Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 09:30
Về đánh giá thực hiện phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010
05/01/2015
Theo báo cáo số 3958/BC-UBND ngày 10 tháng 11 năm 2009: Trong bối cảnh chung của cả nước, thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo tổ chức việc phân giao kế hoạch cho các đơn vị cơ sở đúng tiến độ; các ngành, UBND các cấp tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2009 với kết quả cụ thể trên các lĩnh vực sau đây:
A. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2009:
I. Tăng trưởng kinh tế:
Tổng sản phẩm (GDP) năm 2009 ước đạt 11.340 tỉ đồng (theo giá so sánh 1994). Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 7,6%, không đạt kế hoạch đề ra (14,5%), thấp hơn mức tăng trưởng năm trước (14,1%), trong đó khu vực I tăng 3,7% (năm 2008 tăng 5,7%); khu vực II tăng 8,3% (năm 2008 tăng 25,0%); khu vực III tăng 11,4% (năm 2008 tăng 11,0%). Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2002 đến nay và là năm đầu tiên trong vòng 5 năm qua có mức tăng dưới 2 chữ số. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 18,85 triệu đồng. Nguyên nhân do ảnh hưởng suy thoái kinh tế nên ngành công nghiệp của tỉnh tăng trưởng thấp; khu vực nông nghiệp và thương mại dịch vụ tương đối ổn định mặc dù trong năm có nhiều dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi.
Cơ cấu kinh tế năm 2009 giảm ở khu vực I (chiếm 37,2%, giảm 2,2% so với năm 2008); tăng ở các khu vực II (chiếm 33%, tăng 0,6%), khu vực III (chiếm 29,8%, tăng 1,6%). Tuy không đạt kế hoạch về tốc độ tăng trưởng nhưng nhìn chung cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo đúng định hướng.
II. Kết quả thực hiện trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu:
1. Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): Ước cả năm đạt tăng trưởng 3,7% (năm 2008 tăng 5,7%), thấp hơn so với kế hoạch 0,8%. Thành tựu nổi bậc của ngành nông nghiệp trong năm qua là sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi với mức tăng 24,5%. Ngành thuỷ sản trong năm gặp rất nhiều khó khăn và phát triển không đồng đều, chủ yếu do dịch bệnh, giá cả nên diện tích và sản lượng tôm sú giảm mạnh so với năm 2008, riêng diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng và cá lại tăng cao.
Trồng trọt: năm 2009 toàn tỉnh gieo trồng 463.594 ha lúa, tăng 6.579 ha (1,44%) so cùng kỳ; năng suất thu hoạch 46,9 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha; sản lượng 2.158.674 tấn,giảm 19.372 tấn (0,9%) so cùng kỳ, bằng 107,9% kế hoạch đề ra. Tuy sản lượng lúa cả năm giảm nhưng cơ cấu sản phẩm thay đổi theo hướng nâng chất lượng: lúa thường giảm 4,9% sản lượng (trong đó giống lúa IR50404 giảm 34,6%), lúa đặc sản (kể cả nếp) tăng 22,7%. Về cơ cấu diện tích, giống lúa IR50404 giảm từ 23,1% tổng diện tích năm 2008 xuống 15,2% tổng diện tích năm 2009.
Cùng với sự sụt giảm sản lượng lúa, các loại cây chất bột (bắp, khoai lang, khoai mì, khoai mỡ) và các loại cây công nghiệp hàng năm truyền thống của tỉnh (đậu phộng, mía, thuốc lá, đay, cói) đều giảm sản lượng; sản lượng một số cây trồng khác tăng như: dưa leo, dưa hấu, mè, chuối, xoài, thanh long.
Chăn nuôi: hoạt động chăn nuôi đã hồi phục qua từng năm và đến nay số lượng gia cầm đã vượt mốc trước khi xảy ra dịch cúm gia cầm năm 2004, nên chăn nuôi phát triển và có hiệu quả.
Thủy sản: Diện tích nuôi cá cả năm 3.136ha (tăng 2,5%), sản lượng 23 ngàn tấn (tăng 2,9%). Diện tích nuôi tôm 5.667ha (giảm 18,1%), sản lượng 6.000 tấn (tăng 4,9%).
Nhìn chung sản xuất nông nghiệp năm 2009 còn nhiều khó khăn: dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tuy được khống chế những vẫn phát sinh cục bộ; thời tiết không thuận lợi cho việc xuống giống cây trồng; diện tích thả nuôi tôm (nhất là tôm sú, càng xanh) giảm do giá cả thấp…nhưng đã tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, tiếp tục thực hiện các giải pháp phòng chống dịch bệnh, kịp thời ban hành khung lịch thời vụ gieo sạ đồng loạt cho từng vụ sản xuất để né rầy; tập trung thực hiện công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học công nghệ, nâng cao tỷ lệ giống đạt chuẩn chất lượng; tổ chức hội thảo, đề xuất giải pháp vùng nguyên liệu mía của tỉnh.
Ngoài ra, các ngành, UBND các huyện, thành phố còn tập trung thực hiện chương trình hành động của Tỉnh ủy, Quyết định của UBND tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, bước đầu đạt được kết quả nhất định, như: tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch hỗ trợ cơ giới hóa nông nghiệp; triển khai thực hiện các cánh đồng có giá trị tăng thêm; xây dựng đề cương về chương trình phát triển nông thôn mới; rà soát, bổ sung các qui hoạch, đề án như: qui hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp, qui hoạch phát triển thủy lợi, đề án hỗ trợ phát triển trạm bơm điện nhỏ phục vụ tưới tiêu ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười, đề án phát triển vùng lúa chất lượng cao 40.000ha vùng Đồng Tháp Mười, qui hoạch vùng rau oan toàn, xây dựng chương trình giống nông nghiệp, lâm nghiệp, đề án đổi mới hoạt động khuyến nông , khuyến lâm, khuyến ngư, xây dựng dự án cùng thanh long xuất khẩu…
2. Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II): cả năm tăng trưởng 8,3% (năm 2008 tăng trưởng 25%), thấp hơn so với kế hoạch đề ra 23,4%. Trong đó, công nghiệp tăng 7,8% và xây dựng cơ bản tăng 11,9%.
Mức tăng chung của giá trị sản xuất công nghiệp là 8,1%, trong đó kinh tế ngoài nhà nước (gồm doanh nghiệp và hộ cá thể) tăng cao nhất (11,2%). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do chịu tác động mạnh bởi yếu tố thị trường ngoài nước nên kết quả sản xuất tăng chậm hơn (7,7%).
Kinh tế ngoài nhà nước có tốc độ phục hồi tương đối nhanh hơn các loại hình khác nhờ linh hoạt trong sản xuất và tiêu thụ (đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa), đồng thời được tiếp cận nguồn vốn có hỗ trợ lãi suất. Đến cuối tháng 9/2009, hoạt động công nghiệp chế biến được cho vay hỗ trợ lãi suất với dư nợ 1.271 tỉ đồng, chiếm 22,3% tổng dư nợ có hỗ trợ lãi suất (bình quân các năm ngành công nghiệp chế biến chỉ vay từ 10-11% tổng dư nợ).
Từ quí 3/2009 sản xuất công nghiệp có tín hiệu tích cực sau khi suy giảm chạm đáy vào cuối quí 2. Trong tháng 10/2009 có 34/41 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu có sản lượng tăng so tháng 9/2009. Lũy kế 10 tháng có 18/41 (tương đương 44%) nhóm sản phẩm có sản lượng tăng so cùng kỳ. Dự kiến đến cuối năm sẽ có hơn 50% nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu có sản lượng tăng so cùng kỳ.
3. Khu vực thương mại-dịch vụ (khu vực III): tăng trưởng 11,4%, tương đương mức tăng năm 2008, trong đó thương mại tăng 11,1% và dịch vụ tăng 11,5%.
Điểm nổi bật trong năm 2009 là đã kiểm soát được lạm phát, không để xảy ra tình trạng tăng giá mạnh như trong năm 2008. Tỷ lệ lạm phát 10 tháng đầu năm 2009 đạt 6,2%, dự kiến tỷ lệ lạm phát năm 2009 khoảng 7,5% (Cả nước: 10 tháng đầu năm 2009 giá cả tăng 7,2% so cùng kỳ. Cả năm 2008 tăng 23% so với năm 2007).
Khu vực III duy trì tăng trưởng nhờ chính sách kích cầu nội địa nhưng không gây biến động về giá, giúp thị trường trong nước phát triển lành mạnh, sức mua toàn xã hội được nâng cao, cơ cấu tiêu dùng hàng sản xuất trong nước tăng lên, giúp sản xuất phát triển.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2009 ước đạt 14.040 tỉ đồng/kế hoạch 14.450 tỉ, tăng 21,3% so năm 2009; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1 tỉ USD/kế hoạch 1,12 tỉ USD đạt 89,3%KH, tăng 8,2% so cùng kỳ năm 2008; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 650 triệu USD/kế hoạch 565 triệu USD, đạt 115%KH và tăng 6,6% so cùng kỳ năm 2008.
Nền kinh tế đang có sức hấp thu vốn rất mạnh. Dự kiến đến cuối năm tổng dư nợ tín dụng đạt 15.782 tỉ đồng, tăng 35% so với đầu năm (vượt mức khống chế tăng trưởng tín dụng ở mức 30% theo chủ trương của trung ương).
Hoạt động viễn thông phát triển thêm 22 ngàn thuê bao cố định (tăng 11,3% so với đầu năm) và 270 ngàn thuê bao di động, tăng 34%. Truyền hình cáp phát triển thêm 4.900 thuê bao, tăng 73,1% so với cuối năm 2008.
Siêu thị Coopmart được đưa vào họat động, một mặt cơ cấu lại thị phần hàng tiêu dùng, mặt khác nâng cao sức mua của người dân nhờ hàng hóa phong phú về chủng loại, dễ dàng về tiếp cận và lựa chọn. Hoạt động giáo dục được khép kín các cấp đào tạo từ phổ thông đến đại học; trường đại học Kinh tế Công nghiệp Long An tuyển sinh thêm 2.000 sinh viên, nâng số sinh viên lên hơn 6.000. Chủ trương nâng lương tối thiểu từ 540 ngàn đồng lên 650 ngàn đồng, góp phần làm gia tăng cơ cấu chi tiêu trong xã hội của lực lượng cán bộ, công chức. Tất cả những tác động trên giúp cho khu vực III tăng trưởng nhanh hơn và cơ cấu tăng lên nhiều hơn.
Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường được triển khai thực hiện thường xuyên, nhưng có nơi, có lúc còn chưa chặt chẽ, tình trạng gian lận thương mại còn xảy ra nhiều, tình hình buôn lậu trên địa bàn tỉnh còn diễn biến phức tạp. Giá cả thị trường còn chưa ổn định, nhất là giá lúa gạo, trong năm việc tiêu thụ lúa gạo của nông dân gặp rất nhiều khó khăn, giá cả thấp, thường bị tư thương ép giá. Vì vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo tập trung lãnh đạo thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xuất khẩu, mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu; đề xuất với Chính phủ các giải pháp giá cả thu mua, xuất khẩu, dự trữ lương thực để tiêu thụ hết sản lượng lúa, gạo hàng hóa trong dân. Tăng cường quản lý, phân công rõ trách nhiệm từng ngành, huyện thị trong công tác kiểm soát chặt chẽ thị trường hàng hóa, ổn định giá cả, tập trung chống buôn lậu và gian lận thương mại, phát huy giám sát của nhân dân trong công tác quản lý thị trường.
4. Về đầu tư phát triển: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2009 ước đạt 42% GDP (năm 2008 là 45,5% GDP), sự sụt giảm này là do tình trạng suy giảm kinh tế làm cho đầu tư của khu vực ngoài nhà nước giảm sút.
- Kế hoạch vốn xây dựng cơ bản năm 2009 là 1.023,59 tỷ đồng, trong đó tỉnh quản lý 752,85 tỷ đồng (có 15 tỷ vốn nước ngoài), huyện quản lý 270,74 tỷ đồng (có 30,98 tỷ vốn thuộc chương trình mục tiêu quốc gia). Tổng giá trị khối lượng xây dựng cơ bản đến tháng 11/2009 đạt 79,1% kế hoạch năm (nguồn vốn tỉnh quản lý đạt 79,6%, nguồn vốn huyện quản lý đạt 79,7%); tỷ lệ cấp phát 11 tháng đạt 68,1% (nguồn vốn tỉnh quản lý đạt 66,3%, nguồn vốn huyện quản lý đạt 71,2%). Ước thực hiện cả năm khối lượng và cấp phát đạt 100% kế hoạch.
Nhìn chung về công tác đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 có nhiều chuyển biến tích cực như: củng cố Hội đồng đầu tư tỉnh, củng cố các Ban quản lý dự án, thành lập mới Ban quản lý dự án y tế; thực hiện điều chuyển vốn nội nguồn, nội ngành, tập trung ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm, công trình sắp hoàn thành, hạn chế được dàn trải; thường xuyên kiểm tra, xử lý tháo gỡ về thủ tục đấu thầu, tiếp tục phân cấp, ủy quyền một số thủ tục đầu tư xây dựng; đốn đốc, kiểm tra tiến độ đầu tư xây dựng, xử lý cắt hợp đồng một số nhà thầu không thi công hoặc chậm so với hợp đồng…
Công tác đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra như: công tác chuẩn bị đầu tư, tiến độ đầu tư một số công trình rất chậm, do các nguyên nhân sau đây:
Về khách quan: nguồn vốn đầu tư XDCB của tỉnh còn hạn chế, chưa thể đáp ứng hết nhu cầu các công trình XDCB đang triển khai, một số công trình do thiếu vốn nên tiến độ triển khai chậm; tình trạng khan hiếm lao động ngành xây dựng.
Về chủ quan: các chủ đầu tư chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình quản lý dự án; công tác chuẩn bị đầu tư còn nhiều hạn chế, các đơn vị tư vấn thiết kế năng lực hạn chế dẫn đến việc thiết kế làm phát sinh quá nhiều trong quá trình thi công, việc đo đạc giải phóng mặt bằng còn nhiều sai sót dẫn đến việc khiếu kiện của nhân dân làm cho công tác giải phóng mặt bằng kéo dài; năng lực của nhà thầu hạn chế dẫn đến thi công kéo dài.
- Thu hút đầu tư trong và ngoài nước sụt giảm so với năm trước, nhất là trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài:
Đầu tư trong nước: tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2009 có 958 doanh nghiệp được thành lập với tổng vốn đăng ký 15.702 tỷ đồng, ước đến hết năm 2009 cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được 1120 doanh nghiệp (năm 2008 cấp được 750 doanh nghiệp) với tổng vốn đăng ký 18.700 tỷ đồng (vốn đăng ký năm 2008 là 26.450 tỷ đồng); lũy kế đến cuối năm 2009 có 5.552 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 148.854 tỷ đồng.
Đầu tư nước ngoài: tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2009 có 44 dự án được cấp mới với tổng vốn 51,8 triệu USD; so với cùng kỳ năm trước giảm 9 dự án và vốn giảm 386,2 triệu USD, ước đến hết năm 2009 cấp mới 60 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (năm 2008 cấp mới 68 dự án) với vốn đầu tư gần 100 triệu USD (năm 2008 là 528 triệu USD). Lũy kế đến cuối năm 2009 dự kiến tỉnh cấp chứng nhận đầu tư 317 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2.630 triệu USD và có 125 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 1.220 triệu USD.
- Công tác xúc tiến đầu tư được đổi mới và nâng cao hiệu quả. Trong năm, tỉnh đã tổ chức nhiều công việc liên quan đến xúc tiến đầu tư như xây dựng đĩa phim “Long An – điểm đến đầu tư” và đĩa phim tư liệu phát sóng trên kênh HTV9, xây dựng tập sách về giới thiệu tiềm năng và hướng dẫn đầu tư, đồng thời trong tháng 11 năm 2009 tổ chức xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản. Tham gia tích cực vào các hội thảo về xúc tiến đầu tư ở một số địa phương khác trong khuôn khổ hợp tác khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Qua đó tỉnh đã ký kết được một số biên bản ghi nhớ đầu tư với các đối tác về đầu tư một số công trình hạ tầng như: BOT Đường tỉnh 830; cấp nước các khu, cụm công nghiệp thành phố Tân An, huyện Đức Hoà, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc; dự án năng lượng tái tạo từ phế phẩm nông nghiệp; lò hoả thiêu…
- Tình hình đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp: Toàn tỉnh hiện có 20 khu công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch là 7645,18 ha và 44 cụm công nghiệp với tổng diện tích 6.051,8 ha. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 1.345 dự án được giao, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với tổng diện tích là 8.597,97 ha.
Về kiểm tra, thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư: Năm 2009, UBND tỉnh đã thu hồi chủ trương đầu tư đối với 18 dự án. Đã kiểm tra, rà soát các dự án đầu tư tại huyện Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ, Đức Hoà và thành phố Tân An, đang tiếp tục kiểm tra, rà soát trên địa bàn các huyện còn lại. Qua đó, Đoàn đã trực tiếp đôn đốc, thúc đẩy các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án, cũng như giúp doanh nghiệp tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc; kết thúc kiểm tra sẽ tổng hợp, đề xuất việc thu hồi chủ trương đầu tư đối với các dự án không triển khai hoặc chậm triển khai mà do nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.
Lập Đoàn thanh tra để thanh tra chế độ quản lý, sử dụng đất của các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng trong khu công nghiệp Đức Hòa 3; đã kết thúc việc thanh tra và có báo cáo kết quả thanh tra, gởi dự thảo kết luận thanh tra cho các doanh nghiệp để có giải trình trước khi UBND tỉnh kết luận chính thức.
Ngoài ra, UBND tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để điều chuyển chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 giữa các huyện và thành phố Tân An, trình HĐND tỉnh thông qua tại kỳ họp lần thứ 22.
5. Hoạt động quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Ước thu ngân sách nhà nước năm 2009 đạt 2.406,7 tỷ đồng (tăng 10,9% so với cùng kỳ); vượt 15,97% dự toán tỉnh giao (chưa kể thu xổ số kiến thiết 420 tỷ đồng, vượt dự toán 33%). Hầu hết các khoản thu đều vượt dự toán, trong đó có một số khoản thu vượt xa so với dự toán là thu xuất nhập khẩu, thu sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết.
Ước chi ngân sách địa phương năm 2009 đạt 3.406,9 tỷ đồng (tăng 29,82% so với cùng kỳ); vượt 20% dự toán tỉnh giao.
Thu ngân sách nhà nước năm 2009 tăng ít hơn tỷ lệ tăng năm 2008 do chính sách kích cầu của Chính phủ như miễn, giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân. Tuy nhiên trong năm nguồn thu từ sử dụng đất và xổ số kiến thiết của tỉnh vượt rất xa so với dự toán, góp phần tích cực vào cân đối thu chi cho ngân sách tỉnh.
Thu ngân sách nhà nước vượt dự toán được duyệt để tăng chi cho con người, bảo đảm an sinh xã hội và bổ sung vào nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển.
6. Tình hình cho vay có hỗ trợ lãi suất nhìn chung đạt mức độ trung bình so với khu vực:
Cho vay hỗ trợ lãi suất thực hiện Chương trình kích cầu theo Nghị Quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ tính đến ngày 30/9/2009 đạt 5.705 tỷ đồng, chiếm 36,77% dư nợ toàn địa bàn, số lãi tiền vay đã hỗ trợ lãi suất là 61,1 tỷ đồng với 96.424 khách hàng được hỗ trợ. Dự kiến dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến hết năm 2009 đạt 8.589 tỷ đồng. Chi tiết về tình hình dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất tính đến ngày 30/9/2009, như sau:
- Dư nợ cho vay phân theo Quyết định số 131/QĐ-TTg là 4.656,6 tỷ đồng, số khách hàng được hỗ trợ là 49.401 khách hàng và số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất là 56,3 tỷ đồng. Dự kiến dư nợ đến cuối năm là 6.527 tỷ đồng.
- Dư nợ cho vay phân theo Quyết định số 443/QĐ-TTg là 695,6 tỷ đồng, số khách hàng được hỗ trợ là 2.119 khách hàng và số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất là 3,13 tỷ đồng. Dự kiến dư nợ đến cuối năm là 1.297 tỷ đồng.
- Dư nợ cho vay phân theo Quyết định số 497/QĐ-TTg là 2,9 tỷ đồng, số khách hàng được hỗ trợ là 30 khách hàng và số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất là 16 triệu đồng. Dự kiến dư nợ đến cuối năm là 265 tỷ đồng.
- Dư nợ cho vay phân theo Quyết định số 579/QĐ-TTg tại NHCSXH là 349,7 tỷ đồng, số khách hàng được hỗ trợ là 44.874 khách hàng và số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất là 1,7 tỷ đồng. Dự kiến dư nợ đến cuối năm là 500 tỷ đồng.
III. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực; phần lớn các chỉ tiêu văn hoá – xã hội đều đạt kế hoạch.
1. Về giáo dục: qui mô giáo dục và cơ sở trường học phát triển qua thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp, đến nay toàn tỉnh có 613 cơ sở giáo dục. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 97% ; trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,96%, học sinh hết tiểu học vào lớp 6 đạt 99,22%, tuyển sinh lớp 10 đạt 85,11%. Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, công tác phổ cập giáo dục tiểu học được duy trì, công tác phổ cập giáo dục THCS được củng cố, nâng cao; có 14/14 huyện, thành phố và 187/190 xã, phường, thị trấn được công nhận phổ cập giáo dục THCS. Tập trung thực hiện Đề án xây dựng trường chuẩn, nhà ở cho giáo viên, nhà vệ sinh trong trường học, trong năm có thêm 24 trường đạt chuẩn quốc gia, lũy kế có 78 trường đạt chuẩn, đạt tỉ lệ 13,17%. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn được nâng cao: mầm non 93,9%, tiểu học 98,3%, THCS 99,9%, THPT 95,9%. Trong năm đã chuyển một trường THPT bán công sang tư thục và 10 trường THPT, 11 trường Mần non Mẫu giáo bán công sang công lập, sau khi chuyển đổi hoạt động ổn định
2. Về lĩnh vực Y tế : các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về y tế thực hiện tốt, đảm bảo tiến độ; công tác y tế dự phòng được duy trì; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 16,2% (đạt KH); tỷ lệ Trạm Y tế xã đạt chuẩn quốc gia 85% (KH 90%).Tuy nhiên việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân gặp khó khăn: tình trạng quá tải ở một số bệnh viện công, một số nơi thiếu y, bác sĩ nên ảnh hưởng đến tinh thần thái độ phục vụ. Tổng số giường bệnh còn thấp so qui định (2.075 giường, bình quân 14,3 giường/vạn dân). Thực hiện luân phiên cán bộ chuyên môn về hỗ trợ bệnh viên huyện gắn với tăng cường bác sĩ về xã, tỷ lệ xã có bác sĩ đạt KH 95%. Tỉnh bố trí kinh phí kịp thời và đảm bảo yêu cầu phòng chống cúm A/H1N1, tập trung tuyên truyền phòng, chống trong trường học, khu công nghiệp, cộng đồng dân cư, giám sát chặt chẽ, kịp thời phát hiện xử lý các trường hợp bị nhiễm. Tuy nhiên, hiện nay dịch cúm A (H1N1) đang lây lan rất nhanh. Tính đến nay có 177 ca nhiễm, trong đó 1 ca tử vong. Do ảnh hưởng tình hình chung, dịch sốt xuất huyết cũng đang phát triển nhanh, đang tập trung xử lý để hạn chế thấp nhất tử vong.
Tập trung đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án về dân số- kế hoạch hóa gia đình, tăng cường chiến dịch truyền thông lồng ghép dân số và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản- KHHGĐ đến tận vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, kiện toàn củng cố bộ máy cán bộ dân số, nhất là ở cơ sở, mạng lưới cộng tác viên. Tuy nhiên do tác động của việc thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy nên công tác dân số còn hạn chế, tỷ lệ sinh 18,1%o, tăng 0,1%o (KH giảm 0,4%o), tỷ lệ sinh con thứ ba 7,32%, giảm 0,91% (KH 1%).
3. Ngành văn hóa, thể thao và du lịch, phát thanh truyền hình tổ chức nhiều hoạt động đa dạng, phong phú thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của điạ phương; trong đó tập trung tuyên truyền Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Phong trào xây dựng đời sống văn hóa, xã văn hóa được các địa phương quan tâm thực hiện, thường xuyên kiểm tra, củng cố nên chất lượng có chuyển biến, góp phần kiềm chế tệ nạn xã hội, tạo môi trường xã hội ngày càng tốt hơn. Đề án Huyện điểm về văn hóa Cần Đước cơ bản hoàn thành. Tập trung xây dựng Trung tâm văn hóa thể thao cấp xã, đến nay có 8 Trung tâm đi vào hoạt động.. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động dịch vụ internet, băng đĩa hình có nội dung xấu. Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển rộng rãi. Số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt kế hoạch đề ra 22% (tăng 2% so năm 2008) và số hộ gia đình thể thao đạt kế hoạch 16% (tăng 1% so năm 2008).
4. Về lao động, thương binh và xã hội: tập trung thực hiện tốt Chương trình giải quyết việc làm- giảm nghèo, đào tạo nghề; trong năm đào tạo nghề 17.320 lượt học viên, đạt 100,8% KH, đào tạo nghề cho lao động nông thôn và người nghèo 7.600 người; giải quyết việc làm cho 30.000 lao động, đạt 86% KH; giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 9,4% (năm 2008: 10,5%); tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt kế hoạch đề ra (42%). Do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế một số doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm việc làm khoảng 700 lao động và phần lớn số này đã tìm được việc làm ở nơi mới, hiện nay chưa có nguồn lao động để cung ứng theo yêu cầu của các doanh nghiệp.
An sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt, giải quyết đầy đủ và kịp thời các chế độ đối với đối tượng chính sách, hỗ trợ vốn sản xuất, xây dựng nhà ở, bảo hiểm y tế cho người nghèo, thường xuyên làm tốt công tác bảo trợ xã hội, sữa chửa nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ,… Tổ chức tốt việc thăm viếng tặng quà các đối tượng chính sách nhân kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ; đẩy mạnh huy động quỹ Đền ơn đáp nghĩa trên 9,6 tỷ đồng, xây tặng 29 nhà tình nghĩa và 225 nhà tình thương... Tiếp tục xây trên 1.800 căn nhà đại đoàn kết, như vậy đến nay đã cơ bản xóa nhà dột nát cho người nghèo. Đã hoàn chỉnh đề án xây dựng nhà ở cho sinh viên, học sinh, công nhân và người có thu nhập thấp.
Đón nhận, truy điệu và an táng 50 hài cốt quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở Campuchia tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Vĩnh Hưng. Ký kết hiệp đồng thỏa thuận tiếp tục tìm kiếm, cất bốc hồi hương hài cốt QTNVN giai đoạn IX 2009- 2010 với chính quyền tỉnh Svay-Riêng và Đội K73 đã sang tỉnh Svay-Riêng làm nhiệm vụ.
IV. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:
1. Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2009. Hoàn thành công tác gọi thanh niên nhập ngũ năm 2009, giao quân đạt 100% chỉ tiêu với chất lượng tốt. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ đảm bảo theo quy định; hoàn thành chỉ tiêu đào tạo chỉ huy trưởng quân sự xã, phường, thị trấn và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng theo kế hoạch đề ra. Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương, gắn với sơ kết 4 năm thực hiện Chỉ thị số 36/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục chỉ đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới. Thực hiện công tác phân giới cắm mốc theo kế hoạch, xây dựng xong 09/62 cột mốc.
2. Tình hình an ninh chính trị ổn định. Trật tự xã hội xảy ra 875 vụ, tăng 19,5% so cùng kỳ 2008. Các ngành chức năng đã điều tra làm rõ 487 vụ (đạt 55,6%); bắt xử lý 606 đối tượng. Trong đó các vụ có tính chất nghiêm trọng làm rõ 130 vụ (đạt 83,33%), bắt xử lý 175 đối tượng.
Các lực lượng chức năng và địa phương có nhiều cố gắng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm các loại: đã triệt xóa 235 băng nhóm với 1.210 đối tượng (phạm tội hình sự 137 nhóm 539 đối tượng; tệ nạn 98 nhóm 671 đối tượng); riêng phòng chống tội phạm ma túy phát hiện xử lý 21 vụ, 27 đối tượng mua bán trái phép chất ma tuý; xóa 129 tụ điểm tệ nạn xã hội (127 tụ điểm cờ bạc, 2 tụ điểm mại dâm); bắt và vận động ra đầu thú 52 đối tượng có quyết định truy nã; lập hồ sơ đưa vào các cơ sở giáo dục 161 đối tượng; giáo dục tại địa bàn 312 đối tượng; phạt hành chính 2.478 đối tượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trật tự an toàn giao thông được tăng cường, triển khai Tháng an toàn giao thông tháng 9/2009, tai nạn giao thông cơ bản được kềm chế. Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 297 vụ tương đương cùng kỳ năm 2008, chết 281 người (giảm 4,1%), bị thương 154 người (giảm 3,7%); đường thủy 18 vụ (tăng 63,6%).
3. Ngành thanh tra tổ chức 81 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội; kết thúc 68 cuộc, phát hiện sai phạm trị giá 3.095 triệu đồng, trong đó sai phạm do tham nhũng 727 triệu đồng, thu hồi 1.638 triệu đồng, xử lý hành chính 4 vụ 5 người, chuyển sang cơ quan điều tra làm rõ xử lý 4 vụ 8 người.
Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đạt kết quả tích cực: tiếp dân thường xuyên, đúng quy định, phối hợp tốt trong giải quyết các vụ việc phức tạp, tập trung các vụ việc khiếu kiện đông người không để ảnh hưởng an ninh trật tự, chú trọng công tác hòa giải góp phần hạn chế khiếu kiện vượt cấp. Khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh giảm 38% so với cùng kỳ năm 2008, tuy nhiên vẫn còn diễn biến phức tạp, tình trạng dân kéo kiện lên các cơ quan Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội vẫn còn xảy ra. Một số trường hợp khiếu nại về đất đai, giải toả đền bù đã được các cấp chính quyền và các Bộ ngành liên quan thẩm tra xem xét, giải quyết đúng chính sách pháp luật nhưng vẫn không chấp nhận, tiếp tục khiếu kiện kéo dài. Tổ chức tiếp công dân 5.157 lượt người, nhận 3.332 đơn thư giảm 25% so với cùng kỳ, đã giải quyết 1.992/2.548 đơn thuộc thẩm quyền (khiếu nại đạt 78%, tố cáo đạt 83%). Tổ chức thực hiện quyết định có hiệu lực thi hành có chuyển biến tốt, số tồn đọng chưa thực hiện giảm 61% so cùng kỳ năm 2008,
4. UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh đến năm 2011 (giai đoạn 1). Tiếp tục tuyên truyền, triển khai công tác phòng chống tham nhũng, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng ở các ngành, địa phương. Nhìn chung các ngành và địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, thường xuyên kiểm tra, xử lý vi phạm, chấn chỉnh khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm có liên quan.
5. Tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật, triển khai kịp thời các văn bản pháp luật mới ban hành và cụ thể hóa triển khai kế hoạch thực hiện các Đề án của Chính phủ trong chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008-2012; rà soát quyết định huỷ bỏ các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh hết hiệu lực thi hành. Tổ chức triển khai Luật Thi hành án dân sự; tổ chức thi hành án dân sự đạt 62,2% về vụ việc và đạt 52% về tiền.
V. Xây dựng củng cố chính quyền; cải cách hành chính; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm:
1. Tập trung củng cố, hoàn thiện, hợp lý hóa tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức các cấp: ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của một số Sở ngành, thành lập thêm một số đơn vị trực thuộc Sở như: Chi cục Quản lý môi trường, Chi cục Quản lý đất đai, Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm. Phê chuẩn miễn nhiệm và bầu bổ sung thành viên UBND cấp huyện theo thẩm quyền. Tiếp tục công tác đào tạo, bồi dưỡng, sửa đổi bổ sung một số chế độ chính sách đội ngũ cán bộ, công chức các cấp; thực hiện tinh giản biên chế theo quy định. Sơ kết thực hiện Qui chế làm việc của UBND tỉnh, chấn chỉnh các tồn tại hạn chế, nhất là trong lề lối làm việc, quan hệ phối hợp công tác giữa ngành, địa phương.
2. Tham mưu tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp; Tỉnh ủy thành lập Đoàn kiểm tra và triển khai Kế hoạch kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Thực hiện Đề án 30, đã hoàn thành thống kê tổng hợp và tổ chức công bố các bộ thủ tục hành chính 3 cấp trên địa bàn tỉnh, tiếp tục triển khai giai đoạn rà soát để xử lý theo chỉ đạo của Chính phủ. Tiếp tục chấn chỉnh, đẩy mạnh thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính ở các ngành, các cấp.
3. Chỉ đạo tổ chức các phong trào thi đua yêu nước phấn đấu khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ mục tiêu năm 2009 và 5 năm 2006-2010, thi đua “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đề ra kế hoạch tổ chức Hội nghị điển hình tiên tiến các cấp và Đại hội thi đua cấp tỉnh lần III năm 2010.
4. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 24/8/2009 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Tân An thuộc tỉnh Long An. Hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục, kiến nghị thành lập thị xã Kiến Tường, nâng cấp thị trấn Đức Hòa, Bến Lức lên đô thị loại IV.
B. Nhận xét, đánh giá chung:
Trong điều kiện có nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, các ngành các cấp trong tỉnh đã thể hiện sự quyết tâm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, nhưng do ảnh hưởng nặng nề của cuộc suy thoái, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đã không đạt chỉ tiêu đề ra, trong đó chủ yếu là do lĩnh vực công nghiệp, đặt biệt là đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh so với năm 2008. Tuy nhiên trong lĩnh vực nông nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển cơ bản đạt yêu cầu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng. Về môi trường đầu tư được tiếp tục quan tâm, cải thiện; thu chi ngân sách chặt chẽ, đạt yêu cầu đề ra; các hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều tiên bộ; quốc phòng - an ninh thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra; trật tự an toàn xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo từng bước kiềm chế phát sinh phức tạp. Công tác quản lý nhà nước, vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị được nâng lên; Nghị quyết của Tỉnh ủy, Nghị quyết của HĐND tỉnh và của cơ quan nhà nươc Trung ương được UBND tỉnh, các ngành, các huyện, thành phố chấp hành tổ chức thực hiện đạt kết quả, hiệu quả.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại: chất lượng tăng trưởng chưa cao; sản xuất nông nghiệp chưa bền vững; đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều vướng mắc, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, các công trình trọng điểm; trật tự trong thu hút đầu tư được tăng cường, chấn chỉnh nhưng còn phải tiếp tục xử lý tồn tại như: công tác qui hoạch, quản lý thực hiện qui hoạch; rà soát, kiểm tra thúc đẩy tiến độ đầu tư…
Nguyên nhân:
- Khách quan: do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh; vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng; những khó khăn chung của nền kinh tế vượt dự báo chung.
- Chủ quan:
Sự quản lý điều hành của các ngành, UBND các cấp tuy có nhiều tiến bộ, song có mặt còn hạn chế. Vai trò trách nhiệm người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao, chậm đổi mới, chưa khoa học, tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn dàn trải thiếu trọng tâm, trọng điểm; thiếu chủ động, sáng tạo và thiếu sự phối hợp trong giải quyết công việc bảo đảm khoa học, hiệu quả.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2010
I. Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009:
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 có vai trò rất quan trọng, là năm cuối hoàn thành triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII. Đây là năm có ý nghĩa quyết định trong việc hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010; là năm có nhiều khó khăn, thách thức của thời kỳ hậu suy thoái kinh tế thế giới và áp lực từ việc tăng trưởng thấp giai đoạn năm 2006 - 2009. Vì vậy đòi hỏi nỗ lực rất cao của các cấp, các ngành, tận dụng tốt các cơ hội, vượt qua khó khăn, thách thức, huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhằm tạo bước đột phá cần thiết cho việc hoàn thành tốt các mục tiêu mà Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII đã đề ra. Các nội dung cơ bản như sau:
1. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu:
a) Mục tiêu: tạo động lực phát triển công nghiệp – xây dựng để phục hồi mức tăng kinh tế cao và từng bước bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh công tác giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường hợp tác các tỉnh trong vùng và chủ động hội nhập quốc tế đạt hiệu quả ngày càng cao; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo.
b) Nhiệm vụ chủ yếu:
Tập trung thực hiện các giải pháp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và từng sản phẩm. Chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) và chương trình hành động của tỉnh. Nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ có tiềm năng, thực hiện các chính sách để khuyến khích tiêu dùng nội địa. Đẩy mạnh xuất khẩu. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh.
Nâng cao chất lượng phân tích và dự báo tình hình trong nước và của tỉnh, đặc biệt là những biến động về tình hình kinh tế, tài chính thế giới. Chủ động xây dựng các phương án ứng phó với các biến động của khủng hoảng kinh tế thế giới, trong nước ảnh hưởng đến tỉnh ta.
Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với công tác giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực. Chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao. Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đi đôi với tăng cường chuyển giao công nghệ. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, chính sách giảm nghèo, giải quyết việc làm; bảo hiểm thất nghiệp. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc; bảo đảm trật tự an toàn giao thông;
Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững. Giải quyết triệt để các "điểm đen", "điểm nóng" về môi trường. Chủ động triển khai các biện pháp tích cực hạn chế thiệt hại ở những vùng thường xảy ra thiên tai. Đẩy mạnh xã hội hoá và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác bảo vệ môi trường.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn 2 theo chủ trương của Chính phủ (giảm tối thiểu 30% thủ tục hành chính). Ứng dụng công nghệ thông tin gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính, công khai minh bạch. Thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ, việc vi phạm.
Nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong tình hình mới; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thông tin, tuyên truyền với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Làm tốt công tác phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2010:
a) Chỉ tiêu về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh từ 12,5-13,0%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 3,5-4%; ngành công nghiệp – xây dựng tăng 20,5 – 21%; ngành dịch vụ tăng 11,7 – 12,3%. GDP theo giá hiện hành sẽ đạt khoảng 29.000 – 30.000 tỷ đồng, tăng 5.000-6.000 tỷ đồng so với ước thực hiện năm 2009.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 1.170 triệu USD.
- Giá trị kim ngạch nhập khẩu 750 triệu USD.
- Huy động khoảng 45-45,5% GDP vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khoảng 2.573 tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 3.228,2 tỷ đồng (chưa tính nguồn thu xổ số kiến thiết: 400 tỷ đồng).
- Sản lượng lương thực: 2,1 triệu tấn.
b) Các chỉ tiêu xã hội:
- Giải quyết việc làm cho người lao động: 30.000 lao động.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ 98%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện 98%.
- Giảm số xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã: 4/4 (năm 2008 thực hiện 14/18 xã).
- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: 20%.
- Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế: 90%.
- Mức giảm tỷ lệ sinh: 0,2%o - 0,3%o.
- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 2,95% (theo tiêu chí TW) và 8,4% theo tiêu chí mới của tỉnh.
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng khoảng: 16%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 50%.
c) Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch: 88% (đô thị: 99%).
- Tỷ lệ thị xã, thị trấn được thu gom rác: 90%.
- Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2009 đạt 15,11%.
3. Dự báo một số cân đối lớn của nền kinh tế năm 2010:
a) Dự báo lao động và việc làm: giải quyết việc làm cho khoảng 36.000 người. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn 4,2%.
b) Dự báo về khả năng cân đối ngân sách năm 2010:
- Tổng thu ngân sách nhà nước là 2.573 tỷ đồng, tăng 24% so với dự toán năm 2009, gồm: thu nội địa 2.400 tỷ đồng; thu các hoạt động xuất nhập khẩu 173 tỷ đồng. Trong tổng thu ngân sách, chưa tính nguồn thu xổ số kiến thiết 400 tỷ đồng.
- Tổng chi ngân sách nhà nước dự kiến là 3.228,2 tỷ đồng, tăng 13,67% so với dự toán năm 2009, gồm: chi đầu tư phát triển 572,3 tỷ đồng, chi thường xuyên 2.208,88 tỷ đồng, các khoản chi khác 447,1 tỷ đồng. Chưa kể chi xổ số kiến thiết 400 tỷ đồng.
c) Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển:
Dự báo khả năng huy động nguồn vốn đầu tư phát triển năm 2010 khoảng 14.000-14.500 tỷ đồng, bằng 45,5 - 46,0% GDP. Nguồn vốn huy động như sau:
- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 2.930 tỷ đồng chiếm 19,5-20,9% tổng vốn đầu tư phát triển, trong đó: ngân sách địa phương quản lý khoảng 2.030 tỷ đồng (kể cả vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn khác do địa phương quản lý), ngân sách Trung ương đầu tư trên địa bàn khoảng 900 tỷ đồng (các công trình giao thông và thuỷ lợi trung ương đầu tư trên địa bàn).
- Nguồn vốn tín dụng khoảng 150 tỷ đồng chiếm 1-1,07% tổng vốn đầu tư phát triển.
- Nguồn vốn từ doanh nghiệp nhà nước khoảng 320 tỷ đồng chiếm khoảng 2,13-2,28% tổng vốn đầu tư phát triển.
- Nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh khoảng 4.690 tỷ đồng chiếm khoảng 31,3-33,5% tổng vốn đầu tư phát triển.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6.300 tỷ đồng chiếm khoảng 42-45% tổng vốn đầu tư phát triển.
Dự báo năm 2010, việc giảm đầu tư theo hướng giảm những dự án đầu tư lớn từ ngân sách nhà nước, chuyển một phần vốn sang các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như nâng chất lượng dự án đầu tư nước ngoài, hạn chế những dự án đầu tư bất động sản lớn thì việc hấp thu vốn đầu tư sẽ tốt nên, hài hòa giữa nội lực và ngoại lực.
4. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực:
a) Phát triển nông nghiệp nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân:
Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng lúa bằng việc sử dụng giống mới năng suất cao, kháng bệnh, khuyến khích áp dụng các biện pháp kỹ thuật để hạ giá thành sản xuất lúa. Phổ biến các giống lúa, cây lương thực, công nghiệp, rau màu mới có năng suất cao, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, nông nghiệp kỹ thuật cao ven đô. Phát triển rau, hoa và cây ăn quả đang có lợi thế, phổ biến ứng dụng các kỹ thuật sơ chế, bảo quản, bao bì, đóng gói, kho lạnh, để hạn chế thất thoát về sản lượng và chất lượng. Xây dựng và phát triển thương hiệu, mở rộng các hình thức liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường.
Khuyến khích phát triển các loại gia súc, gia cầm chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với chế biến tập trung và xử lý môi trường; giết mổ tập trung, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm, dịch bệnh.
Tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, chế biến lâm sản, nhất là hàng xuất khẩu. Phát triển mạnh trồng rừng kinh tế, đẩy mạnh công tác quản lý rừng phòng hộ đặc biệt sung yếu, khu bảo tồn, ...
Chú trọng phát triển nông thôn ở những vùng khó khăn, biên giới. Xây dựng điểm nông thôn mới; triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn để giảm nghèo; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận được các dịch vụ về y tế, giáo dục, văn hóa. Tăng cường bảo vệ môi trường nông thôn đang có xu hướng ngày càng gia tăng ô nhiễm, nhất là ô nhiễm hóa chất trong sản xuất nông nghiệp. Thực hiện xã hội hóa dịch vụ ở nông thôn. Phát triển các mô hình liên kết kinh tế ở nông thôn nhằm tăng khả năng cạnh tranh sản xuất nông nghiệp.
Nâng cao trình độ quản lý, tổ chức, phát triển các loại hình sản xuất trong các trang trại, HTX phục vụ tốt sản xuất kinh doanh. Hình thành mối liên kết hộ sản xuất với trang trại, HTX, doanh nghiệp, tổ chức khoa học, thương mại.
Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, phấn đấu hoàn thành cơ bản các dự án đầu tư xây dựng đê bao lửng và hệ thống thuỷ lợi tạo nguồn, nội đồng; tăng cường xây dựng hệ thống trạm bơm điện và nạo vét và kiên cố hoá hệ thống kênh mương tưới, tiêu; nâng cao năng lực tưới tiêu chủ động cho cây trồng hàng năm; tăng diện tích nuôi thuỷ sản và cây ăn quả. Tăng cường củng cố đảm bảo nâng cao năng lực chống lũ, chống sạt lỡ.
b) Về phát triển công nghiệp – xây dựng:
Tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tạo điều kiện cho các dự án đầu tư hạ tầng có quy mô lớn đã và sẽ đi vào hoạt động như nhà máy nước, khu xử lý rác, điện. Tiếp tục tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ triển khai một số dự án có quy mô lớn trên địa bàn tạo đà tăng trưởng cho năm tiếp theo.
Tập trung hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại các khu, cụm công nghiệp. Triển khai các đề án xây dựng nhà ở cho công nhân và hệ thống hạ tầng xã hội phục vụ người lao động ở các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Triển khai thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; triển khai thực hiện Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành qui chế quản lý cụm công nghiệp; phối hợp với các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng đẩy mạnh đầu tư hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp như đường giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc… đảm bảo theo tiến độ của dự án.
Tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư tại một số nước, vùng lãnh thổ có công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hồng Kông, Đài Loan,… Tăng cường tiếp cận, mời gọi các tập đoàn kinh tế mạnh trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh. Quan tâm đặc biệt các dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường. Ưu tiên thu hút, tạo điều kiện mở rộng các dự án sản xuất vật tư nguyên liệu thay thế nhập khẩu, công nghiệp phụ trợ phục vụ phát triển ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng trọng điểm có lợi thế cạnh tranh cao.
Khuyến khích thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, làng nghề, sử dụng lao động tại chỗ. Chú trọng các nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, bảo quản, chế biến nông lâm sản, cơ khí nhỏ, đồ gỗ…
Qui hoạch sử dụng đất cho các dự án văn hóa, xã hội…
c) Phát triển thương mại, dịch vụ:
Tăng cường kích cầu dịch vụ và tiêu dùng nội địa đồng thời với việc phát triển mạnh hệ thống phân phối. Khuyến khích phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại, xuất nhập khẩu.
Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại theo hướng từng bước hiện đại, xây dựng hệ thống chợ phù hợp tại các địa phương, trước hết là tiếp cận kêu gọi đầu tư, hình thành các trung tâm thương mại ở các huyện, thành phố Tân An. Đẩy mạnh công tác quản lý thị trường, nhất là khu vực biên giới và các trung tâm bán buôn của tỉnh, hạn chế đến mức tối đa các hiện tượng tiêu cực như buôn lậu, đầu cơ, gian lận thương mại.
Định hướng cơ cấu các ngành dịch vụ, phát triển các thị trường dịch vụ có tiềm năng. Phát triển dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và nâng cao tỷ lệ tham gia vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu; củng cố, phát triển hoạt động du lịch, từng bước đưa tỉnh vào bản đồ du lịch của Việt Nam. Chú trọng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, khai thác tốt và nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính ngân hàng, tư vấn, thiết kế, khoa học công nghệ,..
d) Phát triển doanh nghiệp:
Tiếp tục rà soát, sửa đổi chuẩn hóa các quy định, thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống đăng ký kinh doanh, thiết lập cơ sở dữ liệu thông tin chung về doanh nghiệp, môi trường và thủ tục đầu tư.
Hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, từng bước đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn, xúc tiến mở rộng thị trường cho các DNNVV. Đẩy mạnh mối liên kết giữa các DNNVV, giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn, hỗ trợ và khuyến khích DNNVV tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Ưu tiên trợ giúp doanh nghiệp giải quyết nhiều lao động khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là lao động nữ, lao động bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp.
Khuyến khích phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển kinh tế tập thể và hợp tác xã.
đ) Định hướng đầu tư phát triển:
- Tập trung đầu tư các công trình trọng điểm chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX nhằm phát huy tối đa lợi thế của tỉnh. Đảm bảo đủ vốn đối ứng các dự án ODA.
- Tiếp tục tăng cường đầu tư cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Thực hiện tốt công tác chuẩn bị đầu tư, đảm bảo cân đối đủ vốn cho các chương trình đã được phê duyệt như chương trình hỗ trợ trường đạt chuẩn, chương trình xây dựng nhà vệ sinh, chương trình hỗ trợ thiết bị giáo dục thể chất; đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguồn vốn trái phiếu Chính phủ của chương trình kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên giai đoạn 2.
- Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân đối với các dự án bệnh viện tuyến huyện sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; cân đối các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường và bổ sung thiết bị cho các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện; nâng cấp và hoàn thiện các trạm y tế xã, các trung tâm y tế dự phòng.
- Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7, đảm bảo mức tăng từ 25% so với năm 2009. Trong đó, tập trung đầu tư gia cố, mở rộng hệ thống đê bao lửng vùng sản xuất lúa tập trung, đê bao vùng mía nguyên liệu, khu dân cư tập trung; phát triển hệ thống trạm bơm điện và thủy lợi nội đồng phục vụ cho kế họach thâm canh nông nghiệp, thủy sản; đảm bảo cơ bản các công trình nông thôn, nhất là tại các xã nghèo, xã vùng khó khăn, biên giới; hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến nông sản gắn với vùng sản xuất nguyên liệu. Đồng thời, đầu tư có trọng tâm cho các cơ sở nghiên cứu khoa học giống cây, giống con có năng suất cao, chất lượng tốt; tăng cường các hoạt động chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi.
- Ưu tiên vốn ngân sách kết hợp với phát triển xã hội hóa bảo tồn các công trình văn hoá, các di tích cách mạng, di tích lịch sử gắn với phát triển du lịch; các công trình thể thao, các trung tâm huấn luyện thể dục, thể thao, các bệnh viện chất lượng cao; khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các trường tư thục, dân lập từ mẫu giáo đến đại học.
- Đầu tư hệ thống giao thông kết nối các đầu mối giao thông trọng điểm, khu công nghiệp, khu đô thị mới với hệ thống giao thông quốc gia, nhựa hóa các đường tỉnh lộ.
- Đầu tư hoàn chỉnh 40 trụ sở UBND xã thuộc kế hoạch 2009-2010.
- Thu hút tối đa và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các khoản hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nhất là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, nước sách, xử lý chất thải, nước thải, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn.
e) Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và các lĩnh vực khác:
- Về công tác khoa học và công nghệ:
Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Tạo môi trường thuận lợi cho việc gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Xây dựng chính sách sử dụng hiệu quả, trọng dụng và phát huy tài năng cán bộ khoa học và công nghệ; phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao. Tạo điều kiện thu hút chất xám nguồn lao động có trình độ cao ngoài tỉnh về phục vụ tỉnh nhà.
Phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ tại vùng nông thôn.
- Về công tác giáo dục và đào tạo
Rà soát, sắp xếp lại quy mô đào tạo ở các cấp cho phù hợp với thực tế và qui hoạch phát triển giáo dục.
Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo toàn diện, coi trọng cả nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, đào tạo nhân tài, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục, tiến tới xây dựng cơ chế tự đảm bảo chất lượng và các trường tiến hành tự đánh giá theo định kỳ. Thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, phát động phong trào thi đua thực hiện các cuộc vận động trong ngành, chống bệnh thành tích. Quan tâm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, thiếu giáo viên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình đua tin học vào nhà trường, chương trình kiên cố hóa trường lớp, xây nhà giáo viên, nhà vệ sinh trường học góp phần đạt chỉ tiêu xây dựng trường đạt chuẩn. Duy trì công tác phổ cập giáo dục tiểu học, THCS và triển khai phổ cập THPT nơi có điều kiện.
Hỗ trợ triển khai và đưa vào hoạt động các trường đại học, cao đẳng tư thục trên địa bàn tỉnh.
- Về công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân và dân số:
Tập trung thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, công tác y tế dự phòng, vệ sinh phòng dịch, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và thái độ phục vụ người bệnh của các cơ sở y tế. Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá để huy động nhiều nguồn lực phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tăng số giường bệnh và triển khai xây dựng bệnh viện chuyên khoa tâm thần, sản nhi và đẩy mạnh xây dựng bệnh viện tuyến huyện theo chương trình mục tiêu.
Tiếp tục thực hiện kế hoạch luân phiên cán bộ y tế, bác sĩ giúp tuyến dưới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ tại chỗ và nâng cao y đức, trình độ nghiệp vụ; đấu tranh đẩy lùi tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ các hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường các biện pháp để phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh, nhất là cúm A/H1N1, sốt xuất huyết; phòng, chống nghiện ma tuý, nhiễm HIV... Triển khai thực hiện tốt chế độ bảo hiểm y tế, nhất là đối với trẻ em dưới sáu tuổi, đối tượng chính sách, nguời già, hộ nghèo, sinh viên, học sinh.
Triển khai thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, tiếp tục kiện toàn tổ chức cán bộ, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.
Tăng cường phối hợp giữa UBND các cấp, các ngành, nhân dân và huy động các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội tham gia công tác dân số, gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là với đối tượng vị thành niên, thanh niên và người dân vùng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
- Về công tác lao động, thương binh, xã hội:
Nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình dạy nghề và giải quyết việc làm giảm nghèo, hạn chế tái nghèo; phấn đấu tạo ra nhiều việc làm mới và đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Đầu tư đồng bộ các cơ sở dạy nghề, nhất là Trường Cao đẳng nghề để đáp ứng yêu cầu xã hội. Điều tra thu thập thông tin thị trường lao động góp phần làm tốt công tác GQVL. Tiếp tục nhân rộng các mô hình và trển khai các biện pháp chính sách để hỗ trợ nhân dân phát triển sản xuất thoát nghèo và vươn lên làm giàu hợp pháp. Đảm bảo các nguồn lực cần thiết để hỗ trợ người dân vùng bị thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh khắc phục khó khăn, khôi phục sản xuất và ổn định cuộc sống. Quan tâm phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, người nghèo và người bị thu hồi đất. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về lao động, trong đó tập trung nội dung bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo đảm vệ sinh, an toàn lao động trong các loại hình doanh nghiệp, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các cuộc đình công, bãi công không đúng pháp luật.
Quan tâm thực hiện tốt các chương trình, đề án bảo vệ, chăm sóc trẻ em gắn với xây dựng xã, phường phù hợp với trẻ em. Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, từng bước nâng cao mức sống người dân, chăm lo các đối tượng chính sách, trợ cấp xã hội đối tượng khó khăn. Tiếp tục thực hiện chương trình hỗ trợ nhà ở, bảo hiểm y tế cho người nghèo.
- Về công tác bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ, phát triển thanh niên:
Từng bước bảo đảm trên thực tế sự bình đẳng giới; thu hẹp khoảng cách và xóa dần định kiến về giới trong đời sống xã hội. Tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Quan tâm nâng tỷ lệ phụ nữ được đào tạo nghề và GQVL; đảm bảo phụ nữ có nhu cầu được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe.
Tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) về tăng cường lãnh đạo Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia về thanh niên.Khuyến khích và tạo điều kiện cho thanh niên tích cực tham gia và đóng góp có hiệu quả vào quá trình phát triển đất nước.
- Về công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội:
Đẩy mạnh công tác xây dựng xã phường trong sạch, vững mạnh, không có tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư". Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách về phòng chống các tệ nạn xã hội, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, đặc biệt là xã phường trong phòng chống ma túy, mại dâm.
Kiểm soát chặt chẽ, có biện pháp mạnh, kiên quyết kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần người nghiện ma túy, tệ nạn mại dâm. Gắn hoạt động các tổ chức đoàn thể xã hội, nhất là tổ chức thanh niên với việc tham gia phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm ngay tại địa bàn. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ để góp phần hạn chế phát sinh tệ nạn, triệt phá các tụ điểm ma túy, mại dâm.
- Về công tác phát triển văn hoá, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông:
Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện chiến lược văn hoá; gắn kết chặt chẽ phát triển văn hoá với phát triển kinh tế. Kiểm tra, nâng cao chất lượng ấp văn hóa và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Hình thành xã văn hóa và xây dựng Trung tâm văn hóa thể thao cấp xã đảm bảo đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Triển khai xây dựng Huyện điểm về văn hóa Cần Đước. Làm tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá dân tộc. Đồng thời khảo sát, hình thành một số tuyến, tour du lịch phù hợp, khai thác tốt các công trình văn hóa địa phương. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống lành mạnh trong gia đình gắn với phòng, chống bạo lực gia đình.
Phát triển mạnh mẽ thể dục, thể thao quần chúng nhằm tiếp tục triển khai cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" để thu hút đông đảo lực lượng của cả xã hội tham gia dưới nhiều hình thức sinh động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, văn hóa, tăng cường thể chất của nhân dân. Tích cực chuẩn bị điều kiện tổ chức thành công Đại hội TDTT cấp tỉnh lần thứ VI
Nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước. Tăng cường lãnh đạo, quản lý, uốn nắn, xử lý kịp thời các lệch lạc, sai phạm. Đẩy mạnh thông tin đối ngoại, chống sự xâm nhập các sản phẩm độc hại, phản văn hoá, gây phương hại tư tưởng, đạo đức xã hội; nêu cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh với các luận điểm sai trái của các thế lực thù địch với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
g) Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững:
Bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với bảo vệ môi trường. Công khai quỹ đất đai, nhất là quỹ đất phi nông nghiệp đồng thời thực hiện tốt qui chế lựa chọn dự án đầu tư có sử dụng đất để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tăng cường công tác điều tra, đánh giá tài nguyên khoáng sản, làm rõ các tiềm năng tài nguyên khoáng sản, phục vụ quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản bảo đảm nguồn lực khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, ổn định và lâu dài, đồng thời tăng hiệu quả kinh tế, giảm thiểu các tác động đến môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội trong hoạt động khai khoáng.
Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường; xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường; giải quyết triệt để các "điểm đen", "điểm nóng" về môi trường.
Tích cực phòng ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, khu đô thị và một số vùng nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương; ứng phó và khắc phục hiệu quả các sự cố môi trường; bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học.
h) Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng:
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính công, trọng tâm là thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo sự chuyển biến rõ rệt trong cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh. Nâng cao vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Phấn đấu hoàn thành tốt Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Tập trung các nội dung chủ yếu sau:
- Cải cách các thủ tục liên quan đến đầu tư, thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, các dịch vụ hành chính liên quan đến đời sống của nhân dân theo đúng Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ.
- Kiểm tra nâng cao chất lượng hoạt động của cơ chế một cửa và cơ chế một cửa liên thông giữa các Sở ngành.
- Thực hiện nghiêm nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính rõ ràng, cụ thể tại công sở.
- Tiếp tục cải cách công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức; chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách khác. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tiếp tục thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng gắn với Chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, thu và chi ngân sách nhà nước, quản lý tài chính công, công tác đề bạt và bố trí cán bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức trong công tác phòng, chống tham nhũng.
i) Bảo đảm quốc phòng, an ninh:
Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh và đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Làm tốt công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn.
Chú trọng kết hợp củng cố an ninh quốc phòng với phát triển kinh tế xã hội. Nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 09/1998/NQ-CP ngày 31/07/1998 của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.


III. Các nhóm giải pháp chủ yếu:
1. Giải pháp về cơ chế, chính sách:
- Trước hết là hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng qui hoạch đầu tư theo hướng phát huy lợi thế của tỉnh, từng vùng, từng ngành, gắn với mục tiêu phát triển đột phá và hiệu quả kinh tế. Trong đó, coi trọng đóng góp chất xám và nâng cao hàm lượng khoa học của qui hoạch. Đối với các qui hoạch “cứng” như qui hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, qui hoạch đô thị, khu công nghiệp gắn với qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo tầm nhìn dài hạn, phải cụ thể, rõ ràng để các ngành, các cấp tuân thủ tránh tình trạng phá sản qui hoạch, qui hoạch đi sau thực tế. Đối với các qui hoạch “mềm” như qui hoạch cho sản xuất các ngành thì chỉ nên định hướng nhu cầu gắn với thị trường để cho các thành phần kinh tế tự cân nhắc đầu tư khi thấy có lợi. Chú ý xác định thứ tự ưu tiên đối với các dự án đầu tư trong qui hoạch và xác định rõ trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng.
Rà soát, bổ sung, cập nhật và hiệu chỉnh các qui hoạch đã được phê duyệt cho phù hợp với tình hình phát triển mới. Kết hợp qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội với qui hoạch sử dụng đất, nhất là sử dụng đất ven đô, ven đường giao thông, đất khu công nghiệp, nhanh chóng khắc phục tình trạng qui hoạch treo.
- Xây dựng các qui chế vận dụng chủ trương, chính sách chung vào điều kiện cụ thể tỉnh để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý điều hành vĩ mô nền kinh tế. Triển khai, hoàn thiện các qui chế xây dựng trong năm 2008 như: qui chế đầu tư thí điểm khu tái định cư tập trung; qui chế thu hút đầu tư các dự án đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng; qui chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; qui chế quản lý cụm công nghiệp.
- Có cơ chế khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề chiến lược và phát triển doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao. Các ngành nghề mũi nhọn được xác định dựa trên lợi thế lâu dài của tỉnh (lao động) và dựa trên nguồn tài nguyên nông nghiệp, lâm nghiệp, các ngành công nghiệp phụ trợ. Cần có sự định hướng thu hút đầu tư và tăng cường sự kiểm soát đối với các tập đoàn kinh tế đầu tư nhiều dự án, dự án qui mô lớn trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng cơ chế đặc thù về huy động vốn để thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng chưa có cơ chế chung.
2. Giải pháp về nguồn lực:
a) Về nguồn vốn đầu tư:
- Chủ động khai thác các nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các dự án của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Giải pháp trọng tâm là đổi mới và hoàn thiện công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư để thu hút hơn nữa cac dự án đầu tư. Trước hết là chấn chỉnh việc thực hiện các qui trình triển khai đảm bảo tính dân chủ, công khai thật sự trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng từ việc phổ biến chủ trương, qui hoạch, họp lấy ý kiến của nhân dân đến việc lập phương án đền bù, hỗ trợ địa phương, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu tái định cư… Thứ hai là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp chặt chẽ trong thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng giữa cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể các cấp; chú trọng công tác tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu và chấp hành tốt chính sách pháp luật; đồng thời quan tâm nắm bắt nguyện vọng chính đáng của dân để có biện pháp, chính sách giải quyết kịp thời, phù hợp với qui định chung của Nhà nước và thực tế tại địa phương đảm bảo hài hòa lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân với lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội. Thứ ba là thực hiện đồng bộ giữa qui hoạch, giải phóng mặt bằng với việc bố trí tái định cư và bố trí đất sản xuất cho những hộ dân có đủ điều kiện; bên cạnh việc tính toán bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đúng, đủ theo qui định, cần quan tâm đến đời sống kinh tế trước và sau khi các hộ bị thu hồi đất.
Giải pháp quan trọng thứ hai là huy động từ các nhà đầu tư để tập trung đầu tư nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, cấp thoát nước, các công trình giao thông, cảng biển nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư. Đối với các cơ sở hạ tầng này có thể thực hiện các hình thức kêu gọi đầu tư như BT, BOT, BOO, đầu tư trực tiếp,….
Giải pháp thứ ba là tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư mời gọi các dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp hiện có và các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
- Khai thác lợi thế, tiềm năng của tỉnh trong điều kiện hội nhập đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Củng cố, mở rộng liên kết, liên danh với các tỉnh, thành phố để phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời thực hiện tốt chương trình xã hội hóa trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các lĩnh vực văn hóa – xã hội để huy động tối đa nguồn lực trong toàn xã hội tham gia phất triển kinh tế.
- Tiếp tục tăng cường và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển, phân bổ nguồn vốn hợp lý, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho những công trình, dự án mang tính đột phá, thu hút nhiều nguồn vốn khác tham gia. Khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải, không đảm bảo tiến độ, hiệu quả sử dụng thấp trong đầu tư xây dựng cơ bản.
- Tăng cường rà soát, sắp xếp lại các dự án khu, cụm công nghiệp, dân cư, đô thị để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý tiến độ thực hiện dự án ngoài vốn ngân sách nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tiếp cận các nguồn vốn, phát triển nhiều hình thức tín dụng ngắn – trung – dài hạn, cho thuê tài chính,… nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
b) Về phát triển nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nhưng hiện nay chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn hạn chế. Do đó trong năm 2010 và các năm tiếp sau cần tập trung phát triển nguồn nhân lực theo 2 hướng: tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Giải pháp trọng tâm, trọng điểm cần thực hiện:
- Củng cố, tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, nâng cao mặt bằng dân trí - tạo nền tảng cơ bản, vững chắc cho đào tạo nguồn nhân lực ở những giai đoạn, thang bậc trình độ cao hơn. Trước hết tạo ra những chuyển biến cơ bản về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung và phương pháp dạy và học để nâng chất lượng giáo dục và đào tạo hướng tới các chuẩn mực quốc gia.
- Ưu tiên xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cốt yếu sau: đội ngũ giảng viên, giáo viên các cấp từ giáo dục phổ thông đến dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, đại học; xây dựng và phát triển đội ngũ công chức hành chính nhà nước theo hướng chuyên nghiệp hoá, có trình độ chuyên môn cao, văn hoá công sở, năng lực làm việc và ứng xử theo chuẩn mực mới, phù hợp với thông lệ quốc tế; xây dựng đội ngũ chuyên gia tư vấn hoạch định chính sách trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý…; bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ doanh nhân và chuyên gia quản trị kinh doanh có bản lĩnh vững vàng, trước mắt cần có đội ngũ lãnh đạo và chuyên gia quản lý bậc trung đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời có những chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý, cung cấp về thông tin thị trường cho chủ hộ kinh tế gia đình - những doanh nhân tiềm năng; tập trung xây dựng và phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật, trong đó đặc biệt chú trọng đến đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật trình độ cao sẵn sàng cung cấp cho yêu cầu phát triển khu công nghệ cao sắp triển khai của tỉnh.
- Phát triển toàn diện thể chất, tăng cường thể lực cho người lao động, hướng tới thực hiện những mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam. Quan tâm đào tạo nghề, nâng cao kiến thức pháp luật, tác phong lao động phù hợp cho bộ phận nông dân chuyển sang lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ; có cơ chế, chính sách đảm bảo chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, người lao động… để tạo điều kiện nâng cao thể lực và năng suất lao động chung của tỉnh.
- Tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng để huy động rộng rãi tất cả các nguồn lực, lực lượng xã hội, kể cả trong nước và nước ngoài cho phát triển nguồn nhân lực.
- Khẩn trương xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động và dịch vụ về đào tạo, tìm kiếm, giới thiệu việc làm, làm cầu nối giữa cung và cầu lao động, giữa người lao động, cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động.
- Thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ hơn nữa trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ hiện đại và quản lý kinh tế, đô thị ở nước ngoài; mạnh dạn thuê giảng viên và chuyên gia giỏi nước ngoài tham gia đào tạo nguồn nhân lực ở trong tỉnh để nhanh chóng đạt đẳng cấp quốc tế trong đào tạo nhân lực.
3. Giải pháp về công tác quản lý, điều hành năm 2010:
- Ban hành chỉ thị tổ chức thực hiện kế hoạch ngay từ đầu năm kế hoạch. Trong đó, làm rõ quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch 5 năm; đồng thời xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, các giải pháp mang tính đột phá cần tập trung chỉ đạo trong năm 2010. Hàng tháng gắn việc báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội với việc rà soát tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao để kịp thời đôn đốc, nhắc nhở.
- Lãnh đạo kiên quyết, nhất quán theo định hướng chiến lược, sát với qui hoạch; điều hành chặt chẽ theo chủ trương, chính sách, qui định pháp luật; phối hợp đồng bộ, kịp thời, đảm bảo tính thống nhất giữa các cấp, các ngành; mở rộng phạm vi và đối tượng phân công, phân cấp trong công tác quản lý nhà nước về qui hoạch và quản lý qui hoạch, đầu tư, xây dựng cơ bản, đất đai, môi trường...
- Xác định rõ vai trò, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ; ban hành cơ chế về điều hành, chỉ huy trong triển khai các công trình trọng điểm.
Về kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2010 có báo cáo riêng./.
PHỤ LỤC
(Kèm theo Báo cáo số 3958 /BC-UBND ngày 10 /11/2009 của UBND tỉnh)

1. Nông nghiệp:
- Lúa mùa: diện tích gieo trồng 13.286 ha (giảm 2.001 ha), năng suất thu hoạch 23,3 tạ /ha (giảm 7,5 tạ/ha), sản lượng 25.138 tấn (giảm 21.652 tấn).
- Lúa đông xuân: diện tích gieo trồng 248.968 ha (tăng 8.970 ha), năng suất thu hoạch 53,2 tạ/ha (giảm 0,8 tạ/ha), sản lượng 1.322.813 tấn (tăng 26.040 tấn).
- Lúa hè thu, diện tích gieo trồng 201.340 ha (giảm 390 ha), năng suất thu hoạch 40,3 tạ/ha (giảm 1,2 tạ/ha), sản lượng 810.723 tấn (giảm 23.760 tấn).
Cùng với sự sụt giảm sản lượng lúa, các loại cây chất bột (bắp, khoai lang, khoai mì, khoai mỡ) và các loại cây công nghiệp hàng năm truyền thống của tỉnh (đậu phộng, mía, thuốc lá, đay, cói) đều giảm sản lượng đáng kể: bắp 19.475 tấn (giảm 29,4%), khoai lang 261 tấn (giảm 53,9%), khoai mì 14.994 tấn (giảm 34,5%), khoai mỡ 20 ngàn tấn (giảm 18,4%, thơm 8.794 tấn (giảm 22,9%), đậu phộng 19.810 tấn (giảm 9,9%), mía 1.025.967 tấn (giảm 3,3%), đay 2.567 tấn (giảm 25,1%), cói 2.658 tấn (giảm 24,1%).
Sản lượng một số loại cây khác tăng như: dưa leo 21.061 tấn (tăng 7,2%), dưa hấu 73.671 tấn (tăng 5,7%), mè 445 tấn (tăng 63,0%), chuối 4.651 tấn (tăng 8,7%), xoài 3.438 tấn (tăng 8,0%), thanh long 19.038 tấn (tăng 2,5%), cây ăn quả khác 45 ngàn tấn (tăng 23,6%).
Hiện nay giá gia súc, gia cầm có giảm hơn các tháng trước nhưng không quá thấp nên chăn nuôi vẫn phát triển (ước tính bình quân cả năm giá heo hơi 34.000 đồng/kg, giá gà 28.000 đồng/kg và giá vịt khoảng 23.000 đồng/kg). Sản lượng heo xuất chuồng cả năm khoảng 54.000 tấn (tăng 8,4%), trâu 450 tấn (tăng 18,1%), bò 4.850 tấn (tăng 3,5%), gia cầm 16.045 tấn (tăng 56,3%). Ngành chăn nuôi tăng trưởng 24,5% so với năm 2008.
2. Lâm nghiệp:
Do giá tràm cừ giảm trong thời gian dài nên các hộ lâm nghiệp đã chuyển đổi sang một số cây trồng khác dẫn đến diện tích bị thu hẹp. Trong năm củi khai thác được 767.600 ster (tăng 1,3%), tràm cừ khai thác được 45,5 triệu cây (tăng 6,7%).
3. Thủy sản:
Năm nay tôm thẻ chân trắng phát triển mạnh, trong khi tôm sú và tôm càng xanh giảm diện tích và sản lượng. Diện tích nuôi tôm sú 4.417 ha (giảm 31%), sản lượng 4.161 tấn (giảm 19,4%); diện tích tôm càng xanh 280 ha (giảm 13,8%), sản lượng thu hoạch 135 tấn (giảm 35%); diện tích tôm thẻ chân trắng 970ha (tăng 391%), sản lượng thu hoạch 1.707 tấn (tăng 387,9%).
4. Công nghiệp:
Các nhóm sản phẩm có sản lượng lũy kế 10 tháng tăng mạnh so cùng kỳ gồm: nước khoáng tăng 46%, sợi dệt tăng 72,6%, vải tăng 7,8%, quần áo thông thường tăng 12,3%, áo khoác tăng 69,2%, sản phẩm gia dụng và văn phòng bằng plastic tăng 30%, thức ăn gia súc - gia cầm tăng 20,3%, thuốc lá tăng 8,8%, sản phẩm kim loại gia dụng tăng 8,8%, tấm lợp bằng kim loại tăng 131%, …
Các nhóm sản phẩm có sản lượng giảm so cùng kỳ: thủy sản chế biến và đóng hộp giảm từ 13-30%, hạt điều giảm 7,8%, thức ăn thủy sản giảm 24,1%, quần áo thể thao giảm 4,8%, giày thể thao giảm 15,1%, gạch lát và gạch ốp tường giảm từ 12-32%, sơn giảm 7,1%, nhóm sắt thép các loại (trừ thép lá chưa mạ) giảm từ 12-70%, bình ắc-quy giảm 4,7%, …
Lượt người xem:   4075
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​