.000 - 300.000 người nếu lấp đầy được 70% đất công nghiệp đã dự kiến tới năm 2020.

-        Đất đai xây dựng đô thị: 2000 - 2.500 ha.

Nhu cầu dùng nước khi lấp đầy 70% ha đất công nghiệp: 80.000 - 90.000 m3/ngày đêm, trong đó công nghiệp 55.000 - 60.000 m3/ngày/đêm, dân dụng từ 25.000 - 30.000 m3/ngày/đêm.

c/. Định hướng phát triển không gian công nghiệp và đô thị:

-        Các đô thị Đô thị Đức Hòa sẽ phát triển từ trung tâm thị trấn hiện nay theo các hướng sau đây:

·         Dọc Tỉnh lộ 825 về khu công nghiệp Đức Hoà 1 đi Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

·         Dọc Tỉnh lộ 824 về khu công nghiệp Đức Hòa 2 đi quận 12 thành phố Hồ Chí Minh lấy Mỹ Hạnh Nam làm trung tâm.

·         Dọc Tỉnh lộ 830 hướng ra sông Vàm Cỏ Đông gắn với khu đô thị Đức Hòa Hạ do công ty Tân Tạo làm chủ đầu tư.

·         Dọc theo Tỉnh lộ 830 hướng về phía Bắc và thị trấn Hậu Nghĩa.

-        Hành lang hình thành khu vực đô thị đa trung tâm tại Đức Hòa trong đó các trung tâm đô thị chính sẽ là Đức Hòa và Hậu Nghĩa sẽ là các đô thị loại 3 với quy mô dân số sẽ vào khoảng 120 - 150 ngàn dân/1 đô thị .

1.2/. Hành lang đô thị và công nghiệp Quốc lộ 1A - Bến Lức - TX Tân An:

 a/. Phạm vi ranh giới:

-        Hành lang này bắt đầu từ huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh dọc theo quốc lộ 1A qua Bến Lức, thị xã Tân An tới địa phận Tiền Giang, dọc đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, Đường tỉnh 830. Ngoài Bến Lức và thị xã Tân An hành lang này còn có một phần phía Tây Bắc huyện Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc và phía Đông huyện Thủ Thừa.

Hành lang này sẽ phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung có quy mô từ 1500 - 2000 ha và hành lang đô thị trong đó các đô thị lớn là Tân An và Bến Lức.

b/. Định hướng phát triển TX Tân An:

Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật như sau:

-        Tân An sẽ trở thành đô thị loại 2 vào năm 2020 với các tính chất trung tâm hành chính của tỉnh, trung tâm dịch vụ của vùng và các khu công nghiệp của Long An, là một trong các trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam .

Các khu công nghiệp tại Tân An và xung quanh Tân An có quy mô khoảng 500 - 600 ha.

-         Dân số tới năm 2020 khoảng 200 - 250 ngàn dân.

-        Hướng phát triển của thị xã Tân An là phát triển hướng tâm theo các tuyến Quốc lộ 1A đi thành phố Hồ Chí Minh, Mỹ Tho, Quốc lộ 62 đi Thạnh Hoá và các tuyến đường tỉnh đi Châu Thành và Tân Trụ.

c/. Đô thị mới Bến Lức:

-         Ranh giới đô thị này được xác định là khu vực thuộc 8 xã phía Nam huyện Bến Lức gồm thị trấn Bến Lức, các xã Mỹ Yên, Long Hiệp, Phước Lợi, Thạnh Đức, Nhựt Chánh và một phần phía Nam các xã Thạnh Phú và An Thạnh.

-         Đô thị này sẽ được phát triển trên không gian kéo dài dọc theo Quốc lộ 1A và đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh-Cần Thơ.

-        Tuyến đường chính song song với Quốc lộ 1A xuất phát từ Tỉnh lộ 835 tại Gò Đen vượt qua sông Vàm Cỏ Đông đi về phía Nam thị xã Tân An qua sông Vàm Cỏ Tây được đề nghị cách Quốc lộ 1A từ 800 - 1000m, tương đương khoảng cách của đường chính đô thị loại 3.

Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của đô thị này như sau:

-         Diện tích tự nhiên : 9840 ha

-         Quy mô đất đai của các khu công nghiệp: 1.200 -1.500 ha

-         Quy mô dân số của đô thị : 150 -160 ngàn dân, trong đó dân cư đô thị tập trung tại Bến Lức khoảng 60 ngàn dân, Gò Đen khoảng 30 ngàn dân, các làng đô thị hoá, khu tái định cư tập trung khoảng 30 ngàn. Dân số nông thôn khoảng 30 - 40 ngàn dân.

-         Diện tích đất xây dựng đô thị : 1.200 -1.500 ha

-        Đất dự trữ phát triển công nghiệp và đô thị : 1000 ha

Các khu phát triển đô thị khác trên hành lang:

-         Thị trấn Thủ Thừa: Dân số của thị trấn dự kiến là 30 ngàn dân vào năm 2020. Diện tích đất xây dựng cần khoảng 300 ha - không tính đất công nghiệp .

-         Khu vực Cầu Ván: Dân số của đô thị này dự kiến khoảng 20 ngàn dân với diện tích đất xây dựng khoảng 200 ha.

1.3/. Khu phát triển tổng hợp Cần Giuộc - Tân Tập:

Hình thành khu phát triển tổng hợp Đông Bắc Cần Giuộc với các khu chức năng sau đây:

-         Khu cảng và công nghiệp Tân Tập với quy mô khoảng 700 -1.000ha. Tính chất khu công nghiệp hướng tới công nghiệp nặng như sắt thép, đóng tàu thuyền, hoá chất .v.v . . .

-         Khu đô thị - công nghiệp Long Hậu quy mô 500 ha kết hợp dân cư và công nghiệp.

-         Khu công nghiệp tập trung dọc đường vành đai 3 gồm khu công nghiệp Tân Kim, Tân Phước quy mô khoảng 300 - 500 ha, khu công nghiệp Phước Lý quy mô khoảng 300 - 500ha, khu công nghiệp Trường Bình quy mô 300 ha.

-         Xây dựng các khu đô thị tập trung của Cần Giuộc quy mô khoảng 100 ngàn dân, trong đó thị trấn Cần Giuộc khoảng 30 ngàn dân, Tân Tập khoảng 20 ngàn, Long Thượng khoảng 15 ngàn, Phước Vĩnh Đông khoảng 10 - 12 ngàn, Long Hậu khoảng 5 - 6 ngàn dân, khu đô thị Long Thượng quy mô khoảng 15 - 20 ngàn dân.

1.4/. Huyện Cần Đước:

-         Khu vực phía Bắc huyện gồm các xã Long Trạch, Long Khê có vị trí gần thành phố Hồ Chí Minh hiện đã có các khu công nghiệp Cầu Tràm, Long Thượng cần mở rộng để kết nối các cụm công nghiệp có quy mô nhỏ tại khu vực này để có quy mô lớn và tập trung hơn.

-         Khu công nghiệp Thuận Đạo có khả năng mở rộng xuống phía Đông-Nam dọc theo sông Vàm Cỏ Đông và hương lộ 19.

-         Ven cửa sông Vàm Cỏ hiện UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch xây dựng khu công nghiệp Phước Đông. Khu vực này có thể phát triển cụm công nghiệp vật liệu xây dựng như nghiền xi măng, đúc tấm lợp.v.v . . .

-         Thị trấn Cần Đước phát triển gắn với khu công nghiệp Phước Đông. Quy mô dân số của thị trấn có thể phát triển lên 30 - 40 ngàn dân. Các đô thị khác trong huyện sẽ là Cầu Tràm, Rạch Kiến, Mỹ Lệ, Long Định.

1.5/. Thủ Thừa và thị trấn Thủ Thừa:

Khu vực thị trấn Thủ Thừa có thể xây dựng 1 khu, cụm công nghiệp tập trung quy mô từ 100-150 ha. Khu vực phía Tây - Bắc huyện cần phát triển 1 đô thị làm trung tâm dịch vụ tại ngã tư kênh Bobo và kênh 8 thuộc xã Long Thạnh. Quy mô dân số đô thị này dự kiến 5000 dân.

1.6/. Huyện Thạnh Hóa:

Có thể phát triển khu công nghiệp tập trung gắn với thị trấn Thạnh Hoá, với đường Hồ Chí Minh và với sông Vàm Cỏ Tây, quy mô khu công nghiệp khoảng 50 -100ha trong đó ưu tiên cho công nghiệp chế biến.

2/. Định hướng quy hoạch không gian các cơ sở dịch vụ tạo vùng:

-         Các loại dịch vụ nghỉ ngơi, giải trí - du lịch - thể thao, trung tâm thương mại bố trí ven sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây phía thượng nguồn, Quốc lộ 1A, trong lòng các đô thị mới tại Đức Hoà, Bến Lức.

-        Các loại dịch vụ bệnh viện - nghỉ dưỡng cao cấp:

·         Khu vực TX Tân An: ven sông Vàm Cỏ Tây

·         Khu vực Bến Lức: ven sông Vàm Cỏ Đông.

-         Dịch vụ tài chính, ngân hàng, văn phòng cho thuê, khách sạn, nhà hàng: thị xã Tân An.

-         Các trung tâm đào tạo, dạy nghề: thị xã Tân An, Bến Lức, Đức Hòa.

-         Các công trình dịch vụ dân sinh:

Hệ thống công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, chợ phục vụ nhu cầu của dân cư tại chỗ được quy hoạch trong cơ cấu phân khu chức năng đô thị.

05/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/MoHinhKhuDoThiMoi.jpg5Chương trình vùng kinh tế trọng điểm9146No
  
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng CB,CC,VC và SV tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 Chương trình đào tạo, bồi dưỡng CB,CC,VC và SV tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020
Theo đó, UBND tỉnh ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và sinh viên tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo với nội dung cụ thể như sau:

Mục tiêu

Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và sinh viên tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo góp phần tạo nguồn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao, có trình độ chuyên sâu, khả năng tham mưu hoạch định và triển khai hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội trên một số lĩnh vực then chốt, đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong thời gian tới.

Yêu cầu

Các ngành nghề đào tạo, bồi dưỡng phải xuất phát từ nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao theo quy hoạch nguồn nhân lực và phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ. Đối với cán bộ, công chức, viên chức phải đảm bảo nguồn quy hoạch đội ngũ kế cận và trong kế hoạch đào tạo của cơ quan, đơn vị.

Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được chọn để cử học viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài phải là những nước có nền khoa học - kỹ thuật tiên tiến, chất lượng đào tạo tốt và uy tín cao, có chế độ ưu đãi đối với học viên.

Đảm bảo việc làm và phát huy tốt kiến thức học tập của các đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

Đối tượng, phạm vi điều chỉnh

Đối tượng cử đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài:

Cán bộ, công chức, viên chức hiện đang công tác tại các cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể, đơn vị sự nghiệp trong tỉnh.

Sinh viên đã tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn.

Đối tượng cử đi dự các lớp bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài:

Trưởng, Phó trưởng các Ban Đảng Tỉnh ủy, Sở ngành, Đoàn thể tỉnh.

Cán bộ chủ chốt cấp huyện gồm: Bí thư, Phó Bí thư huyện ủy, thành ủy và tương đương; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện, thành phố.

Điều kiện và tiêu chuẩn tuyển chọn

Điều kiện tuyển chọn:

Người được tuyển chọn cử đi đào tạo phải đáp ứng các điều kiện sau:

Cán bộ, công chức, viên chức cử đi học phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao hàng năm, có triển vọng phát triển tốt và trong quy hoạch.

Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Có lý lịch bản thân và gia đình rõ ràng, không vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước.

Cam kết làm việc theo sự phân công của tỉnh sau khi tốt nghiệp.

Có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Long An.

Nếu là đối tượng tạo nguồn phải có người bảo lãnh (cha, mẹ ruột hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng) để thực hiện nghĩa vụ của người được cử đi đào tạo.

Tiêu chuẩn tuyển chọn:

Về độ tuổi:

Thạc sĩ: không quá 35 tuổi đối với nữ và không quá 40 tuổi đối với nam (tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển).

Tiến sĩ: không quá 40 tuổi đối với nữ và không quá 45 tuổi đối với nam (tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển).

Sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn: không quá 25 tuổi đối với nam và nữ (tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển).

Về trình độ ngoại ngữ:

Trình độ Anh văn phải đạt điểm IELTS, TOEFL,… theo quy định của cơ sở đào tạo (các ngoại ngữ khác cũng phải đảm bảo trình độ theo yêu cầu của cơ sở đào tạo).

Tỉnh phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức kiểm tra trình độ ngoại ngữ và có kế hoạch đào tạo bổ sung ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức trước khi được cử đi đào tạo. Dự kiến thời gian đào tạo bổ sung ngoại ngữ là 01 năm.

Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn, khi nộp hồ sơ tham gia Chương trình phải có trình độ ngoại ngữ IELTS, TOEFL,... đủ điều kiện đi học. Trường hợp không đủ điều kiện ngoại ngữ thì được Ban điều hành Chương trình giới thiệu tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ nhưng kinh phí do cá nhân tự túc.

Yêu cầu về trình độ chuyên môn:

Cán bộ, công chức, viên chức phải tốt nghiệp đại học của các trường đại học trong nước.

Nếu là sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn phải tốt nghiệp đại học chính quy của các trường đại học trong nước từ loại khá trở lên và đạt trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu.

Về sức khỏe:

Có đủ sức khoẻ để tham gia học tập theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Chỉ tiêu và hình thức đào tạo, bồi dưỡng

Chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng:

Đào tạo: 70 chỉ tiêu, trong đó: thạc sĩ 67, tiến sĩ 03.

Bồi dưỡng: 70 chỉ tiêu.

Hình thức đào tạo, bồi dưỡng:

Hình thức đào tạo: học ngoại ngữ trong nước, đào tạo chuyên môn toàn phần ở nước ngoài.

Hình thức bồi dưỡng ngắn hạn, có 02 hình thức:

Bồi dưỡng toàn phần ở nước ngoài.

Bồi dưỡng một phần trong nước (do giảng viên nước ngoài trực tiếp giảng dạy), sau đó đi thực tế ngắn hạn ở nước ngoài.

Quy trình xét, tuyển chọn

Đối với cán bộ, công chức, viên chức:                                                     

Trên cơ sở thông báo của Sở Nội vụ, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị căn cứ đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn quy định nêu trên để thực hiện việc xét, tuyển chọn đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý và gửi hồ sơ, danh sách đề nghị cử đi đào tạo, bồi dưỡng về Sở Nội vụ.

Sở Nội vụ phối hợp với các ngành liên quan thẩm định hồ sơ, trình Ban điều hành thực hiện Chương trình quyết định.

Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn:

Nếu có nguyện vọng đào tạo sau đại học ở nước ngoài, liên hệ trực tiếp với Sở Nội vụ để nhận hồ sơ đăng ký theo thông báo (phải có cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng thực hiện các thủ tục đăng ký, cam kết tham gia Chương trình).

Sở Nội vụ phối hợp với các ngành liên quan thẩm định hồ sơ, phỏng vấn trực tiếp, trình Ban điều hành thực hiện Chương trình quyết định.

Lựa chọn trường đào tạo, bồi dưỡng và quản lý học viên

Tỉnh phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để chọn một số cơ sở đào tạo có uy tín, chất lượng đào tạo tốt và có thiện chí giúp đỡ Việt Nam trong công tác đào tạo, bồi dưỡng học viên.

Sở Nội vụ phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để theo dõi quá trình học tập, rèn luyện của học viên trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng, kịp thời giúp đỡ, giải quyết khó khăn trong sinh hoạt và học tập. Duy trì tốt mối liên hệ với học viên, góp phần củng cố tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự gắn bó với quê hương đất nước.

Quyền lợi và trách nhiệm của học viên tham gia Chương trình

Quyền lợi:

Các trường hợp được cử đào tạo, bồi dưỡng sau khi tốt nghiệp sẽ bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Việc bố trí, sử dụng được thực hiện như sau:

Cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng sẽ được bảo lưu biên chế tại cơ quan, được hưởng lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ khác (nếu có) theo quy định hiện hành.

Sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn được cử đi đào tạo sẽ được tuyển dụng, bố trí theo trình độ chuyên môn được đào tạo. Trường hợp cơ quan tuyển dụng không còn chỉ tiêu biên chế thì tỉnh sẽ giao biên chế dự phòng để cơ quan tuyển dụng, bố trí sau khi tốt nghiệp.

Được hỗ trợ chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định tại Mục II Phần III của Chương trình này.

Trách nhiệm:

Đảm bảo thực hiện các điều khoản cam kết khi tham gia Chương trình (trình diện sau khi tốt nghiệp, chấp hành phân công công tác, thời gian cam kết phục vụ,…).

Trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng, học viên phải chấp hành các quy định của nhà nước; tuân thủ pháp luật nước sở tại; chấp hành nội quy, quy định của cơ sở đào tạo và Quy chế của Ban điều hành Chương trình.

Giữ mối liên lạc thường xuyên với Ban điều hành và kịp thời báo cáo kết quả học tập, những vấn đề phát sinh để có hướng xử lý phù hợp.

-Học viên tự ý bỏ học hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình học tập thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, bồi thường toàn bộ chi phí đào tạo, bồi dưỡng hoặc bị xử lý theo pháp luật.

Trường hợp học viên không vi phạm cam kết nhưng không hoàn thành tốt nghiệp theo đúng thời gian quy định thì cá nhân có thể ở lại tiếp tục học tập đến khi tốt nghiệp nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày hết hạn và cá nhân phải tự lực kinh phí. Quá thời hạn này, học viên phải bồi thường toàn bộ chi phí đào tạo theo cam kết.

Giải pháp thực hiện

Tuyên truyền, phổ biến Chương trình:

Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Chương trình này trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài,…) sau khi được phê duyệt, ban hành chính thức. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phổ biến nội dung Chương trình đến cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý.

Thống kê và tuyển chọn nguồn cử đi đào tạo, bồi dưỡng:

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm rà soát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ điều kiện cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài; lập danh sách từng người, trong đó xác định rõ: trình độ chuyên môn hiện có, độ tuổi, trình độ ngoại ngữ, nguyện vọng cá nhân, chuyên ngành đề nghị cử đi đào tạo, bồi dưỡng và thời gian dự kiến đào tạo, bồi dưỡng.

Kinh phí thực hiện Chương trình

Nguồn kinh phí thực hiện đào tạo, bồi dưỡng bao gồm:

Kinh phí do ngân sách tỉnh cấp.

Kinh phí đào tạo của Trung ương dành cho tỉnh (nếu có).

Học bổng của các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước.

Các nguồn khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung chi:

Chi cho đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài, bao gồm: học phí, tài liệu học tập, chi phí ăn ở, khám sức khoẻ, làm visa, vé máy bay.

Chi cho hoạt động bồi dưỡng và đào tạo kiến thức bổ sung trong nước (Anh văn và kiến thức khác).

Chi cho công tác chiêu sinh, xét tuyển, bố trí sau đào tạo, công tác giao dịch, quan hệ với nước ngoài trong khuôn khổ tìm hiểu đối tác, tìm nguồn tài trợ, xác định cơ sở đào tạo,…; chi phí phục vụ các hoạt động quản lý hành chính của Chương trình (văn phòng phẩm, tổ chức hội nghị, hội thảo, công tác tuyên truyền, sơ tổng kết, làm việc ngoài giờ, nhiên liệu,…).

Chi phí quản lý học viên.

Tổ chức thực hiện:

Thành lập Ban điều hành Chương trình, thành phần gồm có: Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, Giám đốc Sở Nội vụ làm Phó Trưởng ban và các thành viên, thư ký là đại diện lãnh đạo: Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Ngoại vụ, Sở Tài chính, Sở Nội vụ.

Ban điều hành có Tổ giúp việc gồm một số công chức các ngành liên quan trực tiếp.

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm:

Tuyển chọn, cử cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị đủ tiêu chuẩn để cử đi đào tạo, bồi dưỡng gửi danh sách về Sở Nội vụ tổng hợp trình Ban điều hành thực hiện Chương trình của tỉnh xem xét, quyết định. Bảo lưu biên chế tại cơ quan, đơn vị (không hợp đồng hoặc đề nghị tuyển dụng người khác thay thế chức danh này) và thực hiện chế độ lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác (nếu có) theo quy định hiện hành cho cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

Tiếp nhận, bố trí công tác đối với sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn sau khi tốt nghiệp về nước theo giới thiệu của Sở Nội vụ. Trường hợp cơ quan, đơn vị tuyển dụng không còn biên chế thì tỉnh sẽ giao biên chế dự phòng của địa phương để thực hiện.

Sở Nội vụ có trách nhiệm:

Phối hợp với các ngành, địa phương thông báo, tổng hợp và đề xuất Ban điều hành Chương trình xét duyệt đối tượng đào tạo, bồi dưỡng.

Phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện công tác tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng, chọn trường, quản lý học viên.

Đề xuất bố trí sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn sau khi tốt nghiệp về nước. Đồng thời đề xuất cơ quan có thẩm quyền giao biên chế dự phòng của địa phương cho các cơ quan, đơn vị tiếp nhận trong trường hợp các cơ quan, đơn vị không còn chỉ tiêu biên chế.

Sở Tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo Chương trình này.

Chương trình này có thể được điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện cho phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

Quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc, các Sở ngành tỉnh, UBND huyện, thành phố phản ánh về Sở Nội vụ để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo xử lý kịp thời.

Hải Tuấn

05/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/tuyen-dung.jpg6Chương trình đào tạo nguồn nhân lực2322No
  
Xây dựng thiết chế văn hóa, đời sống văn hóa tại các cụm, tuyến dân cư vùng vượt lũ: Những vấn đề cấp bách cần đặt ra hiện nay. Xây dựng thiết chế văn hóa, đời sống văn hóa tại các cụm, tuyến dân cư vùng vượt lũ: Những vấn đề cấp bách cần đặt ra hiện nay.
Ngày 14-7-2006, Chính phủ đã ký Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg phê duyệt đề án ''Phát triển hoạt động văn hóa - thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020'' Theo đó, ngày 25-8-2006, Bộ VH-TT đã chủ trì tổ chức Hội nghị, triển khai Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tại thành phố Cần Thơ. Đây là sự quyết định đúng đắn, mang tính chiến lược quốc gia về phát triển hoạt động VH-TT vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Long An.

Trong đề án được phê duyệt có rất nhiều nội dung, nhưng có một nội dung mà ai đã từng trăn trở với việc phát triển đời sống văn hóa vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười đều quan tâm, chú ý đó là ''Đầu tư xây dựng một số thiết chế văn hóa cho mô hình mới là các cụm, tuyến dân cư (C,TDC) vùng vượt lũ; các xã, đồn biên phòng biên giới, hải đảo, vùng biển''.

Như chúng ta đều biết, Long An có 6 huyện nằm trong vùng trọng điểm lũ đó là: Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Đức Huệ với tổng diện tích tự nhiên 2.709,483 km2 (quá nửa diện tích tỉnh), có 360.356 nhân khẩu đang sinh sống. Theo chương trình dân sinh vùng lũ của tỉnh, tính đến nay đã xây dựng được 178 C,TDC vượt lũ và đến năm 2008 sẽ có tổng cộng 184 C,TDC vượt lũ, giải quyết định cư cho gần 36 ngàn hộ vào ở ổn định.

Từ việc ''chống lũ'' đến ''ngăn lũ'' và hôm nay là ''sống chung với lũ'', qua nhiều kỳ Đại hội, các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Long An đã tìm ra được quy luật thiên nhiên của vùng lũ Đồng Tháp Mười và đề ra chương trình ''Dân sinh vùng lũ'', một trong bốn chương trình mục tiêu của tỉnh.

Để phục vụ chương trình ''Dân sinh vùng lũ'', ngành VH-TT tỉnh Long An trong những năm qua đã có những cố gắng đáng kể tìm ra được những mô hình thiết thực như: ''Thuyền văn hóa'' của 3 huyện Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa; ''Túi sách lưu động'' của thư viện huyện Mộc Hóa; ''Chiếu phim lưu động'' của Cty Phát hành phim và Chiếu bóng; và xuất diễn không doanh thu của Đoàn nghệ thuật cải lương Long An” đã đáp ứng được phần nào nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân vùng ngập lũ. Tuy nhiên, nhu cầu văn hóa của nhân dân không chỉ có hưởng thụ mà còn có nhu cầu sáng tạo nữa. Do đó, để đáp ứng những đòi hỏi trên, ngày 31-10-2005, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở đến năm 2010 (Quyết định số 271/2005/QĐ-TTg).

Tiếp thu các văn bản pháp lý nêu trên, ngành VH-TT tỉnh cũng đã phối hợp với các ngành chức năng có liên quan tổ chức đợt khảo sát trên phạm vi toàn tỉnh, nhằm đề xuất việc xây dựng mô hình Trung tâm văn hóa xã, phường, thị trấn, gọi chung là cấp xã giai đoạn 2006 - 2010. Trong đó đặc biệt quan tâm đến các xã vùng Đồng Tháp Mười.

Đi đầu trong việc phát triển, xây dựng mô hình Trung tâm văn hóa cấp xã hiện nay, chỉ duy nhất có xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng đã quy hoạch 1,5 ha đất trên khu dân cư vượt lũ thuộc ấp Gò Châu Mai và đầu tư 700 triệu đồng để xây dựng Trung tâm văn hóa xã với phương châm ''xã lo đất, mặt bằng, huyện lo vốn xây dựng công trình'' và đang kiến nghị tỉnh lo thiết bị bên trong Nhà văn hóa xã…

Ngày 21-7-2006, Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ xã Khánh Hưng đã long trọng tổ chức lễ phát động toàn dân quyết tâm xây dựng xã Khánh Hưng thành xã văn hóa vào năm 2008.

Có thể nói đây là một mô hình mới, đầy sáng tạo từ lòng quyết tâm của lãnh đạo 2 cấp huyện Vĩnh Hưng và xã Khánh Hưng, đang rất cần có sự quan tâm, ủng hộ của sở, ban ngành cấp tỉnh, nhất là ngành VH-TT, bởi vì đó là một mô hình thực tiễn, sinh động, sáng tạo, phù hợp với Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh, Quyết định 271/2005/QĐ-TTg ngày 31-10-2005 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở và gần đây nhất là Quyết định 167/2006/QĐ-TTg của Chính phủ về phát triển hoạt động VH-TT vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Dự thảo ''Đề án xây dựng thiết chế văn hóa - thể thao xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006 - 2010 và đến 2020'' của ngành VH-TT đã được trình UBND tỉnh để các ngành chức năng thẩm định và đưa ra kỳ họp HĐND tỉnh sắp tới phê duyệt. Đây là cơ sở pháp lý cụ thể hơn cho một định hướng phát triển sự nghiệp VH-TT tỉnh nhà nói chung và cho việc xây dựng hệ thống thiết chế VH-TT trên C,TDC vượt lũ nói riêng. Nếu chịu khó học tập kinh nghiệm và có khả năng chủ động chỉ đạo, tổ chức thực hiện được như xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng thì có nhiều xã trong tỉnh đủ khả năng, điều kiện thực hiện được như: xã Đức Lập Hạ (huyện Đức Hòa), Mỹ Yên (huyện Bến Lức),  Phước Lý (huyện Cần Giuộc), Nhị Thành (huyện Thủ Thừa), Hậu Thạnh Đông (huyện Tân Thạnh), Mỹ Lệ (huyện Cần Đước), Dương Xuân Hội (huyện Châu Thành), Bình Trinh Đông (huyện Tân Trụ), An Vĩnh Ngãi (thị xã Tân An)… Để tiếp thêm sức mạnh làm được điều đó, Sở VH-TT nên tổ chức hội nghị, hội thảo nho nhỏ kiểu như nông dân tổ chức “Hội thảo đầu bờ” để nhân rộng mô hình này, không chỉ riêng cho vùng Đồng Tháp Mười mà cho cả 14 huyện, thị xã.

Sự kiện ra đời Quyết định 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về chiến lược phát triển hoạt động văn hóa-thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Long An.

Thực tiễn mô hình xã văn hóa Khánh Hưng, Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã được xây dựng trên C,TDC vượt lũ của vùng Đồng Tháp Mười, cách trung tâm tỉnh lỵ đúng 100 km. Như vậy, chủ trương có rồi, mô hình có rồi, việc còn lại là nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo, triển khai, nhân rộng mô hình đó như thế nào. Trách nhiệm tham mưu chính là ngành VH-TT, trong đó việc lập kế hoạch, đề án, dự án đầu tư cho kế hoạch năm 2007 cần phải kịp thời xem xét và điều chỉnh, bởi vì thời điểm lập kế hoạch chưa có Quyết định 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương phát triển hoạt động VH-TT vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006-2010.

Nhiệm vụ phát triển sự nghiệp VH-TT là của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp chính quyền và cả hệ thống chính trị, nhưng vai trò tham mưu chính là ngành VH-TT. Nên chăng, Sở VH-TT phải có một chương trình hành động cụ thể, những dự án cụ thể cho chiến lược phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin vùng Đồng Tháp Mười mà cụ thể là trên các C,TDC vượt lũ, để có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, ưu tiên phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ kháng chiến… kéo dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn như nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đã chỉ ra

Theo Báo Long An

05/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/imageslulut.jpg9Chương trình dân sinh vùng lũ10770No
  
Đề án phát triển nguồn nhân lực của ngành y tế năm 2009 – 2010 và những năm tiếp theo Đề án phát triển nguồn nhân lực của ngành y tế năm 2009 – 2010 và những năm tiếp theo
Ngày 16/6/2009, Ông Trần Hữu Phước – Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 1472/QD—UBND phê duyệt Đề án phát triển nguồn nhân lực của ngành y tế năm 2009 – 2010 và những năm tiếp theo.

Theo đó, đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế đáp ứng được nhu cầu về chất và lượng đảm bảo phụ vụ tốt công tác khám chữa bệnh, đạt tỷ lệ 07 bác sĩ/vạn dân và 01 Dược sĩ/ vạn dân năm 2010.

Với mục tiêu chung sử dụng 100% cán bộ y tế đào tạo theo kế hoạch cho các địa phương đúng quy định, trong thời gian 2009-2018 đào tạo theo chế độ cử tuyển khoảng 76 cán bộ, trong đó bác sĩ : 60; Dược sĩ: 16, trung bình hằng năm cử tuyển 10 bác sĩ/ khóa, 3 dược sĩ/khóa.

Dựa theo hình thức cử tuyển và đào tạo theo địa chỉ các đối tượng đào tạo là học sinh phổ thông thi vào các Đại học Y dược hệ chính quy và hệ vừa học vừa làm nâng cao trình độ từ trung cấp đến đại học thông qua chương trình đạo tạo cụ thể tại các trung tâm đào tạo: Trường Đại học Y dược Cần thơ, Đại học Y dược Thành phố HCM….đạo tạo nguồn nhân lực y tế cho tỉnh.

Bên cạnh đó, đề án quy định về trách nhiệm của các Sở ngành hoạt động hiệu quả tạo nguồn nhân lực nhất là đội ngũ bác sĩ phục vụ tốt sức khỏe cho nhân dân tỉnh nhà, đạt mục tiêu Bộ Y tế Quy định đến năm 2015 - 2020

Hoàng Quân

02/08/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/manpower.jpg7Chương trình đào tạo nguồn nhân lực23330No
  
VĨNH HƯNG: Tổng kết chương trình cụm, tuyến dân cư VĨNH HƯNG: Tổng kết chương trình cụm, tuyến dân cư
Ngày 4-1-2008, UBND huyện Vĩnh Hưng tổ chức tổng kết chương trình cụm, tuyến dân cư (C,TDC) giai đoạn I (2002-2007) và triển khai kế hoạch giai đoạn II (2008-2010).

Theo Quyết định số 2321/2002/QĐ-UB ngày 8-7-2002 của UBND tỉnh Long An, huyện Vĩnh Hưng triển khai theo danh mục được duyệt là 17 cụm và 7 tuyến dân cư, nhưng do điều chỉnh danh mục nên huyện chỉ thực hiện xây dựng theo chương trình dân sinh vùng lũ là 16 cụm, 6 tuyến dân cư.

  

Quang cảnh lễ tổng kết

 Qua 5 năm thực hiện, tổng diện tích san nền là 93,6 ha, trong đó diện tích xây nhà ở là 4.445 lô (42.780m2) chiếm tỷ lệ 45,7%, diện tích còn lại sử dụng xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình phúc lợi xã hội. Huyện đã hoàn thành tôn nền 22 C,TDC, đã giao 2.382 lô cho dân và có 1.678 hộ cất nhà ở, đạt 56% chỉ tiêu tỉnh giao. Việc xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật tương đối, cụ thể: sân, đường thoát nước triển khai thi công tại 14/22 C,TDC, có 10C,TDC đã hoàn thành 100%, còn 4 công trình thi công dang dở; Về cấp điện: đã hoàn thành 100% ở 13 cụm, tuyến, 3 cụm đang thi công đạt khối lượng trên 50%; Về cấp nước: triển khai thi công tại 15 cụm, tuyến đã hoàn chỉnh 11, còn 4 C,TDC đang thi công; Các chương trình lồng ghép như: chợ, trường học, Bưu điện văn hóa xã, trụ sở UBND, trạm y tế, đường giao thông đã triển khai thực hiện nhưng tỷ lệ không cao.

 Qua 5 năm thực hiện, việc xây dựng C,TDC đã tạo được sự đồng thuận và thống nhất của đa số người dân sống trong vùng ngập lũ. Việc xây dựng C, TDC đã giúp người dân vùng ngập lũ từng bước ổn định và nâng cao đời sống. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền vận động người dân vào ở trên C, TDC đôi lúc hiệu quả chưa cao, người dân còn ngại vào C, TDC vì điều kiện chưa bảo đảm cho cuộc sống lâu dài. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ nên chưa thu hút các thành phần kinh doanh vào tham gia xây dựng trên cụm, tuyến. Công tác xác định quy hoạch một số C, TDC chưa khả thi cao, về qui mô đầu tư chưa phù hợp.

 Nhằm đẩy nhanh tiến độ đưa dân vào ở trên các C, TDC trong thời gian tới, Vĩnh Hưng sẽ thực hiện tốt hơn công tác tuyên truyền, vận động người dân vào sống trên các C,TDC; Đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng nhất là những hạn mục xây mới...

 Theo báo Long An

05/06/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/TuyenDanCu.jpg10Chương trình dân sinh vùng lũ1605No
  
UBND tỉnh Long An phê duyệt đề án đào tạo, dạy nghề nông thôn năm 2007. UBND tỉnh Long An phê duyệt đề án đào tạo, dạy nghề nông thôn năm 2007.
      Ngày 07 tháng 6  năm 2007 ông Đỗ Hoàng Việt, P.Chủ tịch UBND tỉnh Long An,   đã ký quyết định số 1508/QĐ-UBNDvề việc phê duyệt Đề án đào tạo, dạy nghề nông thôn năm 2007 ( đan lục bình, bảo trì máy nông nghiệp....)  do Trung tâm Khuyến công Long An lập.

Đào tạo, dạy nghề cho lao động đặc biệt là lao động nông thôn là chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo thực hiện công bằng xã hội. Do đó, đào tạo dạy nghề cho lao động nông thôn sẽ chuyển biến về ngành nghề và việc làm ở nông thôn.

Theo Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, đây là sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn tăng thu nhập, giảm nghèo góp phần đẩy nhanh tiến độ đưa dân vào trong các Cụm, tuyến dân cư. Trung tâm Khuyến công (TTKC) Long An trong thời gian qua là cầu nối giữa doanh nghiệp và người lao động nông thôn (lực lượng lao động nông nhàn). Đối tượng tham gia học nghề là: số lao động lớn tuổi không thể tham gia vào các công ty, xí nghiệp, số lao động vào sinh sống trong cụm, tuyến dân cư, số lao động phải thay đổi ngành nghề do chuyển đổi mục đích sử dụng đất do đô thị hóa, công nghiệp hóa)

 Căn cứ vào nhu cầu đào tạo nghề của các huyện, thị trong năm 2007, TTKC đã ký hợp đồng thoả thuận hỗ trợ dạy nghề với các doanh nghiệp ( DN) sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. TTKC sẽ phối hợp với Phòng Kinh tế, các tổ chức đoàn thể mở các lớp dạy nghề đan lục bình, bảo trì máy nông nghiệp... ở các huyện Thủ Thừa, Thị xã Tân An, Châu Thành, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Đức Huệ. DN sẽ hỗ trợ kỹ thuật trong khâu đào tạo, Trung tâm Khuyến công lo kinh phí dạy nghề và sẽ hỗ trợ cho học viên chi phí đào tạo nghề. Trước mắt, TT Khuyến công đào tạo nghề gắn với sản xuất, khi đào tạo xong người lao động sẽ có việc làm ngay, sản phẩm làm ra được DN tiêu thụ.

Dân số toàn tỉnh năm 2007 là 1.456.440 người trong đó số dân nông thôn chiếm 1.194.282 người (chiếm 82%); số lao động hoạt động kinh tế là 767.544 người ( lao động khu vực nông thôn là 629.386 người chiếm tỷ lệ 82%); tỷ lệ thất nghiệp bình quân hàng năm là 4,8%. Bình quân số lao động nông nhàn của mổi huyện là 8.500 người/ năm trong giai đoạn từ 2006-2010.

 Để khắc phục tình trạng lao động gia tăng ở nông thôn, giảm tỷ lệ thất nghiệp, Đảng đã đề ra chủ trương phải chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng thuần nông, tăng dần tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm tại chỗ để thu hẹp và tiến tới xóa bỏ đói nghèo, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nông dân, xây dựng nông thôn mới, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn. Để giải quyết vấn đề này, Tỉnh ủy Long An đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 03/4/2007 về phát triển đào tạo nghề giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo, trong đó vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn là vấn đề cấp bách cần phải tiến hành, thực hiện đựơc việc này sẽ tạo điều kiện cho lao động trong nông thôn tự tạo việc làm, đồng thời các ngành nghề và lao động phi nông nghiệp ở nông thôn phát triển.

 Bình quân số lao động nông nhàn của mổi huyện là 8.500 người/ năm trong giai đoạn từ 2006-2010. Năm 2007, theo kế hoạch trung tâm Khuyến công chỉ mới giải quyết được 600 lao động nông nhàn/ toàn tỉnh. Do vậy, nhu cầu đào tạo, dạy nghề giải quyết lao động nông nhàn còn rất lớn.

   

GIÁM ĐỐC

05/01/2014 4:00 CHĐã ban hành/nguoi-dan-doanh-nghiep/PublishingImages/2014-08/DayNghe.jpg8Chương trình đào tạo nguồn nhân lực1716No
  
Vĩnh Hưng: Hiệu quả của chương trình cụm, tuyến dân cư vượt lũ Vĩnh Hưng: Hiệu quả của chương trình cụm, tuyến dân cư vượt lũ
Thực hiện chương trình dân sinh vùng lũ đến nay huyện Vĩnh Hưng đã có hơn 1.600 hộ với khoảng 5 ngàn người vào sống ổn định trong cụm, tuyến dân cư (C,TDC) ở các xã, thị trấn đạt 56% số hộ dân trong chương trình. Đây là kết quả từ sự quan tâm chỉ đạo tích cực của Huyện ủy, UBND huyện Vĩnh Hưng, các ngành chức năng sau 6 năm thực hiện.

6 năm qua, Nhà nước đã đầu tư hơn 116 tỉ đồng để xây dựng 22 C,TDC ở Vĩnh Hưng với tổng diện tích 93,6 ha, với việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ cũng như bố trí gần trung tâm xã và các trục giao thông chính, hầu hết các C,TDC cho dân vùng lũ huyện Vĩnh Hưng đều thuận lợi cho sự phát triển. Hệ thống giao thông nối liền từ huyện đến xã, liên xã, liên C,TDC, hệ thống điện, nước sạch sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ... cơ bản phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện vùng sâu, vùng xa vốn còn nhiều khó khăn. Từ đó hình thành những khu trung tâm kinh tế phát triển ổn định, bền vững, lâu dài.

Trao đổi với ông Lê Tấn Trác, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Trị cho biết: ''Trước đây, cuộc sống của người dân nghèo chủ yếu là làm thuê trong nông nghiệp, do đó khi được lên cụm dân cư cuộc sống của họ đôi lúc gặp khó khăn. Chính vì lẽ đó trước mắt UBND xã đã tạo việc làm mới cho người dân bằng việc dạy nghề đan lục bình tạo thêm thu nhập cho người dân. Trong thời gian tới, UBND xã sẽ thành lập chợ và chuyển họ từ việc làm thuê trong nông nghiệp sang làm kinh doanh buôn bán nhằm mục đích ổn định cuộc sống người dân  khi vào C,TDC.

Ông Huỳnh Văn Quới, trước kia sống cặp tuyến kênh 28 nay được UBND thị trấn Vĩnh Hưng xét cho vào ở cụm dân cư Bàu Sậy, thị trấn Vĩnh Hưng cho biết: ''Nhờ Nhà nước quan tâm nên gia đình tôi có nơi ở ổn định, hàng ngày vợ chồng tôi đi bán vé số kiếm được vài chục ngàn đủ trang trải cuộc sống, tết này các con được sắm quần áo mới gia đình ăn tết cũng vui vẻ hơn''

Cảnh nhà cửa lụp xụp, cuộc sống bấp bênh, trẻ em không được học hành đầy đủ, trong vùng thường xuyên bị ngập lũ xưa kia nay chỉ còn là quá khứ. Bây giờ ai cũng có nhà ở khang trang, có đường giao thông đi lại thông suốt, có điện thắp sáng, có nước máy sử dụng, con cái được học hành đàng hoàng, đó là điều mà trước đây người dân vùng lũ chỉ dám ước mơ. Trước đây, gia đình chị Nguyễn Thị Miếng sống cặp sông KT4, mỗi khi lũ đổ về phải lo di dời chỗ ở nhưng kể từ khi dời về cụm dân cư xã, gia đình chị có điều kiện đan lục bình làm thuê kiếm sống, đặc biệt con của chị được đến trường như bạn bè cùng trang lứa''

An cư rồi sẽ lạc nghiệp, đó là hy vọng và niềm tin của người dân C,TDC vùng lũ.

  Theo Báo Long An

05/11/2008 4:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg11Chương trình dân sinh vùng lũ18810No
  

Website

Masteri Centre Point - https://khosim.com - dự án vinhomes grand park - https://swanparkonsen.com.vn/
https://imperium-town.net/ https://luatvanphuc.vn
https://timcanho.com.vn/ - tay vịn hành lang bệnh viện - cảm biến đo mức chất lỏng - đồng hồ đo lưu lượng nước thải - Vinhomes grand park 
https://junction.com.vn/ - Kangen.vn - Thùng rác nhựa - Legacy Central - Bất động sản Reviewland - Chuyển nhà trọn gói kiến vàng - giải mã gen cho trẻ - Xét nghiệm gen DNA Medical https://duan-sungroup.com/ Phúc Hưng Goldenhttps://www.langphapbaoloc.com/ biệt thự angsana Hồ Tràm - biệt thự biển Hyatt Hồ Tràm - thẻ từ - thẻ thành viên - lắp đặt camera an ninh - Fame Media - Rượu vang - Aqua City Novaland - https://canholegacycentral.vn/
dụng cụ thể thao ngoài trời tiến bảo - cầu trượt cho bé - Dịch vụ seo tổng thể - dự án bảo lộc - Đồng hồ đo lưu lượng nước - Ghế hội trường - ban do viet nam - One Central - The River Thủ Thiêm - Stella En Tropic - sữa tăng cân cho bé - Bản đồ thế giới - Grand marina Saigon - y2metacảm biến áp suất - https://inoxtrihieu.com/ - Incontinet Việt Nam - https://vinh-cat.com.vn/ - west lakes golf & villas - grand marina saigon - Căn hộ Bình Dương
danangsale - https://vabuta.webflow.io/
Novaworld Đà Lạt - Grand Marina - Trung tâm đào tạo SEO vietmoz - việc làm bình dương - WikiGlocal - Giặt rèm cửa chất lượng GIDIVI - Luật sư tư vấn ly hôn - Xem Lịch Âm - lắp mạng fpt - UpAnh123 - kí tự đặc biệt - cáp mạng - centralreal.vn - everon - cửa cuốn đài loan - Lắp internet FPT - thiết kế logo - Chuyển nhà trọn gói - Dịch vụ chuyển nhà - Dịch vụ chuyển nhà - danhthucvedeptunhien.comin catalogue - vinhomes - Nội thất UMA - canhovinhomesquan9.com.vn
https://century-city.vn/ - batdongsanexpress.vn123Muawww.novalandagent.com.vn
novaworldvietnam - beat nha dat - chuyển văn phòng trọn gói - dịch vụ chuyển nhà - phutungotochinhhang.vn
nệm dunlopillo - atvstp.org.vn - vé máy baydịch vụ chuyển nhà trọn gói - Blog SEO VietmozDịch vụ chuyển nhà - https://kythuatdienviet.com/
Cảm biến nhiệt độ - Ổ cắm công nghiệp - Cảm biến đo ẩm đất - Cảm biến đo ẩmsim so dep simgiagoc - Đồng hồ đo áp suấtDịch vụ chuyển văn phòng trọn gói - Dịch vụ chuyển nhà trọn góiChuyển văn phòngQuạt trần - Cảm biến đo áp suất -  Đồ phượt giá rẻ - Chứng chỉ năng lực xây dựng - Biệt thự west lakes golf & villas - Thiết bị cảm biếnVăn phò​ng phẩm​ - ISO 22000​​ ​- Đấu thầu qua mạng​ - Lan Anh 7 - NovaWorld Hồ Tràm - Aqua City - https://www.invert.vn/

Thông tin du học

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

​​ ​