Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Thông tin du học

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 11:50
Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014
05/01/2015
Theo Báo cáo số 48 /BC-UBND ngày 12 tháng 3 năm 2014: Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, UBND tỉnh đã quyết định phân giao Kế hoạch kịp thời và chỉ thị điều hành để các ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ. Kết quả cụ thể đạt được trên các lĩnh vực như sau:
A. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2013
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 đạt 17.585,4 tỷ đồng (theo giá CĐ 1994), tốc độ tăng trưởng 11%, đạt kế hoạch đề ra và cao hơn mức tăng trưởng năm trước (10,5%); trong đó: khu vực I tăng 4,5% (CK tăng 3%); khu vực II tăng 14,3% (CK tăng 14,9%); khu vực III tăng 11,6% (CK tăng 11,6%). GDP bình quân đầu người 40triệu đồng (năm 2012 là 36,6 triệu đồng).
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể: khu vực I chiếm 29,72%, giảm 2,41% so với năm 2012; khu vực II chiếm 39,54%, tăng 1,01% so với năm 2012; khu vực III chiếm 30,74%, tăng 1,4% so với năm 2012.
II. Kết quả trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu
1. Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): tăng trưởng 4,5% (KH tăng 3,3%), trong đó: nông nghiệp tăng trưởng 5,4% (trồng trọt tăng 6,0%, chăn nuôi tăng 0,6% và dịch vụ nông nghiệp tăng 2,0%); lâm nghiệp tăng trưởng 0,6%, thủy sản tăng trưởng 0,2%.
a) Nông nghiệp:
Trồng trọt: tổng diện tích lúa gieo trồng năm 2013 là 527.659 ha, đạt 106% KH và tăng 5,6% so CK; năng suất bình quân đạt 53,5 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so CK; sản lượng 2.816.073 tấn, đạt 104,3% KH, tăng 5,7% so CK. Trong đó, lúa đặc sản 646.726 tấn (tăng 131.302 tấn), lúa thông dụng 2.169.347 tấn (tăng 21.365 tấn).
Mặc dù giá thành sản xuất lúa có giảm so CK từ 100-650 đồng/kg nhưng do giá lúa không tăng nên người nông dân thu được lợi nhuận không nhiều, từ 10-15 triệu đồng/ha. Đối với lúa Hè thu giá lúa tăng ở giữa vụ và giảm ở đầu và cuối vụ, người nông dân có lợi nhuận khoảng 6-10 triệu đồng/ha, riêng đối với nếp lợi nhuận khoảng 12 - 15 triệu đồng/ha.
Diện tích, năng suất và sản lượng các cây trồng khác như mía, bắp, dưa hấu, đậu phộng, khoai mỡ, sắn, chanh nhìn chung ổn định, không có sự tăng giảm đột biến.
Chăn nuôi: tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm năm 2013 nhìn chung tương đối thuận lợi hơn năm trước do dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt, dập tắt kịp thời nên mức độ thiệt hại do dịch bệnh gây ra không đáng kể. Tuy nhiên, giá cả sản phẩm ngành chăn nuôi chưa ổn định nên chưa kích thích người chăn nuôi mạnh dạn đầu tư tái đàn, tăng đàn. Tính đến tháng đầu tháng 10/2013, tổng đàn heotăng 2,1%, đàn bò tăng 1,7%, đàn trâu giảm 2,4%, đàn gia cầm giảm 23,1% so CK.
b) Lâm nghiệp:
Diện tích rừng đến cuối năm 2013 là 28.601 ha, giảm 3,8% so năm 2012, do người dân chuyển từ trồng tràm sang trồng lúa và cây trồng khác. Tính đến cuối năm, toàn tỉnh trồng được 3,5 triệu cây phân tán các loại, đạt 100% KH; tỷ lệ che phủ rừng đạt 12,12% (KH 13,5%). Công tác phòng chống cháy rừng được tập trung, từ đầu năm đến nay chỉ xảy ra 01 vụ cháy rừng ở huyện Đức Huệ làm thiệt hại 0,7 ha rừng tràm 6 tuổi.
c) Thủy sản:
Hoạt động nuôi trồng thủy sản gặp nhiều bất lợi, nhất là đối với tôm sú, do thời tiếtvà môi trường nuôi không thuận lợi, diện tích nuôi thả bị thu hẹp do sốc môi trường nước và bệnh đốm trắng. Tổng diện tích nuôi tôm nước lợ năm 2013 giảm 9,0% so CK; sản lượng nuôi tăng 16% so CK, là do diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng nhanh trong khi diện tích nuôi tôm sú giảm, năng suất tôm thẻ chân trắng cao hơn tôm sú. Mặc dù sản lượng tôm tăng 16% nhưng giá trị giảm 1,6% là do tôm thẻ chân trắng có giá trị thương phẩm thấp (giá 1 kg tôm thẻ bằng 41,2% so với tôm sú theo giá cố định 1994, bằng 49,5% theo giá hiện hành).
Sản lượng nuôi cá nước ngọt 17.961,7 tấn, giảm 6,6% so CK. Sản lượng thủy sản khai thác 13.236,3 tấn, giảm 2,9% so CK.
d) Về tình hình lũ lụt: nước lũ vùng đầu nguồn sông Cửu Long và Đồng Tháp Mười đạt đỉnh trong tháng 10 (đỉnh lũ tại Tân Hưng là 3,26 m (ngày 13/10), Mộc Hóa là 2,15 m (ngày 25/10)). Nhìn chung, đỉnh lũ năm 2013 cao hơn đỉnh lũ năm 2012 khoảng từ 0,54 - 1,23 m. Công tác phòng, chống, đối phó với lụt bão được chuẩn bị và chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời nên thiệt hại là không đáng kể.
2. Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II): tăng trưởng 14,3% (KH tăng trưởng 15,2%), trong đó: công nghiệp tăng 15% và xây dựng tăng 8,7% (CK khu vực II tăng 14,9%, trong đó: công nghiệp tăng 15,4% và xây dựng tăng 10,7%).
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2013 tăng 16,18% so CK. Lũy kế cả năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,82% so với năm 2012, trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,82%, công nghiệp điện tăng 15,72% và công nghiệp cung cấp nước, xử lý chất thải tăng 13,25%.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 đạt 31.481,7 tỷ đồng (giá 1994), tăng 16,1% so cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai khoáng, chế biến 31.092,6 tỷ đồng (tăng 16%), công nghiệp điện 278,6 tỷ đồng (tăng 17,7%), công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải 110,5 tỷ đồng (tăng 16,3%).
Hoạt động sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng chậm so cùng kỳ một phần do doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải cắt giảm công suất, giảm quy mô hoạt động; mặt khác, một số doanh nghiệp hoạt động cầm cự trong thời gian dài thì nay cũng ngừng hoạt động. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp thành lập mới đã ổn định đi vào hoạt động góp phần làm gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp.
3. Khu vực thương mại - dịch vụ (khu vực III): tăng trưởng khoảng 11,6%, đạt KH, trong đó: thương mại tăng 11,6% và dịch vụ tăng 11,7% (CK khu vực III tăng 11,6%, trong đó: thương mại tăng 11,6% và dịch vụ tăng 11,4%).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội 33.486,4 tỷ đồng, đạt 96,1%KH và tăng 19,8% so CK. Kim ngạch xuất khẩu 2.823,5 triệu USD, đạt 97,4% KH và tăng 18,5% so CK. Kim ngạch nhập khẩu 2.091,5 triệu USD, đạt 91% KH và tăng14,3% so CK. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: gạo, hạt điều nhân, may mặc, giày dép, thủy sản chế biến, cơ khí, bình ắc quy, sắt, thép. Hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
Riêng về xuất khẩu gạo, các doanh nghiệp kinh doanh lương thực trên địa bàn tỉnh đã mua 1,45 triệu tấn quy lúa; xuất khẩu 576.000 tấn gạo, tăng 37% về lượng và tăng 28% về kim ngạch so CK.
Hoạt động tài chính, tín dụng đang trong quá trình tái cơ cấu, tập trung giải quyết vấn đề nợ xấu, tăng trưởng tín dụng cao hơn bình quân cả nước. Hoạt động kinh doanh bất động sản tăng trưởng thấp do thị trường nhà đất đóng băng trong thời gian dài.
Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, giá cả, gian lận thương mại, chống buôn lậu qua biên giới được tập trung triển khai thực hiện thường xuyên; đã xử lý và xử phạt nhiều trường hợp vi phạm.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2013 tăng 6,45% so với tháng 12/2012, bình quân 12 tháng tăng 6,72%. Đây là mức tăng khá thấp, đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát.
4. Về đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2013 đạt 20.933,2 tỷ đồng, chiếm 35,6% GDP (năm 2012 chiếm 40% GDP); vốn đầu tư giảm chủ yếu là do điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn nên các doanh nghiệp hạn chế đầu tư mới và mở rộng quy mô.
Các nguồn vốn XDCB tỉnh, huyện quản lý đến hết năm 2013, giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân đạt 100%KH. Về nợ đọng XDCB: giá trị khối lượng XDCB đã hoàn thành của toàn tỉnh còn nợ là 427,535,131 tỷ đồng (giảm so với đầu năm 93,896 tỷ đồng) với 412 dự án, trong đó: ngân sách tỉnh nợ 262,841 tỷ đồng với 73 dự án, ngân sách huyện nợ 179,29 tỷ đồng với 339 dự án.
- Thu hút đầu tư:
Đầu tư trong nước: năm 2013 có 797 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, tăng 10% so CK, với vốn đăng ký 8.648 tỷ đồng, gấp 2,26 lần so CK; giải thể 114 doanh nghiệp, tăng 28% so CK và có 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 22% so CK. Lũy kế đến cuối năm 2013, trên địa bàn tỉnh có 5.712 doanh nghiệp hoạt động với tổng vốn đăng ký 91.111 tỷ đồng. Trong năm cấp Giấy chứng nhận đầu tư 20 dự án có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 4.527 tỷ đồng, bằng 23,9% số dự án và 79,6% về số vốn so CK, nâng tổng dự án đầu tư trong nước đến nay lên 524 dự án với tổng vốn 76.426 tỷ đồng.
Đầu tư nước ngoài: cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 52 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 185 triệu USD, bằng 89,6% về số dự án và 143,4% về số vốn so CK. Lũy kế đến cuối năm 2013, tổng số dự án FDI đăng ký trên địa bàn tỉnh là 494 dự án với tổng vốn 3.088 triệu USD; trong đó 272 dự án đi vào hoạt động, chiếm 55,3% tổng số dự án đăng ký, với tổng vốn thực hiện 1.673 triệu USD, đạt 53,7% tổng vốn đăng ký.
Công tác xúc tiến đầu tư, thương mại ngày càng đổi mới và nâng cao hiệu quả: trong năm, tỉnh đã tổ chức và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các cuộctọa đàm, hội chợ triển lãm, hội thảo về xúc tiến đầu tư, thương mại trong và ngoài tỉnh, với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc; tổ chức nhiều phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn và khu, cụm công nghiệp; giới thiệu một số mặt hàng nông sản của tỉnh để xúc tiến tiêu thụ trong hệ thống siêu thị Metro, Co.op Mart, ... Đặc biệt, trong năm đãtổ chức thành công hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với sự tham dự của lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành, các đại sứ quán, lãnh sự quán, các tổ chức quốc tế và cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước; tổ chức nhiều cuộc đối thoại và gặp gỡ các doanh nghiệp để động viên, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng và sản xuất kinh doanh; tập trung chỉ đạo kiểm tra rà soát các dự án khu, cụm công nghiệp, khu dân cư đô thị, khu tái định cư ở các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc và thành phố Tân An.
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quan tâm thực hiện. Việc kiểm tra, thanh tra về tiến độ đầu tư, môi trường được các cơ quan chức năng triển khai thực hiện thường xuyên, xử lý nhiều trường hợp vi phạm. Trong năm 2013, UBND tỉnh thu hồi 29 dự án đầu tư trong nước với tổng diện tích 1.929 ha và 15 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 19,7 triệu USD.
Về kinh tế tập thể: duy trì và đẩy mạnh việc phát triển các hình thức kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác. Toàn tỉnh hiện có 37 HTX nông nghiệp đang hoạt động với 1.226 xã viên và 01 liên hiệp HTX đang hoạt động; có 23 HTX có vốn góp (chiếm 60,5 %); vốn hoạt động 13.677 triệu đồng, với số vốn bình quân trên mỗi HTX là 600 triệu đồng/HTX ([9]).
- Tình hình phát triển khu, cụm công nghiệp:
Toàn tỉnh hiện có 28 Khu công nghiệp (KCN) đang có nhà đầu tư với diện tích 10.216,2 ha; có 24 KCN đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư với diện tích 8.242,5 ha với tổng vốn đầu tư là 77,1 triệu USD và 34.111,7 tỷ đồng, trong đó 19 KCN đã được cấp quyết định thành lập với diện tích 5.805,8 ha; có 16 KCN đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy 44,2%. Các KCN đã thu hút được 766 dự án đầu tư, thuê lại 1.233,97 ha đất và 40,6 ha nhà xưởng, trong đó có 252 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 1.706,035 triệu USD và 514 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 27.627,4 tỷ đồng.
Toàn tỉnh hiện có 28 Cụm công nghiệp (CCN) có chủ đầu tư hạ tầng, diện tích 2.833 ha, trong đó: có 18 CCN đã có quyết định thành lập với diện tích 640 ha; 09 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích là 746,7 ha. Các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút được 206 doanh nghiệp đăng ký thuê đất với diện tích 368,6 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 81,7% thu hút khoảng 15.000 lao động.
5. Hoạt động tài chính, tín dụng, tiền tệ
Những khó khăn chung của nền kinh tế đã ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, việc thực hiện các giải pháp miễn, giảm, giãn thuế để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh theo quy định tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ cũng ảnh hưởng giảm nguồn thu. Tuy nhiên, nhờ sự tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu và thực hiện khai thác tốt các nguồn thu khác nên thu ngân sách Nhà nước năm 2013 vượt dự toán đề ra.
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2013 (kể cả thu phạt vi phạm ATGT và ghi thu ghi chi tiền sử dụng đất và tiền thuê đất) trên địa bàn tỉnh Long An đến ngày 31/12/2013 là 5.537.442 triệu đồng, đạt 103,3% dự toán TW và HĐND giao, bằng 113% cùng kỳ([10]). Trong đó: thu nội địa 4.633.805 triệu đồng đạt 103,48% dự toán, bằng 115% cùng kỳ (nếu trừ số thu tiền sử dụng đất). Trong đó: thu nội địa 4.633.805 triệu đồng đạt 103,48% dự toán, bằng 115% cùng kỳ (nếu trừ số thu tiền sử dụng đất thì thu nội địa đạt 4.088.652 triệu đồng, đạt 102,2% kế hoạch, bằng 123% cùng kỳ); thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 903.637 triệu đồng, đạt 102,5% số thu tối thiểu phải đạt (điều chỉnh theo công văn 5209/TCHQ-TXNK ngày 03 tháng 9 năm 2013 của Tổng cục Hải quan về việc thực hiện triển khai Chỉ thị số 02/CT-BTC ngày 08/8/2013 của Bộ Tài chính), bằng 106,8% cùng kỳ.
• Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 818.998 triệu đồng, đạt 126% kế hoạch (650.000 triệu đồng), bằng 109% cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương đến 31 tháng 12 năm 2013 (không kể ghi thu ghi chi tiền thuê đất và tiền sử dụng đất): 7.182.547 triệu đồng, bằng 109% cùng kỳ năm 2012, trong đó chi theo dự toán 5.174.287 triệu đồng, đạt 92% so dự toán. Trong đó: chi đầu tư phát triển 2.062.820 triệu đồng, bằng 105% cùng kỳ, trong đó chi theo kế hoạch (kể cả vốn vay) 1.104.323 triệu đồng, đạt 77% kế hoạch; chi thường xuyên5.119.727 triệu đồng, bằng 110,4% cùng kỳ; trong đó chi theo dự toán: 4.069.964 triệu đồng, đạt 91% so với dự toán.
• Chi từ nguồn thu hoạt động xổ số kiến thiết 582.028 triệu đồng, đạt 89,54% dự toán HĐND tỉnh giao.
Việc thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ đã phát huy hiệu quả, góp phần phát triển thị trường tín dụng trong năm 2013. Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh năm 2013 đạt 41.324 tỷ đồng, tăng 21% so với đầu năm, trong đó nguồn vốn huy động đạt 24.341 tỷ đồng, chiếm 58,9% tổng nguồn vốn, tăng 12,5% so với đầu năm, các nguồn vốn khác (vốn điều chuyển và ủy thác) là 18.272 tỷ đồng, tăng 35,3% với đầu năm. Tổng dư nợ đạt 28.397 tỷ đồng, tăng 12,09% so với đầu năm. Nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 1.980 tỷ đồng, chiếm 3,45% tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ giảm 0,09% so với đầu năm. Hoạt động kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại hối được kiểm soát.
III. Về tài nguyên và môi trường
1. Về tài nguyên: tiến hành phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đến năm 2020 cho các huyện, thị xã và thành phố theo Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Long An đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015)được Thủ tướng Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 17/6/2013. Các huyện, thị xã, thành phố đang triển khai lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015).
Tích cực triển khai công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến nay, tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trên địa bàn tỉnh là 95,03% so với diện tích cần cấp (tỷ lệ cấp giấy cho tổ chức 96,15%; hộ gia đình, cá nhân 92,32%), toàn tỉnh còn 63.807 thửa đất, tổng diện tích 29.470,15ha chưa được cấp giấy lần đầu. Hiện có 68 xã phường, thị trấn được đầu tư kinh phí đo đạc nâng tỷ lệ bàn đồ địa chính mới gắn với việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.
Về khai thác đất, UBND tỉnh có văn bản chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động khai thác đất trên địa bàn tỉnh.
2. Về môi trường: UBND tỉnh đã ban hành các Kế hoạch: Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của tỉnh giai đoạn 2010-2030 (Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 14/5/2013), Kế hoạch quản lý ô nhiễm công nghiệp tỉnh Long An giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến 2020 (Quyết định số 946/QĐ-UBND ngày 19/3/2013), tham mưu Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
3. Về xử phạt vi phạm: đã xử phạt 38 tổ chức và 05 cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường. Thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn, đặc biệt các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động nhuộm; xây dựng lộ trình di dời của 7/16 điểm đen, điểm nóng về môi trường, 9 điểm còn lại sẽ tiếp tục xử lý; thanh tra công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trên địa bàn toàn tỉnh; thanh tra công tác quản lý nhà nước về đất đai của các nông, lâm trường, các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
IV. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, khoa học và công nghệ tiếp tục có những chuyển biến tích cực; phần lớn các chỉ tiêu đạt KH đề ra, cụ thể:
1. Về giáo dục: triển khai thực hiện và xây dựng một số nhiệm vụ trọng tâm như:Chiến lược Phát triển giáo dục tỉnh Long An giai đoạn 2011-2020, định hướng đến 2030; Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; xây dựng Đề án phát triển và hiện đại hóa trường THPT chuyên Long An giai đoạn 2013-2015, định hướng năm 2020; Đề án dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông tỉnh Long An giai đoạn 2011-2020; Đề án phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS giai đạo 2013-2015, định hướng 2020….
Mạng lưới trường lớp tiếp tục được đầu tư, mở rộng theo hướng đạt chuẩn quốc gia, đảm bảo nhu cầu phát triển giáo dục. Toàn tỉnh hiện có 621 trường và 23 cơ sở giáo dục khác, trong đó có 271 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 43,6%, tăng hơn 50 trường so CK.
Tiếp tục phát huy có hiệu quả phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Tháng khuyến học”. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đến nay số cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm 83% tổng số công chức, viên chức toàn ngành. Chất lượng dạy và học được duy trì, nâng cao thông qua đổi mới phươngpháp và nội dung dạy học phù hợp với tâm sinh lý, lứa tuổi học sinh theo yêu cầu về chuẩn kỹ năng, chuẩn kiến thức. Chú trọng công tác giáo dục đạo đức, phòng chống bạo lực học đường, gắn với xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Qua đó, góp phần nâng cao tỷ lệ huy động đầu vào và tốt nghiệp của học sinh ở các cấp.
Trong năm 2013, toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn tiếp tục đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS; 65/192 xã (33,8%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học, tăng 26,3% KH; 80/192 xã (41.6%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non, tăng 36,8% so KH.
2. Về lĩnh vực Y tế
Các hoạt động công tác y tế dự phòng, truyền thông và giáo dục nâng cao nhận thức trong cộng đồng về phòng, chống các loại dịch bệnh được tăng cường. Trong năm dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng nhìn chung được khống chế kịp thời, không để lây lan làm ảnh hưởng sức khỏe người dân, nhiều loại bệnh giảm so CK như: sốt xuất huyết giảm 50%, bệnh sốt rét giảm 59%. Công tác phòng chống HIV/AIDS tiếp tục được chú trọng, tình hình nhiễm HIV/AIDS/chết đều giảm đáng kể so CK. Tuy nhiên trong năm có 8 trường hợp cúm A H5N1, H1N1 (năm 2012 không có trường hợp mắc bệnh); bệnh tay - chân - miệng tăng 14,5%; quai bị tăng 135%...
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được tập trung thực hiện, thường xuyên tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình đến tận vùng sâu, vùng xa, củng cố, tập huấn đội ngũ cộng tác viên và cán bộ cơ sở. Tỷ lệ thai phụ giảm 13% so CK năm trước; mứcgiảm sinh đạt 0,1%o; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng ở mức 10,9%, hoàn thành KH đề ra (11,5%); chênh lệch giới tính khi sinh toàn tỉnh là 109 trẻ sinh nam/100 trẻ sinh nữ.
Thường xuyên tổ chức công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được gắn với tuyên truyền phổ biến Luật An toàn thực phẩm đã tạo sự chuyển biến rõ trong nhận thức của người dân, số vụ vi phạm vẫn còn nhưng mức độ vi phạm không đáng kể.
3. Về văn hóa, thể thao và du lịch
Đảm bảo hoạt động thông tin tuyên truyền, văn hóa văn nghệ phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và các công tác trọng tâm tại địa phương. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa mừng Xuân Quý Tỵ, kỷ niệm ngày thành lập Đảng CSVN và các ngày lễ lớn như 30/4, 1/5, 2/9; tổ chức Hội nghị tập huấn công tác xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, Hội nghị Sơ kết 03 năm xây dựng huyện điểm điển hình văn hóa Cần Đước, lễ khánh thành Bệnh viện đa khoa khu vực Hậu Nghĩa, lễ công bố Nghị quyết của Chính phủ về việc thành lập thị xã Kiến Tường thuộc tỉnh Long An, lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng trận Mộc Hóa.
Thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” chuyển biến tốt, nhiều nơi đạt chất lượng, hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của người dân, kiềm chế tệ nạn xã hội, môi trường xã hội lành mạnh hơn. Trong năm đã công nhận mới 08 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa, lũy kế có 50/192 (26%) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn. Thực hiện Đề án xây dựng huyện điểm văn hóa Cần Đước đạt kết quả khá tốt (đã hoàn thành 24/31 tiêu chí).
Ban hành Kế hoạch thực hiện “Chiến lược phát triển bóng đá tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, kế hoạch “Phát triển thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang đến năm 2015 và 2020”; trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia di tích Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.
Hoạt động xúc tiến du lịch được duy trì và phát triển thông qua việc phát huy tác dụng của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh, đã tiếp 199 đoàn với trên 53.695 lượt khách tham quan Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập, Công viên Tượng đài Long An “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”…; tham gia quảng bá, giới thiệu và bán sản phẩm phục vụ du khách tại “Liên hoan Ẩm thực đất Phương Nam - 2013” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức…
Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nam, nữ thanh niên về trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc giai đoạn 2013 - 2015.
4. Về hoạt động khoa học và công nghệ
Xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình số 28-CTr/TU ngày 27/05/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Dự án nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Long An giai đoạn 2013-2015 và định hướng tới năm 2020; Kế hoạch triển khai Đề án thực thi Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại 2013-2015 theo Quyết định 682/QĐ-TTG ngày 10/05/2011 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án Bảo tồn nguồn gen tỉnh Long An từ nay đến năm 2020 và các mô hình sản xuất an toàn chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGap…
5. Về lao động - thương binh và xã hội
Tập trung thực hiện kế hoạch phát triển đồng bộ nguồn nhân lực, giải quyết việc làm - giảm nghèo. Đến nay, trên địa bàn tỉnh tuyển sinh đào tạo được 18.691 lao động, đạt 100,17% KH; giải quyết việc làm cho 30.000 lao động, đạt 100% KH; tỷ lệ lao động qua đào tạo 56,41%; hạ tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%; tỷ lệ hộ nghèo vào đầu năm 2014 còn 3,81% (theo chuẩn tỉnh).
Rà soát và hoàn chỉnh thủ tục đối với 899 hộ chính sách, người có công gặp khó khăn về nhà ở năm 2013 theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ; xây mới 511 căn và sửa chữa 388 căn với tổng kinh phí 28,2 tỷ đồng. Xem xét giải quyết trợ cấp hàng tháng cho người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày (đã hưởng trợ cấp một lần): 142 hồ sơ, số tiền 538.128.000 đồng.
Thực hiện phân bổ kinh phí trợ cấp tết, kinh phí điều dưỡng, thăm viếng… đối với người thuộc đối tượng chính sách, có công với cách mạng. Tổ chức vận động xây dựng, trao tặng nhà tình nghĩa cho người có công khó khăn về nhà ở ước đạt 100% KH đề ra trong năm 2013.
Trong năm 2013, thường xuyên tổ chức trợ cấp, hỗ trợ kinh phí tiền điện cho hộ nghèo, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, người khuyết tật và người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt [11]..
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới được quan tâm thực hiện. Toàn tỉnh hiện có 363 trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, 610 trẻ tàn tật nặng, 63 trẻ mồ côi được gia đình nhận nuôi dưỡng, 157 trẻ em có cha mẹ thuộc diện đơn thân nuôi con nhỏ được trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng và 10 trẻ mồ côi được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh.
Tổ chức hội nghị tập huấn công tác phòng, chống mại dâm, công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện năm 2013, tập huấn trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng; tập huấn nâng cao năng lực công tác giảm nghèo và công tác điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Các ngành, địa phương chủ động phối hợp với doanh nghiệp kịp thời nắm bắt, xử lý tình hình, góp phần ngăn ngừa đình công, lãn công. Tuy nhiên do giá cả tăng cao làm cho đời sống công nhân gặp khó khăn nên đã xảy ra 04 vụ đình công, lãn công (bằng 25% CK) ở các khu công nghiệp huyện Đức Hòa và Bến Lức.
V. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; công tác đối ngoại
1. An ninh biên giới: hoạt động của các đảng phái Campuchia trước và sau bầu diễn biến phức tạp; tuy nhiên tình hình an ninh trật tự khu vực biên giới ổn định, các lực lượng chức năng thường xuyên tuần tra kiểm soát khu vực biên giới, công tác quản lý và bảo vệ cột mốc biên giới được đảm bảo. Tình trạng cướp có vũ trang khu vực biên giới không xảy ra; dân Campuchia sang Việt Nam xin ăn được ngăn chặn; công dân Việt Nam sang Campuchia đánh bạc giảm so với năm 2012.
2. Tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh năm 2013; xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, lực lượng dân quân tự vệ theo quy định; tiếp tục triển khai thực hiện Đề án Tổ chức xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ giai đoạn 2012-2015. Hoàn thành công tác tuyển quân năm 2013, đạt 100%. Tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm hoạt động và xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị định 152 của Chính phủ. Thực hiện xong Kế hoạch giáo dục quốc phòng - an ninh năm 2013. Tổ chức diễn tập Khu vực phòng thủ huyện Cần Giuộc, Vĩnh Hưng, Đức Hòa. Tiếp tục triển khai Kế hoạch phân giới cắm mốc biên giới tỉnh Long An (Việt Nam) - SvâyRiêng (Campuchia) năm 2013, đến nay đã xây dựng được 42/57 cột mốc.
3. Tình hình an ninh chính trị ổn định. Chủ động đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Phạm pháp hình sự giảm 3,16% so với cùng kỳ. Bắt, vận động ra đầu thú 80 đối tượng có quyết định truy nã. Lập hồ sơ đưa vào Trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục 162 đối tượng.
Tập trung triển khai thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong Năm An toàn giao thông 2013. Tăng cường tuần tra kiểm soát, xử lý 72.753 trường hợp vi phạm, thu phạt 79,729 tỷ đồng, tước giấy phép lái xe 12.360 trường hợp. Tai nạn giao thông xảy ra 453 vụ (giảm 33,67 % so với cùng kỳ), làm chết 217 người (giảm 6,46% so với cùng kỳ), bị thương 566 người (giảm 33,8% so cùng kỳ).
4. Công tác phòng chống tham nhũng được tập trung triển khai thực hiện các giải pháp ngăn ngừa, xử lý các vụ án tồn đọng. Công tác thanh tra thực hiện tốt nhiệm vụ theo kế hoạch, đã triển khai 80 cuộc thanh tra các lĩnh vực kinh tế, phát hiện sai phạm về kinh tế số tiền 5,250 tỷ đồng. Duy trì tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời khiếu nại tố cáo, trong đó tập trung các vụ phức tạp, kéo dài, góp phần ổn định tình hình.
5. Tổ chức các đoàn viếng thăm chúc Tết, thăm hỏi, động viên, tặng quà hội Việt kiều các nước bạn; phối hợp với chính quyền các xã giáp biên giới tổ chức giao lưu thể thao với Việt kiều và nhân dân các huyện, xã của nước bạn nhằm tăng cường mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giúp đỡ nhau.
Công tác tuyên truyền, vận động đối với thân nhân kiều bào và kiều bào cũng gặt hái được những kết quả khả quan, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp với Hội Thân nhân kiều bào tỉnh, huyện, thị xã (nay là thành phố) tổ chức những cuộc gặp gỡ, hội họp, tuyên truyền về chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài như: Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 19/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ….
Thực hiện tốt các quy định về xuất, nhập cảnh, cư trú, hồi hương của người Việt Nam ở nước ngoài trên tinh thần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
VI. Xây dựng củng cố chính quyền; cải cách hành chính
1. Thực hiện công tác quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, công chức, công vụ, áp dụng chế độ chính sách theo đúng các quy định pháp luật và phân cấp quản lý hiện hành. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, công chức theo kế hoạch năm 2013. Ban hành Đề án thí điểm tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Long An; Quy định về thẩm quyền quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính và các chức danh lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh; Quy định về thẩm quyền quản lý tổ chức bộ máy và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh.
Tổ chức hội nghị triển khai, tập huấn xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức cho các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thi tuyển công chức, xét tuyển viên chức năm 2013 để tuyển dụng bổ sung cho các ngành, địa phương. Tổ chức bầu cử bổ sung đại biểu HĐND thị xã Kiến Tường, huyện Mộc Hóa và các phường thuộc thị xã Kiến Tường theo luật định.
2. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính theo kế hoạch, trong đó tập trung củng cố nâng cao hiệu quả thực hiện việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính tại một đầu mối, nhiều nơi tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Công bố, cập nhật 533 thủ tục hành chính (sửa đổi 291, bổ sung 145, thay thế 03, bãi bỏ 94) thuộc thẩm quyền giải quyết của 15 Sở ngành tỉnh. Đăng tải, công khai kịp thời, đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử tỉnh, Trang tin điện tử Cải cách thủ tục hành chính, website các Sở ngành, địa phương. Tính đến nay, toàn tỉnh có 1.615 thủ tục hành chính, gồm: cấp tỉnh 1.167 thủ tục, cấp huyện 315 thủ tục, cấp xã 133 thủ tục.
B. Đánh giá chung
Quán triệt Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, Chỉ thị của UBND tỉnh về nhiệm vụ năm 2013, các ngành, UBND các cấp có nhiều nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả đáng khích lệ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước hiện nay. Tăng trưởng kinh tế đạt KH đề ra 11% sau hai năm liền 2011, 2012 không đạt; sản xuất nông nghiệp tuy không thuận lợi về giá cả đầu ra, dịch bệnh, thời tiết nhưng đạt mức tăng trưởng khá cao 4,5%, đặc biệt trên lĩnh vực trồng trọt, khống chế được dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi...
Khu vực công nghiệp, xây dựng tuy tăng trưởng không đạt kế hoạch đề ra nhưng cũng có mức tăng trưởng khá và đã có dấu hiệu phục hồi so với năm 2012 do các gói giải pháp kích thích thị trường, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, giải quyết nợ xấu của Chính phủ phát huy hiệu quả (tăng trưởng tín dụng khá cao 12,09% so đầu năm, trong đó tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ như: nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ), phần lớn các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chủ yếu có sản lượng tăng so CK.
Thương mại, dịch vụ đạt kế hoạch, xuất nhập khẩu duy trì phát triển, tăng so cùng kỳ; thị trường, giá cả cơ bản được kiểm soát; công tác chống buôn lậu qua biên giới được tăng cường thường xuyên, góp phần giảm đáng kể tình trạng buôn lậu, nhất là buôn lậu thuốc lá ngoại trên tuyến biên giới. Thu ngân sách được tập trung quyết liệt và tiết kiệm chi tiêu công theo quy định; chính sách tín dụng, tiền tệ thực hiện đảm bảo đúng theo chỉ đạo, hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Long An
Công tác đầu tư XDCB được thực hiện chặt chẽ, theo đúng quy định của pháp luật và chủ động triển khai ngay từ đầu năm, trong năm UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho các chủ đầu tư nên tiến độ thực hiện, giải ngân được cải thiện rõ rệt. Đến nay đã cơ bản khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải. Kịp thời điều chỉnh quy mô và phương thức đầu tư các công trình, dự án của tỉnh phù hợp với điều kiện thực tế.
Môi trường đầu tư được tiếp tục quan tâm, có cải thiện rõ rệt; đặc biệt là UBND tỉnh đã ban hành quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận và quản lý các dự án đầu tư ngoài các kh công nghiệp theo cơ chế một cửa liên thông. Các hoạt động văn hóa - xã hội, khoa học và công nghệ được tập trung thực hiện đầy đủ và có nhiều tiến bộ. Tai nạn giao thông có chiều hướng giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương.
Tuy đạt được những kết quả như trên nhưng tình hình kinh tế - xã hội tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, cụ thể là:
1. Tăng trưởng kinh tế chưa bền vững. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội có khả năng không đạt kế hoạch, cụ thể: chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội (đạt 96,1% KH), chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu (đạt 98,3% KH), chỉ tiêu kimngạch nhập khẩu (đạt 97% KH), chỉ tiêu tỷ lệ xã có bác sĩ (đạt 98%, KH 100%), chỉ tiêu xây dựng xã nông thôn mới (đạt 3/6 xã), chỉ tiêu tỷ lệ che phủ rừng (đạt 12,12%, KH 13,5%).
2. Thiên tai diễn biến bất thường, dịch bệnh vẫn còn xảy ra; sức mua thị trường xã hội còn thấp, giá cả đầu vào tăng cao, giá thu mua nông sản không ổn định làm cho hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao, ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận nhân dân; chưa nhân rộng được nhiều vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu...
3. Sản xuất công nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn do thị trường tiêu thụ chậm, chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào không ổn định, ảnh hưởng đến tăng trưởng; nhiều doanh nghiệp vẫn còn hoạt động cầm chừng hoặc thu hẹp quy mô, chưa mạnh dạn đầu tư hoặc mở rộng sản xuất, một số doanh nghiệp phải ngưng hoạt động.
4. Thu ngân sách tuy có khả năng đạt kế hoạch nhưng còn nhiều hạn chế, nguồn thu tiền sử dụng đất đạt rất thấp do thực hiện chính sách giảm, giãn của Chính phủ làm ảnh hưởng đến cân đối chi đầu tư XDCB, nhiều yêu cầu chi cấp bách về đầu tư nhưng không có nguồn chi; tình hình giá cả, thị trường, chống buôn lậu, môi trường, khai thác khoáng sản… vi phạm vẫn xảy ra.
5. Kế hoạch vốn XDCB năm 2013 tuy được giao vào đầu năm nhưng tiến độ thực hiện và giải ngân còn đạt thấp so KH và cùng kỳ; nguyên nhân: các chủ đầu tư chậm thực hiện các thủ tục xây dựng cơ bản; một số dự án còn vướng công tác giải phóng mặt bằng...; mức độ đầu tư cho các chương trình đột phá, công trình trọng điểm của tỉnh còn thấp, nguyên nhân: vốn bố trí ít và phải thực hiện lồng ghép (đối với 4 chương trình đột phá); thiếu vốn hoặc chưa được bố trí vốn phải thay đổi nguồn vốn và phương thức đầu tư (đối với một số công trình trọng điểm). Việc triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới còn chậm, thiếu vốn để đầu tư hạ tầng. Tiến độ đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp, khu dân cư đô thị, tái định cư còn rất chậm, rất ít doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, nên tỷ lệ lấp đầy vẫn còn thấp. Quản lý, tiếp nhận một số dự án chưa đảm bảo về môi trường bền vững....
6. Tình hình trật tự, an toàn xã hội có mặt chưa bảo đảm: tội phạm, trộm cắp còn cao; tình trạng khiếu kiện về đất đai vẫn còn diễn ra.
7. Dịch bệnh nguy hiểm (Cúm A/H1N1, H5N1) có nguy cơ lây lan trở lại. Công tác đào tạo nghề đạt kết quả thấp, tuyển sinh khó khăn.
Ngoài những nguyên nhân khách quan dẫn đến những mặt tồn tại và hạn chế nêu trên thì còn do những nguyên nhân chủ quan về trách nhiệm trong quản lý, điều hành của một số cơ quan, đơn vị trên một số lĩnh vực về đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, môi trường,… có lúc, có nơi chưa quyết liệt và kịp thời, còn chậm giải quyết các thủ tục hành chính, thiếu sự phối hợp giữa các ngành, giữa ngành với địa phương để giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc liên quan đến nhân dân, doanh nghiệp. Đặc biệt là các công việc theo phân công tại Chỉ thị số 01/2013/CT-UBND ngày 08/01/2013 của UBND tỉnh vẫn còn chậm so thời gian quy định, chất lượng một số nội dung công việc còn chưa đạt yêu cầu…

Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2014
I. Những thuận lợi, khó khăn
Năm 2014, kinh tế thế giới dự báo sẽ có sự phục hồi tích cực hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như thương mại được dự báo đều đạt mức tăng đáng kể so với năm 2013, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nhiều khả năng khả quan hơn. Trong nước, dự báo sự hồi phục của nền kinh tế sẽ rõ rệt hơn do tác động tích cực từ nền kinh tế thế giới trên cả lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư cũng như dư địa của các chính sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh cuối năm 2013([12]). Trong tỉnh, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất tiếp tục được tăng cường; một số dự án lớn dự kiến đi vào hoạt động sẽ góp phần tăng tỷ trọng cơ cấu ngành công nghiệp và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng; sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh.). Trong tỉnh, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất tiếp tục được tăng cường; một số dự án lớn dự kiến đi vào hoạt động sẽ góp phần tăng tỷ trọng cơ cấu ngành công nghiệp và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng; sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi như trên, năm 2014, nền kinh tế của tỉnh cũng gặp phải một số khó khăn: kinh tế thế giới vẫn còn nhiều yếu tố rủi ro và chưa vững chắc; tăng trưởng kinh tế cả nước có nhiều khả năng hồi phục nhưng sẽ thiếu bền vững nếu những bất ổn mang tính cơ cấu của nền kinh tế chưa được giải quyết triệt để; nguy cơ lạm phát vẫn tiềm ẩn do tác động độ trễ của những chính sách tháo gỡ khó khăn sản xuất kinh doanh năm 2013, dòng vốn được lưu thông trở lại([13]); năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu; sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, giá cả nông sản khó lường; tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn gặp nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng còn yếu và chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông; dịch vụ chưa phát triển; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; công tác cải cách hành chính chưa theo kịp yêu cầu phát triển; vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định về trật tự xã hội; tình hình tai nạn giao thông, tội phạm còn diễn biến phức tạp.); năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu; sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, giá cả nông sản khó lường; tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn gặp nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng còn yếu và chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông; dịch vụ chưa phát triển; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; công tác cải cách hành chính chưa theo kịp yêu cầu phát triển; vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định về trật tự xã hội; tình hình tai nạn giao thông, tội phạm còn diễn biến phức tạp.
II. Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội năm 2014
1. Mục tiêu tổng quát
Duy trì mức tăng trưởng hợp lý, gắn với bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. Thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng công tác quản lý các cấp, cải cách thủ tục hành chính theo chiều sâu, tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2014
a) Chỉ tiêu về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh 11,5%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khoảng 3,5%; ngành công nghiệp, xây dựng tăng khoảng 15,5%; ngành dịch vụ tăng khoảng 12%.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khoảng 5.284 tỷ đồng (chưa tính nguồn thu XSKT 750 tỷ đồng), gồm: thu nội địa 4.400 tỷ đồng (trong đó thu tiền sử dụng đất 450 tỷ đồng), thu từ hoạt động XNK 884 tỷ đồng).
- Tổng chi ngân sách nhà nước 6.275,772 tỷ đồng (chưa tính chi từ nguồn thu XSKT 750 tỷ đồng).
- GDP bình quân đầu người/năm: 45 triệu đồng/người/năm.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 3.450 triệu USD.
- Giá trị kim ngạch nhập khẩu 2.680 triệu USD.
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 40.850 tỷ đồng.
- Sản lượng lương thực đạt 2,8 triệu tấn, trong đó lúa chất lượng cao, nếp đạt 0,75 triệu tấn.
- Tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội đạt khoảng 26.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ khoảng 38-40% GDP, trong đó vốn đầu từ ngân sách khoảng 5.000 tỷ đồng, vốn đầu tư của các thành phần dân cư và doanh nghiệp khoảng 13.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp FDI khoảng 7.500 tỷ đồng và các nguồn vốn khác khoảng 500 tỷ đồng.
b) Các chỉ tiêu xã hội:
- Giải quyết việc làm cho khoảng 30.000 lao động.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ 100%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,4%.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: dưới 1,1%.
- Mức giảm tỷ lệ sinh: 0,1‰.
- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: 47%.
- Tỷ lệ học sinh đi học tiểu học đúng độ tuổi: 99,8%.
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học: 44%.
- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3,5% (theo tiêu chí mới của tỉnh).
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng về cân nặng: 10,7%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58%, trong đó đào tạo nghề đạt 38%.
- Tỷ lệ bảo hiểm y tế toàn dân đạt 70%.
c) Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 94% (đô thị 99%).
- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị đạt 93%.
- Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 84% (21/25 khu, cụm công nghiệp).
- Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm đạt 12,2%.
III. Định hướng phát triển ngành, lĩnh vực
1. Công tác quy hoạch, kế hoạch và dự báo
Tiếp tục triển khai Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 theo Kế hoạch UBND tỉnh ban hành; trong đó các Sở ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục rà soát, điều chỉnh các quy hoạch ngành, sản phẩm chủ yếu, quy hoạch cấp huyện cho phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời cụ thể hóa các mục tiêu, định hướng trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh vào việc xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội và thu, chi ngân sách năm 2014. Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác quy hoạch.
Trong quá trình điều hành hoặc tham mưu UBND tỉnh điều hành kinh tế - xã hội, các Sở ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố phải tuân thủ theo những nội dung đã được định hướng trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và các quy hoạch đã được Chính phủ, UBND tỉnh phê duyệt. Đối với những vấn đề phát sinh ngoài định hướng cần giải trình và xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh trước khi thực hiện.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 19/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ triển khai trong 3 năm 2013-2015 nhằm thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020, trong đó tập trung thực hiện Đề án tái cơ cấu kinh tế của tỉnh và tái cơ cấu các lĩnh vực sau khi UBND tỉnh phê duyệt.
2. Lĩnh vực kinh tế
a) Phát triển nông nghiệp, nông thôn:
Duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chương trình hành động của Tỉnh ủy, Kế hoạch của UBND tỉnh về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thuỷ sản, phát triển nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, năng suất cao, chất lượng, hiệu quả gắn với thị trường tiêu thụ và gắn với công nghiệp chế biến. Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với cơ chế chính sách phù hợp nhằm tăng cường huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là Chương trình xây dựng nông thôn mới.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp để phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi không để xảy ra trên diện rộng; kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi, môi trường nuôi… Khuyến khích phát triển các loại gia súc, gia cầm, thủy sản theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi tập trung trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với chế biến tập trung và xử lý chất thải. Phát triển nuôi lợn chất lượng cao ở một số vùng có lợi thế theo hướng sản xuất công nghiệp. Phát triển đàn bò thịt có năng suất cao, thịt ngon. Đảm bảo an toàn dịch bệnh. Triển khai tốt các biện pháp phòng, chống thiên tai, lũ lụt.
Đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, giống mới, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất và hiệu quả đầu tư, chú trọng phát triển các vùng chuyên canh, vùng sản xuất hàng hóa lớn. Có giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng nâng tỷ trọng lúa chất lượng cao. Khuyến khích đầu tư, ứng dụng các kỹ thuật sơ chế, bảo quản, bao bì, đóng gói, kho lạnh, để hạn chế thất thoát về sản lượng và chất lượng. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 1965/CT-BNN-TT ngày 13/6/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình “cánh đồng mẫu lớn”. Bước đầu thực hiện thí điểm mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
Tập trung đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp như nạo vét các kênh chính, kênh trục nội đồng, xây dựng hệ thống đê bao lững, phát triển các trạm bơm điện, giao thông nông thôn, trong đó lưu ý việc đầu tư các công trình thủy lợi phải gắn với giao thông thuỷ bộ và gắn với việc xây dựng nông thôn mới.
Tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế. Phát triển mạnh trồng rừng kinh tế, đẩy mạnh công tác quản lý rừng phòng hộ đặc biệt sung yếu, khu bảo tồn, ...
Chú trọng phát triển nông thôn ở những vùng khó khăn, biên giới, xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững. Phát triển các mô hình liên kết kinh tế ở nông thôn tạo điều kiện để tích tụ ruộng đất, tăng khả năng cạnh tranh nông nghiệp.
b) Về phát triển công nghiệp - xây dựng:
Tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, phấn đấu từng bước lấy lại đà tăng trưởng cao của ngành công nghiệp. Tạo điều kiện cho các dự án có quy mô lớn đã và sẽ đi vào hoạt động và các dự án khác đang đầu tư để tăng nhanh sản lượng công nghiệp.
Phát triển công nghiệp - xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; thu hút, phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, có nhiều sản phẩm xuất khẩu. Chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sử dụng đầu vào là sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Áp dụng công nghệ tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu và năng lượng. Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả giai đoạn 2011-2015. Triển khai thực hiện các quy hoạch, đề án của ngành vừa được phê duyệt.
Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại các khu, cụm công nghiệp, tăng khả năng tiếp nhận đầu tư. Tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư tại một số nước, vùng lãnh thổ có công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,…. tổ chức tiếp xúc với các tập đoàn kinh tế mạnh trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế để tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư, quan tâm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sử dụng đất hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường.
c) Phát triển thương mại, dịch vụ:
Phát triển các ngành dịch vụ của tỉnh theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển đa dạng hóa các ngành và sản phẩm dịch vụ, chú trọng nâng cao chất lượng các dịch vụ như viễn thông, vận tải, ngân hàng, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Mở rộng mạng lưới dịch vụ nông thôn, xây dựng các chợ đầu mối huyện, xã nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, nhất là sản phẩm nông nghiệp. Bước đầu triển khai xây dựng hình thức thương mại hiện đại, thương mại điện tử, xây dựng đề án đầu tư các trung tâm logistic.
Tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc để đẩy mạnh xuất khẩu. Mở rộng, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường truyền thống và các thị trường mới có nhiều tiềm năng đối với sản phẩm của tỉnh. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chương trình " Đưa hàng Việt về nông thôn" để tạo điều kiện cho người dân nông thôn tiếp cận được các hàng hóa có chất lượng.
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát giá cả, thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại, ngăn chặn lợi dụng đầu cơ, nâng giá, thu lợi bất chính. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong kinh doanh theo quy định của pháp luật. Nghiên cứu khắc phục những hạn chế của chuỗi cung ứng trong quy trình từ sản xuất đến tiêu dùng nhằm giảm thiểu chênh lệch giữa giá thu mua tại nơi sản xuất và giá bán cho người tiêu dùng.
Triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Triển khai dự án Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp ở Phường 2, thành phố Tân An.
d) Phát triển doanh nghiệp:
Tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định, thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa cụ thể như: hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, từng bước đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn, xúc tiến mở rộng thị trường cho các DNNVV. Đẩy mạnh mối liên kết giữa các DNNVV, giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn, hỗ trợ và khuyến khích DNNVV tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Ưu tiên trợ giúp doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ, các DNNVV ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Khuyến khích phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn. Khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển kinh tế tập thể và hợp tác xã; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hợp tác xã, tổ trưởng tổ hợp tác; hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng đầu tư phục vụ sản xuất và các cơ chế chính sách về khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công… theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa; tăng cường quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
e) Định hướng đầu tư phát triển:
Tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, nhất là đầu tư phát triển; giảm tỷ trọng đầu tư công, tăng đầu tư của khu vực ngoài nhà nước; ưu tiên bố trí vốn ngân sách đầu tư các công trình, dự án trọng điểm đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ IX, kiên quyết khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải; tập trung xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Việc bố trí vốn ngân sách đầu tư phát triển ngành, lĩnh vực phải thể hiện được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu đã nêu trong kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015, đồng thời phải tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong các Chương trình trọng điểm của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ IX, các Nghị quyết chuyên đề, Chương trình hành động của Tỉnh ủy. Đồng thời chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực, giảm nghèo và các công trình xây dựng cơ bản sẽ hoàn thành trong năm 2014. Triển khai thực hiện cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước phục vụ phát triển công nghiệp.
Tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, giải ngân kịp thời các nguồn vốn đầu tư phát triển, chú trọng nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá việc quản lý và sử dụng vốn của các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước để đảm bảo sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả.
Thực hiện có hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng, chấm dứt tình trạng nhiều công trình có vốn nhưng không giải ngân được do không có mặt bằng để thi công. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác đấu thầu, khắc phục tình trạng một số nhà thầu có năng lực kém nhưng vẫn được triển khai thực hiện các công trình, dẫn đến tiến độ triển khai thực hiện chậm, chất lượng công trình không đảm bảo.
Thực hiện tốt công tác xúc tiến đầu tư, ưu tiên tiếp cận các tập đoàn kinh tế mạnh trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế để tạo cơ hội thu hút đầu tư có chọn lọc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Triển khai hiệu quả quy trình tiếp nhận và quản lý đầu tư ngoài khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện các giải pháp duy trì chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh ở “nhóm rất tốt”. Qua đó cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo đảm công khai minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh và năng cao năng lực cạnh tranh.

g) Đảm bảo công tác thu, chi ngân sách hiệu quả, tiết kiệm:
Tập trung chỉ đạo triển khai ngay từ đầu năm các biện pháp đồng bộ để tăng nguồn thu ngân sách, bảo đảm thu đúng, thu đủ, kịp thời và khai thác hiệu quả mọi nguồn thu phát sinh trên địa bàn theo quy định của pháp luật; tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê không đúng, không đủ số thuế phải nộp; chỉ đạo quyết liệt chống thất thu, thu hồi số thuế nợ đọng từ các năm trước, các khoản thu từ các dự án đầu tư đã hết thời hạn ưu đãi, các khoản thu phát hiện qua thanh tra, kiểm toán...
Quản lý chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, hiệu quả và tiết kiệm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác chi; rà soát, bãi bỏ các chính sách, chế độ còn chồng chéo, không hiệu quả; thực hành tiết kiệm triệt để; hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới làm tăng chi ngân sách nhà nước; bảo đảm điều hành ngân sách trong dự toán chi được giao, hạn chế chi bổ sung ngoài dự toán.
3. Phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội
Triển khai thực hiện Chương trình số 26-CTr/TU ngày 26/4/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2013-2020”.
a) Về giáo dục - đào tạo:
Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Long An giai đoạn 2011-2020, Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Kết luận số 51-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm hơn nữa đến vùng khó khăn. Duy trì phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, tiếp tục thực hiện phổ cập trung học phổ thông. Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS giai đoạn 2014-2015, định hướng 2020. Tiếp tục triển khai Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; gắn kết có hiệu quả giữa việc mở rộng quy mô với nâng cao chất lượng dạy nghề nhằm tăng cường đội ngũ lao động qua đào tạo cả về số lượng và chất lượng. Chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm. Triển khai thực hiện Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.
b) Về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân:
Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm quá tải tại các bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh. Chủ động triển khai công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Triển khai có hiệu quả các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây truyền qua thực phẩm. Tiếp tục thực hiện các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, hoàn thành lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân. Đảm bảo tiến độ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện; tiếp tục chuẩn hóa trạm y tế xã, đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các lĩnh vực y tế.
Đào tạo đủ về số lượng, chất lượng đội ngũ y, bác sĩ, nhất là đáp ứng nhu cầu cho Bệnh viện chuyên khoa sản nhi và Bệnh viện tâm thần dự kiến đưa vào hoạt động cuối năm 2014, đầu năm 2015; tăng cường luân phiên cán bộ giúp tuyến dưới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ tại chỗ và nâng cao y đức, trình độ cán bộ y tế, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ các hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh. Phát triển y dược cổ truyền.
c) Về văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch
Tiếp tục củng cố và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng, tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể dục thể thao ở các cấp; gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với phát triển kinh tế. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; kiểm tra nâng cao chất lượng ấp, khu phố, xã, phường và thị trấn văn hóa. Khuyến khích sáng tạo các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống lành mạnh trong gia đình; nhân rộng các mô hình công tác phòng chống bạo lực gia đình. Hướng dẫn, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm văn hóa thể thao và học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn. Đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hoá nguồn lực đối với lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao. Triển khai dự án Khu liên hợp văn hóa, thể thao của tỉnh. Tăng cường quản lý các lễ hội, hoạt động văn hoá, thể thao; hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước để tổ chức lễ hội. Đẩy mạnh xây dựng huyện điểm điển hình văn hóa Cần Đước, tạo tiền đề hoàn thành vào năm 2015.
Phát triển mạnh mẽ thể dục, thể thao quần chúng nhằm tiếp tục triển khai cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" để thu hút đông đảo lực lượng của cả xã hội tham gia dưới nhiều hình thức sinh động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, văn hóa, tăng cường thể chất của nhân dân. Tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao tỉnh Long An lần thứ V năm 2014; tuần lễ văn hóa, du lịch tỉnh Long An lần thứ I năm 2014.
Đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch, thu hút du khách đến các khu, điểm du lịch đã đưa vào sử dụng.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền; tăng cường các thông tin chính thức một cách công khai, minh bạch, kịp thời về các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản; tăng phủ sóng phát thanh, truyền hình tới các vùng sâu, vùng xa.
d) Về khoa học, công nghệ:
Đẩy mạnh triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 và các chương trình quốc gia về khoa học và công nghệ. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học và công nghệ. Chú trọng ứng dụng có hiệu quả những đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong ứng dụng khoa học công nghệ. Ưu tiên thu hút các dự án, đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ. Thành lập và hoạt động có hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.
e) Về an sinh xã hội:
- Tập trung thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách tạo việc làm mới và giải quyết việc làm. Tăng cường kiểm tra, giám sát điều kiện lao động, an toàn, bảo hộ lao động; nắm bắt và giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
- Tiếp tục thực hiện đồng bộ và hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo, nhất là đối với các huyện nghèo, vùng sâu, vùng xa, tập trung cho các huyện, xã, khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Giảm dần khoảng cách về thu nhập và đời sống giữa các vùng.
- Tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội đã ban hành, nhất là đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả công tác tái định cư trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện với trẻ em; bảo đảm thực hiện quyền trẻ em. Xây dựng môi trường phát triển toàn diện cho thanh niên. Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, xây dựng và phát triển hình mẫu gia đình văn minh, hạnh phúc. Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; thu hẹp khoảng cách giới, xóa dần định kiến về giới trong đời sống xã hội.
- Tập trung giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc; nhất là tình trạng khiếu kiện kéo dài, tham nhũng, tội phạm, ma tuý, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và những tiêu cực trong y tế, giáo dục.
4. Về tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững
Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình của Tỉnh ủy về khai thác hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững, Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Long An giai đoạn 2010-2030 và các định hướng ưu tiên về tài nguyên và môi trường của chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh, chiến lược bảo vệ môi trường; triển khai thực hiện Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đến 2015 đã được phê duyệt; bảo đảm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất và nước.
Tiếp tục các giải pháp bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Giải quyết triệt để tình trạng suy thoái môi trường ở khu vực các nhà máy, các khu, cụm công nghiệp, các khu đông dân cư; chú trọng chất thải nguy hại, chất thải y tế… Triển khai kế hoạch sẵn sàng ứng phó các sự cố về môi trường nghiêm trọng.
Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi đối với môi trường; ứng cứu kịp thời và khắc phục hậu quả xấu do thiên tai gây ra. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về môi trường, xác định rõ việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội.
Thúc đẩy triển khai thực hiện dự án Khu xử lý rác Tân Thành (Thủ Thừa) và duy trì hoạt động ổn định Nhà máy xử lý rác Tân Đông - Thạnh Hóa.
5. Về cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, tập trung đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa một số dịch vụ công gắn với tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính, tạo sự công khai minh bạch trong công tác quản lý nhà nước. Tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước; thực hiện tốt việc giám sát của các cơ quan quản lý chuyên ngành đối với hoạt động của các doanh nghiệp.
Tiếp tục rà soát điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức, biên chế, quy chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả bảo đảm sự điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt có hiệu lực từ tỉnh đến huyện, xã. Đẩy mạnh thực hiện thanh tra về giờ giấc, nền nếp, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm ổn định chính trị, xã hội. Tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài sản của nhà nước. Xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm để củng cố lòng tin của nhân dân.
6. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là các địa bàn trọng điểm, khu vực biên giới, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong tình hình mới, củng cố kiện toàn khu vực phòng thủ cấp huyện, tỉnh; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu. Tiếp tục giữ mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với Campuchia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước.
7. Về công tác dân chủ, thông tin, tuyên truyền
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền; thực hiện tốt chế độ cung cấp thông tin cho tổ chức, cá nhân, báo chí và nhân dân, công khai, minh bạch, kịp thời về tình hình và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển quan trọng.
Báo cáo này thay thế Báo cáo số 242/BC-UBND ngày 30/10/2013 của UBND tỉnh./.
Lượt người xem:   27495
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: ông Nguyễn Thành Vững - Chánh Văn phòng​​​

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

​​ ​