Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 10:00
Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011
05/01/2015
Theo báo cáo số 42/BC-UBND ngày 07 tháng 01 năm 2011: Thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo tổ chức việc phân giao kịp thời; các ngành,UBND các huyện, thành phố tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2010 với kết quả cụ thể trên các lĩnh vực sau đây:
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm (GDP) năm 2010 đạt 12.777 tỉ đồng (theo giá so sánh 1994). Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,6%, đạt kế hoạch đề ra (12,5-13%), cao hơn mức tăng trưởng năm trước (7,6%), trong đó khu vực I tăng 5% (năm 2009 tăng 4%); khu vực II tăng 19,4% (năm 2009 tăng 8,3%); khu vực III tăng 12,1% (năm 2009 tăng 11,3%). Đây là mức tăng trưởng khá cao trong bối cảnh kinh tế cả nước và thế giới mới bắt đầu vượt qua khủng hoảng. GDP bình quân đầu người đạt 23,2 triệu đồng. Đạt được mức tăng trưởng trên là do khu vực II đã vượt qua được khủng hoảng và từng bước khôi phục sản xuất; đồng thời khu vực I và III cũng tăng trưởng tương đối cao mặc dù trong năm có nhiều dịch bệnh xảy ra, đặc biệt đối với vật nuôi.

Cơ cấu kinh tế chuyển theo đúng định hướng đề ra, giảm ở khu vực I (chiếm 36,8%, giảm 1,4% so với năm 2009); tăng ở các khu vực II (chiếm 33,3%, tăng 0,5%), khu vực III (chiếm 29,9%, tăng 0,9%).

II. Kết quả thực hiện trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu

1. Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): cả năm tăng trưởng đạt 5% (năm 2009 tăng 4%), cao hơn so với kế hoạch 1%, trong đó nông nghiệp tăng 7,6%, lâm nghiệp giảm 0,3% và thủy sản giảm 7,9%.
Sản xuất nông nghiệp được tập trung chỉ đạo chặt chẽ, khắc phục nhiều khó khăn về thời tiết, dịch bệnh nên nhìn chung duy trì được phát triển, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp được nâng lên, tình hình tiêu thụ lúa, gạo cơ bản thuận lợi với giá thu mua hợp lý.
Trồng trọt: tổng diện tích thu hoạch năm 2010 đạt 470.875 ha, bằng 101,6% so năm 2009; năng suất đạt 48,9 tạ/ha, tăng 02 tạ so năm 2009; sản lượng 2.304.761 tấn, tăng 146.087 tấn so với năm 2009, đạt 107,4% kế hoạch năm. Cơ cấu sản phẩm thay đổi theo hướng nâng chất lượng, giống lúa IR50404 duy trì ở mức 20-25% diện tích.

Diện tích các loại cây công nghiệp hàng năm của tỉnh như mía, đậu phộng giảm so với năm 2009 (mía 14.843 ha, giảm 14% so năm 2009, đậu phộng 5.149 ha, giảm 1.628 ha so năm 2009) do chi phí sản xuất như công lao động và vận chuyển cao, hiệu quả kinh tế trồng mía thấp nên nông dân chuyển sang trồng cây trồng khác…

Diện tích và sản lượng một số cây trồng khác tăng như: dưa leo, dưa hấu, mè, chuối, xoài, thanh long do giá cả tăng làm tăng hiệu quả sản xuất.

Chăn nuôi: đàn heo sụt giảm do dịch bệnh heo tai xanh; đàn trâu, bò, gia cầm đều tăng so với năm 2009. Nhìn chung tình hình phát triển đàn chăn nuôi trong năm 2010 gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với đàn heo bị thiệt hại nặng do dịch bệnh heo tai xanh xảy ra từ đầu tháng 7, dịch bệnh xảy ra ở 130 xã, phường, thị trấn của 14 huyện, thành phố và ở 2.178 hộ chăn nuôi, đã tổ chức tiêu huỷ 20.673 con/42.373 con heo bệnh, khối lượng tiêu hủy: 870.241 kg. Hiện nay tình hình dịch bệnh trên heo đã được khống chế và đã công bố hết dịch trên địa bàn tỉnh.

Thủy sản: sản lượng thủy sản các loại đạt 34.100 tấn (kế hoạch 36.000 tấn). Tổng diện tích nuôi tôm nước lợ là 6.158 ha, đạt 110% kế hoạch, năng suất đạt bình quân 10,75 tạ/ha. Sản lượng thu hoạch 6.247 tấn đạt 81,5% kế hoạch; do trong năm gặp nhiều khó khăn như tình hình nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn, ngay từ đầu vụ nuôi tôm đã phát sinh dịch bệnh; tuy nhiên nhờ việc tập trung phòng chống dịch bệnh và hướng dẫn nông dân thả nuôi trái vụ đã giúp sản xuất thủy sản phục hồi.

Lâm nghiệp: Năm 2010 trồng 170,54 ha/KH 450 ha rừng tập trung bao gồm 84,34 ha rừng phòng hộ và 86,2 ha rừng đặc dụng. Trồng 2 triệu cây phân tán đạt kế hoạch đề ra.

Trong năm xảy ra 29 vụ cháy rừng, thiệt hại tổng số 282,15 ha rừng trồng tập trung. Nguyên nhân do đốt ong, đốt đồng gây cháy lan và tình hình khô hạn kéo dài gặp rất nhiều khó khăn trong công tác phòng cháy chữa cháy.

Thực hiện Chương trình nông nghiệp, nông dân, nông thôn bước đầu đạt một số kết quả nhất định; ban hành Bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới của tỉnh và triển khai kế hoạch cụ thể thực hiện Chương trình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo triển khai lập qui hoạch chung ở cấp xã.

2. Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II): cả năm tăng trưởng 19,4% (năm 2009 tăng trưởng 8,3%), thấp hơn so với kế hoạch đề ra (20,5-21%), trong đó, công nghiệp tăng 19,5% và xây dựng tăng 18,7%.

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện năm 2010 đạt 19.424,9 tỷ đồng, đạt 97,7%KH, tăng 21,2% so năm 2009, trong đó kinh tế ngoài quốc doanh có mức tăng cao nhất (25,2%), kế đến là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức tăng 21,1% và doanh nghiệp nhà nước tăng 9%.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục hồi phục và đang dần ổn định. Tuy nhiên, do tác động của việc tăng giá nhiều mặt hàng thiết yếu như: điện, xăng dầu, sắt thép,... cùng với việc cắt giảm điện trong các tháng đầu năm đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí đầu vào của doanh nghiệp và sự tăng trưởng của ngành.

Tình trạng thiếu điện đã bớt căng thẳng. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đến hết năm 2010 đạt 98,3% (KH 98%).

3. Khu vực thương mại - dịch vụ (khu vực III): tăng trưởng 12,1%, đạt kế hoạch đề ra (KH 11,7-12,3%, năm 2009 tăng trưởng 11,3%), trong đó thương mại tăng 11,7% và dịch vụ tăng 12,3%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ thực hiện 17.769,9 tỷ đồng, đạt 101,9% KH, tăng 26,3% so với năm 2009; kim ngạch xuất khẩu đạt 1.441,1 triệu USD, đạt 123,2% KH, tăng 37,5% so với 2009; kim ngạch nhập khẩu đạt 1.154,1 triệu USD, đạt 153,9% KH, tăng 22,9% so với năm 2009. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: gạo, hạt điều nhân, may mặc, giày da và thủy sản chế biến. Hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất.

Thương mại nội địa tiếp tục có sự phát triển; tiếp tục thực hiện tốt Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện thường xuyên hơn, thị trường hàng hóa được mở rộng; tổ chức thành công hội chợ triển lãm năm 2010.

Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, giá cả được triển khai thực hiện thường xuyên, tuy nhiên tình hình buôn lậu, gian lận thương mại vẫn còn xảy ra; giá cả thị trường tăng cao làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, viễn thông… hoạt động ổn định và phát triển, đóng góp vào tăng trưởng chung của khu vực III.

4. Về đầu tư phát triển: vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2010 đạt 42,1% GDP (năm 2009 là 42% GDP), không đạt kế hoạch đề ra (45-45,5%). Nhìn chung, vốn đầu tư phát triển năm 2010 có tăng so với năm 2009 nhờ sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên do sự sụt giảm mạnh của đầu tư trong nước (chỉ bằng 53,7% năm 2009) nên tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội giảm không đạt kế hoạch đề ra.

Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý trong năm 2010 là 1.375,1 tỷ đồng, đạt 113,76% KH và tăng 31,77% so năm trước. Trong đó, ngân sách trung ương 153,303 tỷ đồng, đạt 93,61% KH và tăng 0,36% so năm trước; ngân sách địa phương 791,846 tỷ đồng, đạt 128,76% KH và giảm 9,59% so cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, công tác đầu tư XDCB năm 2010 có nhiều chuyển biến tích cực trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ của các ngành, UBND các cấp, đơn vị thi công nên kế hoạch vốn XDCB năm 2010 được thực hiện khá tốt, đặc biệt hầu hết các công trình trọng điểm chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đều hoàn thành đưa vào sử dụng (chỉ còn một số trụ sở trong số 40 trụ sở xã chậm tiến độ). Kế hoạch năm 2010 được giao sớm nên đã tạo điều kiện cho chủ đầu tư chủ động triển khai thực hiện.

Tuy nhiên vẫn còn một số công trình thi công chậm, kéo dài; chất lượng công tác khảo sát thiết kế, lập dự án, thẩm định, phê duyệt chưa đảm bảo yêu cầu nên khối lượng phát sinh nhiều trong quá trình thi công. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn chậm; quyết toán dự án, công trình vẫn còn chậm. Một số chủ đầu tư chưa làm tốt công tác lựa chọn nhà thầu nên đã lựa chọn các đơn vị thi công không đủ năng lực tài chính, thiếu năng lực về thiết bị kỹ thuật, nhân công nên thi công chậm tiến độ; xây dựng đường ô tô đến trung tâm xã tiến độ chậm, chỉ đạt 3/4 xã so với chỉ tiêu 4/4 xã; còn đường cặp kênh Bảy Thước (về trung tâm xã Vĩnh Bửu) đang triển khai.
- Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước: Năm 2010 thực hiện cổ phần hóa 05 doanh nghiệp, tiến độ thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra.

- Thu hút đầu tư trong và ngoài nước:

Đầu tư trong nước: trong năm 2010 cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được948 doanh nghiệp (năm 2009 cấp được 1.253 doanh nghiệp) với tổng vốn đăng ký17.000 tỷ đồng (vốn đăng ký năm 2009 là 31.670 tỷ đồng); đến cuối năm 2010 có 6.651doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 196.200 tỷ đồng.

Đầu tư nước ngoài: năm 2010 cấp mới 50 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (năm 2009 cấp mới 60 dự án) với vốn đầu tư khoảng 700 triệu USD (năm 2009 là 100 triệu USD). Đến cuối năm 2010 có 355 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 3.240 triệu USD và có 127 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 1.315 triệu USD.

- Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được đổi mới và nâng cao hiệu quả. Trong năm, tỉnh đã tổ chức và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các cuộc hội chợ, hội thảo về xúc tiến đầu tư trong tỉnh và ngoài tỉnh, đặc biệt là xúc tiến đầu tư ở nước ngoài như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Campuchia. Qua đó góp phần thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh.

- Đến nay trên địa bàn tỉnh có 1.451 dự án được giao, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với tổng diện tích là 10.495,9 ha. Đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chính sách vận động Nhà nước và nhân dân cùng mở rộng và nâng cấp các công trình giao thông, tuy nhiên công tác bồithường, giao đất, cho thuê đất, đầu tư và bố trí tái định cư vẫn còn chậm, gây bức xúc trong nhân dân ở một số dự án.

Công tác rà soát, điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất; rà soát, kiểm tra, thanh tra về môi trường, tiến độ đầu tư được các cơ quan trung ương, tỉnh triển khai thực hiện thường xuyên, xử lý nhiều trường hợp vi phạm. Tuy nhiên tình trạng vi phạm về bảo vệ tài nguyên, ô nhiễm môi trường chưa được ngăn chặn và xử lý triệt để.

5. Hoạt động tài chính, tiền tệ

Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Thu ngân sách nhà nước năm 2010 đạt 3.378 tỷ đồng (tăng 39% so với cùng kỳ); vượt 31,3% dự toán HĐND tỉnh giao (chưa kể thu xổ số kiến thiết 520 tỷ đồng, vượt dự toán 30%). Hầu hết các khoản thu đều vượt so với dự toán, trong đó có một số khoản thu vượt xa so với dự toán là thu xuất nhập khẩu, thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết.
Chi ngân sách địa phương năm 2010 đạt 3.881,3 tỷ đồng (tăng 32,4% so với cùng kỳ); vượt 20,2% dự toán HĐND tỉnh giao.
Thu ngân sách nhà nước năm 2010 tăng cao hơn tỷ lệ tăng năm 2009 do thực hiện thu bù tiền thuế đã giảm, giãn năm 2009 và một số nguồn thu vượt xa dự toán. Thu ngân sách nhà nước vượt dự toán được giao tạo điều kiện tăng chi cho con người, bảo đảm an sinh xã hội và bổ sung vào nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển.
Tổng dư nợ tín dụng đạt 19.700 tỷ đồng, tăng 27,15% so với cuối năm 2009. Nhìn chung nền kinh tế của tỉnh đang có sức hấp thu vốn mạnh, tỷ lệ nợ xấu thấp. Nguồn vốn tín dụng tăng do các doanh nghiệp đang tăng cường đầu tư vốn cho sản xuất cho giai đoạn sau suy giảm kinh tế, tạo điều kiện phát triển cho những năm tiếp theo.

III. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội : tiếp tục có những chuyển biến tích cực; phần lớn các chỉ tiêu đều đạt kế hoạch đề ra.

1. Về giáo dục: trong năm đã đầu tư 299,5 tỷ đồng, tăng 23,8% so năm 2009, đến nay toàn tỉnh có 619 cơ sở giáo dục, tăng 21 cơ sở. Huy động trẻ 5 tuổi vào Mẫu giáo đạt tỷ lệ 96,8 %, huy động trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99%, tuyển vào lớp 6 đạt 99,7 %, tuyển sinh vào lớp 10: khối phổ thông đạt tỷ lệ 83,9%, khối GDTX đạt tỷ lệ 96,7%. Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như đổi mới phương pháp dạy và học, đầu tư nâng cấp trang thiết bị, ứng dụng tin học, xây dựng trường học thân thiện; học sinh tích cực, khắc phục bệnh thành tích .... nên chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, tỷ lệ học sinh có học lực yếu, kém ở bậc THCS, THPT giảm dần (loại yếu giảm 1,88%, loại kém giảm 0,28%). Tốt nghiệp THPT đạt 87,14%, tăng 1,1% so năm trước nhưng thấp so với bình quân chung của cả nước và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp loại khá, giỏi còn thấp (8,19%).
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở được quan tâm củng cố và giữ vững.

Tập trung thực hiện kiên cố hóa trường lớp và xây dựng trường chuẩn, nhà ở cho giáo viên, nhà vệ sinh trong trường học; trong năm có thêm 48 trường đạt chuẩn quốc gia, lũy kế đến hết năm 2010 có 126 trường đạt chuẩn, đạt tỉ lệ 21,5%/chỉ tiêu là 20%. Tham gia Hội thi dành cho thanh thiếu niên toàn quốc đạt thành tích tốt (1 giải nhất, 1 giải ba và 6 giải khuyến khích).

2. Về Y tế : công tác y tế dự phòng được duy trì, thực hiện tốt, có sự tham gia phối hợp của các ngành, địa phương trên tinh thần chủ động, tăng cường các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức trong cộng đồng về phòng, chống bệnh nên các loại dịch bệnh trong năm giảm. Sốt xuất huyết giảm 48% và không có tử vong là một cố gắng lớn (trong khi nhiều nơi trong khu vực gia tăng).

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 16% (đạt kế hoạch); tỷ lệ Trạm Y tế xã đạt chuẩn quốc gia đạt 88,9% (đạt kế hoạch); tỷ lệ Trạm y tế xã có bác sĩ đạt 95%, không đạt kế hoạch đề ra 98% do hiện nay chế độ đãi ngộ chưa hấp dẫn bác sĩ về xã công tác.

Công tác dân số đạt kết quả khá tốt do tập trung đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án về dân số - kế hoạch hóa gia đình, thường xuyên mở chiến dịch truyền thông lồng ghép dân số và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ đến tận vùng sâu, vùng xa; đồng thời, kiện toàn củng cố bộ máy cán bộ dân số, nhất là ở cơ sở, mạng lưới cộng tác viên, tỷ lệ sinh giảm 0,2‰ đạt chỉ tiêu đề ra, tỷ lệ sinh con thứ ba giảm so năm 2009.
Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm có chuyển biến do làm tốt công tác truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, thường xuyên thanh tra xử lý, tập trung ở bếp ăn trường học, doanh nghiệp.

3. Về văn hóa, thể thao, du lịch và thông tin, truyền thông: tổ chức nhiều hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, thông tin tuyên tuyền đa dạng, phong phú, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, kể cả vùng sâu, vùng xa, trọng tâm là tuyên truyền về Đại hội Đảng bộ các cấp và cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", tăng cường đưa thông tin về cơ sở nhiều hơn. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa, xã văn hóa được các địa phương quan tâm thực hiện, thường xuyên kiểm tra, củng cố nên chất lượng có chuyển biến, góp phần kiềm chế tệ nạn xã hội, tạo môi trường sống xã hội ngày càng tốt hơn. Đến nay đã có 17 xã, thị trấn ở 11 huyện, thành phố được công nhận là xã văn hóa (03 huyện chưa có xã văn hóa gồm: Đức Huệ, Cần Giuộc và Tân Thạnh do một số tiêu chí chưa đạt), 76,8% ấp, khu phố văn hóa, 93,6% gia đình văn hóa. Triển khai thực hiện đề án Huyện điểm điển hình về văn hóa Cần Đước, đề án xây dựng đời sống văn hóa cho công nhân, lao động trong các khu, cụm công nghiệp. Hoàn thành xây dựng 17 Trung tâm văn hóa thể thao cấp xã ở 14 huyện, thành phố, thành lập Trung tâm Xúc tiến du lịch, đẩy mạnh quảng bá du lịch gắn với các công trình di tích văn hóa, lịch sử cách mạng, doanh thu du lịch tăng 22% so năm 2009.

Thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động dịch vụ internet, băng đĩa hình có nội dung xấu. Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển rộng rãi. Số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt kế hoạch đề ra 25,43% (tăng 3,43% so năm 2009) và số hộ gia đình thể thao đạt kế hoạch 16,9% (tăng 0,9% so năm 2009). Tổ chức thành công Đại hội Thể dục - Thể thao cấp tỉnh lần thứ VI. Thể thao thành tích cao (bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn) được duy trì và đạt kết quả tốt.

4. Về lao động, thương binh và xã hội: chương trình giải quyết việc làm - giảm nghèo, đào tạo nghề được chú trọng và đạt kết quả. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và qui mô đào tạo nghề theo hướng đa dạng hóa và gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Trong năm đào tạo nghề 18.334 lao động, đạt 100%KH, giải quyết việc làm30.000 lao động, đạt 100% kế hoạch. Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 7,96% (năm 2009: 9,4%); tỷ lệ lao động qua đào tạo là 50%, trong đó qua đào tạo nghề là 30%, đạt kế hoạch đề ra. Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 thực hiện đảm bảo tiến độ kế hoạch, đã xong việc điều tra, khảo sát ngành, nghề cần đào tạo và nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, chọn huyện Vĩnh Hưng làm điểm và xác định 2 mô hình dạy nghề, mở 138 lớp dạy nghề cho 4.712 lao động. Tổ chức tập huấn cho lực lượng điều tra viên phục vụ tổng điều tra hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn mới của Chính phủ.

Thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ đối với các đối tượng chính sách. Công tác đảm bảo an sinh xã hội được các ngành, địa phương quan tâm thực hiện đạt kết quả tốt, trong năm xây dựng 66 căn nhà tình nghĩa; đẩy mạnh tín dụng hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, cải thiện cuộc sống; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em và người nghèo, xây mới 4 điểm vui chơi giải trí cho trẻ em; trợ cấp, cứu tế xã hội kịp thời cho các đối tượng khó khăn, giải quyết kịp thời bảo hiểm thất nghiệp cho lao động. Thực hiện chương trình “Về nguồn” năm 2010 tại xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng đạt nhiều kết quả, góp phần cải thiện hạ tầng nông thôn và đời sống nhân dân. Thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo năm 2010 được 1.930 căn/KH 3.143 căn do nguồn vốn tín dụng thiếu.

IV. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được khiển khai thực hiện tốt, hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm như tuyển quân, tuyển sinh quân sự, chiêu sinh đào tạo bổ túc sĩ quan dự bị, huy động huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng động viên, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh. Tổ chức tổng kết các chuyên đề theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ như: tổng kết 10 năm công tác giáo dục quốc phòng - an ninh; 12 năm phòng chống tội phạm; 5 năm thực hiện công tác phòng không nhân dân…triển khai thực hiện Quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2010.

Tình hình an ninh, chính trị ổn định; an ninh biên giới giữ vững, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa chính quyền, lực lượng chức năng và nhân dân hai bên biên giới; hỗ trợ nâng cấp, sửa chữa 2 tuyến đường qua nước bạn Campuchia giúp phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới. Các ngành chức năng tăng cường công tác bảo vệ an ninh trật tự, nhất là đại hội Đảng các cấp. Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội so cùng kỳ có giảm; tội phạm hình sự giảm 24,6% (658/873 vụ); tai nạn giao thông đến tháng 10/2010 xảy ra 1.608 vụ, làm chết 238 người, giảm 4% (10 người) so cùng kỳ năm 2009, đã xử phạt 35.806 vụ vi phạm giao thông, thu phạt 19,5 tỷ đồng.

Tích cực quan hệ với các ngành chức năng Campuchia để thực hiện kế hoạch phân giới cắm mốc, xây dựng hoàn chỉnh 15 vị trí mốc (có 02 vị trí mốc đôi) . Nâng tỷ lệ số mốc xây dựng từ trước đến nay là 32/54 vị trí mốc.


V. Xây dựng củng cố chính quyền; cải cách hành chính; công tác thanh tra và phòng, chống tham nhũng

Thực hiện công tác quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, công chức, công vụ,
áp dụng chế độ chính sách theo đúng các quy định pháp luật và phân cấp quản lý hiện hành. Đã ban hành quy định sửa đổi việc phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và quản lý công chức; quyết định thành lập, sáp nhập, chuyển giao đầu mối quản lý, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện; thành lập xong Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Tân An và 5 huyện Bến Lức, Đức Hòa, Cần Đước, Cần Giuộc, Mộc Hóa.

Phân bổ biên chế, tuyển dụng, bố trí đội ngũ công chức, viên chức các cấp đáp ứng yêu cầu công việc. Tiếp tục công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, thực hiện chế độ hỗ trợ, trợ cấp (đã chi 4,5 tỷ đồng theo KH 2010). Sửa đổi, bổ sung chế độ chính sách hỗ trợ đối với cán bộ tăng cường, luân chuyển, điều động công tác, đối với bác sĩ công tác tại xã... Tổng kết thực hiện chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực 2001-2010, xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh 2011-2015 và đến 2020.

Sơ kết, báo cáo về tổ chức và hoạt động của UBND các cấp từ đầu nhiệm kỳ 2004-2011, đề ra nhiệm vụ đến cuối nhiệm kỳ. Kịp thời phê chuẩn việc thay đổi thành viên UBND cấp huyện, hoạt động ổn định sau Đại hội Đảng. Quyết định chức danh, số lượng và một số chế độ chính sách đối với cán bộ cấp xã theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP. Chỉ đạo tổ chức lấy phiếu tín nhiệm cán bộ chủ chốt cấp xã, bầu cử và tập huấn Trưởng ấp, khu phố (13/14 huyện, thành phố) đúng quy định.

Chỉ đạo chuyển đổi bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính sang hệ tọa độ quốc gia VN-2000. Tổng kết 10 năm thực hiện công tác dân vận chính quyền theo Chỉ thị 18/2000/CT-TTg.

Tổ chức tổng kết thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 2001-2010, đề xuất phương hướng 2011-2020. Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra đẩy mạnh thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; bồi dưỡng tin học văn phòng cho cán bộ xã; ủy quyền UBND huyện, thành phố xét tuyển giáo viên. Thực hiện Đề án 30, kết thúc rà soát thủ tục hành chính được Trung ương công nhận tỉ lệ đơn giản hóa của tỉnh đạt 50,4% (vượt 20,4% chỉ tiêu được giao); quyết định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số thủ tục hành chính cấp tỉnh, huyện, xã. Chỉ đạo thống nhất làm việc buổi sáng ngày thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, huyện, xã.

Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành án dân sự, số vụ tổ chức thi hành đạt kế hoạch của Bộ Tư pháp. Công tác tự rà soát văn bản được thực hiện theo quy định, UBND tỉnh đã Quyết định công bố 288 văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực thi hành; hủy bỏ, bãi bỏ và dự kiến sửa đổi bổ sung, ban hành văn bản mới thay thế.

Tổ chức nhiều phong trào thi đua phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mục tiêu năm 2010 và 5 năm 2006-2010, thi đua “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức Hội nghị điển hình tiên tiến các cấp và Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Long An lần thứ III năm 2010.

Tăng cường công tác tuyên truyền Luật phòng, chống tham nhũng, kiểm tra, đôn đốc thực hiện kế hoạch phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; củng cố BCĐ, thành lập Văn phòng BCĐ phòng chống tham nhũng; tổng kết công tác phòng chống tham nhũng 2006-2010. Hoàn thành kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo qui định.

Tổ chức thanh tra 71 cuộc, trong đó kết thúc 54 cuộc với tổng số tiền sai phạm 2.693 triệu đồng; đã thu hồi được: 1.186 triệu đồng. Tập trung công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp trên 1.805 lượt người với 2.999 đơn, đã giải quyết 1.953 đơn.

VI. Đánh giá chung

Nhìn chung, năm 2010 nền kinh tế của tỉnh có sự phục hồi rõ nét, cả 3 khu vực đều tăng trưởng khá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng, hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Sản xuất nông nghiệp, nhìn chung ổn định và phát triển, nhất là lĩnh vực trồng trọt; công nghiệp được khôi phục và dần dần phát triển; đầu tư phát triển được tập trung chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ khó khăn nên tiến độ thực hiện và tiến độ giải ngân đạt khá; môi trường đầu tư được tiếp tục quan tâm, cải thiện; thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định và phát triển. Thu chi ngân sách chặt chẽ, đạt yêu cầu đề ra; các hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều tiên bộ; quốc phòng - an ninh thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra; trật tự an toàn xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo từng bước kiềm chế phát sinh phức tạp.

Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại: chất lượng tăng trưởng chưa bền vững, sản xuất nông nghiệp còn hạn chế nhất định về công tác giống, các vùng chuyên canh chưa thể hiện rõ, công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật còn hạn chế, chưa quan tâm nhiều đến phát triển lâm nghiệp, dịch bệnh phát sinh ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp, đời sống một bộ phận vùng nông thôn còn khó khăn. Bảo vệ môi trường được tập trung, nhưng vi phạm còn xảy ra, việc khắc phục, xử lý những tồn tại còn chậm. Vốn đầu tư trên các lĩnh vực còn thiếu, không đủ nguồn để cân đối, bổ sung, đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều vướng mắc, tiến độ thi công một số công trình vẫn chậm ; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tiến độ đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp và tái định cư chậm xử lý các vướng mắc nên tiến độ chậm, gây bức xúc trong nhân dân về tái định cư ở một số dự án; ngành thương mại, dịch vụ tuy phát triển đạt kế hoạch đề ra nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thực hiện tốt công tác bình ổn giá cả, thị trường.
Công tác giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe người dân vẫn còn nhiều bức xúc, hạn chế, nhất là cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ giáo viên, bác sĩ còn thiếu, học sinh bỏ học còn cao. Công tác dân số chưa thực sự bền vững, số xã thực hiện mô hình không có người sinh con thứ ba trở lên còn quá ít (18 xã/chỉ tiêu 30 xã).

Công tác cải cách hành chính chưa theo kịp yêu cầu phát triển. An ninh, trật tự an toàn xã hội vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định về trật tự xã hội; tình hình tai nạn giao thông, tội phạm hình sự và tệ nạn ma túy, tệ cờ bạc, số đề, hoạt động internet còn diễn biến phức tạp.
Tồn tại trên có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ quan cơ bản là:

- Quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ của các ngành, UBND các cấp có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, một số cơ quan còn thụ động, tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; trong xử lý thiếu sự phối hợp để giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc gây bức xúc trong nhân dân.

- Ý thức chấp hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân còn hạn chế trên một số lĩnh vực như môi trường, an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội; tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với dân ở một số lĩnh vực còn xảy ra...

Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011
I. Những thuận lợi, khó khăn

1. Về thuận lợi

Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX; Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015; qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 là cơ sở thuận lợi để xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011 và những năm tiếp theo.

Bước vào thực hiện kế hoạch năm 2011, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang có xu hướng phục hồi khá nhanh trên tất cả các ngành, lĩnh vực; kinh tế vĩ mô tương đối ổn định; cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ, nhiều cơ chế chính sách phát triển được bổ sung và sửa đổi kịp thời, đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Vị thế, tiềm năng, tiềm lực, những thành tựu của tỉnh đã đạt được trong thời gian qua cùng với môi trường đầu tư được chấn chỉnh, cải thiện, thu hút nhiều nhà đầu tư sẽ là nguồn lực tăng thêm rất lớn để góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Sau thành công của đại hội Đảng bộ các cấp, hệ thống chính trị của tỉnh tiếp tục được kiện toàn; những kết quả bước đầu trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế...

2. Những khó khăn

Năm 2011, nền kinh tế của tỉnh vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức nhất là thiên tai, dịch bệnh diễn ra rất khó lường; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế; nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại...

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu và chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, điện, nước... trong khi nguồn vốn đầu tư của tỉnh có hạn, chưa đáp ứng được yêu cầu; nguồn điện phục vụ sản xuất, tiêu dùng khả năng tiếp tục thiếu trong năm 2011.

Chất lượng nguồn nhân lực thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn ở mức cao, trình độ tay nghề, tác phong, ý thức kỷ luật trong lao động công nghiệp còn hạn chế. Quản lý văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội còn nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển...

II. Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011

1. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu

a) Mục tiêu: đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế với mức hợp lý, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo.

b) Nhiệm vụ chủ yếu:

Tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp để tháo gỡ khó khăn trong đầu tư, sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh đầu tư các công trình, dự án có hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển để lấy lại đà tăng trưởng của các năm trước suy giảm kinh tế. Phấn đấu đạt chỉ tiêu tăng trưởng từ 13,5%-14% trong năm 2011.

Xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX để triển khai thực hiện ngay từ đầu năm 2011 các chương trình đột phá, các công trình trọng điểm, các chỉ tiêu và mục tiêu nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết.

Triển khai rà soát, bổ sung, xây dựng mới qui hoạch vùng, qui hoạch phát triển nông nghiệp, qui hoạch phát triển công nghiệp, qui hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015, qui hoạch tài nguyên khoáng sản giai đoạn 2011-2020 và các loại hình qui hoạch khác, bảo đảm phù hợp với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhằm phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, năng suất cao, chất lượng, hiệu quả gắn với thị trường tiêu thụ, với công nghiệp chế biến nhằm phát triển sản xuất, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân. Duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản. Xây dựng và thực hiện chương trình đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn mới.

Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, từng bước chủ động việc hợp tác sản xuất các thiết bị đầu vào công nghệ cao dành cho một số ngành công nghiệp mà tỉnh có thế mạnh. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, giảm dần tỷ lệ công nghiệp gia công lắp ráp, tăng tỷ lệ công nghệ chế tạo, chế tác có giá trị gia tăng cao.

Có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực trong và ngoài ngân sách để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh; cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chính sách xã hội hóa.

Phát triển các ngành dịch vụ của tỉnh theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển đa dạng hóa các ngành và sản phẩm dịch vụ. Mở rộng mạng lưới dịch vụ nông thôn, thương mại biên giới nhằm tạo điều kiện cho người sản xuất giao lưu hàng hóa.

Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo ngành nghề theo cơ cấu phù hợp để phục vụ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đầu tư cơ sở vật chất của ngành theo hướng chuẩn hóa; đẩy mạnh xã hội hóa trên các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, lao động, văn hóa...

Tập trung thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Chú trọng hoàn thiện hệ thống y tế, giáo dục nhằm nâng cao khả năng tiếp cận y tế, giáo dục của người dân, đặt biệt là người dân tại các khu vực vùng sâu, vùng xa.

Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là các khu vực trọng điểm, khu vực biên giới, thực hiện phân giới cắm mốc theo kế hoạch, ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2011

a) Chỉ tiêu về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh từ 13,5% -14%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4% - 4,2%; ngành công nghiệp, xây dựng tăng 21% - 21,5%; ngành thương mại, dịch vụ tăng 12,5% - 13%.

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 1.706 triệu USD, tăng 25%.

- Giá trị kim ngạch nhập khẩu 1.298 triệu USD, tăng 18%.

- Huy động khoảng 42% GDP vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.

- GDP bình quân đầu người: 27,6 triệu/người/năm.

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 3.480 tỷ đồng (chưa tính nguồn thu XSKT 500 tỷ); tổng chi ngân sách nhà nước 4.086,995 tỷ đồng (chưa tính chi từ nguồn thu XSKT 500 tỷ đồng).

- Sản lượng lương thực: 2,3 triệu tấn.

- Xây dựng mới 14 trụ sở xã.

b) Các chỉ tiêu xã hội:

- Giải quyết việc làm cho người lao động: 30.000 lao động.

- Tỷ lệ người có bảo hiểm y tế đạt 59%.

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện trên 98,5%.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: 25%.

- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học: 5%.

- Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông đạt 52%.

- Tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học đạt 150/vạn dân.

- Công nhận đạt chuẩn văn hóa: 8 xã, phường, thị trấn.

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 90%.

- Mức giảm tỷ lệ sinh: 0,2‰.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1%.

- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 1,8% (theo tiêu chí TW) và 6,55% theo tiêu chí mới của tỉnh.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng về cân nặng dưới 16%; suy dinh dưỡng về chiều cao
24,4%.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%, trong đó đào tạo nghề là 32%.

c) Chỉ tiêu về môi trường:

- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 91%, đô thị 93%.

- Tỷ lệ rác được thu gom tại thành phố, các thị trấn: 87%.

- Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đã đi vào hoạt động: 100%.

- Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2011 đạt 14%.

3. Các cân đối lớn

a) Cân đối thu chi ngân sách:

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 3.480 tỷ đồng (chưa tính nguồn thu XSKT 500 tỷ); tổng chi ngân sách nhà nước 4.088,735 tỷ đồng (chưa tính chi từ nguồn thu XSKT 500 tỷ).

b) Cân đối vốn đầu tư phát triển:

Dự báo khả năng huy động nguồn vốn đầu tư phát triển năm 2011 là 17.000 tỷ đồng, bằng 42% GDP (giá hiện hành). Nguồn vốn huy động như sau:

- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 3.150 tỷ đồng chiếm 18,5% tổng vốn đầu tư, trong đó: ngân sách địa phương quản lý 2.000 tỷ đồng (kể cả vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn khác do địa phương quản lý), ngân sách Trung ương đầu tư trên địa bàn 1.150 tỷ đồng (các công trình giao thông, công nghiệp trung ương đầu tư trên địa bàn).

- Nguồn vốn tín dụng 400 tỷ đồng chiếm 2,5% tổng vốn đầu tư.

- Nguồn vốn từ doanh nghiệp nhà nước 350 tỷ đồng chiếm 2,2% tổng vốn đầu tư.

- Nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh 4.800 tỷ đồng chiếm khoảng 30,7% tổng vốn đầu tư.

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6.400 tỷ đồng chiếm 40,9% tổng vốn đầu tư.

- Các nguồn vốn khác 3,6%.

III. Các giải pháp chủ yếu phát triển ngành, lĩnh vực

1. Lĩnh vực kinh tế

a) Phát triển nông nghiệp, nông thôn: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng từ 4% - 4,2%:

Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn mới từ năm 2011 đến năm 2015. Tập trung các nguồn lực để thực hiện tốt nhiệm vụ, kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2011; trong đó tập trung khảo sát, lựa chọn các tiêu chí có điều kiện và công tác lập qui hoạch chung cấp xã, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể để tập trung triển khai thực hiện.

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch ngành nông, lâm, thủy sản để phát triển ổn định, hiệu quả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, duy trì phát triển diện tích tràm, đay cung ứng cho các nhà máy hoạt động năm 2011.

Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch đê bao lửng vùng Đồng Tháp Mười nhằm bảo đảm bơm tưới gieo sạ lúa Đông Xuân kịp thời vụ, bảo vệ sản xuất lúa Hè thu. Xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng chất lượng cao đối với những mặt hàng nông sản chính của địa phương.

Nâng cao tỷ trọng lúa chất lượng cao, mở rộng diện tích sản xuất lúa giống 3 cấp; thực hiện mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo liên kết 4 nhà quy mô 1.000 ha nhằm tạo tiền đề cho việc mở rộng hình thành vùng lúa chất lượng cao; chỉ đạo chặt chẽ lịch thời vụ, cơ cấu giống lúa, kỹ thuật canh tác… để phòng tránh dịch bệnh góp phần ổn định, tăng năng suất lúa.

Chuyển dịch cơ cấu cây màu theo hướng gia tăng diện tích, năng suất, xây dựng vùng sản xuất rau an toàn có nhãn hiệu, đa dạng hóa rau quả thực phẩm. Hoàn thiện cơ sở sản xuất giống cây trồng, vật nuôi để đi vào sản xuất nhằm cung ứng được nguồn giống chất lượng tốt cho nhân dân.
Thực hiện hiệu quả công tác phòng chống, đối phó với thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; tăng cường công tác dự báo, tiếp tục triển khai thực hiện các công tác chống hạn, mặn, lũ, nạo vét hệ thống thủy lợi theo kế hoạch. Tập trungthực hiện kế hoạch phòng chống, dịch bệnh trong nông nghiệp; theo dõi chặt chẽ, hướng dẫn kịp thời các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi, tiếp tục thực hiện công tác quản lý bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.

Tăng cường công tác chuyển giao khoa học công nghệ trong nông nghiệp, giúp nông dân nắm, áp dụng tốt các biện pháp thâm canh, sử dụng các chủng loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống thủy sản, thức ăn chăn nuôi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật - hiệu quả. Triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chương trình hỗ trợ cơ giới hóa nông nghiệp, thực hiện chính sách hỗ trợ cho vay, hỗ trợ lãi suất mua máy móc thiết bị nông nghiệp theo qui định của Chính phủ, hướng dẫn nông dân áp dụng công nghệ nuôi an toàn sinh học và vệ sinh an toàn thực phẩm: không sử dụng kháng sinh, dùng các chế phẩm sinh học nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất.

Chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực về quản lý cho các cán bộ quản lý hợp tác xã, trang trại, tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm, giảm nghèo, nước hợp vệ sinh và vệ sinh môi trường nông thôn…

b) Về phát triển công nghiệp – xây dựng: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng21% - 21,5%.

Tổng kết báo cáo thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy về huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước phục vụ phát triển công nghiệp.

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch về công nghiệp để bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Tích cực thực hiện các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh năm 2011, bảo đảm tính công khai, minh bạch, từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và kinh doanh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp; ban hành và thực hiện qui chế phối hợp giữa các ngành, giữa ngành với các địa phương để giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp. Xây dựng và thực hiện qui hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015 và qui hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản giai đoạn 2011-2020.

Xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể và triển khai thực hiện các chương trình đột phá và các công trình trọng điểm. Xây dựng cơ chế đầu tư nâng cấp các đô thị theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đề ra và kế hoạch xây dựng và phát triển thành phố Tân An giai đoạn 2011-2020. Lập danh mục, lộ trình xây dựng các công trình XDCB giai đoạn 2011-2015 gắn với nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước.Tập trung triển khai thực hiện các giải pháp xây dựng cơ bản năm 2011; tiến hành khảo sát, lập hồ sơ, cân đối vốn để triển khai xây dựng mới 14 trụ sở xã xong trong năm 2011; đồng thời huy động các nguồn lực cân đối đầu tư các dự án chưa ghi trong kế hoạch năm 2011.

Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài các khu, cụm công nghiệp để thu hút đầu tư, ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông nối kết với thành phố Hồ Chí Minh. Đôn đốc đầu tư xây dựng các khu tái định cư để bố trí kịp thời chỗ ở cho các hộ dân bị di dời, giải tỏa và các đề án xây dựng nhà ở cho công nhân, hệ thống hạ tầng xã hội phục vụ người lao động ở các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức sơ kết thực hiện Chỉ thị số 26/2007/CT-UBND ngày 13/12/2007 của UBND tỉnh về việc tăng cường quản lý nhà nước trong công tác thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh nhằm củng cố, chấn chỉnh, lập lại trật tự trong tiếp nhận đầu tư, xử lý môi trường (không bố trí xong tái định cư thì không cho triển khai đầu tư xây dựng; không có hệ thống xử lý môi trường thì không cho khánh thành, hoạt động sản xuất, kinh doanh, không tiếp nhận đầu tư ngoài khu, cụm công nghiệp, trừ các ngành nghề đặc thù của tỉnh…).

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và hoàn thiện hệ thống các qui định có liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng nhằm đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng các khu, cụm công nghiệp để sớm giao đất cho nhà đầu tư; tiếp tục thanh tra, kiểm tra các dự án trên địa bàn, kiên quyết thu hồi chủ trương đầu tư, thu hồi đất đối với các dự án chậm triển khai, chủ đầu tư không có khả năng tài chính, kể cả thu hồi các dự án đầu tư theo kết luận thanh tra.

Tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư tại một số nước, vùng lãnh thổ có công nghiệp phát triển; làm việc với các tập đoàn kinh tế mạnh trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế để tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư mới, góp phần nâng cao, lấp đầy trong các khu, cụm công nghiệp.

Tuyên truyền vận động thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, làng nghề; sử dụng lao động tại chỗ, áp dụng công nghệ tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu và năng lượng trong các hoạt động kinh tế; chú trọng các nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản, cơ khí nhỏ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp.

c) Phát triển thương mại, dịch vụ: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng từ 12,5% - 13%:

Khuyến khích phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng mạng lưới dịch vụ nông thôn, tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Kêu gọi và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia xây dựng chợ, siêu thị, trung tâm thương mại theo quy hoạch, tập trung đôn đốc tháo gỡ các khó khăn để thực hiện nhanh các chợ đã có chủ trương và đang tiến hành xây dựng. Tổ chức công bố cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp; củng cố tổ chức và hoạt động các cửa khẩu, triển khai kêu gọi đầu tư và khai thác có hiệu quả kinh tế biên mậu.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát giá cả và thực hiện các giải pháp bình ổn giá cả, thị trường; tập trung thực hiện công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại, ngăn chặn đầu cơ, nâng giá thu lợi bất chính làm mất ổn định thị trường, gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân góp phần ngăn chặn lạm phát tăng cao.

Thực hiện các giải pháp để đầu tư và phát triển, nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, cảng, vận tải, y tế, giáo dục, tư vấn, thiết kế, khoa học công nghệ,…

d) Nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp:

Tiếp tục rà soát đề nghị, sửa đổi các quy định, thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Áp dụng công nghệ thông tin trong hệ thống đăng ký kinh doanh, thiết lập cơ sở dữ liệu thông tin chung về doanh nghiệp.

Hoàn thành công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh, thực hiện tốt công tác hậu kiểm. Xây dựng các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động như: hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, từng bước đổi mới công nghệ; tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn, xúc tiến mở rộng thị trường; liên kết giữa các doanh nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Ưu tiên trợ giúp doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ, các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Khuyến khích phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn. Khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển kinh tế tập thể.

đ) Định hướng về thu, chi ngân sách:

Đẩy mạnh cơ cấu thu ngân sách chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các nguồn thu hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng cường phân cấp thu cho các huyện để nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn thu, khai thác và mở rộng nguồn thu ngân sách, tăng cường kiểm tra, tránh thất thu…, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách hàng năm trên 10%.

Tăng dần tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi. Thực hiện quản lý ngân sách theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định, bố trí ngân sách, đảm bảo cho các nhiệm vụ chi thường xuyên và các yêu cầu đột xuất, cấp bách, đồng thời tập trung cho chi đầu tư phát triển với cơ cấu ngày càng tăng trong tổng chi ngân sách. Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chi tiêu công bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả; rà soát, hạn chế các khoản chi chưa thật sự cấp bách hoặc không thiết thực.

2. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh xã hội

a) Về khoa học và công nghệ:

Tạo môi trường thuận lợi cho việc gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Xây dựng chính sách sử dụng hiệu quả, trọng dụng và phát huy tài năng cán bộ khoa học và công nghệ.

Phát triển thị tr¬ường khoa học và công nghệ. Triển khai các chương trình đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Xây dựng và triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ tại vùng nông thôn. Triển khai thực hiện Chương trình quốc gia về ứng dụng và phát triển công nghệ cao đến năm 2020.

Đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, trong đó ưu tiên đầu tư, ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp, mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ trong xây dựng xã nông thôn mới; chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh hàng hoá trong sản xuất công nghiệp; Ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là công tác quản lý nhà nước...

Triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và phát triển tài sản trí tuệ, xây dựng thương hiệu hàng hóa... để tạo ra giá trị sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường. Xây dựng kế hoạch hình thành và thúc đẩy phát triển các loại hình chợ công nghệ.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện các pháp lệnh về tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, về chuyển giao công nghệ và thiết bị, về sở hữu công nghiệp...

b) Về giáo dục và đào tạo:

Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng cả nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, đào tạo nhân tài, đặc biệt chú trọng giáo dục lý tưởng, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục, tiến tới xây dựng cơ chế tự đảm bảo chất lượng và các trường tiến hành tự đánh giá theo định kỳ, tiếp tục thực hiện chống bệnh thành tích trong giáo dục. Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015; triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập.

Tăng cường đầu tư từ ngân sách và cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chính sách xã hội hóa huy động nhiều nguồn lực cho giáo dục, đào tạo nhằm cải thiện điều kiện dạy và học thật tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Tiếp tục công tác quy hoạch và thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp, công tác phổ cập, nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia lên 25% và xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học đạt 5%.. Cân đối nguồn lực triển khai thực hiện Đề án phổ cập giáo dục Mầm non.

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, đặc biệt có giải pháp khắc phục tình trạng thừa, thiếu và không đồng bộ trong đội ngũ giáo viên. Xây dựng và thực hiện giải pháp hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, lưu ban và phòng ngừa bạo lực học đường.

Triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học; đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ ở trung học cơ sở và trung học phổ thông; triển khai có hiệu quả việc giảng dạy tiếng Anh ở tiểu học theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án đảm bảo có đủ giáo viên, nhân viên các ngành học, cấp học về số lượng và cơ cấu giai đoạn 2011-2015.

c) Về công tác dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh 0,2‰ và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Tập trung thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về Đề án Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu dân số - kế hoạch hóa gia đình năm 2011.

Đẩy mạnh thực hiện mô hình xã, phường không có người sinh con thứ ba trở lên và giảm số người sinh con thứ ba. Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành, nhân dân và huy động các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội tham gia công tác dân số, gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là với đối tượng vị thành niên, thanh niên và người dân vùng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, gắn với nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Tiến tới mọi người được cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, đến hết năm 2011 tỷ lệ người có bảo hiểm y tế đạt 59%, chỉ tiêu tiêm chủng mở rộng trên 95%, tiến tới thanh toán bệnh sởi năm 2012, tập trung chỉ đạo công tác phòng chống dịch, tăng cường giám sát dịch tể không để các bệnh dịch nguy hiểm xảy ra. Củng cố, tăng cường mạng lưới phong khám đa khoa khu vực.

Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh từ tuyến cơ sở đến tỉnh. Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá bằng nhiều hình thức phù hợp để huy động tốt nguồn lực xã hội phát triển y tế, mở rộng dịch vụ, giảm quá tải bệnh viện, đặc biệt là tuyến tỉnh, đến hết năm 2011 phấn đấu đạt tỷ lệ 20 giường/vạn dân (hiện nay là 18 giường/vạn dân). Triển khai đầu tư xây dựng Bệnh viện Sản nhi và Bệnh viện Tâm thần.

Đẩy mạnh đào tạo bổ sung nguồn cán bộ y tế đang thiếu. Tăng cường đầu tư trang thiết bị bức thiết và cán bộ giúp y tế cơ sở nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Chú ý giáo dục nâng cao y đức và thái độ phục vụ của cán bộ y tế, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ y tế tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh. Đẩy mạnh hoạt động vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong trường học, bệnh viện, doanh nghiệp; tăng cường thanh tra, kiểm soát, hạn chế thấp nhất vi phạm.

d) Về lao động, thương binh, xã hội:

Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phát triển đồng bộ nguồn nhân lực - giải quyết việc làm, giảm nghèo.

Tập trung thực hiện đạt hiệu quả Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tăng cường đầu tư trang thiết bị và đào tạo giáo viên phục vụ tốt công tác đào tạo nghề. Đẩy mạnh công tác tư vấn, giới thiệu việc làm gắn với xuất khẩu lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn. Thực hiện nhiều biện pháp, chính sách phù hợp điều kiện thực tế để hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo còn 6,55%. Triển khai xây dựng báo cáo chuyên đề về thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư và ổn định cuộc sống người dân, hộ giải tỏa ớ các khu, cụm công nghiệp.

Quan tâm thực hiện tốt các công tác góp phần đảm bảo an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo trợ xã hội, giải quyết việc làm, hỗ trợ tín dụng cho người nghèo phát triển sản xuất, xây nhà tình nghĩa và cơ bản hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho người nghèo (trên 1.700 căn). Bảo vệ, chăm sóc, xây dựng khu vui chơi, giải trí cho trẻ em gắn với thực hiện mô hình xã phường phù hợp với trẻ em. Tăng cường thanh tra doanh nghiệp thực hiện pháp luật lao động đối với người lao động, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh, tạo mối quan hệ lao động hài hòa, lành mạnh, góp phần hạn chế đình công, lãn công.

đ) Phát triển văn hoá, thể thao, du lịch và thông tin, truyền thông:

Tập trung nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với thực hiện xã văn hóa và huyện điểm điển hình văn hóa Cần Đước. Củng cố nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp xã đạt chỉ tiêu đề ra. Đầu tư xây dựng Trung tâm văn hóa theo Đề án xây dựng đời sống văn hóa cho công nhân lao động trong các khu, cụm công nghiệp. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống lành mạnh trong gia đình, làm hạn chế bạo lực gia đình.

Tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt kế hoạch tham gia Hội khỏe Phù đổng, đảm bảo đạt mục tiêu đề ra. Phát triển mạnh phong trào thể dục, thể thao quần chúng thông qua cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" để thu hút đông đảo lực lượng của cả xã hội tham gia dưới nhiều hình thức sinh động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, văn hóa, tăng cường thể chất của nhân dân.

Quan tâm thực hiện tốt công tác bảo tồn, bảo tàng. Tăng cường quản lý, phát huy, khai thác tốt giá trị các công trình di tích lịch sử, văn hóa đã được đầu tư để giáo dục truyền thống và gắn kết với phát triển du lịch. Đẩy mạnh xúc tiến du lịch theo hướng xã hội hóa trên cơ sở khai thác tốt tiềm năng sẵn có.

Nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, in ấn, xuất bản. Tăng cường thông tin tuyên truyền các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong đó chú trọng tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng. Đẩy mạnh thông tin đối ngoại, chống sự xâm nhập các sản phẩm độc hại, phản văn hóa, gây phương hại tư tưởng, đạo đức xã hội; nêu cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh với các luận điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015; thực hiện Chỉ thị 422 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 14 của UBND tỉnh về củng cố, phát triển hệ thống hạ tầng viễn thông.

3. Về tài nguyên môi trường và phát triển bền vững

Khẩn trương xây dựng và triển khai thực hiện khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững.

Bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với bảo vệ môi trường.

Triển khai thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ môi trường; giải quyết triệt để các "điểm đen", "điểm nóng" về môi trường; đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ đầu tư khu xử lý rác tại huyện Thạnh Hóa và các địa phương khác. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường...

Tích cực phòng ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị và một số vùng nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương; ứng phó và khắc phục hiệu quả các sự cố môi trường; bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học.

4. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội

Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh và đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Làm tốt công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn.

Chú trọng kết hợp củng cố an ninh quốc phòng với phát triển kinh tế xã hội. Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, tiếp tục thực hiện tốt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Giải quyết các tụ điểm phức tạp về tội phạm ma tuý. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để kiềm chế tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; ổn định an ninh nông thôn, an ninh công nhân; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động lợi dụng gây mất ổn định an ninh xã hội. Tăng cường giao lưu, hợp tác kinh tế đối ngoại; đẩy mạnh hợp tác phát triển với Campuchia; tiếp tục triển khai thực hiện công tác phân giới, cắm mốc. Đẩy mạnh công tác xây dựng xã, phường trong sạch, vững mạnh, không có tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư".

5. Xây dựng bộ máy chính quyền, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng

Tổ chức thực hiện kịp thời các quy định pháp luật, trong đó chú ý thực hiện tốt quy định tại Nghị định số 09/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Tổng kết hoạt động UBND các cấp nhiệm kỳ 2004-2011, tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh các cấp khóa mới. Triển khai thực hiện chương trình cải cách hành chính 2011-2020, tập trung công tác kiểm soát thủ tục hành chính; đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong công tác quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở gắn với công tác dân vận chính quyền. Tiến hành chuyển đổi bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính sang hệ tọa độ quốc gia VN-2000. Triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương chính sách, pháp luật về công tác dân tộc, tôn giáo, thi đua khen thưởng. Tăng cường hợp tác phát triển kinh tế, xã hội với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính rõ ràng, cụ thể tại công sở.

Tiếp tục triển khai và thực hiện đồng bộ Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện tốt kế hoạch thanh tra, kiểm tra. Tiếp tục thực hiện các giải pháp giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân không để điểm nóng xảy ra. Tập trung đẩy mạnh công tác thi hành án...

Đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức gắn với chương trình phát triển nguồn nhân lực của tỉnh giai đoạn 2011-2020 vả Đề án đào tạo cán bộ giai đoạn 2010 - 2015 đến năm 2020 của Tỉnh ủy. Nâng cao ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong giải quyết các thủ tục hành chính, khó khăn vướng mắc của nhân dân, doanh nghiệp, xem đây là giải pháp quan trọng trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ năm 2011.

Báo cáo này thay thế báo cáo số 4206/BC-UBND ngày 03/12/2010 của UBND tỉnh.
Lượt người xem:   18649
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​