Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 11:00
Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013
05/01/2015
Theo Báo cáo số 04/BC-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2013: Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, UBND tỉnh đã quyết định phân giao kế hoạch kịp thời và chỉ thị điều hành để các ngành, UBND các huyện, thành phố Tân An tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ với kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
A. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2012
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm (GDP) năm 2012 đạt 15.851 tỷ đồng (theo giá CĐ 1994). Tốc độ tăng trưởng kinh tế 10,5% (kế hoạch là 12-12,5%), thấp hơn mức tăng trưởng năm trước (12,2%). GDP bình quân đầu người 36,6 triệu đồng (năm 2011 là 29,56 triệu đồng).
Tuy tốc độ tăng trưởng của cả 3 khu vực I, II, III đều không đạt so với kế hoạch nhưng do tốc độ tăng trưởng của khu vực II và III cao hơn khu vực I nên cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể: khu vực I chiếm 32,5%, giảm 2,9% so với năm 2011; khu vực II chiếm 37,5%, tăng 2,1% so với năm 2011; khu vực III chiếm 30,0%, tăng 0,8% so với năm 2011.
II. Kết quả trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu
1. Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): tăng trưởng 3,3% (năm 2011 tăng 5,2%), thấp hơn so với kế hoạch 0,5-0,7%, trong đó nông nghiệp tăng 4,0%, lâm nghiệp tăng 0,6% và thủy sản tăng trưởng âm 0,6%.
Sản xuất nông nghiệp được tập trung chỉ đạo chặt chẽ công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, tập trung đầu tư và chủ động đối phó với thiên tai, dịch bệnh, thực hiện các giải pháp cấp bách để khôi phục gia súc, gia cầm nên đã hạn chế được thiệt hại, đảm bảo sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá khả quan.
Trồng trọt: tăng trưởng 4,6%, do sản xuất nông nghiệp được mùa, được giá, nông dân có lợi nhuận, trong đó đặc biệt là cây lúa với diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng (diện tích tăng 3,17%, năng suất tăng 0,7 tạ/ha và sản lượng tăng112.809 tấn so với năm 2011). Tình hình tiêu thụ thuận lợi, nông dân sản xuất lúa có lợi nhuận cao (vụ Đông xuân: lợi nhuận khoảng 15 - 20 triệu đồng/ha; vụ Hè thu: lợi nhuận từ 8 - 10 triệu đồng/ha).
Chăn nuôi: tăng trưởng 0,3% (năm 2011 - 4,9%). Dịch bệnh được tập trung phòng, chống, tuy nhiên vẫn xảy ra dịch bệnh ở một số nơi; chăn nuôi không ổn định và hiệu quả do giá sản phẩm chăn nuôi giảm (từ đầu năm đến cuối tháng 9/2012, giá thịt lợn giảm 22,6%, gà ta giảm 14,9%, gà công nghiệp giảm 26,9%, vịt giảm 8,9%)trong khi chi phí đầu vào tăng nên làm cho người chăn nuôi không có lãi hoặc thua lỗ, nên không tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất. Dịch heo tai xanh xảy ra từ giữa tháng 10 tại huyện Đức Hòa, sau đó lan sang huyện Thạnh Hóa, gây thiệt hại 142 hộ chăn nuôi, với 1.646 con heo/tổng đàn 4.800 con heo bị bệnh, đã tiêu hủy 1.052 con, trọng lượng 34,5 tấn, ước giá trị thiệt hại trên 1,3 tỷ đồng.
Thủy sản: tăng trưởng âm 0,6% (năm 2011 tăng trưởng 3,4%). Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản giảm so với năm 2011. Diện tích nuôi tôm nước lợ giảm 11,2% so cùng kỳ, sản lượng giảm 4,3%. Do ảnh hưởng dịch bệnh, chi phí sản xuất tăng cao, giá tiêu thụ giảm nên diện tích nuôi trồng giảm, hiệu quả không cao (nuôi tôm sú quãng canh lãi 30-40 triệu đồng/ha; nuôi tôm sú thâm canh lãi 70-100 triệu đồng/ha; tôm thẻ chân trắng lãi 50-200 triệu đồng/ha); sản lượng nuôi cá nước ngọt 23.200 tấn tăng 1,1% so CK.
Lâm nghiệp: tăng trưởng 0,6% (năm 2011 tăng 1,4%), năm 2012, trồng 03 triệu cây phân tán và 120 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, đạt 100% KH. Đến cuối năm 2012, diện tích rừng toàn tỉnh là 32.592 ha, giảm 790 ha so với cuối năm 2011 và tỷ lệ che phủ rừng đạt 13,29% (KH 13,7%). Công tác phòng cháy rừng được quan tâm thực hiện, tuy nhiên từ đầu năm đến nay đã xảy ra 9 vụ cháy rừng với diện tích thiệt hại 21,44 ha (tăng 01 vụ và 15,24 ha so CK).
Về tình hình lũ lụt: do lũ năm 2012 nhìn chung thấp so với năm trước; ngoài ra, công tác phòng, chống, đối phó với lụt bão được chuẩn bị và chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời nên không xảy ra thiệt hại.
2. Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II): tăng trưởng 14,6% (năm 2011 17,5%), thấp hơn so với kế hoạch (20,5-21,0%). Trong đó khu vực công nghiệp tăng 14,7% (năm 2011 17,6%) và khu vực xây dựng tăng 13,3% (năm 2011 17,0%).
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 (theo giá CĐ 1994) đạt 26.641 tỷ đồng, đạt 97,2% kế hoạch (KH), tăng 14,7% so với CK, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 30% cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (doanh nghiệp nhà nước chiếm 4,0%, doanh nghiệp nghiệp ngoài nhà nước chiếm 26%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 70%.
Mặc dù vẫn còn khó khăn nhưng sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được mức tăng trưởng hợp lý, đa số duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho không lớn. Những kết quả trên cho thấy các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh bước đầu có phát huy tác dụng.
3. Khu vực thương mại - dịch vụ (khu vực III): tăng trưởng 11,5% (KH là 12,0-12,5%, năm 2011 12,1%), trong đó thương mại tăng 11,6% (năm 2011 11,5%) và dịch vụ tăng 11,4% (năm 2011 12,4%).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 27.895,6 tỷ đồng, đạt 97,9% KH, tăng 24,2% so với năm 2011; kim ngạch xuất khẩu đạt 2.346,7 triệu USD, đạt 96,6% KH, tăng 18,5% so với năm 2011; kim ngạch nhập khẩu đạt1.694 triệu USD, đạt 88,7% KH, giảm 2,8% so với năm 2011. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: gạo, hạt điều nhân, may mặc, giày dép, thủy sản chế biến, cơ khí và bình ắc quy. Hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất.
Riêng về xuất khẩu gạo, tỉnh có 17 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo, năm 2012 xuất khẩu được 587.066 tấn gạo, kim ngạch đạt 312,31 triệu USD. Về hiệu quả: do giá mua lúa, gạo trong nước và chi phí tăng cao, trong khi giá xuất gạo giảm (đầu năm 2012 giá 470-500 USD/tấn theo chủng loại, đến cuối năm 2012 giảm còn 390-420 USD/tấn tùy theo chủng loại), mặc dù số lượng xuất khẩu có tăng ( 22,3% so CK) và kim ngạch tăng ( 16,8% so CK) nên hiệu quả cũng có nhưng không bằng năm 2011.
Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, giá cả, chống buôn lậu và gian lận thương mại được tập trung triển khai thực hiện thường xuyên. Năm 2012, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 2.536 vụ, xử lý 1.042 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách 5.012,5 triệu đồng, đạt 119,3% KH, thu giữ 149.060 gói thuốc lá ngoại, 38 chiếc xe gắn máy 2 bánh, 03 chiếc xe ô tô, 26.198 kg vải nguyên liệu, 272 bột ngọt Ajinomoto và nhiều hàng hóa khác.
Chỉ số giá tiêu dùng đến hết năm 2012 tăng từ 5,36% so với tháng 12/2011. Đây là mức tăng khá thấp so với những năm trước đây, do nhu cầu tiêu dùng đã bị ảnh hưởng trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế.
Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, giao thông - vận tải…, tuy tăng trưởng chậm so với năm trước nhưng hoạt động ổn định, đóng góp vào tăng trưởng chung.
4. Về đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2012 đạt 17.500 tỷ đồng, chiếm 33% GDP (năm 2011 chiếm 34,8% GDP), chủ yếu là do điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn nên các doanh nghiệp hạn chế đầu tư mới và mở rộng quy mô.
Các nguồn vốn XDCB đến hết năm 2012, giá trị khối lượng thực hiện đạt 100% kế hoạch và giá trị giải ngân khả năng đạt 100% kế hoạch.
- Thu hút đầu tư:
Đầu tư trong nước: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 727doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 3.825 tỷ đồng (bằng 93,6% về doanh nghiệp, 48,4% về vốn đăng ký so với năm 2011); giải thể 89 doanh nghiệp với tổng số vốn 300 tỷ đồng; đến cuối năm 2012 có 4.826 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 82.163 tỷ đồng.
Đầu tư nước ngoài: đến hết năm 2012 cấp mới 58 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với vốn đầu tư khoảng 129,5 triệu USD (bằng 85,2% về số dự án, 115% về vốn đăng ký so với năm 2011); đến cuối năm 2012, tỉnh cấp chứng nhận đầu tư cho 456 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 3.341 triệu USD và có 265 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 1.625 triệu USD.
- Về tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước: trong năm 2012 đã cổ phần hóa cho 03 doanh nghiệp (Công ty TNHH MTV cấp nước Long An, Công ty TNHH MTV công trình đô thị Vĩnh Hưng, Công ty TNHH MTV công trình đô thị Đức Hòa) và 02 chi nhánh của Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường Kiến Tường (chi nhánh Thạnh Hóa và Tân Hưng). Dự kiến chính thức chuyển sang hình thức công ty cổ phần các doanh nghiệp trên vào tháng 01/2013.
- Công tác xúc tiến đầu tư ngày càng được hoàn thiện, đổi mới và nâng cao hiệu quả: trong năm, tỉnh đã tổ chức và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các cuộc hội chợ, hội thảo về xúc tiến đầu tư thương mại trong và ngoài tỉnh, đặc biệt với các nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Lào… góp phần thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh.
- Tình hình đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp: toàn tỉnh hiện có 30 khu công nghiệp với tổng diện tích 10.904,6 ha. Có 23 khu đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng diện tích 6.806,5 ha, trong đó 19 khu đã được cấp quyết định thành lập với tổng diện tích 5.753,3 ha, có 16 khu công nghiệp đi vào hoạt động (tỷ lệ lấp đầy khoảng 42,55%). Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp đã thu hút được710 dự án đầu tư, thuê lại 1.188,87ha đất và 34,29 ha nhà xưởng, trong đó có 230 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 1.553,85 triệu USD và 480 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 25.609,1 tỷ đồng.
Hiện có 40 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích đất quy hoạch là 4.234ha. Trong đó: có 17 CCN đã có quyết định thành lập; 32 CCN đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng; 9 CCN đã đi vào hoạt động, tổng diện tích là 746 ha, thu hút được 188 doanh nghiệp đăng ký thuê đất với diện tích 358,242 ha trên tổng số 451,48 ha đất công nghiệp có thể cho thuê, tỷ lệ lấp đầy khoảng 79,35%; có 134 doanh nghiệp thuê đất trong CCN đã đi vào hoạt động, thu hút khoảng 15.000 lao động.
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quan tâm thực hiện. Tiếp tục công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; kiểm tra, thanh tra về môi trường, tiến độ đầu tư được các cơ quan chức năng triển khai thực hiện thường xuyên, xử lý nhiều trường hợp vi phạm. Từ đầu năm đến nay, UBND tỉnh đã có quyết định thu hồi 42 dự án với tổng diện tích 2.530 ha; trong đó, đã có quyết định thu hồi của 25 dự án với diện tích 2.059 ha theo kết luận của Hội đồng đầu tư tỉnh về việc thống nhất chủ trương thu hồi 34 dự án với tổng diện tích 3.294 ha, còn lại 9 dự án với diện tích 785 ha đang hoàn chỉnh thủ tục hồ sơ.
UBND tỉnh đã hoàn thành công tác rà soát các khu, cụm công nghiệp và có văn bản báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương theo Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Đã hoàn chỉnh Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh trình Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hiện UBND tỉnh đã chỉ đạo chuẩn bị công bố và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện.
5. Hoạt động tài chính, tiền tệ
Những khó khăn chung của nền kinh tế đã ảnh hưởng đến thu ngân sách. Bên cạnh đó, việc thực hiện các giải pháp miễn, giảm, gia hạn các khoản thuế để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường theo quy định tại Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ và Nghị quyết số 29/2012/NQ-QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội cũng làm ảnh hưởng giảm nguồn thu ngân sách.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2012 được 4.888,265 tỷ đồng, đạt 105,24% so dự toán Trung ương, đạt 103,67% so dự toán HĐND tỉnh giao, bằng 106,83% so cùng kỳ năm 2011. Hầu hết các khoản thu đạt và vượt dự toán, trong đó thu xổ số kiến thiết 750,268 tỷ đồng, đạt 136,41% so với dự toán HĐND tỉnh giao.
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2012 được 6.647,411 tỷ đồng (đã bao gồm chi từ nguồn NSTW bổ sung và chưa kể chi đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết theo kế hoạch 550 tỷ đồng), đạt 127,7% so dự toán Trung ương, đạt 126% so dự toán HĐND tỉnh giao, bằng 138% so cùng kỳ năm 2011 (trong đó: chi đầu tư phát triển 2.011,883 tỷ đồng, đạt 198% so dự toán Trung ương, đạt 197% so dự toán HĐND tỉnh giao; chi thường xuyên 4.635,528 tỷ đồng, đạt 125,8% so dự toán Trung ương, đạt 122,9% so dự toán HĐND tỉnh giao).
Chi đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết 492,062 tỷ đồng, đạt 89,5% so dự toán HĐND tỉnh giao.
Tổng nguồn vốn hoạt động tín dụng trên địa bàn năm 2012 đạt 34.226 tỷ đồng, tăng 14,32% so năm 2011; tổng dư nợ tín dụng đạt 26.593 tỷ đồng, tăng4,37% so với năm 2011; tỷ lệ nợ xấu là 3,21%, tăng 75,4% so năm 2011. Nhìn chung tỷ lệ dự nợ trên địa bàn tỉnh tăng thấp (4,37% so kế hoạch 8%, đạt 54,62%), nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp đầu tư mới ít và số đang hoạt động thì không đầu tư mở rộng để sản xuất kinh doanh.
6. Tình hình thực hiện một số chương trình trọng tâm
a) Các chương trình đột phá theo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần IX và Nghị quyết HĐND tỉnh:
Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong năm 2012. Tập trung chỉ đạo triển khai 4 Chương trình đột phá và các công trình trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX; triển khai Kế hoạch thực hiện một số Chương trình, Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy như: Chương trình số 08-CTr/TU về khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh Long An; Chương trình số 09-CTr/TU về huy động mọi nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước phục vụ phát triển công nghiệp; Nghị quyết số 02-NQ/TU về xây dựng và phát triển thành phố Tân An giai đoạn 2011- 2020; Chương trình số 11-CTr/TU ngày 27/07/2011 của Tỉnh ủy về kế hoạch phát triển đồng bộ nguồn nhân lực - giải quyết việc làm - giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2011-2015....
Triển khai thực hiện các Nghị quyết kỳ họp của HĐND tỉnh khóa VIII; đồng thời chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung theo kết quả giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, các Ban HĐND tỉnh và kiến nghị của cử tri.
b) Các chương trình trọng tâm khác:
- Thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/TU ngày 20/11/2008 của Tỉnh ủy Long An về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: nhìn chung các ngành đã tích cực triển khai Quyết định số số 1442/QĐ-UBND ngày 10/6/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/TU của Tỉnh ủy.
Về công tác lập quy hoạch nông thôn mới cấp xã có 57/166 xã đã phê duyệtđồ án quy hoạch; 81/166 xã lập xong đồ án đang trình thẩm định phê duyệt; 28/166xã đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch. Riêng 6 xã xây dựng nông thôn mới đến 2013 có 4/6 xã phê duyệt đồ án quy hoạch (Dương Xuân Hội-Châu Thành, Mỹ Yên - Bến Lức, Khánh Hưng - Vĩnh Hưng, Mỹ Lệ - Cần Đước).
Công tác lập đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã: Đến nay, đã có 76/166 xã đã được UBND huyện phê duyệt đề án, 51/166 xã đã lập xong đề án trình UBND huyện thẩm định, phê duyệt, các xã còn lại đang lập đề án. Riêng 6 xã nông thôn mới đến năm 2013 có 6/6 xã được phê duyệt đề án.
Tổ chức kiểm tra, khảo sát tình hình 6 xã điểm nông thôn mới đến 2013, nhu cầu bổ sung vốn đầu tư để xây dựng đạt 19 tiêu chí nông thôn mới khoảng 84 tỷ đồng.
- Quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn 2030: đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1437/QĐ-TTg ngày 03/10/2012. Hiện đang chuẩn bị tổ chức công bố Quy hoạch trên các phương tiện thông tin đại chúng và xây dựng Kế hoạch tổ chức Chương trình Hội nghị công bố dự kiến vào cuối tháng 02/2013.
- Các Chương trình liên kết: tỉnh Long An đã phối hợp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh xây dựng xong báo cáo sơ kết chương trình liên kết hợp tác giữa Long An và các địa phương trên, tuy nhiên chưa tổ chức họp sơ kết do Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh chưa sắp xếp tổ chức.
III. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, tiếp tục có những chuyển biến tích cực; phần lớn các chỉ tiêu đều đạt kế hoạch đề ra.
1. Về giáo dục: thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như đổi mới phương pháp dạy và học, đầu tư nâng cấp trang thiết bị, ứng dụng tin học, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, khắc phục bệnh thành tích nên chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 97,31%, tăng 8,11%, hệ bổ túc THPT 69,24%, tăng 8,94%; xếp loại tốt nghiệp khá, giỏi tăng 11,95% so với năm học trước. Đội ngũ giáo viên được tăng cường, phần lớn đảm bảo chuẩn, nhưng chưa đồng bộ, còn thiếu giáo viên tiểu học, mầm non.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp theo hướng kiên cố hóa, công nhận thêm 57 trường đạt chuẩn quốc gia (lũy kế 221 trường, tỷ lệ 35,9%).
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và THCS được quan tâm củng cố và giữ vững, huy động trẻ vượt chỉ tiêu và tăng so cùng kỳ; phổ cập giáo dục trung học đạt chỉ tiêu (công nhận mới 27 xã, lũy kế 46 xã, tỷ lệ 24,2%); có 38 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non.
2. Về lĩnh vực Y tế: công tác y tế dự phòng có sự tham gia phối hợp của các ngành, các hoạt động truyền thông và giáo dục nâng cao nhận thức trong cộng đồng về phòng, chống các loại dịch bệnh được tăng cường. Nhờ vậy dù dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng được khống chế kịp thời, không để lây lan làm ảnh hưởng sức khỏe người dân, nhiều loại bệnh giảm so cùng kỳ. Bệnh tay - chân - miệng và bệnh sốt xuất huyết được các ngành, các cấp quan tâm nỗ lực phòng, chống theo kế hoạch nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ.
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được tập trung thực hiện, thường xuyên tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình đến tận vùng sâu, vùng xa, củng cố, tập huấn đội ngũ cộng tác viên và cán bộ cơ sở; nhưng do tâm lý năm tốt nên số trẻ sinh tăng9,7 % so với cùng kỳ, mức tăng sinh là 0,8%o (chỉ tiêu giảm sinh 0,2%o). Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm 0,8% (chỉ tiêu giảm 0,4%). Phần lớn các biện pháp tránh thai đạt chỉ tiêu. Có 03 xã không duy trì được mô hình xã, phường không có người sinh con thứ 3 trở lên; thêm 09 xã mới thực hiện được mô hình, lũy kế có 27 xã, phường, thị trấn thực hiện được mô hình .
3. Về văn hóa, thể thao và du lịch
Thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” chuyển biến tốt, nhiều nơi đạt chất lượng, hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của người dân, kiềm chế tệ nạn xã hội, môi trường xã hội lành mạnh hơn. Công nhận mới 12 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa năm 2012 (lũy kế 29 xã). Thực hiện Đề án xây dựng huyện điểm văn hóa Cần Đước đạt kết quả khá tốt (hoàn thành 20/31 tiêu chí). Các huyện, thành phố củng cố tổ chức và hoạt động 190 Trung tâm văn hóa thể thao - Học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn, tỉnh tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho 190 cán bộ lãnh đạo trung tâm.
Thực hiện trùng tu, tôn tạo di tích, phát huy giá trị di tích, gắn với giáo dục truyền thống.
Phong trào TDTT quần chúng được duy trì và phát triển rộng rãi đến cơ sở, số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt tỷ lệ 28,1% (KH là 26,5%). Thể thao thành tích cao đạt kết quả khá tốt. Tham dự Hội khỏe Phù đổng đạt kết quả tốt (khu vực xếp hạng 2/13 tỉnh, thành, toàn quốc xếp hạng 8/63 tỉnh, thành).
Đẩy mạnh quảng bá hình ảnh du lịch, giới thiệu các tour du lịch gắn với phương án khai thác bước đầu Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập - Mộc Hóa và các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh. Đồng thời đẩy mạnh liên doanh, hợp tác nên doanh thu du lịch tăng 30%; số lượng du khách tăng 24% so CK.
Công tác phòng chống bạo lực gia đình được quan tâm thực hiện đạt kết quả, số vụ vi phạm giảm nhiều.
Tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước. Tăng cường quản lý hoạt động internet và trò chơi trực tuyến, từng bước đi vào nề nếp, vi phạm giảm. Thực hiện kế hoạch ngầm hóa cáp viễn thông ở một số trục lộ chính đạt kết quả bước đầu, chưa đảm bảo tiến độ.
4. Về lao động - thương binh và xã hội: tập trung thực hiện kế hoạch phát triển đồng bộ nguồn nhân lực, giải quyết việc làm - giảm nghèo. Mạng lưới cơ sở dạy nghề tiếp tục được phát triển, đến nay có 37 cơ sở dạy nghề, tăng 01 cơ sở so với năm 2011 (gồm 23 công lập, 14 ngoài công lập), đào tạo nghề đạt thấp, 74% KH do không có nguồn tuyển sinh, tỷ lệ lao động qua đào tạo 53,4%. Mở rộng hoạt động sàn giao dịch việc làm, góp phần giải quyết việc làm đạt trên 100% KH; giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống 4,1%; giảm 3.000 hộ nghèo, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống 4,73%.
Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực giảm nghèo cho đội ngũ cán bộ cơ sở và cộng tác viên.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ cho đối tượng người có công; vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa được 7,7 tỷ đồng, gấp 2,6 lần KH đề ra và xây dựng được 141 căn nhà tình nghĩa, đạt 70,5% KH.
Công tác “Đền ơn đáp nghĩa” và đảm bảo an sinh xã hội được các ngành, địa phương quan tâm thực hiện đạt kết quả tốt. Tham gia hoạt động “Về nguồn” đạt kết quả, nguồn vận động tăng. Đẩy mạnh tín dụng hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, cải thiện cuộc sống; tập trung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay để tạo việc làm bền vững cho lao động, thực hiện tốt chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo (được 4.585 căn); đảm bảo cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em, người nghèo; bảo hiểm thất nghiệp, bảo trợ xã hội.
Các ngành, địa phương chủ động phối hợp với doanh nghiệp kịp thời nắm bắt, xử lý tình hình, góp phần ngăn ngừa đình công, lãn công. Tuy nhiên do giá cả tăng cao làm cho đời sống công nhân gặp khó khăn nên đã xảy ra 16 cuộc đình công, bằng 14,5% so CK.
IV. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1. Thực hiện tốt công tác quốc phòng - an ninh; xây dựng lực lượng theo quy định. Công tác gọi thanh niên nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu, đảm bảo chất lượng. Tiếp tục phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, xây dựng được 3/4 vị trí mốc, lũy kế đã xây dựng xong 41/54 vị trí mốc.
2. Tình hình an ninh chính trị ổn định. Chủ động đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Phạm pháp hình sự giảm 1,31% so với cùng kỳ. Bắt, vận động ra đầu thú 68 đối tượng có quyết định truy nã. Lập hồ sơ đưa vào Trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục 155 đối tượng.
Triệt xóa 158 băng nhóm tội phạm có tính chất nguy hiểm, bắt xử lý 580 đối tượng. Đã phát hiện triệt xóa 14 tụ điểm mại dâm, 350 tụ điểm cờ bạc, lập hồ sơ xử lý 1.335 đối tượng.
Tập trung triển khai thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong Năm An toàn giao thông 2012. Tăng cường tuần tra kiểm soát, xử lý 69.961 trường hợp vi phạm, thu phạt 46,788 tỷ đồng, tước giấy phép lái xe 7.852 trường hợp. Tai nạn giao thông xảy ra 735 vụ (giảm 50,87% so với cùng kỳ), làm chết 261 người (giảm 27,30% so với cùng kỳ), bị thương 912 người (giảm 58,38% so cùng kỳ).
3. Công tác phòng chống tham nhũng được tập trung triển khai thực hiện các giải pháp ngăn ngừa, xử lý các vụ án tồn đọng. Công tác thanh tra thực hiện tốt nhiệm vụ theo kế hoạch, đã triển khai 89 cuộc thanh tra các lĩnh vực kinh tế, phát hiện sai phạm về kinh tế số tiền 4,166 tỷ đồng, xử lý 16 tập thể và 61 cá nhân. Thanh tra chuyên đề diện rộng Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên. Duy trì tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời khiếu nại tố cáo, trong đó tập trung các vụ phức tạp, kéo dài, góp phần ổn định tình hình.
V. Xây dựng củng cố chính quyền; cải cách hành chính
1. Thực hiện công tác quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, công chức, công vụ, áp dụng chế độ chính sách theo đúng các quy định pháp luật và phân cấp quản lý hiện hành. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, công chức theo kế hoạch năm 2012. Ban hành Quyết định số 42/2012/QĐ-UBND ngày 08/8/2012 về việc quy định hỗ trợ để thực hiện tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Long An. Triển khai xây dựng Đề án điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mộc Hóa để thành lập thị xã Kiến Tường theo chủ trương của Chính Phủ tại Công văn số 8084/VPCP-WC ngày 11/10/2012.
2. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính theo kế hoạch, trong đó tập trung củng cố nâng cao hiệu quả thực hiện việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính tại một đầu mối, nhiều nơi tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Tổng hợp, thẩm định kết quả rà soát 57 thủ tục, kiến nghị phương án đơn giản hóa 49 thủ tục, nhóm thủ tục hành chính trọng tâm năm 2012. Tỷ lệ cắt giảm chi phí tuân thủ đạt 49,31% (vượt 19,31% chỉ tiêu giao), tương ứng với chi phí tiết kiệm được 67.181.653.581 đồng/năm. Công bố, cập nhật 463 thủ tục hành chính (sửa đổi 260, bổ sung 96, thay thế 03, bãi bỏ 104) thuộc thẩm quyền giải quyết của 16 Sở ngành tỉnh. Đăng tải, công khai kịp thời, đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử tỉnh, Trang tin điện tử Cải cách thủ tục hành chính, website các Sở ngành, địa phương. Tính đến nay, toàn tỉnh có 1.572 thủ tục hành chính, gồm: cấp tỉnh 1.136 thủ tục, cấp huyện 302 thủ tục, cấp xã 134 thủ tục.

B. Đánh giá chung
Quán triệt Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, Chỉ thị của UBND tỉnh về nhiệm vụ năm 2012, UBND các cấp, các ngành có nhiều nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả nhất định trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế tuy không đạt kế hoạch nhưng đạt khá cao; sản xuất nông nghiệp thuận lợi phát triển ổn định, đạt được kết quả tốt trên một số lĩnh vực như: trồng trọt, lâm nghiệp, 10 tháng đầu năm khống chế được dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi.... Sản xuất công nghiệp có dấu hiệu phục hồi, khó khăn trong sản xuất kinh doanh từng bước được tháo gỡ.Thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu duy trì phát triển, tăng so cùng kỳ; thị trường, giá cả cơ bản được kiểm soát.
Công tác đầu tư XDCB được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và chủ động triển khai ngay từ đầu năm (tuy có giao KH chậm so với những năm trước), UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho các chủ đầu tư nên công tác xây dựng cơ bản được cải thiện rõ rệt; kịp thời điều chỉnh quy mô và phương thức đầu tư các công trình trọng điểm của tỉnh phù hợp với điều kiện thực tế.
Môi trường đầu tư được tiếp tục quan tâm, cải thiện; thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định và phát triển.
Thu ngân sách đạt kế hoạch đề ra, chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của tỉnh; chính sách tín dụng, tiền tệ thực hiện chặt chẽ.
Các hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ.
Quốc phòng - an ninh thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra; trật tự an toàn xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo từng bước kiềm chế phát sinh phức tạp.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại:
Tăng trưởng kinh tế chưa bền vững. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội không đạt kế hoạch.
Sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về chi phí sản xuất tăng cao, giá sản phẩm không ổn định, hiệu quả không cao, nhất là lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản; dịch bệnh gia súc xảy ra ở những tháng cuối năm 2012; việc nhân rộng các mô hình (cánh đồng mẫu lớn) còn hạn chế, khó được nhân rộng, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến và bảo quản….
Sản xuất công nghiệp, đầu tư xây dựng còn gặp nhiều khó khăn, nhất là chi phí đầu vào tăng, khó vay vốn tín dụng, lao động có tay nghề thiếu hụt, thị trường không ổn định.
Kết quả thu ngân sách chưa đáp ứng yêu cầu chi đầu tư phát triển, nợ thuế còn lớn, một số lĩnh vực thu không đạt dự toán.
Tiến độ thực hiện các chương trình đột phá, các công trình trọng điểm chưa đạt yêu cầu. Đầu tư XDCB còn một số công trình thi công chậm, kéo dài do chất lượng công tác khảo sát thiết kế, lập dự án, thẩm định, phê duyệt chưa đảm bảo yêu cầu. Công tác quyết toán dự án, công trình hoàn thành chậm. Công tác lựa chọn nhà thầu chưa tốt nên đã có một số đơn vị thi công không đủ năng lực tài chính, thiếu năng lực về thiết bị kỹ thuật, nhân công nên thi công chậm tiến độ. Ngoài ra, một số dự án tiến độ thi công tốt. Giải ngân hết kế hoạch vốn nhưng chưa có nguồn vốn để bổ sung kịp thời....
Công tác lập, thẩm định và phê duyệt, quản lý các loại hình Quy hoạch còn nhiều hạn chế.
Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn còn chậm; tiến độ đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp chưa chuyển biến, tỷ lệ lấp đầy còn thấp do khó khăn chung, thắt chặt tín dụng, đa số các nhà đầu tư không đủ nguồn lực để thực hiện theo cơ chế chính sách quy định tại Nghị định số 69/NĐ-CP; về chủ quan: một số nhà đầu tư không năng lực tài chính phải thu hồi dự án; công tác thẩm tra, phê duyệt đơn giá bồi thường, phương án bồi thường các ngành, địa phương thực hiện chậm.... Công tác đầu tư các khu tái định cư kéo dài, thiếu kiểm tra, đôn đốc nên chậm giao đất ở, gây bức xúc trong nhân dân ở một số dự án.
Ngành thương mại, dịch vụ tuy phát triển đạt kế hoạch đề ra nhưng chưa tương xứng với tiềm năng; sức mua giảm; hệ thống chợ, trung tâm thương mại, các loại hình dịch vụ chậm phát triển. Công tác xúc tiến đầu tư, thương mại chưa mang lại hiệu quả cao. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, . . . còn diễn biến còn phức tạp, công tác quản lý thị trường, giá cả, chống buôn lậu, gian lận thương mại được quan tâm nhiều, nhưng lực lượng mỏng, địa bàn rộng nên hiệu quả chưa cao, đặc biệt là tình hình nhập lậu thuốc lá điếu ngoại còn diễn biến còn phức tạp.
Công tác giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe người dân vẫn còn nhiều bức xúc, hạn chế và nhất là cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu, đội ngũ giáo viên không đồng bộ, bác sĩ còn thiếu; công tác dân số chưa thực sự bền vững, mức giảm sinh không đạt chỉ tiêu. Tuyển sinh đào tạo nghề đạt thấp.
Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội có lúc, có nơi chưa đảm bảo, xảy ra một số việc phức tạp. Tai nạn giao thông tuy giảm cả 3 tiêu chí nhưng số người chết còn ở mức cao. Tình hình khiếu kiện còn diễn biến phức tạp, nhiều vụ việc được Chính phủ kết luận nhưng các hộ dân vẫn khiếu nại, kéo kiện. Tình hình trộm cắp, cướp giật, băng nhóm, tệ nạn xã hội một số nơi chưa được ngăn chặn.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân. Về nguyên nhân khách quan, do tác động từ khó khăn chung của kinh tế trong và ngoài nước. Thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường. Việc triển khai thực hiện các giải pháp về hỗ trợ sản xuất kinh doanh là chủ trương đúng, bước đầu phát huy tác dụng nhưng trước mắt ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Về nguyên nhân chủ quan: một số chủ trương, chính sách chậm triển khai thực hiện; các chương trình đột phá, các công trình trọng điểm chưa cân đối được nguồn lực đầu tư. Công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chưa quyết liệt; kỷ luật, kỷ cương chưa được thực hiện nghiêm.


Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
CỦA KẾ HOẠCH 2013

I. Những thuận lợi, khó khăn
Năm 2013 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục có những thuận lợi căn bản như: sự điều hành linh hoạt của Chính phủ thông qua việc phối hợp hài hòa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cùng những giải pháp đồng bộ khác trong những tháng cuối năm 2012 nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh có thể làm khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng; cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất tiếp tục được tăng cường; một số dự án lớn dự kiến đi vào hoạt động sẽ góp phần tăng tỷ trọng cơ cấu ngành công nghiệp và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng; sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi nêu trên, trong năm 2013, nền kinh tế của tỉnh cũng gặp phải một số khó khăn: kinh tế thế giới và trong nước tuy có hồi phục nhưng còn nhiều khó khăn ảnh hưởng đến công tác thu hút đầu tư của tỉnh; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu; sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh khó lường, đầu ra nông sản không ổn định; tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn gặp nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng còn yếu và chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông; dịch vụ chưa phát triển; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; công tác cải cách hành chính chưa theo kịp yêu cầu phát triển; vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định về trật tự xã hội; tình hình tai nạn giao thông, tội phạm còn diễn biến phức tạp.
II. Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013
1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, giải pháp góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; tập trung thực hiện các chương trình đột phá, công trình trọng điểm của tỉnh; Thường xuyên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tận dụng tốt cơ hội, thu hút mọi nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng kinh tế hợp lý, cải thiện đời sống nhân dân; giải quyết các vấn đề tồn đọng bức xúc; Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2013
a) Chỉ tiêu về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh 11%, trong đó khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng khoảng 3,3%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng khoảng 15,2%; khu vực thương mại - dịch vụ tăng khoảng 11,6%.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khoảng 5.553 tỷ đồng (chưa tính nguồn thu XSKT 650 tỷ).
- Tổng chi ngân sách nhà nước 6.059,735 tỷ đồng (chưa tính chi từ nguồn thu XSKT 650 tỷ đồng).
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 2.900 triệu USD.
- Giá trị kim ngạch nhập khẩu 2.300 triệu USD.
- Sản lượng lương thực 2,7 triệu tấn.
- Tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội đạt khoảng 23.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ khoảng 35-38% GDP, trong đó vốn đầu từ ngân sách khoảng 4.500 tỷ đồng, vốn đầu tư của các thành phần dân cư và doanh nghiệp khoảng 9.500 tỷ đồng, các doanh nghiệp FDI khoảng 9.000 tỷ đồng và các nguồn vốn khác.
b) Các chỉ tiêu xã hội:
- Giải quyết việc làm cho người lao động trên 30.000 lao động.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ 100%.
- Tỷ lệ người có bảo hiểm y tế đạt 82,7%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99%.
- Mức giảm tỷ lệ sinh: 0,1‰.
- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: 40%.
- Tỷ lệ học sinh đi học tiểu học đúng độ tuổi: 99,8%.
- Tỷ lệ hộ nghèo dưới 4,0% (theo tiêu chí của tỉnh).
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng về cân nặng khoảng 13%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 56%, trong đó đào tạo nghề đạt 36%.
c) Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 93% (đô thị 99%).
- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị đạt 92%.
- Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 100%.
- Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm đạt 13,5%.
III. Định hướng phát triển ngành, lĩnh vực
1. Công tác quy hoạch, kế hoạch và dự báo
Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015.
Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, lập mới quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các huyện, thành phố trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Thực hiện tốt công tác dự báo, công tác quản lý và thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch. Tiếp tục quan tâm củng cố, bổ sung biên chế, đội ngũ phụ trách công tác quy hoạch, kế hoạch từ tỉnh đến cơ sở đi liền với việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; triển khai hướng dẫn cấp huyện, xã trong công tác lập, theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm gắn với triển khai quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
2. Lĩnh vực kinh tế
a) Phát triển nông nghiệp, nông thôn:
Tổ chức công bố và triển khai thực hiện quy hoạch vùng lúa chất lượng cao phục vụ chế biến gạo xuất khẩu, vùng mía nguyên liệu, vùng rau an toàn; quy hoạch thực hiện thêm 4.000 ha theo hình thức Cánh đồng mẫu lớn; triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện.
Tiếp tục triển khai và hoàn thành việc lập các quy hoạch nông lâm ngư nghiệp, quy hoạch thủy sản, đê bao lững; quy hoạch - kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; chính sách hỗ trợ người dân trồng cây phân tán; giải pháp, cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư để khắc phục, hạn chế thấp nhất thiệt hại trong nuôi trồng thủy sản, cơ giới hóa trong nông nghiệp.
Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng bằng việc sử dụng giống mới năng suất cao, chất lượng, giống có khả năng kháng bệnh, khuyến khích áp dụng biện pháp để hạ giá thành sản xuất lúa. Khuyến khích đầu tư, ứng dụng các kỹ thuật sơ chế, bảo quản, bao bì, đóng gói, kho lạnh, để hạn chế thất thoát về sản lượng và chất lượng. Kiến nghị Trung ương có cơ chế chính sách hỗ trợ sản xuất tiêu thụ tại các "Cánh đồng mẫu lớn" theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nhân rộng mô hình "Cánh đồng mẫu lớn". Triển khai thực hiện Đề án " Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp tỉnh Long An", đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để những dự án, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực chế biến, bảo quản nông sản sớm đi vào hoạt động.
Khuyến khích phát triển các loại gia súc, gia cầm, thủy sản theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi tập trung trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với chế biến tập trung và xử lý chất thải. Phát triển nuôi lợn chất lượng cao ở một số vùng có lợi thế theo hướng sản xuất công nghiệp, đảm bảo an toàn dịch bệnh. Phát triển đàn bò thịt có năng suất cao, thịt ngon. Tiếp tục áp dụng thâm canh, ứng dụng công nghệ cao đặc biệt là công nghệ nano, thực hành quy trình nuôi tốt, khuyến khích nuôi công nghiệp trên cả diện rộng và quy mô nhỏ để duy trì phát triển thủy sản; đa dạng hóa đối tượng tượng nuôi bên cạnh những đối tượng nuôi truyền thống như tôm sú, tôm thẻ chân trắng,... để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường; triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản ở các huyện Đồng Tháp Mười.
Tập trung đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp như nạo vét các kênh chính, kênh trục nội đồng, xây dựng hệ thống đê bao lững, phát triển các trạm bơm điện, giao thông nông thôn, trong đó lưu ý việc đầu tư các công trình thủy lợi phải gắn với giao thông thuỷ bộ và gắn với việc xây dựng nông thôn mới. Tập trung đầu tư, đảm bảo hết năm 2013 hoàn thành việc đầu tư xây dựng 6 xã nông thôn mới.
Tăng cường công tác bảo vệ rừng và trồng rừng kinh tế (chủ yếu là rừng tràm), đồng thời đẩy mạnh công tác quản lý rừng ở các khu bảo tồn.
Chú trọng phát triển nông thôn ở những vùng khó khăn, biên giới, xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững. Triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận được các dịch vụ về y tế, giáo dục, văn hóa. Tăng cường bảo vệ môi trường nông thôn, thực hiện xã hội hóa dịch vụ ở nông thôn, phát triển hệ thống khuyến nông, dịch vụ thủy nông, thú y, bảo vệ thực vật, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm. Phát triển các mô hình liên kết kinh tế ở nông thôn tạo điều kiện để tích tụ ruộng đất, tăng khả năng cạnh tranh nông nghiệp.
Nâng cao trình độ quản lý, tổ chức, phát triển các loại hình sản xuất trong các trang trại, HTX phục vụ tốt sản xuất kinh doanh. Hình thành mối liên kết hộ sản xuất với trang trại, HTX, doanh nghiệp, tổ chức khoa học, thương mại.
b) Về phát triển công nghiệp - xây dựng:
Tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tạo điều kiện cho các dự án đầu tư, nhất là các dự án có quy mô lớn đi vào hoạt động để tăng nhanh sản lượng công nghiệp, tạo đà tăng trưởng cho năm tiếp theo.
Tiếp tục tiến hành kiểm tra các dự án lớn, các dự án chậm triển khai, chủ đầu tư không có khả năng tài chính, các dự án có khó khăn do quá trình triển khai thực hiện Nghị định 69/2009/NĐ-CP và Quyết định 07/QĐ-UBND ngày 01/3/2010, Quyết định số 17/2011/QĐ-UBND ngày 24/6/2011 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 07/QĐ-UBND để có biện pháp xử lý phù hợp. Đối với các dự án đã thu hồi chủ trương đầu tư nhưng chưa xử lý, tiến hành lấy ý kiến người dân và chính quyền địa phương, đồng thời đối chiếu với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã được phê duyệt để có phương án giữ, xóa quy hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như ổn định đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tập trung giải quyết bảo đảm an sinh trong các dự án đầu tư chưa có nhà đầu tư.
Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại các khu, cụm công nghiệp, xây dựng đề án xây dựng nhà ở cho công nhân và hệ thống hạ tầng xã hội phục vụ người lao động ở các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư tại một số nước, vùng lãnh thổ có công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,… tổ chức tiếp xúc với các tập đoàn kinh tế mạnh trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế để tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư, quan tâm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sử dụng đất hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường. Chú trọng thu hút dự án sản xuất vật tư nguyên liệu, công nghiệp phụ trợ phục vụ phát triển ngành công nghiệp trọng điểm có lợi thế cạnh tranh.
Khuyến khích thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, làng nghề, sử dụng lao động tại chỗ, áp dụng công nghệ tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu và năng lượng trong các hoạt động kinh tế. Chú trọng các nghề sản xuất hàng thủ công, bảo quản, chế biến nông lâm sản, cơ khí nhỏ.
Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả giai đoạn 2011-2015, đề án" Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, khuyến khích áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, quản lý môi trường", đề án "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, xây dựng giải pháp, cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020".
c) Phát triển thương mại, dịch vụ:
Khuyến khích phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó chú trọng việc tìm đầu ra cho nông sản hàng hóa; mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thực hiện chuyển dịch cơ cấu các ngành dịch vụ theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại, xuất nhập khẩu. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chương trình "Đưa hàng Việt về nông thôn" để tạo điều kiện cho người dân nông thôn tiếp cận được các hàng hóa có chất lượng.
Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại theo hướng hiện đại, chấn chỉnh chợ tự phát và xây dựng hệ thống chợ với cấp độ phù hợp tại các địa phương. Thu hút đầu tư xây dựng các loại hình siêu thị, trung tâm thương mại và dịch vụ logistic. Tăng cường công tác quản lý thị trường, hạn chế đến mức tối đa các hiện tượng tiêu cực như đầu cơ, buôn lậu và gian lận thương mại.
Phát triển dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách trong tỉnh. Bên cạnh việc phát triển dịch vụ như trên, cần phải chú trọng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, khai thác tốt và nâng cao chất lượng các dịch vụ như tài chính ngân hàng, tư vấn, thiết kế, khoa học công nghệ, bảo hiểm....
Hoàn thành, triển khai quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Long An nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế biên mậu; trong giai đoạn đầu tư tập trung kêu gọi đầu tư vào khu cửa khẩu Bình Hiệp và Mỹ Quý Tây.
Tập trung hỗ trợ chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng cảng Long An, tiến hành kêu gọi đầu tư trung tâm logistic tại khu vực Cảng Long An và khu vực gần điểm giao của đường Vành Đai 4 và đường cao tốc TP. HCM - Trung Lương nhằm tăng cường vai trò đầu mối của tỉnh với khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
d) Phát triển doanh nghiệp:
Tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định, thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), cụ thể như: hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ đổi mới công nghệ, tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn, xúc tiến mở rộng thị trường. Đẩy mạnh mối liên kết giữa các DNNVV, giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn, hỗ trợ và khuyến khích DNNVV tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Ưu tiên trợ giúp doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ, các DNNVV ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm duy trì chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh (chỉ số PCI) ở nhóm rất tốt.
Khuyến khích phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn. Khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển kinh tế tập thể và hợp tác xã. Tiến hành xem xét, đánh giá kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh, nghiên cứu các chính sách hỗ trợ thích hợp sau khi sắp xếp, đổi mới.
đ) Định hướng đầu tư phát triển:
Tập trung vốn đầu tư các Công trình trọng điểm, Chương trình đột phá, Nghị quyết chuyên đề, Chương trình hành động của Tỉnh ủy và UBND tỉnh như: các công trình trọng điểm theo Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Chương trình phát triển đồng bộ nguồn nhân lực - giải quyết việc làm, giảm nghèo, Chương trình đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn mới, Chương trình đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước phục vụ phát triển công nghiệp, Nghị quyết về xây dựng và phát triển thành phố Tân An giai đoạn 2011-2020, Chương trình hành động của Tỉnh ủy về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, kế hoạch nâng cấp đô thị.
Tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng giao thông quan trọng ngoài khu, cụm công nghiệp nhằm phát huy tối đa lợi thế của tỉnh, thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Đảm bảo đủ vốn đối ứng các dự án ODA; quan tâm đầu tư hệ thống giao thông kết nối các đầu mối giao thông trọng điểm, khu, cụm công nghiệp, khu đô thị mới với hệ thống giao thông quốc gia, nhựa hóa các đường tỉnh lộ.
Nghiên cứu xác định đô thị trung tâm với chức năng cung cấp dịch vụ chất lượng cao, đô thị trung tâm này có thể là Tân An hoặc Bến Lức. Tiến hành hỗ trợ vốn nâng cấp đô thị, xây dựng và kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư vào các dự án quan trọng trong đô thị trung tâm.
Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, nông nghiệp, hình thành vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, thâm canh tăng năng suất gắn với phát triển công nghiệp chế biến; phát triển các cơ sở sản xuất gắn với vùng sản xuất nguyên liệu.Đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu khoa học giống cây, giống con có năng suất cao, chất lượng tốt. Tích cực áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi.
Tiếp tục tăng cường đầu tư cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhất là việc thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên, Đề án xây dựng trường đạt chuẩn. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho lĩnh vực giáo dục theo hướng xã hội hoá. Đẩy mạnh và khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các trường tư thục. Từng bước hiện đại hóa nền giáo dục.
Nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường và bổ sung thiết bị cho các bệnh viện tuyến tỉnh, nâng cấp và hoàn thiện các trạm y tế xã, các trung tâm y tế dự phòng. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân đối với các dự án bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.
Tiếp tục thực hiện việc xã hội hóa trong đầu tư xây dựng và phát triển văn hóa. Đầu tư vốn để bảo tồn các công trình văn hoá, các di tích cách mạng, di tích lịch sử; tiếp tục đầu tư các trung tâm văn hóa - thể thao cấp huyện và cấp xã.
Quan tâm đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội cho xã nghèo, chương trình giảm nghèo, xã vùng khó khăn, biên giới.
Tăng cường quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước nhằm thu hút tối đa và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và các khoản hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nhất là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn. Thực hiện có hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng, chấm dứt tình trạng nhiều công trình có vốn nhưng không giải ngân được do không có mặt bằng để thi công.
Tiếp tục phân cấp đầu tư xây dựng cho các địa phương. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác đấu thầu, khắc phục tình trạng một số nhà thầu có năng lực kém nhưng vẫn được triển khai thực hiện các công trình, dẫn đến tiến độ triển khai thực hiện chậm, chất lượng công trình không đảm bảo.
3. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội
a) Khoa học và công nghệ:
Phát triển khoa học và công nghệ phải gắn với đời sống xã hội, là nhân tố quan trọng để tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, là động lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nâng cao năng lực khoa học công nghệ đi đôi với việc đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, nhất là những đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu vào thực tế sản xuất và đời sống để tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Thực hiện cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tích cực đổi mới công nghệ và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống. Ưu tiên thu hút các dự án thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ.
b) Giáo dục và đào tạo:
Từng bước phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Tiếp tục đổi mới giáo dục và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó cần quan tâm vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên. Chú trọng hơn nữa công tác giáo dục cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tiếp tục xây dựng trường chuẩn quốc gia, trong đó quan tâm giải quyết nhà công vụ cho giáo viên. Khắc phục tình trạng mất đồng bộ giáo viên, bổ sung giáo viên mầm non, hạ thấp tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học. Giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tập trung thực hiện phổ cập giáo dục trung học và phổ cập giáo dục mầm non theo lộ trình.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh giai đoạn 2011 - 2020, Chiến lược phát triển giáo dục tỉnh Long An giai đoạn 2011- 2020, định hướng đến năm 2030.
c) Về công tác dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Thực hiện tốt mô hình xã, phường không có người sinh con thứ 3 trở lên. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành, nhân dân và huy động các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội tham gia công tác dân số, gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là với đối tượng vị thành niên, thanh niên và người dân vùng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm quá tải tại bệnh viện, nhất là tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Chủ động triển khai công tác y tế dự phòng, tăng cường giám sát dịch bệnh, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Triển khai có hiệu quả các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đặc biệt là nhóm nông, lâm, ngư, tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Tiếp tục triển khai thực hiện giá dịch vụ khám chữa bệnh mới đồng bộ với đổi mới về cơ chế đối với các dịch vụ công cho y tế. Đảm bảo tiến độ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện; tiếp tục triển khai có hiệu quả đề án chuẩn hóa trạm y tế xã, gắn với xây dựng y tế xã đạt tiêu chí quốc gia.
Đào tạo đủ về số lượng, chất lượng, tăng cường luân phiên cán bộ giúp tuyến dưới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, triển khai thực hiện chính sách thu hút bác sĩ về cơ sở gắn với đào tạo cán bộ tại chỗ và nâng cao y đức, trình độ cán bộ y tế, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ các hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh. Phát triển y dược cổ truyền.
d) Về lao động - thương binh và xã hội:
Tập trung thực hiện kế hoạch phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và giải quyết việc làm - giảm nghèo của tỉnh gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015.
Gắn kết có hiệu quả giữa việc mở rộng quy mô với nâng cao chất lượng dạy nghề nhằm tăng cường đội ngũ lao động qua đào tạo cả về số lượng và chất lượng; xác định ngành nghề đào tạo cho phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả dạy nghề cho lao động nông thôn theo hướng đào tạo phải có việc làm, nâng cao được thu nhập, ổn định đời sống. Giải quyết tốt vấn đề phân luồng học sinh để tạo điều kiện đẩy mạnh tuyển sinh đào tạo nghề. Triển khai đề án nghề trọng điểm.
Mở rộng và nâng cao hiệu quả sàn giao dịch việc làm, qua đó tăng cường công tác giải quyết việc làm, tạo ra nhiều việc làm mới. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn. Xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, bảo đảm vệ sinh, an toàn lao động trong các loại hình doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất đình công, lãn công.
Tập trung chăm lo tốt đời sống các đối tượng chính sách. Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để đảm bảo an sinh xã hội như: bảo trợ xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ nhà ở, thực hiện đề án nghề công tác xã hội..., ổn định cuộc sống số dân Campuchia trở về nước. Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế người phụ nữ. Quan tâm bảo vệ, chăm sóc trẻ em gắn với xây dựng mô hình xã, phường phù hợp với trẻ em.
đ) Về văn hóa, thể dục thể thao, thông tin và truyền thông:
Đẩy mạnh triển khai thực hiện chiến lược văn hoá; gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với phát triển kinh tế. Nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Kiểm tra nâng cao chất lượng ấp, xã văn hóa. Tập trung xây dựng huyện điểm điển hình văn hóa Cần Đước theo lộ trình. Khuyến khích sáng tạo các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống lành mạnh trong gia đình.Hướng dẫn, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm văn hóa thể thao và học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn.
Phát triển mạnh mẽ thể dục, thể thao quần chúng nhằm tiếp tục triển khai cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" để thu hút đông đảo lực lượng của cả xã hội tham gia dưới nhiều hình thức sinh động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, văn hóa, tăng cường thể chất của nhân dân.
Làm tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc. Thực hiện tốt việc khai thác các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch. Tăng cường quản lý các lễ hội, hoạt động văn hoá, thể thao, bảo đảm tiết kiệm, an ninh trật tự xã hội; huy động các nguồn lực xã hội để tổ chức các lễ hội, hoạt động thể dục thể thao, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách. Có kế hoạch tôn tạo, trùng tu các di tích. Tiếp tục nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản; tăng phủ sóng phát thanh, truyền hình tới các vùng sâu, vùng xa, gắn với đẩy mạnh đưa thông tin về cơ sở. Tăng cường kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh hoạt động internet, báo chí, xuất bản.... Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước. Thực hiện hoàn thành kế hoạch ngầm hóa cáp viễn thông trên một số tuyến đường chính.
4. Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững trên địa bàn tỉnh Long An.
Bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với bảo vệ môi trường.
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản bảo đảm nguồn lực khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, ổn định và lâu dài, đồng thời tăng hiệu quả kinh tế, giảm thiểu các tác động đến môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội trong hoạt động khai khoáng.
Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường; xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường; giải quyết triệt để các "điểm đen", "điểm nóng" về môi trường.
Tích cực phòng ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị và một số vùng nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương; ứng phó và khắc phục hiệu quả các sự cố môi trường; bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học.
Thúc đẩy triển khai thực hiện dự án Khu xử lý rác Tân Thành (Thủ Thừa) và đưa Nhà máy xử lý rác Tân Đông - Thạnh Hóa đi vào hoạt động.
5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân, nhất là các lĩnh vực đầu tư, xây dựng, đất đai, thuế, hải quan, tư pháp.... Triển khai thực hiện có hiệu quả quy trình tiếp nhận đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa một số dịch vụ công gắn với tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước gắn với áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, tạo sự công khai minh bạch và nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý hành chính nhà nước.
Tiếp tục rà soát điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức, biên chế, quy chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả bảo đảm sự điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt có hiệu lực từ tỉnh đến huyện, xã; tạo chuyển biến mạnh về cải cách hành chính. Phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp.
Triển khai thực hiện Đề án thành lập thị xã Kiến Tường và huyện Mộc Hóa.
Nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức cả về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị.
Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm ổn định chính trị, xã hội. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài sản của Nhà nước. Xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
6. Bảo đảm quốc phòng, an ninh
Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh và đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Làm tốt công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn. Tiếp tục triển khai thực hiện công tác phân giới cắm mốc.
Chú trọng kết hợp củng cố an ninh quốc phòng với phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cơ bản các điều kiện sống cho đồng bào vùng khó khăn. Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, tiếp tục thực hiện tốt Chương trình hành động phòng chống ma túy, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, đấu tranh chống tham nhũng, tấn công mạnh tội phạm hình sự. Giải quyết các tụ điểm phức tạp về tội phạm ma túy. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia kiềm chế sự gia tăng tệ nạn xã hội.
Báo cáo này thay thế Báo cáo số 211/BC-UBND ngày 24/10/2012 của UBND tỉnh./.
Lượt người xem:   5047
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​