Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChiến Lược - Định Hướng - Quy Hoạch

Website

chống trộm xe máyNovaWorld Hồ Tràm - NovaWorld Phan Thiết - Aqua City - https://vnptgroup.vn/ 
https://vnpthcm.vn/ - định vị xe ô tô - thiết bị định vị xe máy
https://shopsviettel.com/dinh-vi-xe-may/
https://dinhvixeoto.vn/ - sim số đẹp sim giá gốcVinhomes Smart City - sim số đẹp - khosim.com - Định vị xe máy - chuyển nhà trọn gói - Chuyển nhà trọn gói kiến Vàng - sim số đẹp - https://namlongvietnam.com.vn/
NTVV - Giấy phép Xây Dựng - thu mua phế liệu thịnh phát - Ô dù quảng cáo
https://www.novalandagent.com.vn/ - đánh giá sàn swissmes - bất động sản vinhomes - lắp mạng fpt - Astral City Bình Dương - https://www.aquacity.tv/ - Novaworld hồ tràm - https://www.giaanproperty.vn/ - Aqua city Novaland - Tropical Village Sun Group - Dự án Phú Quốc - Aqua City - https://haigiangmerrylands.vn/ -  - Ankhanggroup.com
https://vinhomesdreamcitys.com/
Citimart căn hộ chung cư house viet - https://hacoled.com/danh-muc/man-hinh-led - https://veratea.vn/ - Masteri Smart City - Thay đổi giấy chứng nhận đầu tư - https://swanlaketheonsen.com/ - ISO 9001 - Masteri Centre Point - dự án vinhomes grand park - https://swanparkonsen.com.vn/
https://imperium-town.net/ https://luatvanphuc.vn
https://timcanho.com.vn/ - tay vịn hành lang bệnh viện - cảm biến đo mức chất lỏng - đồng hồ đo lưu lượng nước thải - Vinhomes grand park 

Liên kết

https://junction.com.vn/ - Kangen.vn - Thùng rác nhựa - Legacy Central - Bất động sản Reviewland - Chuyển nhà trọn gói kiến vàng - giải mã gen cho trẻ - Xét nghiệm gen DNA Medical biệt thự angsana Hồ Tràm - biệt thự biển Hyatt Hồ Tràm - Rượu vang - dụng cụ thể thao ngoài trời tiến bảo - cầu trượt cho bé - Dịch vụ seo tổng thể - nhà đất bảo lộc - Đồng hồ đo lưu lượng nước - Nam Việt Luật - sữa tăng cân cho bé - cảm biến áp suất - https://inoxtrihieu.com/ - west lakes golf & villas - Trung tâm đào tạo SEO vietmoz - Luật sư tư vấn ly hôn - Xem Lịch Âm - centralreal.vn - Lắp internet FPT - vinhomes - batdongsanexpress.vnhttps://novaworldvietnam.com.vn/ - chuyển văn phòng trọn gói - dịch vụ chuyển nhà - phutungotochinhhang.vn
nệm dunlopillo - atvstp.org.vn - vé máy baydịch vụ chuyển nhà trọn gói - Blog SEO VietmozDịch vụ chuyển nhà - Đồng hồ đo áp suấtDịch vụ chuyển nhà trọn gói - Quạt trần - Cảm biến đo áp suất -  Đồ phượt giá rẻ - Chứng chỉ năng lực xây dựng - Biệt thự west lakes golf & villas - Thiết bị cảm biếnVăn phò​ng phẩm​ - Chứng Nhận ISO 22000​​ ​- Đấu thầu qua mạng​ - Chi phí học tiếng Anh tại Philippines - Học tiếng Anh tại Philippines
 
Chiến Lược - Định Hướng - Quy Hoạch
 
​Mục tiêu chính sách của Chính phủ là phát triển một xã hội có điều kiện sống tốt, mà ở đó người dân thoát khỏi đói nghèo và được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, đảm bảo được điều kiện an toàn và an ninh, tính thuận tiện, điều kiện sức khỏe, phúc lợi và các tiện ích khác. Người dân có điều kiện trau dồi các kỹ năng và kiến thức cao hơn, có ý thức cộ... 
 
Hiện nay, phát triển kinh tế vẫn chưa thực sự được đẩy mạnh nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững của tỉnh. Ngành nông nghiệp cho đến nay đã và đang là ngành kinh tế chủ đạo và dự kiến vẫn sẽ duy trì vai trò quan trọng trong tương lai, cho dù tỷ trọng tương đối trong cơ cấu GDP có giảm. Ngành công nghiệp đang tăng trưởng mạnh và được kỳ ... 
 
Toàn tỉnh Long An hiện có 30 khu công nghiệp (KCN), 40 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích quy hoạch là 15.138,6 ha. Đến thời điểm hiện nay có 11 KCN và 12 CCN đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 1 CCN đang xây dựng và 1 CCN chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.  
 
Ngày 14-7-2006, Chính phủ đã ký Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg phê duyệt đề án ''Phát triển hoạt động văn hóa - thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020'' Theo đó, ngày 25-8-2006, Bộ VH-TT đã chủ trì tổ chức Hội nghị, triển khai Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tại thành phố Cần Thơ. Đây là sự quyết định đúng đắn, mang tính chiến lược quốc gia về phát triển hoạt động VH-TT vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Long An.  
 
Bà Huỳnh Thị Lan Phương, Phó Tổng giám đốc VWS đã giới thiệu với đoàn về dự án Đa Phước với quy mô 128 ha, tổng vốn đầu tư gần 150 triệu USD, mỗi ngày tiếp nhận và xử lý 3.000 tấn rác. Công ty cũng mong muốn lãnh đạo tỉnh Long An và TPHCM hỗ trợ để dự án Khu công nghệ Môi trường xanh sớm được triển khai thực hiện.  
 
Nghề chế biến bột sắn tại xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đang gây nhiều bức xúc cho người dân. Đến các thôn Tấn Thạnh 1, Tấn Thạnh 2, Phụng Du 1, Phụng Du 2… của xã Hoài Hảo, người đi đường sẽ bị mùi hôi, chua nồng nặc sộc vào mũi.  
 
Theo đó, UBND tỉnh ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và sinh viên tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo với nội dung cụ thể như sau:  
 
Long An là tỉnh nằm ở miền Nam Việt Nam, với vị trí địa lý 10023’40’’ – 11002’00’’ độ vĩ Bắc và 105030’30’’ – 106047’02’ độ kinh Đông. Tỉnh có diện tích 449.194,49ha và dân số khoảng 1,5 triệu người, tiếp giáp với Cam-pu-chia và tỉnh Tây Ninh ở phía bắc, Tp. HCM ở phía đông và đông bắc, tỉnh Tiền Giang ở phía nam và tỉnh Đồng Tháp ở phía tây nam.  
 
Xét đến vị trí địa lý, Long An thuộc cả vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đây là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của tỉnh. Tỉnh có khả năng trở thành cửa ngõ của hai vùng, đồng thời có thể tận dụng lợi thế của cả 2 vùng trong lĩnh vực công nghiệp và nông-lâm-ngư nghiệp.Long An là tỉnh có nguồn tài nguyên thi... 
 
Đất nông nghiệpHai vùng canh tác lúa chính của tỉnh Long An là vùng Đồng Tháp Mười và vùng Hạ. Vùng Hạ ít khi bị ngập lụt, có thể khai thác phục vụ sản xuất 2-3 vụ lúa/năm trong khi vùng Đồng Tháp Mười thường bị ngập lụt 4-5 tháng/năm nên sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn hơn.Vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh và vùng Hạ: Diện tích đất tr... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Long An là tỉnh nằm ở miền Nam Việt Nam, với vị trí địa lý 10023’40’’ – 11002’00’’ độ vĩ Bắc và 105030’30’’ – 106047’02’ độ kinh Đông. Tỉnh có diện tích 449.194,49ha và dân số khoảng 1,5 triệu người, tiếp giáp với Cam-pu-chia và tỉnh Tây Ninh ở phía bắc, Tp. HCM ở phía đông và đông bắc, tỉnh Tiền Giang ở phía nam và tỉnh Đồng Tháp ở phía tây nam.

Hinh Long An.jpg 

Có thể nói Long An có vị trí địa lý chiến lược nhờ các đặc điểm sau đây:

Tỉnh Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) song lại thuộc vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN), được xác định là vùng kinh tế động lực và có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam. Với vị thế cửa ngõ nối liền hai vùng, Long An có thể được hưởng lợi từ sự phát triển và tăng trưởng của cả hai vùng này; Là vùng đệm giữa khu vực phát triển nhanh ở Tp. HCM và khu vực châu thổ nhạy cảm về môi trường, hỗ trợ TP HCM trong việc kiểm soát phát triển đô thị và bảo vệ vùng môi trường châu thổ quan trọng; và có thể đóng góp vào quá trình phát triển vùng, cụ thể là các lợi ích từ công cuộc phát triển Long An sẽ lan rộng sang các tỉnh của nước bạn Campuchia - quốc gia có đường biên giới chung với Long An.

Dù có vị trí địa lý thuận lợi nhưng Long An chưa khai thác hết tiềm năng để phát triển. Vai trò của Long An trong phát triển kinh tế của vùng vẫn còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, UBND tỉnh Long An quyết định cấp vốn thực hiện "Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể Phát triển Kinh tế-Xã hội tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030" nhằm đảm bảo sự phát triển hợp lý và bền vững của tỉnh. Tháng 2 năm 2009, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Long An đã ban hành Điều khoản tham chiếu để tiến hành nghiên cứu. Ngày 9 tháng 4 năm 2009, Công ty ALMEC đã được mời thảo luận Phạm vi công việc (S/W) của Nghiên cứu, bao gồm khu vực, phạm vi nghiên cứu và các yêu cầu của UBND tỉnh. Trên cơ sở đó, Biên bản cuộc họp đã được ký kết giữa Sở KHĐT và Công ty ALMEC. Sau đó, Hợp đồng được hai bên ký kết vào ngày 11 tháng 5 năm 2009 tại tỉnh Long An.

Nghiên cứu QHTT tỉnh Long An nhằm xây dựng các chiến lược phát triển cụ thể cho tỉnh Long An tới năm 2030 (tầm nhìn dài hạn) và cho giai đoạn 2011-2015 (thực hiện ngắn – trung hạn). Mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: Xây dựng chiến lược phát triển dài hạn tới năm 2030 cho tỉnh Long An; Lập dự thảo Quy hoạch Tổng thể tới năm 2020 cho tỉnh Long An; Chuẩn bị các kế hoạch sơ bộ cho các dự án ưu tiên được lựa chọn cho tỉnh Long An.

* Phân tích hiện trạng:

            - Đánh giá nguồn lực và tiềm năng điều kiện tự nhiên của tỉnh.

            - Điều kiện xã hội.

           - Sử dụng đất.

            - Lĩnh vực kinh tế.

            - Các công trình công ích.

            - Giao thông vận tải.

            - Quản lý môi trường.

            - Tổng hợp năng lực tài chính của tỉnh.

            - Phân tích mối quan hệ của tỉnh Long An với các tỉnh biên giới Campuchia.

 

* Rà soát các quy hoạch, kế hoạch hiện có.

 

 

* Tầm nhìn, mục tiêu và các chiến lược phát triển cơ bản để Long An phát triển bền vững.

 

 

* Phát triển kinh tế.

 

 

* Lĩnh vực xã hội.

 

 

* Quản lý môi trường.

 

 

* Phát triển không gian.

 

 

* Giao thông vận tải.

 

 

* Phát triển nguồn nhân lực.

 

 

* Xúc tiến đầu tư.

 

 

* Kế hoạch thực hiện.

 

 

* Kết luận và kiến nghị.

 

 

* Sơ lược các dự án đề xuất của Lapides.

 

* Phụ lục:

            - Điểm đến du lịch tại tỉnh.

           - Hiện trạng hệ thống đường tỉnh và đường huyện.

            - Danh mục các dự án của tỉnh.

            - Đánh giá nhu cầu GIS ở Long An.

 

01/04/2014 5:00 CHĐã ban hành
Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Long AnHiện trạng sử dụng đất tỉnh Long An

Đất nông nghiệp

Hai vùng canh tác lúa chính của tỉnh Long An là vùng Đồng Tháp Mười và vùng Hạ. Vùng Hạ ít khi bị ngập lụt, có thể khai thác phục vụ sản xuất 2-3 vụ lúa/năm trong khi vùng Đồng Tháp Mười thường bị ngập lụt 4-5 tháng/năm nên sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn hơn.

Vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh và vùng Hạ: Diện tích đất trồng lúa của vùng này là 9.580 ha gồm Tân An, Châu Thành, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Trụ và Đức Hòa.

Vùng Đồng Tháp Mười: Diện tích đất trồng lúa đã tăng lên 13.353 ha trong giai đoạn 1996 – 2005 do xây dựng các tuyến đê bao ngăn lũ. Tuy nhiên, diện tích đất trồng lúa đã giảm 5.546 ha ở huyện Thạnh Hóa và Vĩnh Hưng trong khi lại tăng 18.899 ha ở các huyện Đức Huệ, Tân Thành, Mộc Hóa và Tân Hưng.

Đất nuôi trồng thủy sản

Đất nuôi trồng thủy sản tập trung chủ yếu ở ven các con sông lớn gần cửa sông. Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 7.366 ha, tăng so với diện tích trước đây là 6.893 ha. Diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 1,6% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh. 

Đất lâm nghiệp

Chỉ có Tp. Tân An và huyện Tân Trụ là không có đất rừng. Đất rừng của tỉnh chủ yếu tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười, chiếm 90,3% tổng diện tích đất rừng của toàn tỉnh. Vùng Đồng Tháp Mười là khu vực ngập lụt, phù hợp cho phát triển các rừng đước. Diện tích đất rừng sản xuất của vùng chiếm 90,7% tổng diện tích đất rừng sản xuất của toàn tỉnh. Ngược lại, diện tích đất rừng phòng hộ của vùng Hạ vào khoảng 85 ha, chiếm 4,4% tổng diện tích đất rừng phòng hộ của toàn tỉnh, chủ yếu ở hai huyện Cần Đước và Cần Giuộc. Tại vùng Đồng Tháp Mười, rừng phòng hộ tập trung chủ yếu ở các huyện Thạnh Hóa, Tân Thạnh và Mộc Hóa.

Đất phi nông nghiệp

Diện tích đất ở chỉ chiếm 2,4% tổng diện tích tự nhiên năm 2000 nhưng đã tăng lên 3,7% năm 2005 và 5,3% năm 2007. Đất ở đô thị chỉ tăng 0,4% trong giai đoạn 2000 – 2005 trong khi đất ở nông thôn đã tăng nhanh, từ 2,1% năm 2000 lên 3,2% năm 2005. Xu hướng tương tự cũng diễn ra trong giai đoạn 2005- 2007. Điều này cho thấy đô thị hóa đang diễn ra mạnh hơn ở các vùng nông thôn chứ không phải ở các vùng đã đô thị hóa (xem Hình 2.3.6). Sự gia tăng đất ở tại nông thôn còn do phát triển các khu tái định cư để di dời các hộ gia đình trong vùng ngập lũ.   

Theo QHTT phát triển đô thị của tỉnh Long An đến năm 2020, tiêu chuẩn đất ở của tỉnh như sau:

Đất ở đô thị      : 55 m2/người.

Đất xây dựng đô thị      : 85 m2/người.

Đất ở nông thôn            : 400 m2/người.

Tổng diện tích đất ở của tỉnh là 17.760 ha, dân số 1,4 triệu người, diện tích đất ở bình quân sẽ là 127 m2/người. Diện tích đất ở bình quân đầu người tăng do phát triển các khu tái định cư để di dời các hộ gia đình khỏi khu vực ngập lụt và do thúc đẩy công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc biệt là ở vùng Hạ. Diện tích đất ở của các huyện Mộc Hóa, Thủ Thừa và Cần Giuộc cũng tăng.

Đất chuyên dùng

Tổng diện tích đất chuyên dùng của tỉnh Long An là 41.112 ha, chiếm 9,2% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Đất chuyên dùng gồm: 

Đất quốc phòng và an ninh: Diện tích đất quốc phòng và an ninh khá ổn định.

Đất sản xuất phi nông nghiệp: Bao gồm đất các khu công nghiệp, đất các cơ sở kinh doanh và đất sản xuất phi nông nghiệp khác. Đất sản xuất phi nông nghiệp đã và đang tăng nhanh do đô thị hóa và công nghiệp hóa.

Đất công cộng: Bao gồm đất xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình cung cấp dịch vụ công cộng. Diện tích đất công cộng đang tăng do nhu cầu phát triển của tỉnh.

Các loại đất phi nông nghiệp khác: Bao gồm đất công trình tôn giáo, tín ngưỡng, nghĩa trang, sông hồ và mặt nước chuyên dùng. Diện tích đất này cũng đang tăng.

Các khu công nghiệp

Các khu công nghiệp được phát triển nhanh ở nhiều khu vực trong tỉnh theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh. Tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2010, tỉnh có 23 khu công nghiệp với tổng diện tích là 9.744,51 ha. Tuy nhiên, trong số này có 3 khu công nghiệp hiện chưa được xây dựng.

Mặc dù các khu công nghiệp tập trung chủ yếu ở huyện Đức Hòa nhưng có một số khu phân bố ở các vùng khác. Khi phát triển xong tất cả các khu công nghiệp, các khu công nghiệp có thể gây ra nhiều vấn đề môi trường và giao thông ở khu vực xung quanh nếu không có các biện pháp đối phó phù hợp như đường tiếp cận tốt, các biện pháp phòng chống ô nhiễm, v.v. Tuy nhiên, nếu các khu/cụm công nghiệp phân bố rải rác, sẽ gây khó khăn cho phát triển hạ tầng và công trình tiện ích một cách hiệu quả.

Vấn đề chính là kiểm soát và quản lý hiệu quả sử dụng đất để tỉnh phát triển bền vững là vấn đề then chốt. Phát triển đất hiện nay diễn ra chưa theo quy hoạch. Các khu, cụm công nghiệp phát triển ở nhiều khu vực khác nhau mà thiếu sự kết nối và phối hợp; phát triển nhà ở và công trình thương mại thường bám theo các tuyến đường, thiếu quy hoạch hợp lý trong khi phát triển dọc sông lại thiếu các biện pháp kiểm soát phù hợp và chưa có biện pháp đáp ứng tình trạng phát triển mở rộng của TPHCM, v.v. Dự kiến áp lực phát triển trong tương lai sẽ tăng mạnh nên cần thiết lập chính sách sử dụng đất hiệu quả để bảo vệ đất nông nghiệp cơ bản, tăng cường chủ động phòng chống thiên tai, cải thiện môi trường, nâng cao giá trị kinh tế của đất và thúc đẩy sử dụng nguồn tài nguyên đất hạn chế một cách hiệu quả trong tỉnh.

Theo Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An (LAPIDES)
01/04/2014 9:00 SAĐã ban hành
Mối quan hệ tỉnh Long An với các tỉnh biên giới Vương quốc CampuchiaMối quan hệ tỉnh Long An với các tỉnh biên giới Vương quốc Campuchia

Long An có đường biên giới chung với 2 tỉnh của Campuchia là Prey Veng và Svay Riêng. Cả hai tỉnh Prey Veng và Svay Rieng đều thuộc vùng Plaing của Campuchia bao gồm các tỉnh Prey Veng, Svay Rieng, Phnom Penh, Takeo, Kandal, và Kampong Cham.

Campuchia có các Kế hoạch Đầu tư 3 năm và Kế hoạch Phát triển Kinh tế – Xã hội 5 năm. Ở cấp quốc gia, có Quy hoạch Phát triển Chiến lược Quốc gia 5 năm (NSDP) để thực hiện Chiến lược Phát triển vùng Tam giác của Chính quyền Hoàng gia hiện nay và để thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Campuchia. Quy hoạch Phát triển Chiến lược Quốc gia 5 năm nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc kết nối, tăng cường trao đổi thương mại, và nhập khẩu điện năng từ các nước láng giềng.

Prey Veng là tỉnh đông nam Campuchia, có đường biên giới chung với Tây Ninh, Đồng Tháp và Long An (các huyện Tân Hưng và Vĩnh Hưng) của Việt Nam. Thủ phủ của tỉnh là thị xã Prey Veng. Tỉnh có 12 huyện, 116 xã, tổng dân số là 947.357 người, đứng thứ tư về dân số ở Campuchia. Tổng diện tích tự nhiên là 4.883 km², mật độ dân số là 194 người/km². Trên 80% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp.

Tỉnh Svay Rieng nằm ở khu vực đông Nam của Campuchia, giáp ranh với tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An (các huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Thạnh Hóa và Đức Huệ) của Việt Nam. Chỉ có 1 cửa khẩu quốc tế trên đường biên giới giữa tỉnh Svay Riêng và tỉnh Long An. Thủ phủ của tỉnh Svay Rieng là thị xã Svay Rieng. Tỉnh được chia thành 7 huyện/thị và 80 xã/phường với tổng dân số 482.785 người và tổng diện tích 2.966km2. Mật độ dân số bình quân là 162,8 người/km2. Tỷ lệ lao động của ngành nông nghiệp chiếm 76%. Theo định hướng phát triển từ trung ương, chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh là tập trung vào phát triển nông nghiệp, kết cấu hạ tầng, công nghiệp, tạo công ăn việc làm và phát triển nguồn nhân lực. 

Cả tỉnh Prey Vieng và tỉnh Svay Rieng đều trông đợi rất nhiều từ sự phát triển của tỉnh Long An. Sự phát triển của Long An sẽ đem lại tác động tích cực cho 2 tỉnh, đặc biệt là cải thiện điều kiện sống, phát triển nông nghiệp và GTVT. Cả hai tỉnh đều kỳ vọng rằng nếu được kết nối tốt với tỉnh Long An sẽ tạo nhiều cơ hội kinh doanh cho cả 2 tỉnh.

Sự phát triển kinh tế – xã hội thường vượt ra khỏi ranh giới địa lý. Các xã hội theo kiểu "bế quan tỏa cảng" hiếm khi đạt được sự tăng trưởng nhanh do xã hội – cho dù là các cộng đồng nhỏ, tỉnh, thành hay quốc gia và vùng lãnh thổ – cần tương tác với nhau về mặt xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị. Các mối quan hệ đó thông thường khởi nguồn và trở nên bền chặt giữa các tỉnh gần gũi về mặt địa lý.

Sau đây là nhận định chính về mối quan hệ của Long An với các tỉnh và vùng láng giềng, những tác động có thể thấy trước đối với quá trình phát triển của tỉnh và những biện pháp đề xuất để cải thiện tình hình.

Nhận địnhVấn đề đặt ra/Hệ quảGiải pháp đề xuất
·      Quá trình phát triển của tỉnh Long An và quá trình phát triển trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng KTTĐPN và các tỉnh Campuchia (Pray Veng và Svay Rieng) có mối quan hệ tác động qua lại·      Chính vì thế, chương trình phát triển của Long An cần tính tới quá trình phát triển và mối quan hệ với các khu vực này

·      Xác định những lĩnh vực hợp tác có thể mang lại lợi ích song phương giữa Long An và các khu vực láng giềng.

·      Phát huy các hiệp ước và chương trình hợp tác liên vùng chính thức và phi chính thức với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng KTTĐPN và các tỉnh lân cận của Campuchia (ví dụ như các hiệp định thương mại qua biên giới v.v.)

·      Tiếp tục phát triển hạ tầng kỹ thuật kết nối để tạo điều kiện qua lại giữa các vùng.

·      Xét về khía cạnh kinh tế thì thương mại và đầu tư liên tỉnh là kết quả tự nhiên của việc gần gũi về địa lý. Long An có mối quan hệ thương mại chặt chẽ với vùng ĐBSCL, vùng KTTĐPN và các tỉnh láng giềng của Campuchia. Tỉnh cũng được hưởng lợi từ việc đầu tư vào hay nhận đầu tư từ các khu vực láng giềng này.·      Nền kinh tế của long An được hưởng lợi nhiều từ việc tăng thương mại và đầu tư với các vùng lân cận. Mối quan hệ kinh tế này cần được tiếp tục phát huy.

·      Đa dạng hóa hơn nữa các sản phẩm và dịch vụ để phục vụ thương mại.

·      Đàm phán song phương về các vấn đề lợi ích và điều kiện thương mại, đầu tư liên vùng.

·      Tăng cường giao lưu kinh tế để tăng cường các mối quan hệ kinh tế.

·      Xây dựng và cải tạo các công trình phục vụ hải quan, xuất nhập cảnh, kiểm dịch và an ninh, các quy định và quy trình tại khu vực biên giới.

·      Tăng cường theo dõi, kiểm soát tình hình buôn lậu qua biên giới, v.v.

·      Dịch cư là một kết quả tự nhiên khác từ việc gần gũi về địa lý. Thông thường người ta chuyển từ khu vực kém thịnh vượng hơn sang khu vực có nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao hơn, điều kiện sống tốt hơn. Long An có vị thế kinh tế tương đối cao hơn so với vùng ĐBSCL, càng cao hơn so với các tỉnh láng giềng thuộc Campuchia. Mặc dù vẫn còn ở những bước đầu trong quá trình phát triển nhưng nền kinh tế Long An vẫn có thể  đáp ứng được yêu cầu của dân số trong tỉnh. Do đó, việc nhập cư hay di cư của tỉnh vẫn ở trong phạm  vi kiểm soát được.·      Công cuộc phát triển dài hạn của tỉnh cần tính tới xu thế dịch cư hiện tại và tương lai qua ranh giới tỉnh. Những vấn đề này sẽ có tác động tới hệ thống hạ tầng, nền kinh tế, các lĩnh vực giáo dục, y tế, an ninh và dịch vụ xã hội.

·      Cần nghiên cứu tình hình dịch cư qua ranh giới  của tỉnh hiện tại và dự báo tương lai, phản ánh vào quá trình quy hoạch và chương trình đầu tư của tỉnh.

·      Đảm bảo khả năng tự đáp ứng của tỉnh về lương thực, tạo việc làm và cung cấp dịch vụ xã hội.

·      Tăng cường hợp tác kinh tế – xã hội với các khu vực láng giềng để đảm bảo sự tăng trưởng cân bằng giữa các vùng, sao cho đảm bảo được lợi ích song phương.

Theo Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An (LAPIDES)

01/04/2014 9:00 SAĐã ban hành
​  Nguồn lực và tiềm năng điều kiện tự nhiên của tỉnh​  Nguồn lực và tiềm năng điều kiện tự nhiên của tỉnh

Xét đến vị trí địa lý, Long An thuộc cả vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đây là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của tỉnh. Tỉnh có khả năng trở thành cửa ngõ của hai vùng, đồng thời có thể tận dụng lợi thế của cả 2 vùng trong lĩnh vực công nghiệp và nông-lâm-ngư nghiệp.

Long An là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ chốt, có vai trò quan trọng không chỉ đối với sự tăng trưởng và phát triển của tỉnh mà còn đối với sự phát triển của cả Vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Dựa trên Kế hoạch phát triển Công nghiệp đối với vùng KTTĐ phía Nam đến năm 2015 (cân nhắc đến năm 2020), cùng với các tỉnh khác, Long An có lợi thế trong việc khai thác nguồn nước khoáng, đây là một phần của ngành công nghiệp khai khoáng. Long An cũng được dự báo là sẽ hỗ trợ phát triển cho các vùng kinh tế xung quanh như Tp.HCM và ĐBSCL. 

Một trong những tài nguyên thiên nhiên chính của Long An chính là nguồn cấp nước từ cả nước mặt và nước ngầm, đặc biệt là nguồn nước từ sông Tiền và hồ Dầu Tiếng. Nguồn nước mặt dồi dào có được nhờ có nhiều sông ngòi và mật độ sông ngòi dày đặc. Theo dự báo, nguồn nước ngầm cũng đủ đáp ứng nhu cầu với công suất khai thác hiện nay mới chỉ ở mức 2,6%. Vì thế, tiềm năng này được coi là nguồn nước khoáng lớn trong quy hoạch phát triển Vùng KTTĐ phía Nam.   

Vùng đất ngập nước của Long An cũng là một trong những nguồn lực chính cần phải thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học. Những loại động-thực vật quý hiếm và có giá trị cao, đặc biệt là tại khu vực bảo tồn đất ngập nước Láng Sen đã được thế giới công nhận. Tiềm năng của khu vực này đối với nghiên cứu sinh học và dược phẩm đã được khám phá và nghiên cứu. Những khu vực đất ngập nước/đầm lầy tương tự cũng có tiềm năng phát triển thành điểm du lịch sinh thái.   

Long An nằm trong vùng trũng cùng với các đặc điểm của vùng đất ngập nước biến khu vực này thành tài sản nông nghiệp quý giá, đặc biệt là đối với lúa gạo, một sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam. 

Bảng sau đây phân tích các điều kiện tự nhiên của Long An và biện pháp can thiệp cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề cũng được đề xuất trong bảng.  

Nhận địnhCác vấn đề đặt ra/hệ quảBiện pháp đề xuất
Nguồn nước mặt và nước ngầm đủ đáp ứng cho sản xuất, tuy nhiên phân bố không đều theo mùa và theo khu vực

·    Tình trạng xâm nhập mặn theo mùa ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt từ các dòng sông và ô nhiễm rác thải đô thị, đặc biệt là từ các khu vực thượng nguồn. 

·    Nước ngầm được khai thác nhiều hơn nhằm cung cấp cho các vùng kinh tế.

·    Dư thừa nước trong mùa lũ.

·    Thiếu nước và chất lượng nước kém vào mùa khô, đặc biệt là nguồn nước tại khu vực xâm nhập mặn.

·    Các biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết vấn đề xâm nhập mặn và kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường để giảm tối thiểu rác thải đô thị tại các hệ thống sông. Đồng thời, cần liên tục phối hợp với Tp. HCM để giải quyết vấn đề ô nhiễm của các dòng sông. 

·    Nghiên cứu kỹ phương pháp khai thác nước ngầm nhằm ngăn chặn sụt lún đất & kiệt quệ tài nguyên.

·    Nâng cấp hạ tầng và thiết bị thủy lợi.

·    Khai thác & sử dụng hiệu quả tài nguyên nước ngọt bổ sung

Có tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của những khu vực đất ngập nước

·    Rừng sản xuất, đặc biệt là nhu cầu về cây tràm đang giảm sút, những khu vực này đang được chuyển sang trồng lúa.

·    Diện tích rừng đang giảm do nhu cầu về đất cho các khu đô thị đang tăng cao.

·    Nghiên cứu các loại gỗ mang giá trị thương mại cao.

·    Khuyến khích trồng rừng.

·    Sớm xây dựng văn bản hướng dẫn cho công tác bảo vệ rừng. 

·    Phát triển các tài nguyên rừng thông qua việc phát triển ngành chế biến nhằm tăng giá trị gỗ rừng và lợi ích cho người trồng rừng.

Các khu vực trũng có tiềm năng phát triển nông nghiệp nhưng điều kiện thổ nhưỡng đang xuống cấp

·    Các khu vực trũng có nguy cơ ngập sâu.

·    Đất bị xâm nhập mặn ở các khu vực gần đồng bằng và cửa sông.

·    Nồng độ độc tố trong đất tăng lên, đặc biệt là hàm lượng NPK trong đất phèn. 

·    Hỗ trợ về công nghệ sản xuất nông nghiệp từ các tổ chức nông nghiệp.

·    Nghiên cứu các giống cây và rau màu chịu mặn. 

·    Áp dụng công nghệ để phục hồi đất nhằm cân bằng các thành phần đất phục vụ canh tác.

Tác động của biến đổi khí hậu·    Mức nước lũ và thời gian lũ trầm trọng thêm, gây thiệt hại về sản xuất, tài sản và cả con người.

·    Nghiên cứu và phát triển các biện pháp phù hợp ứng phó với biến đổi khí hậu.

·    Phát triển cơ chế cảnh báo sớm để đảm bảo an toàn cho con người cũng như những ngành nghề trong khu vực có nguy cơ ngập lụt.

·    Phát triển thêm các hệ thống hỗ trợ các ngành chịu ảnh hưởng của lũ lụt. 

Theo Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An (LAPIDES

01/04/2014 9:00 SAĐã ban hành
Xây dựng thiết chế văn hóa, đời sống văn hóa tại các cụm, tuyến dân cư vùng vượt lũ: Những vấn đề cấp bách cần đặt ra hiện nay. Xây dựng thiết chế văn hóa, đời sống văn hóa tại các cụm, tuyến dân cư vùng vượt lũ: Những vấn đề cấp bách cần đặt ra hiện nay.
Ngày 14-7-2006, Chính phủ đã ký Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg phê duyệt đề án ''Phát triển hoạt động văn hóa - thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020'' Theo đó, ngày 25-8-2006, Bộ VH-TT đã chủ trì tổ chức Hội nghị, triển khai Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tại thành phố Cần Thơ. Đây là sự quyết định đúng đắn, mang tính chiến lược quốc gia về phát triển hoạt động VH-TT vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Long An.

vunglu.jpg

Trong đề án được phê duyệt có rất nhiều nội dung, nhưng có một nội dung mà ai đã từng trăn trở với việc phát triển đời sống văn hóa vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười đều quan tâm, chú ý đó là ''Đầu tư xây dựng một số thiết chế văn hóa cho mô hình mới là các cụm, tuyến dân cư (C,TDC) vùng vượt lũ; các xã, đồn biên phòng biên giới, hải đảo, vùng biển''.

Như chúng ta đều biết, Long An có 6 huyện nằm trong vùng trọng điểm lũ đó là: Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Đức Huệ với tổng diện tích tự nhiên 2.709,483 km2 (quá nửa diện tích tỉnh), có 360.356 nhân khẩu đang sinh sống. Theo chương trình dân sinh vùng lũ của tỉnh, tính đến nay đã xây dựng được 178 C,TDC vượt lũ và đến năm 2008 sẽ có tổng cộng 184 C,TDC vượt lũ, giải quyết định cư cho gần 36 ngàn hộ vào ở ổn định.

Từ việc ''chống lũ'' đến ''ngăn lũ'' và hôm nay là ''sống chung với lũ'', qua nhiều kỳ Đại hội, các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Long An đã tìm ra được quy luật thiên nhiên của vùng lũ Đồng Tháp Mười và đề ra chương trình ''Dân sinh vùng lũ'', một trong bốn chương trình mục tiêu của tỉnh.

Để phục vụ chương trình ''Dân sinh vùng lũ'', ngành VH-TT tỉnh Long An trong những năm qua đã có những cố gắng đáng kể tìm ra được những mô hình thiết thực như: ''Thuyền văn hóa'' của 3 huyện Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa; ''Túi sách lưu động'' của thư viện huyện Mộc Hóa; ''Chiếu phim lưu động'' của Cty Phát hành phim và Chiếu bóng; và xuất diễn không doanh thu của Đoàn nghệ thuật cải lương Long An” đã đáp ứng được phần nào nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân vùng ngập lũ. Tuy nhiên, nhu cầu văn hóa của nhân dân không chỉ có hưởng thụ mà còn có nhu cầu sáng tạo nữa. Do đó, để đáp ứng những đòi hỏi trên, ngày 31-10-2005, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở đến năm 2010 (Quyết định số 271/2005/QĐ-TTg).

Tiếp thu các văn bản pháp lý nêu trên, ngành VH-TT tỉnh cũng đã phối hợp với các ngành chức năng có liên quan tổ chức đợt khảo sát trên phạm vi toàn tỉnh, nhằm đề xuất việc xây dựng mô hình Trung tâm văn hóa xã, phường, thị trấn, gọi chung là cấp xã giai đoạn 2006 - 2010. Trong đó đặc biệt quan tâm đến các xã vùng Đồng Tháp Mười.

Đi đầu trong việc phát triển, xây dựng mô hình Trung tâm văn hóa cấp xã hiện nay, chỉ duy nhất có xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng đã quy hoạch 1,5 ha đất trên khu dân cư vượt lũ thuộc ấp Gò Châu Mai và đầu tư 700 triệu đồng để xây dựng Trung tâm văn hóa xã với phương châm ''xã lo đất, mặt bằng, huyện lo vốn xây dựng công trình'' và đang kiến nghị tỉnh lo thiết bị bên trong Nhà văn hóa xã…

Ngày 21-7-2006, Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ xã Khánh Hưng đã long trọng tổ chức lễ phát động toàn dân quyết tâm xây dựng xã Khánh Hưng thành xã văn hóa vào năm 2008.

Có thể nói đây là một mô hình mới, đầy sáng tạo từ lòng quyết tâm của lãnh đạo 2 cấp huyện Vĩnh Hưng và xã Khánh Hưng, đang rất cần có sự quan tâm, ủng hộ của sở, ban ngành cấp tỉnh, nhất là ngành VH-TT, bởi vì đó là một mô hình thực tiễn, sinh động, sáng tạo, phù hợp với Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh, Quyết định 271/2005/QĐ-TTg ngày 31-10-2005 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở và gần đây nhất là Quyết định 167/2006/QĐ-TTg của Chính phủ về phát triển hoạt động VH-TT vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Dự thảo ''Đề án xây dựng thiết chế văn hóa - thể thao xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006 - 2010 và đến 2020'' của ngành VH-TT đã được trình UBND tỉnh để các ngành chức năng thẩm định và đưa ra kỳ họp HĐND tỉnh sắp tới phê duyệt. Đây là cơ sở pháp lý cụ thể hơn cho một định hướng phát triển sự nghiệp VH-TT tỉnh nhà nói chung và cho việc xây dựng hệ thống thiết chế VH-TT trên C,TDC vượt lũ nói riêng. Nếu chịu khó học tập kinh nghiệm và có khả năng chủ động chỉ đạo, tổ chức thực hiện được như xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng thì có nhiều xã trong tỉnh đủ khả năng, điều kiện thực hiện được như: xã Đức Lập Hạ (huyện Đức Hòa), Mỹ Yên (huyện Bến Lức),  Phước Lý (huyện Cần Giuộc), Nhị Thành (huyện Thủ Thừa), Hậu Thạnh Đông (huyện Tân Thạnh), Mỹ Lệ (huyện Cần Đước), Dương Xuân Hội (huyện Châu Thành), Bình Trinh Đông (huyện Tân Trụ), An Vĩnh Ngãi (thị xã Tân An)… Để tiếp thêm sức mạnh làm được điều đó, Sở VH-TT nên tổ chức hội nghị, hội thảo nho nhỏ kiểu như nông dân tổ chức “Hội thảo đầu bờ” để nhân rộng mô hình này, không chỉ riêng cho vùng Đồng Tháp Mười mà cho cả 14 huyện, thị xã.

Sự kiện ra đời Quyết định 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về chiến lược phát triển hoạt động văn hóa-thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Long An.

Thực tiễn mô hình xã văn hóa Khánh Hưng, Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã được xây dựng trên C,TDC vượt lũ của vùng Đồng Tháp Mười, cách trung tâm tỉnh lỵ đúng 100 km. Như vậy, chủ trương có rồi, mô hình có rồi, việc còn lại là nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo, triển khai, nhân rộng mô hình đó như thế nào. Trách nhiệm tham mưu chính là ngành VH-TT, trong đó việc lập kế hoạch, đề án, dự án đầu tư cho kế hoạch năm 2007 cần phải kịp thời xem xét và điều chỉnh, bởi vì thời điểm lập kế hoạch chưa có Quyết định 167/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương phát triển hoạt động VH-TT vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006-2010.

Nhiệm vụ phát triển sự nghiệp VH-TT là của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp chính quyền và cả hệ thống chính trị, nhưng vai trò tham mưu chính là ngành VH-TT. Nên chăng, Sở VH-TT phải có một chương trình hành động cụ thể, những dự án cụ thể cho chiến lược phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin vùng Đồng Tháp Mười mà cụ thể là trên các C,TDC vượt lũ, để có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, ưu tiên phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ kháng chiến… kéo dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn như nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đã chỉ ra

Theo Báo Long An

24/07/2014 5:00 CHĐã ban hành
Đoàn lãnh đạo tỉnh Long An khảo sát thực tế Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước Đoàn lãnh đạo tỉnh Long An khảo sát thực tế Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước
Bà Huỳnh Thị Lan Phương, Phó Tổng giám đốc VWS đã giới thiệu với đoàn về dự án Đa Phước với quy mô 128 ha, tổng vốn đầu tư gần 150 triệu USD, mỗi ngày tiếp nhận và xử lý 3.000 tấn rác. Công ty cũng mong muốn lãnh đạo tỉnh Long An và TPHCM hỗ trợ để dự án Khu công nghệ Môi trường xanh sớm được triển khai thực hiện.

Sau khi tham quan Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước, Chủ tịch UBND tỉnh Long An Đỗ Hữu Lâm đánh giá cao Khu xử lý rác áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến nhất để xử lý rác, nước rỉ rác… đây là dự án rất thân thiện với môi trường. Chính những thành công của dự án này, lãnh đạo tỉnh rất yên tâm trong việc công ty đầu tư vào dự án Khu công nghệ Môi trường xanh, Long An. Đây là dự án được Chính phủ quy hoạch là dự án trọng điển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Lãnh đạo tỉnh Long An và TPHCM đặc biệt quan tâm và tạo mọi điều kiện hỗ trợ công ty trong quá trình triển khai, sớm đưa dự án này đi vào hoạt động.


 

Dương An 
14/07/2014 11:00 SAĐã ban hành
Nghề chế biến bột sắn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọngNghề chế biến bột sắn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Nghề chế biến bột sắn tại xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đang gây nhiều bức xúc cho người dân. Đến các thôn Tấn Thạnh 1, Tấn Thạnh 2, Phụng Du 1, Phụng Du 2… của xã Hoài Hảo, người đi đường sẽ bị mùi hôi, chua nồng nặc sộc vào mũi.

Hoài Hảo hiện có 3.366 hộ dân, với 108 cơ sở chế biến bột sắn nằm xen giữa các khu dân cư. Người dân ở đây hằng ngày phải sống trong môi trường ô nhiễm trầm trọng.

Ông Thái Long Vũ, xóm Minh Thịnh Nam, thôn Tấn Thạnh 2, cho biết: “Mùi hôi của nước chế biến bột sắn nồng nặc cả ngày. Người khỏe thì khó thở, những người bị viêm mũi, viêm xoang thì không thở được.”

Từ 2-3 giờ sáng hằng ngày, các máy băng chuyền rửa sắn củ rầm rập chạy. Mùi hôi chua nồng nặc khắp các thôn xóm. Nước thải được tháo chảy ra lênh láng, đến tận từng nhà dân.

 

Ảnh minh họa: Báo Thanh Niên


 

Theo ông Nguyễn Văn Út, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Hoài Hảo, năm 2006 xã có 230 cơ sở chế biến thủ công, quy mô nhỏ lẻ với công suất mỗi cơ sở chỉ khoảng 1-3 tấn củ/ngày. Hiện nay, công suất chế biến mỗi cơ sở là khoảng 10 tấn/ngày, nhiều hộ sản xuất lên tới 20-30 tấn củ/ngày.

Bởi vậy, mặc dù số cơ sở sản xuất giảm đi nhưng tổng công suất và sản lượng sắn nguyên liệu được sử dụng hằng ngày lại cao hơn trước, mức độ ô nhiễm cũng tăng lên nhiều lần. Điều đáng nói là các cơ sở sản xuất bột sắn hoạt động ngay giữa các khu dân cư, vì thế người dân sống trong ô nhiễm.

Về mức độ ô nhiễm cụ thể của những làng nghề chế biến bột sắn tại Hoài Hảo, kết luận thanh tra số 1648 (tháng 7/2013) của Sở Tài nguyên-Môi trường tỉnh đã ghi rõ coliform vượt từ 8.104 lần đến 220.106 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Kết luận trên nêu rõ “hoạt động sản xuất bột mỳ mang tính nhỏ lẻ, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, nguồn nước và cuộc sống của nhiều hộ dân trong khu vực do nước thải, mùi hôi. Nước thải chế biến bột mỳ không được xử lý, thải ra môi trường sẽ làm chết cây trồng, vật nuôi và các thủy sinh vật; ô nhiễm nước ngầm, ăn mòn công trình xây dựng; đặc biệt làm nguy hại đến sức khỏe con người.”

Những năm qua, các ngành chức năng huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, đã triển khai một số giải pháp khắc phục ô nhiễm đối với nghề chế biến bột sắn ở Hoài Hảo nhưng không hiệu quả. Các giải pháp chủ yếu vẫn là xây các bề chứa nước, chất thải… nhưng các hộ tăng công suất lên gấp nhiều lần nên hệ thống bể chứa không thể đáp ứng nhu cầu.

Một giải pháp hiệu quả hơn là thành lập khu sản xuất tập trung, tránh xa khu dân cư thì chưa được thực hiện do vốn đầu tư lớn trong khi nghề chế biến bột sắn mang lại hiệu quả nhỏ. 

Theo Thiennhien.net

29/06/2014 11:00 SAĐã ban hành
Long An: Tích cực khắc phục ô nhiễm công nghiệpLong An: Tích cực khắc phục ô nhiễm công nghiệp
Toàn tỉnh Long An hiện có 30 khu công nghiệp (KCN), 40 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích quy hoạch là 15.138,6 ha. Đến thời điểm hiện nay có 11 KCN và 12 CCN đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 1 CCN đang xây dựng và 1 CCN chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Hầu hết các chủ đầu tư hạ tầng các KCN/CCN luôn thực hiện nghiêm các nội dung về công tác bảo vệ môi trường đã được phê duyệt trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, công tác giám sát hoạt động của hệ thống xử lý nước thải được thực hiện đúng theo định kỳ và có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý. Tuy nhiên, trong đó vẫn còn 2 đơn vị chưa thực hiện tốt.

 


 

KCN Xuyên Á do Công ty Cổ phần Ngọc Phong làm chủ đầu tư tại xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường từ năm 2004, Công ty đã xây dựng hoàn tất hệ thống xử lý nước thải công suất 10.000 m3/ngày.đêm (đã lắp đặt thiết bị cho modul 5.000 m3/ngày.đêm). Tuy nhiên, trong những năm qua, mặc dù có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng công tác quản lý hạ tầng trong khu không chặt chẽ nên KCN Xuyên Á liên tục gây ô nhiễm môi trường (xả nước thải vượt quy chuẩn quy định), do có hiện tượng rò rỉ nước thải ra đường thoát nước mưa, nhiều lần bị cơ quan chức năng xử phạt hành vi gây ô nhiễm.

Nước thải sau xử lý của KCN Xuyên Á được thoát ra kênh Thầy Cai (giáp với địa phận TP.HCM), theo kết quả báo cáo các đợt giám sát trong năm 2012 về chất lượng nước thải của KCN Xuyên Á sau khi qua hệ thống xử lý thì đa số các thông số thải đều đạt QCVN 40:2011/BTNMT cột A, ngoại trừ thông số độ màu còn vượt quy chuẩn nhiều lần. Sở Tài nguyên và Môi trường Long An nhận thấy trong năm 2012, công tác bảo vệ môi trường tại KCN Xuyên Á đã được cải thiện, công tác khắc phục ô nhiễm được Công ty quan tâm đầu tư thực hiện, chất lượng nước hồ điều hòa nhìn cảm quan cho thấy nước trong, không phát sinh mùi, mức độ ô nhiễm có cải thiện so với thời gian trước đây. Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đang hướng dẫn và yêu cầu Công ty sớm hoàn thiện các thủ tục hồ sơ để gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường xác nhận các công trình bảo vệ môi trường của KCN này.

CCN Hoàng Gia do Công ty TNHH Hoàng Gia làm chủ đầu tư được UBND tỉnh cấp Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường số 3862/QĐ-UBND ngày 13/9/2004 cho giai đoạn 1 và Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường số 1617/QĐ-UBND ngày 19/6/2006 cho giai đoạn 2. Vấn đề tồn tại lớn nhất hiện nay của CCN là chưa xây dựng hệ thống thu gom và hệ thống xử lý nước thải tập trung, nước thải của các doanh nghiệp thứ cấp sau khi qua xử lý sơ bộ thải trực tiếp ra kênh Tây, gây ô nhiễm môi trường tại tuyến kênh này, gây bức xúc đối với chính quyền địa phương và người dân trong khu vực.

Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến tháng 9/2012, các Bộ ngành từ Trung ương đến địa phương đã tiến hành hơn 10 cuộc thanh, kiểm tra và tiến hành xử phạt đối với CCN Hoàng Gia. Tuy nhiên, đến nay hệ thống xử lý nước thải tập trung của CCN Hoàng Gia vẫn chưa được xây dựng do chủ đầu tư đang gặp khó khăn về nguồn vốn.

Trước tình hình trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Sở ngành tổ chức cuộc họp với chủ đầu tư CCN Hoàng Gia để thống nhất giải pháp xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Hiện nay, CCN Hoàng Gia cam kết sẽ thực hiện và đang tìm đối tác để tư vấn thực hiện công trình trên, Sở Tài nguyên và Môi trường yêu cầu chậm nhất đến tháng 9/2013, CCN Hoàng Gia phải hoàn tất công trình xử lý nước thải tập trung và đưa vào hoạt động. Trong giai đoạn hiện nay, để giảm nguồn xả thải ra kênh Tây, tỉnh Long An đã yêu cầu CCN Hoàng Gia tạm ngừng tiếp nhận đầu tư vào CCN, đồng thời buộc các nhà đầu tư thứ cấp phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra nguồn kênh Tây, tuy nhiên, việc này vẫn còn rất nhiều bất cập.

KCN Đức Hòa 1 - Hạnh Phúc đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung với công suất xử lý 2.000 m3/ngày. Hiện nay, lưu lượng nước thải phát sinh tại KCN khoảng 800 m3/ngày được đưa về nhà máy xử lý nước thải tập trung để xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra kênh An Hạ. Theo báo cáo giám sát môi trường định kỳ gần nhất, quý III/2012 của KCN Đức Hòa 1 - Hạnh Phúc thì nước thải sau xử lý của KCN đạt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT (cột A, Kf = 1, Kq = 0,9). Hiện nay, KCN Đức Hòa 1 – Hạnh Phúc có điểm xả nước thải vào tuyến kênh An Hạ (thông với tuyến kênh Thầy Cai), kết quả giám sát môi trường định kỳ vào quý III/2012 của KCN cho thấy, chất lượng nước thải sau hệ thống xử lý tập trung vẫn duy trì ổn định, đa số các thông số ô nhiễm đạt QCVN 40:2011/BTNMT – cột A.

Tuyến kênh An Hạ - Thầy Cai (Kênh Ranh) là nguồn tiếp nhận nước thải của KCN Xuyên Á, KCN Đức Hòa 1 – Hạnh Phúc, CCN Hoàng Gia thuộc địa bàn tỉnh Long An, đồng thời cũng là nơi tiếp nhận nước thải của Khu dân cư và CCN Nhị Xuân thuộc địa bàn TP.HCM thải vào. Theo kết quả quan trắc chất lượng nước tuyến kênh Ranh vào tháng 12/2012 cho thấy, có vài thông số vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT giới hạn B1. Cụ thể: 7/26 thông số vượt quy chuẩn: BOD vượt 10 lần, COD vượt từ 13 lần, SS vượt 02 lần, NH4 vượt 5 lần, NO2 vượt 10 lần, PO43- vượt 18 lần, sắt vượt 7 lần. Kết quả trên phản ánh đúng hiện trạng kênh Ranh do tại thời điểm quan trắc mặt kênh có nhiều cỏ, nước có màu nâu đen, nước trong kênh không lên xuống theo triều do cỏ dày đặc làm cản trở quá trình tiêu thoát nước.

Vì có rất nhiều nguồn thải giữa 2 địa phương Long An và TP.HCM xả vào kênh Thầy Cai, do đó, trong thời gian tới giữa Long An và TP.HCM cần phối hợp khảo sát và xác định thêm một số vị trí nguồn xả thải trên địa bàn của 2 địa phương để tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục ô nhiễm cho tuyến kênh Ranh  (kênh An Hạ - Thầy Cai). Trong năm 2013, tỉnh Long An bắt buộc 100% các KCN, CCN đang hoạt động phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 

Theo VEA

29/07/2014 11:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An – Lĩnh vực xã hộiNghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An – Lĩnh vực xã hội

Mục tiêu chính sách của Chính phủ là phát triển một xã hội có điều kiện sống tốt, mà ở đó người dân thoát khỏi đói nghèo và được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, đảm bảo được điều kiện an toàn và an ninh, tính thuận tiện, điều kiện sức khỏe, phúc lợi và các tiện ích khác. Người dân có điều kiện trau dồi các kỹ năng và kiến thức cao hơn, có ý thức cộng đồng hơn ở cả cấp độ địa phương và toàn cầu trong việc cam kết bảo vệ những giá trị truyền thống và môi trường.

Mặc dù người dân luôn được coi là nền tảng quan trọng nhất trong công cuộc phát triển của tỉnh, nhưng những nỗ lực phát triển xã hội cần tập trung không chỉ vào người dân mà cần quan tâm cả đến vấn đề môi sinh. Thực tế ghi nhận Long An dành tỷ trọng ngân sách cao nhất cho các dự án phát triển nguồn nhân lực.

Hiện tại, số hộ nghèo trong tỉnh còn nhiều, mặc dù theo kết quả điều tra xã/phường, các dịch vụ cơ bản nói chung được đánh giá khá khả quan. Do điều kiện địa hình và tự nhiên của tỉnh và tình trạng các khu dân cư phân bố rải rác nên việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Tuy nhiên, tình hình đang có những biến chuyển tích cực.

Xóa đói giảm nghèo tại Long An được coi là nhiệm vụ trước mắt và trung hạn, nhưng giải quyết các tác động từ quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa lại được coi là vấn đề trung tới dài hạn trong quá trình phát triển xã hội. Long An, cũng như các tỉnh khác, phải trải qua một quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa kéo dài với kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động to lớn đối với các hoạt động kinh tế – xã hội và đời sống của người dân, đặc biệt là những người sống ở khu vực nông thôn. Nhiều người sẽ chuyển từ nông thôn tới sống tại các trung tâm đô thị, từ bỏ các hoạt động nông nghiệp. Tỷ lệ nghèo đói có thể sẽ giảm nhưng người dân sẽ phải chấp nhận những biến động đáng kể.

Các vấn đề khác liên quan tới phát triển xã hội bao gồm: Cải thiện điều kiện sống ở các khu vực đô thị và nông thôn, với tầm nhìn ngắn và trung hạn, trên cơ sở gắn kết với quy hoạch sử dụng đất cũng như chiến lược kiểm soát thiên tai. Đồng thời cũng cần đáp ứng các nhu cầu cụ thể. Phát huy tốt các giá trị truyền thống trong bối cảnh các giá trị này đang phải đối mặt với tác động từ tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa; và cung cấp dịch vụ xã hội ở mức độ cao hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân khi thu nhập tăng.

Mục tiêu phát triển xã hội gồm: Xóa đói giảm nghèo cho các hộ tại cả vùng nông thôn và đô thị thông qua các dự án hỗ trợ cho người dân và cộng đồng, cung cấp hạ tầng thiết yếu cơ bản và các dịch vụ hỗ trợ cần thiết khác, tạo cơ hội việc làm; Cải thiện điều kiện sống cho người dân tại cộng đồng bằng cách đáp ứng các nhu cầu khác nhau đối với từng địa phương, cộng đồng; Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và đào tạo cần thiết cho những người phải hoặc muốn chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Phát triển xã hội phải tính đến cả hai yếu tố là người dân và môi trường sống của họ một cách gắn kết. Các chiến lược như sau: Tăng cường năng lực của người dân và cộng đồng bằng cách xây dựng các chương trình phát triển nguồn nhân lực, bao gồm cả đào tạo chính thức và không chính thức tại các trường dạy nghề và tại cộng đồng; Tiếp tục cải thiện và mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ sở cũng như các dịch vụ cơ sở hạ tầng cơ bản, các giải pháp bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân khỏi thiên tai và ô nhiễm; Xác định và đánh giá các giá trị truyền thống vật thể và phi vật thể trong tỉnh để có cơ chế phát huy và bảo tồn các giá trị này, ví dụ như các di sản văn hóa, các lễ hội truyền thống, các tập tục, kỹ năng tại địa phương v.v.

(xem tiếp Lĩnh vực giáo dục đào tạo – Y tế - Văn hóa – Điều kiện sống và xóa đói giảm nghèo – Quốc phòng an ninh)

07/01/2015 10:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An – Phát triển kinh tếNghiên cứu Quy hoạch Tổng thể tỉnh Long An – Phát triển kinh tế

Hiện nay, phát triển kinh tế vẫn chưa thực sự được đẩy mạnh nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững của tỉnh. Ngành nông nghiệp cho đến nay đã và đang là ngành kinh tế chủ đạo và dự kiến vẫn sẽ duy trì vai trò quan trọng trong tương lai, cho dù tỷ trọng tương đối trong cơ cấu GDP có giảm. Ngành công nghiệp đang tăng trưởng mạnh và được kỳ vọng sẽ trở thành động lực tăng trưởng chính trong tương lai. Ngành dịch vụ, cho đến nay vẫn mờ nhạt và vẫn chưa được nhìn nhận là có thể đảm nhận vai trò lớn hơn trong phát triển kinh tế của tỉnh.

Hầu như tất cả các ngành kinh tế trong tỉnh đều thiếu tính cạnh tranh và đạt năng suất thấp do thiếu cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, điều kiện tiếp cận thị trường, thiếu nguồn tài chính, thiếu sáng kiến và hỗ trợ thể chế, v.v. Nâng cao tính cạnh tranh cho các ngành kinh tế khu vực I, II và III chính là vấn đề trọng tâm của tỉnh.

Nếu coi tiến trình phát triển kinh tế là nền tảng để xây dựng tầm nhìn và mục tiêu cho tỉnh thì các mục tiêu cơ bản về phát triển kinh tế là: Củng cố và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế của tỉnh thông qua việc khai thác vị trí chiến lược của tỉnhPhát triển kinh tế mà không phải hy sinh tính bền vững về văn hóa xã hội và môi trườngXây dựng nền kinh tế có bản sắc riêng, có sự cân bằng giữa các ngành kinh tế khu vực I, II và III.

Với vị trí đặc biệt vừa nằm trong vùng ĐBSCL và vừa thuộc vùng KTTĐPN khiến Long  An vừa phải giải quyết áp lực từ việc mở rộng đô thị của thành phố Hồ Chí Minh và vừa phải thích ứng được với những đặc điểm của khu vực nhạy cảm về môi trường nơi người dân sống khá rải rác. Điều kiện tự nhiên của tỉnh cũng tạo cơ hội tốt cho phát triển nông nghiệp và du lịch sinh thái nhưng đồng thời lại là hạn chế đối với các dự án phát triển và nguy cơ do biến đổi khí hậu. Trên cơ sở vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Long An được kỳ vọng có thể phát triển một nền kinh tế cân bằng, có bản sắc, đảm bảo phát triển bền vững trong thời đại mới.

Để có thể cụ thể hóa tầm nhìn và chiến lược trên thì yếu tố chủ chốt là đầu tư, nhất là đầu tư từ bên ngoài của các nhà đầu tư trong và ngoài nước bởi năng lực của các nhà đầu tư trong tỉnh vẫn còn hạn chế. Vì vậy cần có biện pháp thu hút đầu tư từ bên ngoài, nhất là những nhà đầu tư có công nghệ và thị trường mới. Khi đã có đầu tư từ bên ngoài thì cần xúc tiến hoạt động đầu tư phù hợp với các hoạt động kinh tế – xã hội và đầu tư của địa phương để tạo hiệu quả đồng bộ. Tỉnh cần có biện pháp xây dựng môi trường đầu tư “mời gọi” cũng như tạo dựng hình ảnh hấp dẫn để có thể thu hút được nguồn đầu tư có chất lượng.

​​

(xem tiếp Phát triển kinh tế Ngành Nông – Lâm – ​Ngư nghiệp, Ngành Công nghiệp, Ngành Thương mại – Dịch vụ và Du lịch)​

 


07/01/2015 9:00 SAĐã ban hành
Vùng kinh tế trọng điểm Vùng kinh tế trọng điểm
    Vùng kinh tế trọng điểm Long An bao gồm 9 huyện, thị phía Đông Nam tỉnh gồm: thị xã Tân An và huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Trụ, Châu Thành, Thủ Thừa, Đức Huệ, Thạnh Hóa. Ranh giới của vùng được xác định như sau :

-         Phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng và huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh.

-         Phía Nam giáp các huyện thuộc tỉnh Tiền Giang.

-         Phía Đông giáp các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

-         Phía Tây giáp các huyện Thạnh Hóa, Mộc Hóa ( Long An ), và huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang.

    Tổng diện tích tự nhiên của vùng khoảng 2.679 km2, chiếm 59,66% diện tích tự nhiên của tỉnh Long An.

 

 

 

 

 
 
 
 
 
05/11/2008 5:00 CHĐã ban hành
Đức Hòa tập trung phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Đức Hòa tập trung phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm
            Đến cuối năm 2006, khu công nghiệp (KCN) Đức Hòa 1-Hạnh Phúc đã lấp kín 100% diện tích cho thuê mặt bằng giai đoạn 1 gồm 70 ha với 40 doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trong đó có 30 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho 4.200 lao động, chủ yếu là lao động tại địa phương. Cũng như các KCN khác trên địa bàn huyện, KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc hoạt động theo hình thức thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và sau đó cho các doanh nghiệp thuê lại để xây dựng nhà xưởng và phát triển sản xuất.

 Trong xưởng sản xuất sơn nước ở KCN Đức Hòa I

            KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc là KCN hình thành đầu tiên trên địa bàn huyện Đức Hòa theo Quyết định số 1601 ngày 15-12-1999 của Bộ Xây dựng. KCN được quy hoạch tại xã Đức Hòa Đông với tổng diện tích 274 ha, ưu tiên phát triển ngành Công nghiệp nhẹ ít gây ô nhiễm môi trường như: Chế biến nông, thủy sản, sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng. Đến nay, KCN đã hoàn chỉnh giai đoạn 1 và đang triển khai 204 ha giai đoạn 2. Hiện tại, KCN đang khẩn trương thu hồi đất để trong năm 2007 sẽ xây dựng hạ tầng, chuẩn bị đón nhận đầu tư. Bởi khi Việt Nam gia nhập WTO thì khả năng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam sẽ gia tăng, nhất là những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Một đại diện của đơn vị chủ đầu tư, công ty liên doanh khai thác kinh doanh và xây dựng KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc cho biết, đầu tư tại địa bàn huyện Đức Hòa có nhiều lợi thế như: Vị trí địa lý tiếp giáp TP.HCM, giao thông thuận lợi, môi trường đầu tư thông thoáng, được hưởng những ưu đãi đầu tư theo luật định, được sự hỗ trợ thiết thực từ chính quyền địa phương như: Tư vấn pháp luật, hỗ trợ xin giấy phép giúp nhà đầu tư tiết kiệm được thời gian và chi phí, đặc biệt lực lượng lao động tại địa phương khá dồi dào.

            Với những thuận lợi ấy, từ nay đến năm 2010, huyện Đức Hòa sẽ tập trung hơn nữa huy động mọi nguồn lực để tăng tốc phát triển công nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm. Quan điểm của huyện sẽ chú trọng đầu tư phát triển toàn diện các lĩnh vực công nghiệp, thương mại - dịch vụ, dân cư - đô thị và nông nghiệp; trong đó, công nghiệp làm nền tảng. Ưu tiên thu hút đầu tư cho ngành Công nghiệp, thương mại - dịch vụ ở các khu, cụm công nghiệp đã quy hoạch, chú ý đến các ngành nghề nhiều lao động; đồng thời tạo thuận lợi để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ không gây ô nhiễm đan xen trong cụm tuyến dân cư. Chính vì thế, huyện đang ráo riết thực hiện việc rà soát bổ sung quy hoạch; tập trung cao cho công tác kê biên bồi thường giải tỏa; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KCN, đô thị; cũng như phát triển nông nghiệp để phục vụ vùng công nghiệp, đô thị và các chương trình phục vụ dân sinh.

            Đến thời điểm này, huyện Đức Hòa có 4 KCN bao gồm: KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc, KCN Đức Hòa II (Xuyên Á), KCN Đức Hòa III, KCN dân cư dịch vụ Tân Đức và nhiều cụm công nghiệp. Hầu hết các khu, cụm công nghiệp của huyện Đức Hòa đều tập trung ở vùng trọng điểm của huyện bao gồm 11 xã, thị trấn với tổng diện tích của vùng này khoảng 18.000 ha. Tuy hiện nay đang trong giai đoạn thu hồi đất, xây dựng hạ tầng nhưng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện đã có những đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế-xã hội tại địa bàn như: Đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, tham gia các chương trình từ thiện xã hội. Đặc biệt, KCN dân cư dịch vụ Tân Đức mặc dù là đơn vị  sinh sau đẻ muộn so với các KCN khác nhưng đơn vị này đã đầu tư xây dựng trường học, đóng góp về trang thiết bị cơ sở vật chất cho ngành Giáo dục huyện cũng như các nguồn quỹ khuyến học của địa phương với giá trị lên đến hàng tỉ đồng. Trong tương lai không xa cùng với sự phát triển không ngừng của các KCN sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển ngày càng rõ nét hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  

 

Theo Báo Long An

05/11/2008 5:00 CHĐã ban hành
Quy trình quy hoạch sử dụng đất Quy trình quy hoạch sử dụng đất
Mỗi đề án quy hoạch sử dụng đất đai thì khác nhau. Những mục tiêu và tình hình địa phương các nơi cũng rất là thay đổi. Tuy nhiên, trong quy hoạch sử dụng đất đai, 10 bước thực hiện tương đối hữu dụng đã được xác định để hướng dẫn quy hoạch. Mỗi bước đại diện cho một hoạt động chuyên biệt hay cho những hoạt động trong một hệ thống và những thông tin đạt được của từng bước sẽ là nguồn cung liên tiếp cho các bước kế tiếp tạo thành một chuổi thực hiện liên hoàn. Những bước bao gồm:


Mỗi đề án quy hoạch sử dụng đất đai thì khác nhau. Những mục tiêu và tình hình địa phương các nơi cũng rất là thay đổi. Tuy nhiên, trong quy hoạch sử dụng đất đai, 10 bước thực hiện tương đối hữu dụng đã được xác định để hướng dẫn quy hoạch. Mỗi bước đại diện cho một hoạt động chuyên biệt hay cho những hoạt động trong một hệ thống và những thông tin đạt được của từng bước sẽ là nguồn cung liên tiếp cho các bước kế tiếp tạo thành một chuổi thực hiện liên hoàn. Những bước bao gồm:
  • Bước 1: Thiết lập mục tiêu và các tư liệu có liên quan

Trong tình trạng hiện tại cụ thể tìm ra những nhu cầu của người dân và nhà nước; quyết định trên vùng đất quy hoạch, diện tích cần thực hiện; những sự thống nhất nhau về mục tiêu chung và riêng của quy hoạch; sắp đặt các tư liệu liên quan trong quy hoạch.

  • Bước 2: Tổ chức công việc

Quyết định những việc cần làm; xác định những hoạt động cần thực hiện và chọn lọc ra đội quy hoạch; xây dựng bảng kế hoạch và thời biểu các hoạt động và kết quả cần đạt được; bảo đảm có sự thảo luận chung để các thành viên trong đội tham gia phù hợp với khả năng và chuyên môn của mình hoặc sự đóng góp của họ trong quy hoạch.

  • Bước 3: Phân tích vấn đề

Nghiên cứu tình trạng sử dụng đất đai hiện tại, bao gồm việc khảo sát ngoài đồng; thảo luận và nói chuyện với người sử dụng đất đai để tìm ra nhu cầu họ đang cần và tầm nhìn, quan điểm của họ, xác định ra các vấn đề và phân tích nguyên nhân; xác định các khó khăn tồn tại cần thay đổi.

  • Bước 4: Xác định các cơ hội cho sự thay đổi

Xác định và đề xuất sơ bộ ra các kiểu sử dụng đất đai mà có thể đạt được mục tiêu đề ra trong quy hoạch; trình bày các chọn lọc trong sử dụng và thảo luận vấn đề trong quần chúng rộng rải.

  • Bước 5: Đánh gia thích nghi đất đai

Trong mỗi kiểu sử dụng đất đai triển vọng, cần xây dựng yêu cầu sử dụng đất đai và đối chiếu yêu cầu sử dụng đất đai này với những đặc tính của đất đai để cho ra được khả năng thích nghi đất đai trong điều kiện tự nhiên cho các kiểu sử dụng có triển vọng đó.

  • Bước 6: Đánh giá những sự chọn lựa khả năng: phân tích môi trường, kinh tế và xã hội.

Cho mỗi kết hợp thích nghi giữa sử dụng đất đai và đất đai, đánh giá ảnh hưởng của môi trường, kinh tế và xã hội cho người sử dụng đất đai và cho cả cộng đồng trong vùng đó. Liệt kê ra các kết quả thuận lợi và không thuận lợi của các khả năng chọn lựa cho hành động.

  • Bước 7: Lọc ra những chọn lựa tốt nhất.

Tổ chức thảo luận trong toàn cộng đồng xã hội một cách công khai những khả năng chọn lựa khác nhau và kết quả của nó. Dựa trên cơ sở của các thảo luận này và các đánh giá của phần trên mà quyết định những thay đổi trong sử dụng đất đai và các công việc cần làm trong thời gian tới.

  • Bước 8: Chuẩn bị quy hoạch sử dụng đất đai.

Thực hiện phân chia hay đề nghị những kiểu sử dụng đất đai đã được chọn lọc cho các vùng đất đai đã được chọn ra; xây dựng kế hoạch quản lý đất đai thích hợp; xây dựng kế hoạch làm thế nào để chọn lọc ra các kiểu sử dụng đất đai có cải thiện để giúp cho thay đổi sử dụng đất đai theo chiều hướng tốt để có thể đưa vào kế hoạch thực hành quy hoạch; đưa ra những hướng dẫn về chính sách; chuẩn bị tài chánh; xây dựng bản thảo các luật cần thiết; chuẩn bị các thành viên bao gồm chính quyền, các ban ngành liên quan và người sử dụng đất đai.

  • Bước 9: Thực hiện quy hoạch.

Trực tiếp đến tiến trình quy hoạch hay trong các đề án phát triển riêng biệt là đưa quy hoạch vào thực hiện; nhóm quy hoạch phải làm việc liên kết với các ngành thực hiện quy hoạch.

  • Bước 10: Theo dỏi và xem xét chỉnh sửa quy hoạch.

Theo dõi các tiến độ thực hiện và sự phát triển trong quy hoạch theo mục tiêu; cải biên hay xem xét sửa chữa quy hoạch theo những sai sót nhỏ trong kinh nghiệm.

Trên cơ sở 10 bước trình bày trên, ta có thể gom lại thành các nhóm theo tính liên hoàn của nó như sau:

- Nhận diện ra vấn đề: bước 1 - 3

- Xác định những gì là giải pháp có khả năng chọn lựa hiện tại: bước 4 - 6

- Quyết định ra những khả năng chọn lựa nào tốt nhất và chuẩn bị cho quy hoạch: bước 7 - 8

- Đưa quy hoạch vào hành động, xem quy hoạch tiến triển thế nào và rút tỉa kinh nghiệm: bước 9 - 10.

Tất cả mười bước theo thứ tự trên sẽ được phân tích và hướng dẫn chi tiết trong chương sau về các bước thực hiện quy hoạch.

05/11/2008 5:00 CHĐã ban hành
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng CB,CC,VC và SV tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 Chương trình đào tạo, bồi dưỡng CB,CC,VC và SV tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020
Theo đó, UBND tỉnh ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và sinh viên tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo với nội dung cụ thể như sau:

Mục tiêu

Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và sinh viên tạo nguồn ở nước ngoài giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo góp phần tạo nguồn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao, có trình độ chuyên sâu, khả năng tham mưu hoạch định và triển khai hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội trên một số lĩnh vực then chốt, đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong thời gian tới.

Yêu cầu

Các ngành nghề đào tạo, bồi dưỡng phải xuất phát từ nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao theo quy hoạch nguồn nhân lực và phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ. Đối với cán bộ, công chức, viên chức phải đảm bảo nguồn quy hoạch đội ngũ kế cận và trong kế hoạch đào tạo của cơ quan, đơn vị.

Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được chọn để cử học viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài phải là những nước có nền khoa học - kỹ thuật tiên tiến, chất lượng đào tạo tốt và uy tín cao, có chế độ ưu đãi đối với học viên.

Đảm bảo việc làm và phát huy tốt kiến thức học tập của các đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

Đối tượng, phạm vi điều chỉnh

Đối tượng cử đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài:

Cán bộ, công chức, viên chức hiện đang công tác tại các cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể, đơn vị sự nghiệp trong tỉnh.

Sinh viên đã tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn.

Đối tượng cử đi dự các lớp bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài:

Trưởng, Phó trưởng các Ban Đảng Tỉnh ủy, Sở ngành, Đoàn thể tỉnh.

Cán bộ chủ chốt cấp huyện gồm: Bí thư, Phó Bí thư huyện ủy, thành ủy và tương đương; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện, thành phố.

Điều kiện và tiêu chuẩn tuyển chọn

Điều kiện tuyển chọn:

Người được tuyển chọn cử đi đào tạo phải đáp ứng các điều kiện sau:

Cán bộ, công chức, viên chức cử đi học phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao hàng năm, có triển vọng phát triển tốt và trong quy hoạch.

Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Có lý lịch bản thân và gia đình rõ ràng, không vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước.

Cam kết làm việc theo sự phân công của tỉnh sau khi tốt nghiệp.

Có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Long An.

Nếu là đối tượng tạo nguồn phải có người bảo lãnh (cha, mẹ ruột hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng) để thực hiện nghĩa vụ của người được cử đi đào tạo.

Tiêu chuẩn tuyển chọn:

Về độ tuổi:

Thạc sĩ: không quá 35 tuổi đối với nữ và không quá 40 tuổi đối với nam (tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển).

Tiến sĩ: không quá 40 tuổi đối với nữ và không quá 45 tuổi đối với nam (tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển).

Sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn: không quá 25 tuổi đối với nam và nữ (tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển).

Về trình độ ngoại ngữ:

Trình độ Anh văn phải đạt điểm IELTS, TOEFL,… theo quy định của cơ sở đào tạo (các ngoại ngữ khác cũng phải đảm bảo trình độ theo yêu cầu của cơ sở đào tạo).

Tỉnh phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức kiểm tra trình độ ngoại ngữ và có kế hoạch đào tạo bổ sung ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức trước khi được cử đi đào tạo. Dự kiến thời gian đào tạo bổ sung ngoại ngữ là 01 năm.

Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn, khi nộp hồ sơ tham gia Chương trình phải có trình độ ngoại ngữ IELTS, TOEFL,... đủ điều kiện đi học. Trường hợp không đủ điều kiện ngoại ngữ thì được Ban điều hành Chương trình giới thiệu tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ nhưng kinh phí do cá nhân tự túc.

Yêu cầu về trình độ chuyên môn:

Cán bộ, công chức, viên chức phải tốt nghiệp đại học của các trường đại học trong nước.

Nếu là sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn phải tốt nghiệp đại học chính quy của các trường đại học trong nước từ loại khá trở lên và đạt trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu.

Về sức khỏe:

Có đủ sức khoẻ để tham gia học tập theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Chỉ tiêu và hình thức đào tạo, bồi dưỡng

Chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng:

Đào tạo: 70 chỉ tiêu, trong đó: thạc sĩ 67, tiến sĩ 03.

Bồi dưỡng: 70 chỉ tiêu.

Hình thức đào tạo, bồi dưỡng:

Hình thức đào tạo: học ngoại ngữ trong nước, đào tạo chuyên môn toàn phần ở nước ngoài.

Hình thức bồi dưỡng ngắn hạn, có 02 hình thức:

Bồi dưỡng toàn phần ở nước ngoài.

Bồi dưỡng một phần trong nước (do giảng viên nước ngoài trực tiếp giảng dạy), sau đó đi thực tế ngắn hạn ở nước ngoài.

Quy trình xét, tuyển chọn

Đối với cán bộ, công chức, viên chức:                                                     

Trên cơ sở thông báo của Sở Nội vụ, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị căn cứ đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn quy định nêu trên để thực hiện việc xét, tuyển chọn đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý và gửi hồ sơ, danh sách đề nghị cử đi đào tạo, bồi dưỡng về Sở Nội vụ.

Sở Nội vụ phối hợp với các ngành liên quan thẩm định hồ sơ, trình Ban điều hành thực hiện Chương trình quyết định.

Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn:

Nếu có nguyện vọng đào tạo sau đại học ở nước ngoài, liên hệ trực tiếp với Sở Nội vụ để nhận hồ sơ đăng ký theo thông báo (phải có cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng thực hiện các thủ tục đăng ký, cam kết tham gia Chương trình).

Sở Nội vụ phối hợp với các ngành liên quan thẩm định hồ sơ, phỏng vấn trực tiếp, trình Ban điều hành thực hiện Chương trình quyết định.

Lựa chọn trường đào tạo, bồi dưỡng và quản lý học viên

Tỉnh phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để chọn một số cơ sở đào tạo có uy tín, chất lượng đào tạo tốt và có thiện chí giúp đỡ Việt Nam trong công tác đào tạo, bồi dưỡng học viên.

Sở Nội vụ phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để theo dõi quá trình học tập, rèn luyện của học viên trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng, kịp thời giúp đỡ, giải quyết khó khăn trong sinh hoạt và học tập. Duy trì tốt mối liên hệ với học viên, góp phần củng cố tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự gắn bó với quê hương đất nước.

Quyền lợi và trách nhiệm của học viên tham gia Chương trình

Quyền lợi:

Các trường hợp được cử đào tạo, bồi dưỡng sau khi tốt nghiệp sẽ bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Việc bố trí, sử dụng được thực hiện như sau:

Cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng sẽ được bảo lưu biên chế tại cơ quan, được hưởng lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ khác (nếu có) theo quy định hiện hành.

Sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn được cử đi đào tạo sẽ được tuyển dụng, bố trí theo trình độ chuyên môn được đào tạo. Trường hợp cơ quan tuyển dụng không còn chỉ tiêu biên chế thì tỉnh sẽ giao biên chế dự phòng để cơ quan tuyển dụng, bố trí sau khi tốt nghiệp.

Được hỗ trợ chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định tại Mục II Phần III của Chương trình này.

Trách nhiệm:

Đảm bảo thực hiện các điều khoản cam kết khi tham gia Chương trình (trình diện sau khi tốt nghiệp, chấp hành phân công công tác, thời gian cam kết phục vụ,…).

Trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng, học viên phải chấp hành các quy định của nhà nước; tuân thủ pháp luật nước sở tại; chấp hành nội quy, quy định của cơ sở đào tạo và Quy chế của Ban điều hành Chương trình.

Giữ mối liên lạc thường xuyên với Ban điều hành và kịp thời báo cáo kết quả học tập, những vấn đề phát sinh để có hướng xử lý phù hợp.

-Học viên tự ý bỏ học hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình học tập thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, bồi thường toàn bộ chi phí đào tạo, bồi dưỡng hoặc bị xử lý theo pháp luật.

Trường hợp học viên không vi phạm cam kết nhưng không hoàn thành tốt nghiệp theo đúng thời gian quy định thì cá nhân có thể ở lại tiếp tục học tập đến khi tốt nghiệp nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày hết hạn và cá nhân phải tự lực kinh phí. Quá thời hạn này, học viên phải bồi thường toàn bộ chi phí đào tạo theo cam kết.

Giải pháp thực hiện

Tuyên truyền, phổ biến Chương trình:

Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Chương trình này trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài,…) sau khi được phê duyệt, ban hành chính thức. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phổ biến nội dung Chương trình đến cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý.

Thống kê và tuyển chọn nguồn cử đi đào tạo, bồi dưỡng:

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm rà soát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ điều kiện cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài; lập danh sách từng người, trong đó xác định rõ: trình độ chuyên môn hiện có, độ tuổi, trình độ ngoại ngữ, nguyện vọng cá nhân, chuyên ngành đề nghị cử đi đào tạo, bồi dưỡng và thời gian dự kiến đào tạo, bồi dưỡng.

Kinh phí thực hiện Chương trình

Nguồn kinh phí thực hiện đào tạo, bồi dưỡng bao gồm:

Kinh phí do ngân sách tỉnh cấp.

Kinh phí đào tạo của Trung ương dành cho tỉnh (nếu có).

Học bổng của các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước.

Các nguồn khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung chi:

Chi cho đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài, bao gồm: học phí, tài liệu học tập, chi phí ăn ở, khám sức khoẻ, làm visa, vé máy bay.

Chi cho hoạt động bồi dưỡng và đào tạo kiến thức bổ sung trong nước (Anh văn và kiến thức khác).

Chi cho công tác chiêu sinh, xét tuyển, bố trí sau đào tạo, công tác giao dịch, quan hệ với nước ngoài trong khuôn khổ tìm hiểu đối tác, tìm nguồn tài trợ, xác định cơ sở đào tạo,…; chi phí phục vụ các hoạt động quản lý hành chính của Chương trình (văn phòng phẩm, tổ chức hội nghị, hội thảo, công tác tuyên truyền, sơ tổng kết, làm việc ngoài giờ, nhiên liệu,…).

Chi phí quản lý học viên.

Tổ chức thực hiện:

Thành lập Ban điều hành Chương trình, thành phần gồm có: Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, Giám đốc Sở Nội vụ làm Phó Trưởng ban và các thành viên, thư ký là đại diện lãnh đạo: Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Ngoại vụ, Sở Tài chính, Sở Nội vụ.

Ban điều hành có Tổ giúp việc gồm một số công chức các ngành liên quan trực tiếp.

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm:

Tuyển chọn, cử cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị đủ tiêu chuẩn để cử đi đào tạo, bồi dưỡng gửi danh sách về Sở Nội vụ tổng hợp trình Ban điều hành thực hiện Chương trình của tỉnh xem xét, quyết định. Bảo lưu biên chế tại cơ quan, đơn vị (không hợp đồng hoặc đề nghị tuyển dụng người khác thay thế chức danh này) và thực hiện chế độ lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác (nếu có) theo quy định hiện hành cho cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

Tiếp nhận, bố trí công tác đối với sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn sau khi tốt nghiệp về nước theo giới thiệu của Sở Nội vụ. Trường hợp cơ quan, đơn vị tuyển dụng không còn biên chế thì tỉnh sẽ giao biên chế dự phòng của địa phương để thực hiện.

Sở Nội vụ có trách nhiệm:

Phối hợp với các ngành, địa phương thông báo, tổng hợp và đề xuất Ban điều hành Chương trình xét duyệt đối tượng đào tạo, bồi dưỡng.

Phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện công tác tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng, chọn trường, quản lý học viên.

Đề xuất bố trí sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc diện tạo nguồn sau khi tốt nghiệp về nước. Đồng thời đề xuất cơ quan có thẩm quyền giao biên chế dự phòng của địa phương cho các cơ quan, đơn vị tiếp nhận trong trường hợp các cơ quan, đơn vị không còn chỉ tiêu biên chế.

Sở Tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo Chương trình này.

Chương trình này có thể được điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện cho phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

Quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc, các Sở ngành tỉnh, UBND huyện, thành phố phản ánh về Sở Nội vụ để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo xử lý kịp thời.

Hải Tuấn

07/04/2014 5:00 CHĐã ban hành

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​