Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 07:30
Tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2005 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2006
05/01/2015
Theo báo cáo số 120 /BC-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2006 về thực hiện KH phát triển kinh tế-xã hội năm 2005 được thuận lợi cơ bản do kế thừa thành tựu của các năm trước, đồng thời có sự chỉ đạo điều hành tập trung, trọng điểm của UBND các cấp, các ngành, phấn đấu khắc phục khó khăn tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện KH theo Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã đề ra. Tuy nhiên cũng có một số khó khăn như dịch bệnh gia cầm tái phát, dịch bệnh tôm sú gây thiệt hại, giá cả thị trường một số vật tư hàng hoá biến động, vốn đầu tư thiếu so với yêu cầu phát triển... ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
I. Lĩnh vực kinh tế:
1. Tăng trưởng kinh tế đạt 10,9% (KH 10,5%) trong đó khu vực nông-lâm-ngư nghiệp (KV I) đóng góp 2,35%; khu vực công nghiệp-xây dựng (KV II) đóng góp 6%; khu vực thương mại-dịch vụ (KV III) đóng góp 2,55%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá: khu vực I chiếm tỷ trọng 42,6% (giảm 0,5%), khu vực II chiếm 27,9% (tăng 0,7%), khu vực III chiếm 29,5% (giảm 0,2%). GDP bình quân 8,4 triệu đồng/người (KH 7,8 triệu đồng).
2. Giá trị sản xuất toàn ngành nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,2%; giá trị tăng thêm đạt5,3% (KH 5,1%).
Sản lượng lương thực 1,934 triệu tấn đạt 107,5% KH. Đàn heo, đàn bò đều tăng so cùng kỳ năm trước. Riêng sản lượng gia cầm không đạt KH do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm.
Nhìn chung ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Diện tích sản xuất lúa năng suất thấp và bấp bênh chuyển được 3.400 ha sang mục đích khác có hiệu quả hơn. Công tác giống, ứng dụng khoa học công nghệ được quan tâm và mang lại hiệu quả.
Kiểm tra, xử lý, ngăn chặn kịp thời dịch bệnh gia cầm tái phát. Đã triển khai thực hiện tốt KH phát triển đàn gia súc nhằm bù đắp thiệt hại đàn gia cầm trong tỉnh. Về thuỷ sản, tuy những tháng đầu năm gặp khó khăn, nhưng vào các tháng cuối năm là vào vụ thu hoạch, nhất là tôm sú vụ II nên giá trị sản xuất của ngành vẫn đạt KH.
3. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 28% so năm 2004. Tuy gặp một số khó khăn nhất định sản xuất công nghiệp vẫn đạt và vượt KH. Nguyên nhân chủ yếu là có nhiều doanh nghiệp mới thành lập và đầu tư mở rộng, tăng năng lực sản xuất; bên cạnh một số sản phẩm truyền thống có sản lượng đạt vượt KH có những sản phẩm mới đóng góp giá trị đáng kể góp phần cho mức tăng trưởng chung toàn ngành.
Kết cấu hạ tầng trong và ngoài các khu, cụm công nghiệp được tập trung đầu tư hoàn thiện góp phần quan trọng trong việc thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp phát triển, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Về san lắp mặt bằng đã giải tỏa trên 1.000 ha cho phát triển công nghiệp-dịch vụ, xây dựng nhà ở, trong đó đã giao đất và cho thuê đất cho 104 doanh nghiệp với diện tích 810 ha. Tuy nhiên công tác giải phóng mặt bằng vẫn còn chậm so với quy hoạch do một số nhà đầu tư năng lực yếu kém, không khả năng thực hiện dự án và công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn. Trong năm 2005 UBND tỉnh đã thu hồi chủ trương khoảng 40 dự án đầu tư hạ tầng một số khu công nghiệp, dân cư trên địa bàn tỉnh.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng 18,3%, góp phần vào tăng trưởng của khu vực công nghiệp-xây dựng đạt 22,4% (KH 20,5%).
4. Giá trị tăng thêm của khu vực thương mại-dịch vụ 9,3% (KH 9,6%). Các khu công nghiệp phát triển chậm nên các dịch vụ phục vụ đi kèm còn thấp và chi phí trung gian của ngành còn cao so với dự kiến.
Hoạt động thương mại-dịch vụ tiếp tục phát triển. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ 5.900 tỷ đồng, đạt 103,7% KH và tăng 17,2% so với năm 2004.
Xuất khẩu 370 triệu USD đạt 102,8% KH và tăng 12,8% so với năm 2004, mặt hàng chủ yếu gồm gạo, hạt điều nhân, hàng may mặc… Trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 50% giá trị xuất khẩu. Do gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, giá xuất khẩu giảm thấp nên đa số các doanh nghiệp hạt điều kinh doanh không hiệu quả. Kim ngạch nhập khẩu 220 triệu USD đạt 121% KH và tăng 28,5% so với năm 2004, mặt hàng chủ yếu gồm sợi, hoá chất nhuộm, nguyên liệu may, phụ tùng thay thế… Trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 15% giá trị nhập khẩu.
Các ngành dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư. Dịch vụ vận tải tiếp tục phát triển, các tuyến xe buýt mới đưa vào hoạt động phục vụ tốt vận chuyển hành khách. Dự báo khối lượng hàng hoá lưu chuyển tăng 11% và khối lượng hành khách lưu chuyển tăng 10,5%. Dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục tăng trưởng mạnh, nhiều phương thức thông tin hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế đã được hình thành, đáp ứng nhu cầu. Phát triển mới 44.600 máy điện thoại, nâng tổng số thuê bao lên 150 ngàn máy (di động chiếm 41,1%), tăng 40,7% so với năm 2004, mật độ đạt 10,8 máy/100 dân. Các dịch vụ tài chính, bảo hiểm… tiếp tục được mở rộng. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tiếp tục hoạt động hiệu quả, tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng tăng 17% so với năm 2004, cho vay cơ bản đáp ứng yêu cầu khách hàng, tổng dư nợ tăng 21,2%.
5. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.331 tỷ đồng đạt 129% dự toán Trung ương giao và đạt 122% dự toán HĐND tỉnh giao. Trong đó thu nội địa 1.233 tỷ đạt 126% dự toán Trung ương giao và đạt 120% dự toán HĐND tỉnh giao, thu thuế xuất nhập khẩu 98 tỷ đạt 168% dự toán.
Tổng chi ngân sách địa phương 1.720 tỷ đồng đạt 135% dự toán Trung ương giao và đạt 129% dự toán HĐND tỉnh giao. Trong đó chi đầu tư phát triển 560 tỷ đạt 132% dự toán Trung ương giao và đạt 197% dự toán HĐND tỉnh giao.
Trong quá trình điều hành, thực hiện dự toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2005, tuy còn một số khó khăn về thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường... nhưng do xác định đây là công tác trọng tâm nên có sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, cùng sự phấn đấu tích cực của các ngành, UBND các cấp nên đạt kết quả khả quan: thu ngân sách vượt dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao, cơ cấu chi hợp lý hơn, ưu tiên chi cho đầu tư phát triển.
6. Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển đạt khá.
Giá trị khối lượng XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước thực hiện 618 tỷ đồng đạt 107% KH năm và bằng 111% so năm 2004. Quản lý điều hành XDCB khá chặt chẽ, đã dành một phần vốn của KH năm 2005 để thanh toán nợ trong đầu tư xây dựng. Bố trí vốn tập trung vào các công trình trọng điểm, từng bước khắc phục hiện tượng đầu tư dàn trải. Tuy nhiên số lượng công trình dở dang vẫn còn khá lớn, chuyển sang năm 2006 trên 61 công trình.
Môi trường đầu tư của tỉnh từng bước được cải thiện tốt hơn. Trung tâm xúc tiến và tư vấn đầu tư tỉnh bước đầu thực hiện được một số công việc về xúc tiến đầu tư, tư vấn đầu tư và hỗ trợ các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm cơ hội đầu tư trên địa bàn tỉnh Long An.
Đầu tư trong nước năm 2005 cấp phép thành lập 520 doanh nghiệp (năm 2004 là 388 doanh nghiệp) với vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 3,9 tỷ đồng (năm 2004 bình quân 2 tỷ), tổng vốn điều lệ đăng ký là 2.050 tỷ đồng tăng hơn 2 lần so với năm 2004. Đăng ký bổ sung của 110 doanh nghiệp tăng thêm 550 tỷ đồng. Luỹ kế đến cuối năm có 2.755 doanh nghiệp với vốn đầu tư 6.600 tỷ đồng. Hạn chế của lĩnh vực này là công tác hậu kiểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được cấp phép chưa được thực hiện tốt và thường xuyên nên chưa nắm được kết quả, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn.
Đầu tư nước ngoài cấp phép 18 dự án với tổng vốn đầu tư 127,6 triệu USD (trong đó điều chỉnh tăng vốn 54,5 triệu USD), tăng hơn 21 triệu USD so với năm 2004. Luỹ kế có 99 dự án còn hiệu lực trên địa bàn với vốn đầu tư 745,2 triệu USD.
Hoàn thành công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2005 theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cụ thể tiến hành cổ phần hóa 5 doanh nghiệp, chuyển sang Cty TNHH một thành viên 2 doanh nghiệp, giải thể 1 doanh nghiệp.
Lũy kế đến cuối năm 2005 đã sắp xếp, đổi mới 30 doanh nghiệp gồm: cổ phần hóa 22 doanh nghiệp; giao, khoán, bán, cho thuê 1 doanh nghiệp; chuyển sang Cty TNHH 1 thành viên 3 doanh nghiệp; chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu 2 doanh nghiệp. Đã xây dựng phương án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2006-2007 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo hướng: năm 2006 cổ phần hóa 1 doanh nghiệp (Cty Cấp nước); năm 2006-2007 chuyển sang Cty TNHH 1 thành viên 9 doanh nghiệp (gồm Cty Xổ số kiến thiết và 8 Cty Công trình công cộng các huyện).
II. Lĩnh vực văn hóa-xã hội:
1. Giáo dục-đào tạo tiếp tục phát triển ổn định, thực hiện tốt nhiệm vụ năm học 2004-2005. Số lượng trẻ đến các cơ sở giáo dục mầm non tiếp tục tăng; chất lượng giáo dục được duy trì, đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ trường đạt chuẩn tăng hơn năm trước (được 29 trường). Tổ chức kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt tiến độ, có 5/14 huyện, thị đạt chuẩn, đang kiểm tra 2 huyện. Đẩy mạnh thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp theo KH, không còn học 3 ca, trên 85% phòng học từ cấp 4 trở lên. Tuy nhiên còn nhiều phòng học đang xuống cấp cần phải sửa chữa, nâng cấp.
2. Mạng lưới y tế nhất là y tế cơ sở được củng cố và phát triển: 80% xã có bác sĩ và phần lớn đều có nữ hộ sinh, 61 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, góp phần làm tốt việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; các dịch vụ y tế phát triển đa dạng để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Chỉ số sức khoẻ cộng đồng được nâng lên: tuổi thọ trung bình đạt 70 tuổi, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống còn 21,4%. Tập trung thực hiện mục tiêu dân số đạt KH, mức giảm sinh là 0,4%0, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 9,9% (giảm 1% so năm 2004).
3. Lĩnh vực văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Các hoạt động văn hoá nghệ thuật diễn ra sôi nổi, nhiều loại hình phong phú, đa dạng. Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu, trong năm công nhận 83 ấp văn hóa, như vậy 100% xã, phường, thị trấn có ấp văn hoá.
Phong trào thể dục thể thao tiếp tục phát triển theo hướng xã hội hoá. Tỷ lệ người tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên 19% (đạt KH), hộ gia đình thể thao được công nhận 13% (đạt KH).
4. Hoạt động chăm sóc người có công và các đối tượng chính sách được duy trì và mở rộng. Công tác đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ xã hội tiếp tục đẩy mạnh, tập trung xây dựng 1.508 nhà tình nghĩa cơ bản đạt KH và xây dựng nhiều nhà đại đoàn kết, nhiều nghĩa trang liệt sĩ được sửa chữa, nâng cấp. Vận động Quỹ đền ơn đáp nghĩa được triển khai rộng rãi. Hệ thống bảo hiểm xã hội tiếp tục được mở rộng.
Thực hiện đề án xuất khẩu lao động đạt kết quả thấp, chủ yếu do định mức cho vay và đối tượng vay còn hạn hẹp.
5. Bình đẳng giới, nâng cao vị thế cho phụ nữ và đảm bảo quyền cho trẻ em có nhiều tiến bộ, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tỷ lệ học sinh nữ trong các trường trung học, cao đẳng tăng lên rõ rệt. Đã có nhiều hoạt động tích cực, có hiệu quả nhằm nâng vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phát triển tín dụng đối với phụ nữ; thực hiện pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn.
III. Lĩnh vực an ninh-quốc phòng:
Quốc phòng-an ninh tiếp tục được giữ vững, chính trị-xã hội ổn định, thực hiện tốt KH đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn Đại hội Đảng các cấp. Đấu tranh phòng chống tội phạm đạt kết quả.
Tình hình trật tự xã hội có chuyển biến tốt hơn so cùng kỳ năm trước. Phạm pháp hình sự giảm 11%, trong đó án nghiêm trọng giảm 36%, án ít nghiêm trọng giảm 5%. Đã điều tra làm rõ, xử lý 52,5% vụ phạm pháp hình sự, tổ chức truy bắt, truy nã đối tượng phạm tội, vận động tự thú, khám phá nhiều băng trộm cắp, cướp giật chuyên nghiệp, góp phần lám giảm số vụ phạm pháp ở các địa bàn trọng điểm.
Tệ nạn xã hội giảm 8%, nhưng tệ nạn cờ bạc, mại dâm còn cao. Các hoạt động đánh bạc dưới hình thức cá cược bóng đá, thầu đề, ghi đề ở một số địa bàn chưa giảm. Tội phạm về ma túy phát hiện tăng 40%, tập trung một số tuyến, địa bàn trọng điểm.
Công tác giữ gìn trật tự an toàn giao thông được tập trung, có nhiều cố gắng làm thường xuyên và kiên quyết nên tai nạn giao thông có giảm. Đã xử lý 39.626 trường hợp vi phạm. Tai nạn giao thông đường bộ giảm 22,5%, đường thủy giảm 13,6%. Một số huyện đã kềm chế gia tăng tai nạn giao thông, tai nạn nghiêm trọng cũng giảm trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ.
Triển khai thực hiện hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng. Công tác tuyển quân đạt 100% KH. Tỉnh đã phê duyệt kế hoạch xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên nhưng cũng còn một số địa phương triển khai thực hiện chậm. Sơ kết 5 năm công tác giáo dục quốc phòng, tiếp tục tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh cho cán bộ chủ chốt theo quy định.
Công tác giải quyết khiếu nại-tố cáo của công dân được các ngành các địa phương thực hiện đúng luật. Số vụ phát sinh chủ yếu tranh chấp đất đai trong nội bộ nông dân và khiếu nại giá đền bù chưa thoả đáng khi Nhà nước thu hồi đất. Các vụ tồn đọng phức tạp, khiếu kiện đông người được tập trung xem xét giải quyết nên tình hình chung vẫn ổn định. Việc tổ chức tiếp dân có tiến bộ và ngày càng nề nếp, phối hợp giải quyết được nhiều vụ việc tại cơ sở. Tích cực chỉ đạo thực hiện quyết định có hiệu lực pháp luật nên số tồn đọng giảm hơn trước.
Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các nội dung cải cách các hoạt động tư pháp, củng cố tổ chức cơ quan thi hành án dân sự, tăng cường giải quyết các bản án dân sự còn tồn đọng, nên có chuyển biến tốt.
IV. Lĩnh vực xây dựng củng cố chính quyền:
Tỉnh triển khai thực hiện xong việc sắp xếp tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo Nghị định số 171/2004/NĐ-CP và 172/2004/NĐ-CP, đồng thời hướng dẫn cụ thể về chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy đến nay cơ bản hoạt động ổn định. Hoàn thành việc chuyển xếp lương mới, nâng mức lương tối thiểu cho cán bộ, công chức khu vực hành chính sự nghiệp và điều chỉnh trợ cấp cho các đối tượng chính sách theo chủ trương của Chính phủ.
Tỉnh chỉ đạo thực hiện đúng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, thực hiện đúng quy định về bổ nhiệm có thời hạn và bổ nhiệm lại cán bộ, chấn chỉnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý cán bộ, công chức, viên chức nhà nước đi nước ngoài. Triển khai công tác điều tra khảo sát, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước giai đoạn 2003-2005 theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
Công tác cải cách hành chính tập trung tổng kết giai đoạn I và triển khai một số đề án thuộc chương trình tổng thể cải cách hành chính, kiểm tra việc thực hiện cơ chế “một cửa” ở các ngành và huyện-thị, triển khai áp dụng cơ chế “một cửa” ở cấp xã (từ 01/02/2005). Nhìn chung đã tập trung thực hiện đạt kết quả bước đầu trên cả 4 nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công; phân cấp cho chính quyền cơ sở được tăng cường. Các ngành, các cấp có nhiều cố gắng thực hiện cơ chế một cửa, qua kiểm tra đã khắc phục dần thiếu sót, đưa hoạt động vào nề nếp, tạo thuận lợi cho nhân dân.
Ban Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tỉnh được củng cố, tập trung triển khai thực hiện Thông báo kết luận số 159-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương và chỉ đạo của Tỉnh ủy về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. Đã tổ chức lớp tập huấn quy chế dân chủ cơ sở cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể năm 2005. Đặc biệt UBND phối hợp với Mặt trận Tổ quốc các cấp triển khai thực hiện việc kiểm điểm công tác và lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cấp xã và Trưởng ấp, khu phố.
V. Thực hiện các chương trình trọng điểm:
Các chương trình trọng điểm của tỉnh được tích cực triển khai thực hiện, đã và đang phát huy tác dụng. UBND tỉnh đã báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện 4 chương trình trọng điểm của tỉnh thông qua HĐND tỉnh khóa VII kỳ họp thứ 7, và HĐND tỉnh đã có Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ tiếp tục thực hiện các chương trình này đến năm 2010.
1. Chương trình dân sinh vùng lũ:
Thực hiện chương trình này thời gian qua đã đạt một số kết quả nhất định. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có bước chuyển biến rõ rệt, nâng cao hiệu quả đầu tư trong sản xuất nông nghiệp. Đời sống vật chất, tinh thần nhân dân vùng lũ được nâng lên. Các công trình hạ tầng kinh tế-xã hội trong vùng lũ được quan tâm đầu tư xây dựng kiên cố và đảm bảo cao trình vượt lũ.
Về đầu tư các cụm tuyến dân cư đã hoàn thành san nền 176/184 cụm tuyến, thi công hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật đường, cống thoát nước, cấp điện 70 cụm tuyến. Đang triển khai giao nền cho 15.000 hộ dân trong cụm tuyến và đưa hơn 2.500 hộ dân vào ở.
Tuy nhiên còn một số tồn tại cần có giải pháp khắc phục để tiếp tục thực hiện chương trình như: chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp còn hạn chế; thiếu vốn đầu tư hạ tầng kinh tế-xã hội nhất là đường giao thông về đến trung tâm xã; thiếu vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm tuyến dân cư, công tác tuyên truyền vận động dân vào ở ổn định còn hạn chế nên kết quả đưa dân vào ở còn thấp.
2. Chương trình vùng kinh tế trọng điểm:
Tập trung huy động nguồn lực để tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cho vùng, chủ yếu là các tuyến đường giao thông chính, các công trình điện, nước, thông tin liên lạc, cơ sở dạy nghề... Nhiều công trình kết cấu hạ tầng quan trọng đã được tập trung đầu tư đưa vào sử dụng đáp ứng yêu cầu phát triển: ĐT 823, 824, 825, HL6, HL8, cầu Thủ Bộ; đường Rạch Chanh-Long Định-Long Cang, trạm biến thế phục vụ 4 KCN; nhà máy nước Gò Đen... Thực hiện có kết quả bước đầu trong mối liên kết hợp tác với TP.HCM. Tiếp tục triển khai thực hiện chính sách ưu đãi thu hút đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong vùng, trong đó công nghiệp có bước phát triển vượt trội.
Hiện có 23 khu công nghiệp với diện tích 9.946 ha, trong đó có 6 khu công nghiệp được Chính phủ cho phép thành lập (1.536 ha) và 3 khu công nghiệp được bổ sung vào danh mục các khu công nghiệp cả nước (2.003 ha). Đã có 3 khu công nghiệp đi vào hoạt động (Đức Hoà I, Xuyên Á, Thuận Đạo). Các khu công nghiệp khác đang khẩn trương xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên nguồn lực còn hạn chế so với yêu cầu nên hạ tầng kinh tế-xã hội chưa được đầu tư đồng bộ, công tác kê biên giải phóng mặt bằng còn chậm, năng lực tài chính của một số nhà đầu tư kém nên chậm triển khai thực hiện dự án.
3. Chương trình giải quyết việc làm-xóa đói giảm nghèo:
Năm 2005 giải quyết việc làm cho khoảng 30.500 lao động, hạ tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 5% (đạt KH), giảm 4.500 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 10,97%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt KH 24%. Nhận thức về công tác giải quyết việc làm-giảm nghèo ở các cấp, các ngành và người dân được nâng lên, thực hiện tốt phương châm « lấy xã hội lo cho xã hội », xuất hiện ngày càng nhiều mô hình làm ăn có hiệu quả, tín dụng, tiết kiệm giúp nhau làm ăn thoát nghèo. Đến nay có 13/14 xã nghèo trọng điểm đã thoát nghèo. Tuy nhiên tính bền vững của chương trình chưa cao, hộ ngưỡng nghèo còn nhiều.
Đã cấp 166.000 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người cao tuổi, người thuộc diện 135 với kinh phí 8,3 tỷ đồng. Hoàn chỉnh đề án tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác giải quyết việc làm-giảm nghèo từ tỉnh đến cơ sở. Hạ tầng các xã nghèo cũng được quan tâm đầu tư góp phần nâng cao đời sống dân cư.
4. Chương trình đào tạo phát huy nguồn nhân lực:
Tiếp tục tập trung đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức hiện có theo tiêu chuẩn chức danh, nhằm chuẩn hoá và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đã mở 11 lớp nghiệp vụ với 464 học viên với kinh phí trợ cấp trên 2 tỷ đồng.
Đào tạo bám sát KH được duyệt và gắn với bố trí, sử dụng. Cán bộ dự nguồn, nhất là tuyến xã được quan tâm nhằm đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cho bộ máy cơ sở. Tuy nhiên, do nhận thức và tổ chức thực hiện Chương trình ở các ngành, các cấp chưa đầy đủ; công tác quy hoạch đánh giá cán bộ còn yếu, công tác đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng chưa đồng bộ, chưa hợp lý, kém hiệu quả. Cán bộ cơ sở vẫn còn thiếu và yếu, phần lớn chưa qua đào tạo (trên 60%) chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, một số trường dạy nghề trọng điểm xây dựng chậm.
Đánh giá chung:
Nhìn chung trong năm 2005, tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng UBND tỉnh tập trung chỉ đạo điều hành trên cơ sở bám sát Nghị quyết Tỉnh ủy và Nghị quyết HĐND tỉnh; xác định trọng tâm,trọng điểm, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phát huy tính năng động của cơ sở; tăng cường đi cơ sở kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc, các ngành, các cấp có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ nên đã hoàn thành các nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2005. Nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt, vượt KH và tăng so với cùng kỳ. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Lĩnh vực văn hóa-xã hội có nhiều chuyển biến quan trọng. An ninh-quốc phòng được giữ vững tạo môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư phát triển. Đời sống người dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn khởi sắc. Đặc biệt góp phần hoàn thành cơ bản KH 5 năm 2001-2005 (như báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VIII).
Tuy nhiên cũng còn một số tồn tại, yếu kém cần khắc phục trong thời gian tới như sau:
- Nền kinh tế phát triển chủ yếu theo chiều rộng, tốc độ còn chậm, chưa tương xứng với lợi thế và tiềm năng của tỉnh, chất lượng tăng trưởng chưa cao, còn tiềm ẩn những yếu tố bấp bênh, chi phí sản xuất một số ngành còn cao, sức cạnh tranh hàng hóa thấp.
- Trong sản xuất nông nghiệp việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ hạn chế, giá thành sản xuất cao, sức cạnh tranh yếu. Tình hình lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh còn tác động nhiều đến kết quả sản xuất. Chưa nối kết người sản xuất với các doanh nghiệp, nông sản hàng hoá tiêu thụ qua ký kết hợp đồng còn rất thấp. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Quá trình đổi mới công nghệ và thiết bị trong công nghiệp chậm, năng suất lao động thấp. Định hướng phát triển ngành còn lúng túng, chưa tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp đầu tư. Công nghiệp chưa tạo được tiền đề thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Nguyên liệu phục vụ phát triển công nghiệp chế biến chưa đáp ứng được nhu cầu.
- Hoạt động thương mại-dịch vụ chưa thật sự đóng vai trò cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ, nhất là tiêu thụ nông sản hàng hóa. Kết cấu hạ tầng của ngành, nhất là hệ thống chợ nông thôn chậm đầu tư phát triển.
- Tạo nguồn vốn bổ sung đầu tư XDCB từ quỹ đất đạt thấp so với KH nên chưa bổ sung đủ, kịp thời cho yêu cầu đầu tư phát triển. Năng lực tài chính một số nhà đầu tư còn yếu. Giải phóng mặt bằng còn chậm so yêu cầu do không đủ vốn. Công trình thi công dở dang còn nhiều tạo áp lực vốn cho năm sau.
- Một số vấn đề bức xúc của xã hội chưa được giải quyết tốt, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, buôn lậu, hàng gian, hàng giả chưa ngăn chặn được. Chương trình giải quyết việc làm-giảm nghèo tính ổn định và bền vững chưa cao, số hộ ngưỡng nghèo còn khá lớn, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế.
- Năng lực quản lý Nhà nước chưa theo kịp đà phát triển kinh tế-xã hội. Trình độ năng lực cán bộ từng bước được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới, vẫn còn các biểu hiện cửa quyền, nhũng nhiễu.

Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2006
Năm 2006 là năm đầu tiên thực hiện KH phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2005-2010 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VIII, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng cao và bền vững cho các năm tiếp theo. Theo yêu cầu đó, UBND tỉnh đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2006 như sau:
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
1. Thuận lợi: Kinh tế thế giới sẽ tiếp tục phát triển, nhu cầu và giá cả một số hàng nông sản tiếp tục giữ vững tạo điều kiện cho Việt Nam gia tăng xuất khẩu, tăng khả năng thu hút đầu tư và tiếp cận công nghệ tiên tiến, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế nước ta.
Tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp là điều kiện thuận lợi để tập hợp sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành đang đi vào cuộc sống, phát huy tính tích cực tạo môi trường và động lực phát triển.
Kết cấu hạ tầng, năng lực và trình độ sản xuất của nền kinh tế đã tăng lên đáng kể, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ chuyển biến tích cực hơn.
2. Khó khăn: Một số nước có nền kinh tế lớn trong khu vực giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ ảnh hưởng tới khả năng xuất khẩu của ta vào thị trường này. Quá trình hội nhập sâu rộng là thách thức lớn đối với nền sản xuất, áp lực cạnh tranh của sản phẩm sẽ ngày càng quyết liệt ngay trên thị trường nội địa.
Một số khó khăn tồn tại chung phải tập trung khắc phục: sản xuất còn lạc hậu, năng suất chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn thấp; cơ cấu sản xuất từng ngành, từng lĩnh vực chưa theo kịp biến động nhanh nhạy của thị trường trong nước và quốc tế...
3. Thuận lợi khó khăn đặc thù của Long An:
Thuận lợi: Gia nhập vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của cả nước, tỉnh sẽ được gia tăng đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng và vận dụng cơ chế chính sách đặc thù của vùng để phát triển kinh tế-xã hội với cấp độ cao hơn. Các chương trình trọng điểm của tỉnh tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu, góp phần tạo thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và an sinh xã hội. Phát huy các thành tựu về kinh tế-xã hội đầu tư những năm trước sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Khó khăn: Hệ thống kết cấu hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ, nguồn vốn đầu tư hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, năng lực cạnh tranh còn thấp nên gặp nhiều khó khăn trong điều kiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Tình hình biên giới, xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp khó lường, nhất là tình trạng buôn lậu.
II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH NĂM 2006:
1. Mục tiêu:
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ. Quản lý sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội, nhất là khu vực dân doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
- Chuẩn bị các điều kiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu; thu hút vốn, công nghệ cao.
- Đẩy mạnh xã hội hóa trong các lĩnh vực văn hóa-xã hội, nâng cao mức sống của nhân dân, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc. Đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc.

III. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
1. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn:
Tổng mức đầu tư cho lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp và nông thôn dự kiến là 47,5 tỷ đồng, chiếm 6,6 % tổng mức đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước. Giá trị gia tăng của ngành nông-lâm-ngư nghiệp tăng 5,0%, trong đó nông nghiệp tăng 2,8%, lâm nghiệp tăng 4%, thủy sản tăng 16,5%. Sản phẩm chủ yếu: lúa 1,918 triệu tấn, mía 946.000 tấn, đậu phộng 23.455 tấn, bò sữa 6.300 con, tôm sú 8.200 tấn.
Công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vẫn là nhiệm vụ hàng đầu. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; đào tạo nâng cao trình độ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng nhiều cánh đồng có giá trị tăng thêm đạt 25 triệu đồng/ha ở các huyện vùng Hạ nuôi tôm sú tập trung, vùng rau tập trung ven thành phố, chăn nuôi tập trung (vùng cao của Đức Hoà, Đức Huệ...), vùng lúa trọng điểm luân canh thuỷ sản nước ngọt (Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa và một phần Tân Thạnh). Gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, thực hiện “mối liên kết 5 nhà”.
Tiếp tục ổn định vùng sản xuất lương thực, vùng mía nguyên liệu, chuyển bớt diện tích lúa năng suất thấp (2.150 ha) sang nuôi trồng thủy sản và các cây con khác hiệu quả hơn. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng hướng sang các sản phẩm phục vụ công nghiệp chế biến và các loại hình khác: xây dựng và triển khai thực hiện dự án rau an toàn, nhân rộng mô hình xen canh cây bắp lai ở những nơi có điều kiện. Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh bền vững theo chương trình phát triển thủy sản đã đề ra. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ, phát triển vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ.
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp và giao thông nông thôn. Đầu tư nâng cấp các trung tâm, trạm trại giống cây trồng vật nuôi; các chương trình mục tiêu và nạo vét kênh mương theo kế hoạch vốn phân bổ để phục vụ nhiệm vụ phát triển nông nghiệp. Thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại. Theo dõi chặt chẽ khí hậu, thời tiết, thủy văn để có giải pháp thích hợp chỉ đạo thực hiện tốt KH sản xuất nông nghiệp năm 2006 nhằm đảm bảo sản xuất kịp thời vụ, phòng chống dịch bệnh, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
Thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị số 24/2005/CT-UBND ngày 7/11/2005 của UBND tỉnh về một số công tác khẩn cấp về phòng dịch cúm gia cầm nhằm ngăn chặn nguy cơ diễn ra đại dịch. Xây dựng và thực hiện quy hoạch vùng chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đảm bảo an toàn vệ sinh dịch bệnh, tiến tới thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Căn cứ chương trình dân sinh vùng lũ giai đoạn 2006-2010, có kế hoạch giải pháp cụ thể về vốn để tiếp tục đầu tư hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, bố trí dân cư ổn định khoảng 15.000 hộ vào cuối năm 2006. Chuyển một số cụm, tuyến dân cư có điều kiện sang mục đích sử dụng khác nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vừa đảm bảo thu hồi vốn đầu tư cơ sở hạ tầng các khu dân cư khác trên địa bàn.
2. Phát triển công nghiệp:
Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng 28%. Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 23,5%.
Xây dựng giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả chương trình cải tiến thiết bị công nghệ và phương pháp quản lý để nâng hiệu suất trong đầu tư, sản xuất kinh doanh đối với công nghiệp chế biến hàng nông sản, công nghiệp chế biến hàng hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, các ngân hàng chuyên doanh cân đối đủ vốn tín dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh; xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện chương trình khuyến công.
Đánh giá khả năng cạnh tranh của các sản phẩm có tỷ trọng lớn như: đường mía, vải thành phẩm, thức ăn gia súc, thủy sản chế biến, nước khoáng, hạt điều, gạch men… để có các giải pháp giữ vững và phát triển thị trường hiện có cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm. Phát triển nhanh những sản phẩm có thị trường, có khả năng xuất khẩu và những sản phẩm có tiềm năng phát triển như sơn, phân bón, thuốc trừ sâu... nắm rõ những khó khăn vướng mắc trong sản xuất và tháo gỡ kịp thời nhằm giữ vững sản xuất, đầu tư đúng tiến độ, đúng chất lượng...
Hỗ trợ doanh nghiệp sớm hoàn thành xây dựng nhà xưởng đi vào hoạt động sản xuất. Sửa đổi bổ sung chính sách thu hút đầu tư, tạo môi trường thông thoáng, hấp dẫn để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào tỉnh Long An. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư đồng bộ các công trình, phát triển kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm. Xây dựng tối thiểu 500 ha đất có điều kiện hạ tầng để giao đất kịp thời cho các nhà đầu tư. Hoàn chỉnh và triển khai thực hiện quy chế phối hợp giải quyết đình công, bãi công trong các doanh nghiệp.
Tiếp tục rà soát lại qui hoạch tình hình sử dụng đất đai tại các khu cụm công nghiệp, nâng cao hệ số sử dụng đất, tiếp tục thu hồi hoặc thay đổi chủ đầu tư đối với những khu công nghiệp, khu dân cư không có khả năng thực hiện. Trong năm 2006 cân đối 103 tỷ đồng vốn đầu tư hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào phục vụ thu hút đầu tư phát triển công nghiệp. Trong tiếp nhận và bố trí đầu tư ưu tiên các dự án có thiết bị và công nghệ tiên tiến, ưu tiên tiếp nhận, bố trí đầu tư các dự án chế biến nguồn nguyên liệu của tỉnh, nhằm đảm bảo tính bền vững của môi trường, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, tiêu thụ nông sản hàng hóa trong nông dân
Cải tạo mạng lưới điện hạ thế, đầu tư đồng bộ mạng lưới điện trung thế trên địa bàn để tăng cường quy mô và chất lượng cung cấp điện.
3. Thương mại-dịch vụ:
Phấn đấu tăng trưởng ngành thương mại-dịch vụ đạt 10,5%, với các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể sau đây:
Khai thác tốt thế mạnh của Long An về thương mại, du lịch, dịch vụ để xúc tiến đầu tư thương mại-dịch vụ, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, mở rộng giao lưu hàng hoá, nhất là thị trường nông thôn. Thương mại phải thực sự là đòn bẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất lớn và xuất khẩu. Phấn đấu năm 2006 tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 18%.
Chủ động trong việc chuẩn bị các điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng cường hoạt động xuất khẩu, nhất là các mặt hàng nông sản, phấn đấu kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 25% so với năm 2005.
Đẩy mạnh công tác quản lý thị trường, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng gian, hàng giả. Tập trung đầu tư xây dựng khu kinh tế cửa khẩu chính Bình Hiệp và đưa vào khai thác. Tổ chức quản lý lại buôn bán tiểu ngạch qua biên giới, vừa khai thác nguồn thu cho ngân sách, vừa ngăn chặn có hiệu quả tình trạng buôn lậu qua biên giới.
Đa dạng hoá các loại hình du lịch và các dịch vụ giải trí, tăng cường giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan, du lịch văn hóa, lịch sử. Đầu tư 10 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch Làng nổi Tân Lập để kêu gọi đầu tư các hạng mục bên trong sớm đưa vào khai thác.
Tập trung nâng cao năng lực dịch vụ vận tải, củng cố cơ sở vật chất của ngành và năng lực của đội ngũ cán bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh. Tốc độ lưu chuyển hàng hoá tăng 16%, lưu chuyển hành khách tăng 12,5% so với năm 2005. Tiếp tục phát triển nhanh đi đôi với đa dạng hoá các loại dịch vụ bưu chính viễn thông, từng bước nâng cao chất lượng và giảm chi phí. Phát triển các dịch vụ mới như Internet, điện thoại di động. Tăng cường mở rộng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… tập trung phổ biến cho các tầng lớp dân cư sử dụng rộng rãi.
Tiếp tục mở rộng mạng lưới tín dụng, tích cực huy động các nguồn vốn nhất là vốn huy động tại chổ, nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhu cầu đầu tư phát triển của khách hàng. Tăng cường vốn tín dụng trung và dài hạn. Cải cách thủ tục cho vay, dễ dàng thuận tiện cho người dân tiếp cận nguồn vốn. Tăng cường hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội, phục vụ các đối tượng chính sách, hộ nghèo, người đi lao động nước ngoài... để cải thiện đời sống.
4. Thu chi ngân sách:
Đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, phấn đấu tăng thu, chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng gian hàng giả, trốn lậu thuế, tích cực thu các khoản nợ, quản lý chặt chẽ các khoản thu tại xã, phường thị trấn. Tăng cường công tác kiểm tra việc hoàn thuế giá trị gia tăng, chống gian lận chiếm đoạt tiền ngân sách Nhà nước.
Dự toán thu ngân sách năm 2006 phải phấn đấu tăng 13% (không bao gồm tiền sử dụng đất) so với mức thực hiện năm 2005. Xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể để thực hiện chỉ tiêu phấn đấu tăng thêm để tăng chi, bảo đảm đủ nguồn kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản (620 tỷ đồng).
Kiểm tra đầy đủ và chặt chẽ việc thực hiện luật Ngân sách ở các cấp. Quản lý chặt chẽ chi tiêu của các tổ chức, đơn vị thụ hưởng ngân sách. Ưu tiên chi đầu tư các công trình trọng điểm. Tuân thủ thực hiện nguyên tắc tăng thu thì tăng chi, thu thấp thì giảm chi tương ứng.
Các nội dung cụ thể về điều hành thu chi ngân sách thực hiện theo qui định tại Chỉ thị số 25/2005/CT-UBND ngày 12/12/2005 của UBND tỉnh về việc tổ chức thực hiện và quản lý điều hành dự toán ngân sách nhà nước năm 2006.
5. Huy động vốn đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội:
Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 6.000 tỷ đồng chiếm 42,5% GDP. Trong đó thu hút đầu tư các doanh nghiệp trong nước khoảng 1.800-2.000 tỷ đồng, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khoảng 130-140 triệu USD.
Tiếp tục thực hiện phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp năm 2006-2007 theo KH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kiểm tra, kiên quyết xử lý các doanh nghiệp lợi dụng tư cách pháp nhân để kinh doanh bất hợp pháp (mua bán hoá đơn...).
Đổi mới phương thức vận động, xúc tiến đầu tư; chú trọng thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia cũng như của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; ngân hàng cân đối đủ vốn, cho vay hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xác định năng lực của các chủ đầu tư trước khi có chủ trương tiếp nhận dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tổ công tác về xúc tiến đầu tư thường xuyên nắm bắt và giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp. Thực hiện đối thoại định kỳ giữa các doanh nghiệp với UBND tỉnh.
Khả năng cân đối nguồn vốn XDCB của tỉnh từ ngân sách nhà nước 574,39 tỷ đồng. Trong đó:
- Các chương trình mục tiêu (đã có địa chỉ cụ thể nên tỉnh không phân bổ): 12,69 tỷ đồng.
- Số còn lại tỉnh phân bổ: 561,7 tỷ đồng. Dự kiến phân bổ:
Phân cấp huyện thị quản lý: 148,72 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2005, yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện chủ động phối hợp với các nguồn vốn hợp pháp khác của huyện để tổ chức thực hiện tốt việc xây dựng mới và cải tạo trụ sở xã, phường; các công trình nhựa hoá nội thị và các công trình khác theo phân cấp.
Phần tỉnh quản lý: 399,98 tỷ đồng, so với nhu cầu đầu tư trong năm 2006 là 620 tỷ đồng, còn thiếu 220 tỷ đồng, với các giải pháp thực hiện như sau:
5.1. Một số giải pháp thực hiện kế hoạch XDCB năm 2006:
- Đối với nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã phân bổ, Chủ tịch UBND các huyện-thị xã, Thủ trưởng các Sở ngành tỉnh điều hành, đầu tư dứt điểm các công trình dở dang để hoàn thành đưa vào sử dụng.
- Để tránh lãng phí vốn đầu tư đối với các công trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án (111 danh mục nằm trong KH các năm trước), giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì làm việc với các chủ đầu tư, UBND các huyện-thị xã tiến hành rà soát lại quy mô đầu tư, kiên quyết điều chỉnh giảm qui mô cho phù hợp với nhu cầu thực tế và khả năng cân đối vốn. Đề xuất danh mục được phép lập dự án hoặc thiết kế dự toán trong KH năm 2006.
- Không bổ sung công trình ngoài KH được phê duyệt từ đầu năm (trừ các công trình cấp bách do thiên tai, địch họa); kiên quyết không quyết định đầu tư đối với các công trình chưa xác định rõ nguồn vốn đầu tư, không phê duyệt phát sinh ngoài dự án được duyệt.
- Các chủ đầu tư phải tuân thủ thực hiện nghiêm quy chế đấu thầu, giao thầu các công trình xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công theo các quy định hiện hành. Chủ đầu tư phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tiến độ đầu tư, chất lượng công trình, về công trình không hiệu quả, về quyết định đầu tư khi chưa xác định được nguồn vốn.
- Các chủ đầu tư phải tăng cường công tác tự kiểm tra, giám sát để bảo đảm chất lượng, hiệu quả công trình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đề xuất xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm đầu tư xây dựng cơ bản.
- Giao Thanh tra tỉnh tiếp tục công tác thanh kiểm tra đầu tư xây dựng cơ bản, áp dụng đồng bộ các biện pháp chống dàn trải, lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản; phát hiện và đề xuất xử lý trách nhiệm cá nhân của người thẩm định, người quyết định đầu tư, người giám sát, đơn vị thi công đối với các công trình không bảo đảm chất lượng, lãng phí, tiêu cực trong xây dựng cơ bản.
5.2. Giải pháp xử lý nguồn vốn xây dựng cơ bản thiếu (220 tỷ đồng):
Tổng nhu cầu vốn xây dựng cơ bản năm 2006 là 620 tỷ đồng, chủ yếu chi thanh toán các công trình dở dang năm 2005 chuyển sang, chỉ có 5 công trình bức xúc khởi công mới, theo khả năng cân đối ngân sách chỉ có 399,98 tỷ đồng, nếu như vậy thì một số công trình dở dang phải ngưng thi công từ đầu năm 2006. Trước tình hình đó, UBND tỉnh chủ trương:
a. Cho ghi KH đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006, phần tỉnh quản lý là 620 tỷ đồng, để các chủ đầu tư có cơ sở triển khai thi công ngay từ đầu năm 2006.
b. Để giải quyết nguồn vốn thiếu 220 tỷ đồng, UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài chính làm việc với các ngành liên quan: Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh, Cục thuế tỉnh để thống nhất xây dựng KH, giải pháp tạo thêm nguồn thu 220 tỷ đồng, đảm bảo cân đối được KH vốn xây dựng cơ bản năm 2006, cụ thể:
- Phấn đấu tăng thu so với dự toán thu năm 2006 phần thu nội địa.
- Phần tăng thu từ giao đất trong khu, cụm công nghiệp, dân cư của Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh.
- Phần tăng thu từ nguồn thu tiền sử dụng đất (như: chuyển từ thuê sang giao đất của các doanh nghiệp; thanh lý đất công; chuyển mục đích sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân...).
6. Văn hóa-xã hội:
6.1. Giáo dục-đào tạo:
Trong năm 2006 cân đối 33,16 tỷ đồng cho các chương trình mục tiêu về giáo dục-đào tạo, như: dự án phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, thực hiện phổ cập trung học cơ sở; dự án đổi mới chương trình nội dung sách giáo khoa; dự án đưa tin học vào nhà trường; dự án tăng cường cơ sở vật chất trường sư phạm; dự án hỗ trợ giáo dục vùng khó khăn; dự án tăng cường năng lực đào tạo nghề...
Nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đảm bảo 100% giáo viên đạt chuẩn theo quy định. Hoàn chỉnh và triển khai quy hoạch giáo dục. Tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông. Xây dựng lộ trình chuyển đổi các trường bán công sang các loại hình trường khác theo quy định. Cân đối nguồn vốn để hoàn thành cơ bản chương trình kiên cố hoá trường lớp, tiếp tục xây trường đạt chuẩn.
6.2. Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, người có công và bảo trợ xã hội:
Tăng cường công tác phòng ngừa dịch bệnh, giải quyết tốt vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm; tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu y tế và phòng chống HIV/AIDS. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Xây dựng và thực hiện Đề án nâng cấp chất lượng dịch vụ y tế cơ sở, đáp ứng được nhiều dịch vụ khám bệnh thiết yếu và tính tiện dụng cao đối với người dân. Đảm bảo 100% trạm y tế xã có đủ điều kiện hoạt động, đủ nữ hộ sinh, các phòng khám khu vực đủ bác sĩ, 85% xã có bác sĩ.
Tiếp tục vận động thực hiện chương trình dân số và KHHGĐ, đặc biệt là thực hiện tốt mô hình xã phường không sinh con thứ ba trở lên, kết hợp với bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em và phong trào xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 20,2%, phấn đấu duy trì mức giảm sinh 0,4%o, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 1%. Mỗi huyện, thị chọn ít nhất 2 xã, phường, mỗi xã, phường chọn ít nhất 2 ấp, khu phố không có người sinh con thứ 3 trở lên.
Trong năm 2006 cân đối 3,972 tỷ đồng cho chương trình thanh toán một số bệnh xã hội; cân đối 3,2 tỷ đồng cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường. Đảm bảo 82% hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch.
Tiếp tục thực hiện các chính sách xã hội, chăm sóc người có công với nước, người già không nơi nương tựa, trẻ em lang thang, tiếp tục vận động xã hội tham gia chăm sóc phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công, gia đình chính sách.
6.3. Giải quyết việc làm và giảm nghèo:
Tập trung nguồn lực thực hiện có hiệu quả chương trình giải quyết việc làm và giảm nghèo. Trong năm 2006 cân đối 13,98 tỷ đồng cho chương trình giảm nghèo và việc làm. Tăng nguồn vốn giảm nghèo để đẩy mạnh công tác tín dụng, trợ giúp người nghèo phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm.
Giải quyết việc làm ổn định cho 31.000 người, đào tạo nghề cho 9.950 lao động. Giải quyết vốn vay 500 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống còn 4,9%, nâng quỹ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên hơn 80,5%. Đầu tư thiết bị nâng cao chất lượng đào tạo các cơ sở dạy nghề, nâng cấp các trường dạy nghề thành trường trung học nghề để tạo điều kiện thực hiện phân luồng học sinh; đẩy mạnh hợp tác đào tạo nghề giữa doanh nghiệp và các cơ sở dạy nghề. Chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động theo hướng tăng lao động công nghiệp và xây dựng lên 22%, lao động dịch vụ 25%, giảm lao động nông nghiệp xuống 53%.
Giải quyết chính sách thoả đáng đối với số lao động dôi dư trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm cho lao động.
Phối hợp với các tỉnh trong khu vực để đào tạo và cung ứng nguồn lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất công nghiệp. Tăng cường quản lý lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và ngoài quốc doanh, hạn chế tình trạng bãi công, lãng công.
Phấn đấu giảm 4.000 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 10,97% năm 2005 xuống còn 9,6% năm 2006, hạn chế tình trạng tái nghèo và chú ý các hộ ngưỡng nghèo; đẩy mạnh tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức của người nghèo phải tự lực vươn lên, không ỷ lại vào Nhà nước. Lồng ghép có hiệu quả chương trình giải quyết việc làm và giảm nghèo với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến công cho các hộ nghèo. Tiếp tục tiến hành xây dựng mô hình giảm nghèo cho các xã vùng sâu, vùng khó khăn; tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo bằng nhiều nguồn vốn. Thực hiện đề án tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác giải quyết việc làm và giảm nghèo.
6.4. Về văn hóa thông tin- Thể dục thể thao:
Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, trong đó tập trung tuyên truyền Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Hoàn chỉnh và triển khai Đề án về thiết chế văn hoá cơ sở. Chú trọng đầu tư khu vui chơi trẻ em. Triển khai có hiệu quả chương trình đưa văn hóa về cơ sở và chống xuống cấp các di tích lịch sử, di tích văn hóa. Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phấn đấu số hộ gia đình thực hiện nếp sống văn hóa đạt 98%. Xây dựng một số xã văn hoá điểm.
Tiếp tục thực hiện chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình. Tăng tỷ lệ số hộ nghe đài lên 96%, số hộ xem truyền hình 94%.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng theo hướng xã hội hóa, phấn đấu đạt hơn 20% dân số và 14% hộ gia đình tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên. Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động TDTT như sân chơi, bãi tập ở xã phường và khu dân cư. Tổ chức tốt Đại hội TDTT cấp tỉnh lần thứ V.
6.5. Khoa học công nghệ và môi trường:
Đổi mới công nghệ gắn với ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất, công tác quản lý và đời sống xã hội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chú trọng giống cây con, kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông thôn.
Theo dõi chặt chẽ môi trường ở những khu trung tâm, khu đông dân cư, khu công nghiệp. Kiên quyết xử lý, giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát triển bền vững.
Do ngân sách có hạn nên đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ này.
6.6. Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ.
Đẩy mạnh công tác xoá mù chữ cho phụ nữ ở độ tuổi qui định; tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo và giải quyết việc làm. Thực hiện bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực. Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong các ngành, các cấp. Giới thiệu, triển khai thực hiện các mô hình hay về bình đẳng giới. Quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ, tạo nguồn cán bộ kế cận đáp ứng yêu cầu mới. Thực hiện lồng ghép các mục tiêu về giới vào các chương trình, dự án của địa phương.
6.7. Thực hiện chương trình phát triển thanh niên Việt Nam:
Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt Chiến lược quốc gia về thanh niên. Có chính sách khuyến khích thanh niên lập nghiệp, tham gia các phong trào “thanh niên sản xuất, kinh doanh giỏi”, hội thi “sáng tạo trẻ”, phong trào thi đua “lao động giỏi”, sáng kiến “khoa học kỹ thuật” nhằm khẳng định vai trò, vị trí của Đoàn thanh niên trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. Chú ý nâng cao trình độ, đào tạo nghề cho thanh niên, trong đó tập trung thanh niên ở địa bàn nông thôn vùng sâu và vùng xa.
7. Phát triển vùng lãnh thổ trên cơ sở phát huy những lợi thế của từng vùng và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động:
- Phát triển vùng kinh tế trọng điểm: tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp, hệ thống giao thông liên vùng, hệ thống cảng và hệ thống đô thị hiện đại gắn kết với phát triển các loại hình dịch vụ; từng bước tổ chức bố trí lại dân cư theo hướng tập trung, phát triển đô thị.
- Vùng Đồng Tháp Mười: tiếp tục đầu tư hệ thống giao thông đến trung tâm các xã; giải quyết vướng mắc đẩy mạnh thực hiện Chương trình dân sinh vùng lũ, tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng cụm tuyến dân cư để bố trí dân vào sinh sống ổn định. Đẩy mạnh phát triển thuỷ sản gắn với du lịch sinh thái, kinh tế cửa khẩu, khai thác các tiềm năng của lũ.
- Vùng phía Nam của tỉnh: phát triển kinh tế kết hợp, đa dạng giữa trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản. Phát triển vùng rau an toàn, thu hút các dự án đầu tư nông nghiệp công nghệ cao; phát triển nền nông nghiệp ven đô.
- Vùng hạ: tiếp tục phát triển thuỷ sản theo hướng nuôi công nghiệp, bán công nghiệp với hiệu quả cao và bền vững.
8. Triển khai thực hiện chương trình đào tạo phát huy nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010:
Các Sở ngành, UBND huyện, thị khẩn trương điều chỉnh bổ sung KH từ nay đến năm 2010 và triển khai thực hiện. Đẩy mạnh đào tạo cán bộ các cấp theo qui hoạch, theo đúng tiêu chuẩn chức danh, ưu tiên đào tạo cán bộ xã, phường, thị trấn để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới. Trên cơ sở qui hoạch cán bộ, từng ngành, địa phương xây dựng KH đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ nay đến năm 2010 cụ thể từng năm theo mục tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao. Chú trọng tuyển chọn cán bộ dự nguồn tại chổ. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo trình độ sau Đại học.
Từng ngành là thành viên của Ban điều hành chương trình theo chức năng nhiệm vụ được giao tham mưu đề xuất UBND tỉnh sửa đổi bổ sung chế độ chính sách về đào tạo, thu hút nhân tài, xã hội hoá đào tạo nghề, qui trình quản lý đào tạo cán bộ có trình độ sau Đại học.
9. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính:
Tăng cường kỷ cương hành chính, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và của HĐND, UBND tỉnh. Tăng cường kiểm tra và hoàn chỉnh cơ chế một cửa, bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm để phục vụ tốt nhân dân, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho dân. Tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương hiện đại hóa công sở và triển khai thực hiện đề án tin học hóa các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh.
Đề cao, thực hiện nghiêm chỉnh vai trò, trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, nâng cao năng lực quản lý nhà nước ở cơ sở và phát huy dân chủ cơ sở. Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các địa phương trong thực thi nhiệm vụ công vụ; giải quyết kịp thời, đúng qui định pháp luật những khó khăn vướng mắc của các doanh nghiệp, nhân dân. Khen thưởng, động viên các tổ chức, cá nhân có thành tích, kiên quyết xử lý theo qui định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm.
10. Củng cố quốc phòng, an ninh:
Thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trên tuyến biên giới, chính quyền và lực lượng chức năng giữ mối quan hệ hữu nghị, chủ động phối hợp giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh. Tổ chức quản lý chặt chẽ theo quy chế khu vực biên giới, ngăn chặn bọn tội phạm, buôn lậu và xuất nhập cảnh trái phép; bảo đảm các điều kiện cơ bản về sản xuất, đời sống cho nhân dân vùng biên giới. Đẩy mạnh thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Đồng thời tăng cường phối hợp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống các tai tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ bạc, số đề, mại dâm, tai nạn giao thông... Xây dựng phong trào toàn dân tham gia và phòng chống các tệ nạn xã hội, trong đó nâng cao vai trò, trách nhiệm các xã, phường, thị trấn. Triển khai thi hành các văn bản Luật mới, trong đó có Luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí...
Tăng cường cải cách tư pháp theo chỉ đạo của Trung ương; thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là án dân sự không để tồn đọng. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, trong đó tập trung những vụ bức xúc, tồn đọng lâu./.
Lượt người xem:   12566
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​