Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 10:30
Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012
05/01/2015
Theo Báo cáo số 4093/BC-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2011: Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức việc phân giao kế hoạch kịp thời; các ngành, UBND các huyện, thành phố Tân An tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2011 với kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
A. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2011
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm (GDP) năm 2011 ước đạt 14.337 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994). Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 12,2% (kế hoạch là 13,5-14%), thấp hơn mức tăng trưởng năm trước (12,6%). GDP bình quân đầu người đạt khoảng 29,56 triệu đồng (năm 2010 là 23,2 triệu đồng).
Do tốc độ tăng trưởng của khu vực II không đạt so với kế hoạch nên cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, khu vực I chiếm 36,7% giảm 0,1% so với năm 2010; khu vực II chiếm 33,5%, tăng 0,2%; khu vực III chiếm 29,8%, giảm 0,1%.
II. Kết quả trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu
1. Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): ước cả năm tăng trưởng đạt 5,2% (năm 2010 tăng 5,0%), cao hơn so với kế hoạch 1,0-1,2%, trong đó nông nghiệp tăng 5,7%, lâm nghiệp tăng 1,4% và thủy sản tăng 3,4%.
Sản xuất nông nghiệp được tập trung chỉ đạo chặt chẽ công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, tập trung đầu tư và chủ động đối phó với thiên tai, dịch bệnh, thực hiện các giải pháp cấp bách để khôi phục gia súc, gia cầm nên đã hạn chế được thiệt hại, đảm bảo sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khả quan.
Trồng trọt: tăng trưởng 8%, do sản xuất nông nghiệp được mùa, được giá, nông dân có lợi nhuận, trong đó đặc biệt là cây lúa với diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng (diện tích tăng 2,8%, năng suất tăng 3,8 tạ và sản lượng tăng 245.836 tấn so với năm 2010). Tình hình tiêu thụ thuận lợi, nông dân sản xuất lúa có lợi nhuận cao khoảng 14 - 16 triệu đồng/ha đối với các huyện phía Nam và khoảng 18 - 20 triệu đồng/ha đối với các huyện Vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh. Đa số sản lượng các loại cây trồng khác đều tăng so với năm 2010, tuy nhiên, cũng có một số cây trồng có sản lượng giảm như: dưa leo, đậu phộng, mía, chanh... do chi phí sản xuất như công lao động, vận chuyển cao; mưa trái vụ và sự chuyển đổi cây trồng củanông dân.
Chăn nuôi: tăng trưởng âm 4,9% (năm 2010 -0,1%). Do gặp nhiều bất lợi, nhất là đối với đàn heo, bị dịch bệnh cuối năm 2010 và đầu năm 2011 làm đàn heo của tỉnh chưa khôi phục kịp, đầu quý IV lại bị dịch bệnh heo tai xanh bùng phát trở lại, nên đàn heo giảm mạnh (sản lượng giảm 19,1% và tổng đàn giảm 6% so năm 2010). Sản lượng các vật nuôi khác nhìn chung đều tăng so với năm 2010 như: trâu tăng 3,1%; bò tăng 4,1%; gia cầm tăng 14,6%.
Thủy sản: tăng trưởng 3,4% (năm 2010 giảm 7,9%). Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng so với năm 2010. Diện tích nuôi tôm nước lợ tăng 17% so CK; sản lượng tăng 52,6%. Trong đó diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng đang tăng mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Tình hình dịch bệnh tuy có phát sinh nhưng ở mức độ nhẹ và nhờ việc tập trung phòng chống dịch bệnh và hướng dẫn nông dân thả nuôi tái vụ đã giúp sản xuất thủy sản phục hồi, bình quân cả 02 vụ nuôi người dân có lợi nhuận từ 50 - 70 triệu đồng/ha.
Lâm nghiệp: tăng trưởng 1,4% (năm 2010 giảm 0,3%), năm 2011, ước trồng 03 triệu cây phân tán (tăng 25% so năm 2010) và 225 ha rừng tập trung (giảm 33,7% so với năm 2010). Công tác phòng cháy rừng được quan tâm thực hiện nên thiệt hại nhỏ hơn so với năm 2010. Nguyên nhân cháy chủ yếu do đốt đồng cháy lan.
Về tình hình lũ lụt: đỉnh lũ năm 2011 khá cao so với những năm gần đây. Công tác phòng, chống, đối phó với lụt bão được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời. Tuy nhiên do lũ lớn nên thiệt hại về tài sản khá nặng, tính đến nay thiệt hại đã lên đến trên 680 tỷ đồng, trong đó có 1 số diện tích hoa màu và lúa vụ 3, thiệt hại lớn nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, đê bao sạt lở, ngoài ra làm chết 13 người, chủ yếu là trẻ em.
2. Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II): Ước cả năm tăng trưởng 17,5% (năm 2010 19,2%), thấp hơn so với kế hoạch đề ra (21,0-21,5%). Trong đó khu vực công nghiệp tăng 17,6% (năm 2010 19,4%) và khu vực xây dựng tăng 17,0% (năm 2010 17,8%).
Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện năm 2011 đạt 23.113 tỷ đồng, đạt 97,6%KH, tăng 17,7% so năm 2010, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 28,5% cơ cấu GTSXCN toàn tỉnh (doanh nghiệp nhà nước chiếm 4,5%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 71,5%.
3. Khu vực thương mại - dịch vụ (khu vực III): Ước tăng trưởng 12,1% (KH là 12,5-13,0%, năm 2010 12,3%), trong đó thương mại tăng 11,5% (năm 2010 11,7%) và dịch vụ tăng 12,4% (năm 2010 12,5%).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước thực hiện 22.450 tỷ đồng, đạt 100,3% KH, tăng 26,3% so với năm 2010; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.950 triệu USD, đạt 114,3% KH, tăng 33,7% so với năm 2010; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.590 triệu USD, đạt 120,5% KH, tăng 21,4% so với năm 2010. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: gạo, hạt điều nhân, may mặc, giày da và thủy sản chế biến. Hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất.
Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, giá cả được triển khai thực hiện thường xuyên, thu giữ nhiều loại hàng hóa và phương tiện, các lĩnh vực vi phạm chủ yếu là về gian lận thương mại, vi phạm trong kinh doanh, buôn bán, vận chuyển hàng cấm...
Giá tiêu dùng đến hết năm 2011 có khả năng tăng từ 18-19% so với tháng 12/2010. Đây là mức tăng khá cao làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.
Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông… hoạt động ổn định và phát triển, đóng góp vào tăng trưởng chung.
4. Về đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2011 ước đạt 15.000 tỷ đồng, chiếm 34,8% GDP, giảm mạnh so với năm 2010 (năm 2010 chiếm 42,5% GDP), chủ yếu là do điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn nên các doanh nghiệp hạn chế đầu tư mới và mở rộng quy mô .
Các nguồn vốn XDCB ước đến hết năm 2011, giá trị khối lượng thực hiện và giá trị giải ngân đạt 100% kế hoạch.
Thu hút đầu tư: Đầu tư trong nước: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhcho 850 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 23.857 tỷ đồng (bằng 90% về doanh nghiệp, 140% về vốn đăng ký so với năm 2010); đến cuối năm 2011 có 5.758 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 108.572 tỷ đồng. Đầu tư nước ngoài: ước đến hết năm 2011 cấp mới 75 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với vốn đầu tư khoảng 250triệu USD (bằng 150% về số dự án, 36% về vốn đăng ký so với năm 2010); đã cấp chứng nhận đầu tư cho 417 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 3.500 triệu USD và có 170 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 1.750 triệu USD.
Về tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước: trong năm 2011 đã cổ phần hóa được 01 doanh nghiệp (Công ty Quản lý và Sửa chữa Giao thông Long An), nâng tổng số đến nay đã cổ phần hóa được 27 doanh nghiệp, chuyển thành công ty TNHH 1 thành viên 6 doanh nghiệp, chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu 2 doanh nghiệp.
Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được đổi mới và nâng cao hiệu quả: Trong năm, tỉnh đã tổ chức và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các cuộc hội chợ, hội thảo về xúc tiến đầu tư thương mại trong và ngoài tỉnh, đặc biệt với các nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Malaysia. Qua đó góp phần thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh.
Tình hình đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp: toàn tỉnh hiện có 30 khu công nghiệp với tổng diện tích 10.940,6 ha, có 16 khu đã được thành lập và đi vào hoạt động với tổng diện tích 4.910,48 ha (tỷ lệ lấp đầy khoảng 34%), 12 khu công nghiệp nằm trong Quy hoạch phát triển các KCN cả nước đến năm 2015. Lũy kế đến nay, các KCN đã thu hút được 499 dự án đầu tư, thuê lại 999,4 ha đất, trong đó có 181 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 1.420,84 triệu USD và 318 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 20.803,4 tỷ đồng.
Hiện có 40 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích đất quy hoạch là 4.428,24 ha. Trong đó, 9 CCN đã đi vào hoạt động, tổng diện tích là 723,73 ha, thu hút được 183 doanh nghiệp đăng ký thuê đất; có 128 doanh nghiệp đang hoạt động, đã thuê 387,086 ha đất, tỷ lệ lấp đầy của 09 CCN khoảng 90,24%.
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quan tâm thực hiện; tiến hành điều chỉnh qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tiếp tục rà soát các dự án đầu tư, đã quyết định thu hồi 10 dự án, với 471,7 ha, hiện tại đang tiếp tục rà soát, xử lý các dự án đầu tư chậm thực hiện tại các địa bàn: thành phố Tân An, huyện Bến Lức, huyện cần Đước, huyện Cần Giuộc, huyện Đức Hòa. Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm, tập trung thực hiện, đã tạo sự chuyển biến tích cực; công tác quan trắc chất lượng môi trường nước trên các sông chính được duy trì, chất lượng nước nằm trong giới hạn quy chuẩn quy định; năm 2011 đã tổ chức kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường, trong đó trên 120 đơn vị thuộc địa bàn huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, thành phố Tân An; tập trung xử lý một số “điểm đen”, “điểm nóng”, xử phạt 23 đơn vị về vi phạm ô nhiễm môi trường với số tiền phạt 917,75 triệu đồng.
5. Hoạt động tài chính, tiền tệ
Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ước thu ngân sách nhà nước năm 2011 đạt 4.553 tỷ đồng (tăng 25% so với cùng kỳ), vượt 31% dự toán tỉnh giao (chưa kể thu xổ số kiến thiết 580 tỷ đồng, vượt dự toán 16%). Hầu hết các khoản thu đều vượt so với dự toán, trong đó có một số khoản thu vượt xa so với dự toán là thu xuất nhập khẩu, thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết.
Ước chi ngân sách địa phương năm 2011 đạt 4.792 tỷ đồng (tăng 38,15% so với cùng kỳ), vượt 17,25% dự toán tỉnh giao.
Dự kiến đến cuối năm 2011, tổng nguồn vốn hoạt động tín dụng trên địa bàn đạt 31.218 tỷ đồng, tăng 34,24% so năm 2010; tổng dư nợ tín dụng đạt 25.185 tỷ đồng, tăng 18,06% so với năm 2010; tỷ lệ nợ xấu là 1,26%, tăng 8,61% so năm 2010. Nhìn chung tỷ lệ dự nợ trên địa bàn tỉnh tăng thấp, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn, lãi suất cao.
6. Tình hình thực hiện một số chương trình trọng tâm
a) Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần IX và Nghị quyết HĐND tỉnh:
Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong năm 2011. UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện 4 Chương trình đột phá, các Nghị quyết chuyên đề và các công trình trọng điểm....
Chấp hành tổ chức thực hiện các Nghị quyết kỳ họp của HĐND tỉnh và nội dung theo kết quả giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, các Ban HĐND tỉnh và kiến nghị của Đại biểu, cử tri.
b) Các chương trình trọng tâm khác:
- Thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/TU ngày 20/11/2008 của Tỉnh ủy Long An về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: Nhìn chung các ngành đã tích cực triển khai Quyết định số số 1442/QĐ-UBND ngày 10/6/2009 của UBND tỉnh về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/TU của Tỉnh ủy. Đến nay đã có 11/29 đề án (hoặc kế hoạch, chương trình) phát triển nông nghiệp, nông thôn được UBND tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện. Về công tác đầu tư, tỉnh đã tập trung bố trí tăng hơn 2,5 lần theo Nghị quyết, nhờ vậy góp phần tăng trưởng nông nghiệp đạt 5,2%.
Tỉnh đang triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới.Đến nay đã hoàn thành công tác điều tra đánh giá thực trạng nông thôn 166 xã hiện đang tổng hợp dữ liệu báo cáo; đã có 13/166 xã đã phê duyệt quy hoạch; 31/166 xã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch; 122/166 xã còn lại đơn vị tư vấn đang lập quy hoạch. Có 2/14 huyện (huyện Châu Thành và Vĩnh Hưng) đã ban hành Chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện, 21/166 xã đã được UBND huyện phê duyệt đề án (10 xã của huyện Tân Trụ và 9 xã của huyện Vĩnh Hưng), 76/166 xã đã soạn thảo xong đề án, đang thẩm định và trình UBND huyện phê duyệt; các xã còn lại đang lập đề án.
- Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư vượt lũ: Đã hoàn thành tôn nền cho 165/165 cụm, tuyến dân cư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật về đường giao thông (118 cụm, tuyến); thoát nước (114 cụm, tuyến), cấp điện cho 129 cụm, tuyến, cấp nước cho 128 cụm, tuyến. Đến nay số nền được giao đến cuối năm 2011 đạt 23.516 nền, đạt 72% kế hoạch. Tiến độ đưa dân vào ở trên các cụm, tuyến dân cư đến nay là 14.440 hộ, đạt 44% kế hoạch.
Đã chủ động lồng ghép xây dựng các công trình hạ tầng xã hội để tạo điều kiện sinh hoạt thuận lợi cho hộ dân vào ở. Đã lồng ghép các chương trình như chương trình 135, chương trình kiên cố hóa trường, lớp học, phối hợp với ngành điện, bưu chính viễn thông lồng ghép các công trình cấp điện và bưu điện văn hóa xã vào cụm, tuyến dân cư; lồng ghép chương trình cho vay ưu đãi về nước sạch và vệ sinh môi trường cho hộ dân do Ngân hàng chính sách xã hội hỗ trợ. Nhìn chung trong năm nay các cụm, tuyến dân cư vượt lũ phát huy hiệu quả rất tốt trong điều kiện lũ lên cao, góp phần hạn chế thiệt hại do lũ gây ra.
Nhìn chung công tác đưa dân vào ở trên các cụm, tuyến dân cư vượt lũ trên địa bàn tỉnh được các ngành, các địa phương quan tâm thực hiện, đã phát huy tác dụng, nhất là mùa lũ năm nay, tuy nhiên còn tồn tại là công tác đưa dân vào ở nhưng còn chậm, các huyện không khả năng thanh toán nợ vay tôn nền đến hạn.
- Xây dựng Qui hoạch tổng thế phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn 2030: đến nay Đơn vị tư vấn (Công ty Almec) đã cơ bản hoàn chỉnh dự thảo, tỉnh đã lấy ý kiến các Bộ ngành và địa phương có liên quan để hoàn chỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Các Chương trình liên kết: Đến nay chương trình liên kết với TP.HCM giai đoạn 2007-2010 đã được hai địa phương chuẩn bị xong nội dung, sẽ tiến hành sơ kết vào cuối năm. Tỉnh đã ký kết Chương trình liên kết với tỉnh Tây Ninh, tuy nhiên việc triển khai của các ngành của hai địa phương còn chậm.
7. Kết quả triển khai thực hiện kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Đã chủ động chủ động triển khai thực hiện những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ ngày 24/02/2011 bằng Chỉ thị của Tỉnh ủy và Chương trình hành động số 682/CTr-UBND ngày 11/3/2011 của UBND tỉnh. Kết quả cụ thể như sau:
Các Sở ngành, địa phương đã nghiêm túc xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động số 682/CTr-UBND của UBND tỉnh. Đảm bảo công tác tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp dân cư về việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Chính phủ và Chương trình hành động của UBND tỉnh.
Đã rà soát cắt giảm, điều chỉnh 24 công trình xây dựng cơ bản với tổng mức vốn gần 40 tỷ đồng. Tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên ngân sách nhà nước của 9 tháng còn lại của năm 2011 với tổng số tiền là 56,374 tỷ đồng (tổng số tiền tiết kiệm 10% chi thường xuyên năm 2011 là 140,659 tỷ đồng, bao gồm tiết kiệm 10% chi thường xuyên dự toán năm 2011 để thực hiện cải cách tiền lương là 84,285 tỷ đồng); thường xuyên theo dõi chặt chẽ tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình diễn biến giá cả thị trường, đặc biệt đối với một số mặt hàng thiết yếu thuộc diện bình ổn giá… để kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc nhằm duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, ổn định thu nhập và đời sống của người lao động.
Bảo đảm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội như: kiểm tra việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền công, chế độ bảo hiểm xã hội, môi trường làm việc... đối với người lao động; thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng về các chính sách đối với người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo đúng quy định của Chính phủ; đã triển khai kịp thời, đầy đủ chính sách hỗ trợ hộ nghèo về điện.
III. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, tiếp tục có những chuyển biến tích cực; phần lớn các chỉ tiêu đều đạt kế hoạch đề ra.
1. Về giáo dục: thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như đổi mới phương pháp dạy và học, đầu tư nâng cấp trang thiết bị, ứng dụng tin học, xây dựng trường học thân thiện; học sinh tích cực, khắc phục bệnh thành tích nên chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 89,2% (tăng 3,2%), hệ thường xuyên đạt 60,2% (tăng 28,2%). Trong năm có thêm 31 trường đạt chuẩn quốc gia, lũy kế đến hết năm 2011 có 165 trường đạt chuẩn, đạt tỉ lệ 27,13%.
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và THCS được quan tâm củng cố và giữ vững; có thêm 11 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD trung học, nâng tổng số xã đạt phổ cập lên 17 xã, đạt tỉ lệ 8,95%.
2. Về lĩnh vực Y tế: công tác y tế dự phòng có sự tham gia phối hợp của các ngành, các hoạt động truyền thông và giáo dục nâng cao nhận thức trong cộng đồng về phòng, chống các loại dịch bệnh được tăng cường. Nhờ vậy dù dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng được khống chế kịp thời, không để lay lan làm ảnh hưởng sức khỏe người dân, nhiều loại bệnh giảm so cùng kỳ. Bệnh tay, chân, miệng được các ngành, các cấp quan tâm nỗ lực phòng, chống theo kế hoạch nhưng chưa ngăn chặn được, gấp 6,6 lần cùng kỳ, tử vong 7.
Các chương trình, dự án về dân số - kế hoạch hóa gia đình được tập trung thực hiện với thường xuyên tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình đến tận vùng sâu, vùng xa, củng cố, tập huấn đội ngũ cộng tác viên và cán bộ cơ sở góp phần thực hiện tốt mục tiêu dân số. Sinh con thứ 3 trở lên giảm 0,7% (KH giảm 0,5); tỷ số giới tính khi sinh toàn tỉnh là 109 trẻ nam/100 trẻ nữ. Số trẻ sinh tăng, không đạt chỉ tiêu giảm sinh (0,2 - 0,3%o).
3. Về văn hóa, thể thao và du lịch: tập trung tuyên truyền cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Đại hội Đảng các cấp, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa, xã văn hóa được các địa phương quan tâm thực hiện, thường xuyên kiểm tra, củng cố nên chất lượng có chuyển biến, góp phần kiềm chế tệ nạn xã hội, tạo môi trường sống xã hội ngày càng tốt hơn. Thực hiện Đề án xây dựng huyện điểm văn hoá Cần Đước đạt kết quả khá tốt (hoàn thành 12/31 tiêu chí); tổ chức phát động xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa giai đoạn 2011 - 2015. Toàn tỉnh hiện có 33/190 xã, phường, thị trấn thực hiện mô hình điểm về công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
Phong trào TDTT quần chúng được duy trì và phát triển rộng rãi đến cơ sở. Về thể thao thành tích cao đạt kết quả khá tốt.
Về du lịch: nhờ đẩy mạnh liên doanh, hợp tác nên doanh thu đạt kế hoạch và tăng 30% so cùng kỳ. Tuy nhiên vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.
4. Về lao động, thương binh và xã hội: tập trung thực hiện chương trình giải quyết việc làm - giảm nghèo, đào tạo nghề. Mạng lưới cơ sở dạy nghề tiếp tục được phát triển, đến nay có 35 cơ sở dạy nghề, tăng 5 cơ sở so với năm 2010 (gồm 22 công lập, 13 ngoài công lập), đào tạo nghề đạt 100% KH, đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%, trong đó đào tạo nghề đạt 32%, giải quyết việc làm 30.000 lao động, đạt 100% KH.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ cho đối tượng người có công; đã vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa được 9.300 triệu đồng, đạt 310% KH và xây dựng được 228 căn nhà tình nghĩa, đạt 114% KH.
Công tác “Đền ơn đáp nghĩa” và đảm bảo an sinh xã hội được các ngành, địa phương quan tâm thực hiện đạt kết quả tốt. Đẩy mạnh tín dụng hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, cải thiện cuộc sống; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em (đạt 100% KH) và người nghèo, trợ cấp, cứu tế xã hội kịp thời cho các đối tượng khó khăn, giải quyết kịp thời bảo hiểm thất nghiệp cho lao động.
Đã xây dựng 4.284 căn, đạt tỷ lệ 94% so với tổng số căn của đề án bổ sung thuộc Chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo theo quyết định 167/2008/QĐ-TTg và Quyết định 67/2010/QĐ-TTg.
Các ngành, địa phương tăng cường quan hệ phối hợp với doanh nghiệp kịp thời nắm bắt, xử lý tình hình, góp phần ngăn ngừa đình công, lãn công. Tuy nhiên do giá cả tăng cao làm cho đời sống công nhân gặp khó khăn nên đình công, lãn công xảy ra 115 vụ, tăng 100 vụ so năm 2010, chủ yếu ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tập trung ở các huyện: Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc.
IV. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1. An ninh trật tự trên tuyến biên giới cơ bản giữ vững ổn định, quan hệ giữa chính quyền và nhân dân hai bên biên giới được duy trì và phát triển tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đảm bảo an ninh trật tự khu vực biên giới.
Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền. Tiến độ phân giới cắm mốc từ đầu năm đến nay diễn ra chậm do hai bên còn tiếp tục đàm phán. Đến nay đã xác định và ký sơ đồ nháp 39 vị trí mốc, xây dựng hoàn chỉnh 37 vị trí, còn hai mốc 184 và 208 đã ký sơ đồ nháp nhưng chưa xây dựng hoàn chỉnh. Toàn tuyến biên giới còn lại 14 vị trí mốc chưa xác định trên thực địa.
Thực hiện tốt nhiệm vụ an ninh, chủ động đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 04-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm năm 2011. Ban hành quy định cơ cấu tổ chức và chế độ chính sách đối với Ban, Tổ Bảo vệ dân phố; xây dựng kế hoạch ngăn chặn người Việt Nam sang Campuchia đánh bạc....
Tiếp tục thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông và Tháng an toàn giao thông (trong tháng 9/2011), xử lý nhiều trường hợp vi phạm.
2. Thực hiện tốt công tác quốc phòng an ninh năm 2011; tập trung xây dựng lực lượng thường trực, dự bị động viên, dân quân tự vệ theo quy định. Làm tốt công tác gọi công dân nhập ngũ, giao quân đạt 100% chỉ tiêu được giao (toàn tỉnh đạt chỉ tiêu 3 cấp tỉnh, huyện, xã) với chất lượng tốt. Tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ huyện Mộc Hóa và diễn tập phòng không nhân dân huyện Tân Trụ năm 2011.
3. Triển khai 75 cuộc thanh tra nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đã kết thúc 68 cuộc; phát hiện sai phạm về kinh tế giá trị trên 2,330 tỷ đồng và trên 1.098 hecta đất, đã thu hồi 2,072 tỷ đồng, kiến nghị xử lý theo quy định pháp luật. Tiếp công dân 3.934 lượt người, tiếp nhận 2.676 đơn thư khiếu nại, tố cáo, đã giải quyết 1.879/2.201 đơn thư thuộc thẩm quyền giải quyết (85,4%).
Tổ chức 09 cuộc thanh tra trách nhiệm về thi hành pháp luật trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng ở 52 đơn vị, chấn chỉnh kịp thời các tồn tại, hạn chế của ngành, địa phương.
4. Sơ kết Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ giai đoạn 2008-2012; ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án 1-37, 2-37, 3-37 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh năm 2011, triển khai thực hiện các luật và văn bản quy phạm pháp luật mới. Chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự các cấp tập trung công tác thi hành dân sự, chú trọng các địa bàn có lượng án còn tồn đọng nhiều, tăng cường cán bộ tập trung giải quyết có hiệu quả.
V. Xây dựng củng cố chính quyền; cải cách hành chính
1. Báo cáo tổng kết tổ chức và hoạt động của UBND các cấp nhiệm kỳ 2004-2011 tại kỳ họp cuối HĐND cùng cấp. Phối hợp tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 đảm bảo an toàn, đúng quy định pháp luật. Củng cố tổ chức và hoạt động của UBND 3 cấp sau bầu cử.
Thực hiện công tác quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, công chức, công vụ, áp dụng chế độ chính sách theo đúng các quy định pháp luật và phân cấp quản lý hiện hành. Tổ chứccác lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, công chức theo kế hoạch năm 2011. Tiếp tục giải quyết chính sách cán bộ theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP và Nghị định 67/2010/NĐ-CP. Tham gia xây dựng Đề án của Tỉnh ủy về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2020 và những năm tiếp theo. Ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng viên chức giai đoạn 2011-2015. Ban hành mới chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức luân chuyển, điều động, biệt phái.
2. Thành lập Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng UBND tỉnh theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ, triển khai nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các Sở ngành, UBND cấp huyện, cấp xã. Tiến hành sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực theo đúng quy định của Bộ, ngành Trung ương. Sơ kết thực hiện Đề án thí điểm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính cấp xã. Các Sở ngành, UBND các huyện, thành phố tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý, điều hành công việc. Đưa vào khai thác sử dụng tốt hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến của tỉnh.
B. Đánh giá chung
Trong bối cảnh kinh tế cả nước và thế giới diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, phải tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nhưng sự quyết tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, giám sát của HĐND tỉnh và chấp hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ của UBND các cấp, các ngành và sự đồng thuận của nhân dân nên thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2011; tăng trưởng kinh tế tuy không đạt kế hoạch nhưng đạt khá cao; sản xuất nông nghiệp tăng trưởng khá, nhất là lĩnh vực trồng trọt; sản xuất công nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn nhưng một số ngành vẫn duy trì sản xuất ổn định, tăng trưởng khá cao.
Công tác đầu tư XDCB được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và triển khai ngay từ đầu năm, UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho các chủ đầu tư nên công tác xây dựng cơ bản được cải thiện rõ rệt.
Môi trường đầu tư được tiếp tục quan tâm, cải thiện; thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định và phát triển.
Thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra; chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của tỉnh; chính sách tín dụng, tiền tệ thực hiện chặt chẽ.
Các hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ.
Quốc phòng - an ninh thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra; trật tự an toàn xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo từng bước kiềm chế phát sinh phức tạp.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại:
Chất lượng tăng trưởng chưa bền vững, dịch bệnh phát sinh ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân; lũ lụt lớn gây thiệt hại nặng tài sản, phải tập trung khắc phục trong thời gian tới.
Sản xuất công nghiệp, đầu tư xây dựng còn gặp nhiều khó khăn do tác động bất lợi của tình hình kinh tế trong nước và thế giới. Chi phí đầu vào tăng, tiếp cận vốn khó khăn, lao động có tay nghề thiếu hụt, thị trường không ổn định.
Đầu tư XDCB còn một số công trình thi công chậm, kéo dài do chất lượng công tác khảo sát thiết kế, lập dự án, thẩm định, phê duyệt chưa đảm bảo yêu cầu.Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và quyết toán dự án, công trình hoàn thành chậm. Công tác lựa chọn nhà thầu chưa tốt nên đã có một số đơn vị thi công không đủ năng lực tài chính, thiếu năng lực về thiết bị kỹ thuật, nhân công nên thi công chậm tiến độ.
Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn còn chậm do khó khăn chung, thắt chặt tín dụng, đa số các nhà đầu tư không đủ nguồn lực để thực hiện theo cơ chế chính sách quy định tại Nghị định số 69/NĐ-CP; về chủ quan: một số nhà đầu tư không năng lực tài chính phải thu hồi dự án; công tác thẩm tra, phê duyệt đơn giá bồi thường, phương án bồi thường các ngành, địa phương thực hiện chậm....Công tác đầu tư các khu tái định cư kéo dài, thiếu kiểm tra, đôn đốc nên chậm giao đất ở, gây bức xúc trong nhân dân ở một số dự án.
Ngành thương mại, dịch vụ tuy phát triển đạt kế hoạch đề ra nhưng chưa tương xứng với tiềm năng.
Công tác giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe người dân vẫn còn nhiều bức xúc, hạn chế và nhất là cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu, đội ngũ giáo viên, bác sĩ còn thiếu; công tác dân số chưa thực sự bền vững, số xã thực hiện mô hình không có người sinh con thứ ba trở lên còn quá ít.
Đình công, lãn công xảy ra nhiều (115 vụ) làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, ảnh hưởng không tốt đến công tác anh sinh xã hội; công tác bảo đảm an toàn giao thông chưa chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông còn cao; tình hình khiếu kiện còn diễn biến phức tạp, nhiều vụ việc được Chính phủ kết luận nhưng các hộ dân vẫn khiếu nại, kéo kiện gây bất ổn an ninh, trật tự.

Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
CỦA KẾ HOẠCH 2012
Năm 2012 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh tiếp tục có những thuận lợi và khó khăn như sau:
I. Những thuận lợi, khó khăn
1. Về thuận lợi
Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ, các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế sẽ được Chính phủ tập trung thực hiện tạo điều kiện để tăng trưởng cao hơn trong năm 2012 và các năm tiếp theo.
Hạ tầng kinh tế, xã hội đang được đầu tư phát triển tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp - dịch vụ và xuất khẩu và nâng cao đời sống nhân dân.
Sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh; những kết quả bước đầu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.
2. Về khó khăn
Năm 2012, dự báo kinh tế thế giới tiếp tục còn nhiều bất ổn, diễn biến phức tạp, lạm phát và lãi suất đang còn ở mức cao; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế; thời tiết, khí hậu, thiên tai, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung xây dựng nhưng chưa đồng bộ, còn yếu kém, nhất là hạ tầng giao thông; đặc biệt lũ lụt năm nay gây thiệt hại khá lớn về hạ tầng phải tập trung nguồn lực để khắc phục.
Công tác cải cách hành chính vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, còn diễn biến phức tạp.
II. Mục tiêu, các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012
1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, chủ động chủ trương của Chính phủ, Tỉnh ủy về ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế với mức hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư,sản xuất kinh doanh đi đôi với phát triển hài hòa văn hóa - xã hội; chủ động khắc phục, đối phó với thiên tai, dịch bệnh.
Tập trung triển khai thực hiện các Chương trình đột phá và các công trình trọng điểm của tỉnh theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX với các giải pháp khả thi, phù hợp.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2012
a) Chỉ tiêu về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 12 - 12,5% , trong đó ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,8 - 4%; ngành công nghiệp, xây dựng tăng 17,5 - 18,2%; ngành thương mại - dịch vụ tăng 12,5%.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 2.430 triệu USD; Giá trị kim ngạch nhập khẩu 1.910 triệu USD.
- Sản lượng lương thực 2,6 triệu tấn.
- GDP bình quân đầu người/năm: 35 triệu đồng.
b) Các chỉ tiêu xã hội:
- Giải quyết việc làm cho người lao động trên 30.000 lao động.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ 100%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện 98,7%.
- Tỷ lệ học sinh đi học tiểu học đúng độ tuổi: 99,8%
- Tỷ lệ trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế 95%.
- Mức giảm tỷ lệ sinh: 0,2‰.
- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5,55%.
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 14%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 54%.
c) Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 92% (đô thị 99%).
- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị là 90%.
- Có 100% khu, cụm công nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đang hoạt động.
- Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2012 đạt 13,7%.
3. Một số cân đối lớn
- Tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội đạt khoảng 20.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ khoảng 38,5% GDP, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách khoảng 3.050 tỷ đồng, trong đó: ngân sách địa phương quản lý khoảng 2.350 tỷ đồng (kể cả vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn khác do địa phương quản lý), ngân sách Trung ương đầu tư trên địa bàn khoảng 700 tỷ đồng (các công trình giao thông, thủy lợi... Trung ương đầu tư trên địa bàn) còn lại là vốn đầu tư của các thành phần dân cư, các doanh nghiệp và các nguồn vốn khác.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khoảng 4.680 tỷ đồng (chưa tính nguồn thu XSKT 550 tỷ); tổng chi ngân sách nhà nước 5.057 tỷ đồng (chưa tính chi từ nguồn thu XSKT 550 tỷ).
III. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển ngành, lĩnh vực
1. Các giải pháp về triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả công tác kế hoạch, dự báo
Hoàn chỉnh để trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015.
Tiến hành điều chỉnh, bổ sung, lập mới quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển KTXH của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Thực hiện tốt công tác dự đoán, dự báo, công tác quản lý và thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch. Trước mắt quan tâm củng cố, bổ sung biên chế, đội ngũ phụ trách công tác quy hoạch, kế hoạch từ tỉnh đến huyện đi liền với việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ.
2. Lĩnh vực kinh tế
a) Phát triển nông nghiệp, nông thôn:
Triển khai thực hiện Chương trình giống cây trồng giai đoạn 2010 - 2020; tăng cường kiểm nghiệm giống lúa, phấn đấu đến năm 2012 có 50% diện tích gieo trồng lúa sử dụng giống xác nhận; Khẩn trương hoàn thành các các quy hoạch ngành, nghề trong nông nghiệp, trong đó tập trung phát triển vùng sản xuất lúa tập trung chất lượng cao phục vụ chế biến gạo xuất khẩu, trong đó vùng sản xuất lúa đặc sản, phấn đấu đến năm 2012 đạt sản lượng khoảng 650.000 tấn (nếp 250.000 tấn, lúa đặc sản 400.000 tấn). Tổ chức sản xuất vùng rau an toàn, vùng thanh long theo hướng VIETGAP. Khuyến khích đầu tư, ứng dụng các kỹ thuật sơ chế, bảo quản, bao bì, đóng gói, kho lạnh, để hạn chế thất thoát về sản lượng và suy giảm về chất lượng.
Thực hiện công tác dự tính, dự báo về khả năng, thời gian phát sinh, diện phân bố, mức độ gây hại của sinh vật gây hại để xây dựng lịch thời vụ gieo trồng phù hợp từng tiểu vùng và khuyến cáo nông dân phòng trừ dịch bệnh hiệu quả. Củng cố lực lượng khuyến nông viên cơ sở đảm bảo 100% xã sản xuất nông nghiệp có lực lượng khuyến nông viên. Hoàn thành quy hoạch và tiếp tục đầu tư xây dựng đê bao lửng vùng Đồng Tháp Mười.
Tổ chức phát triển chăn nuôi theo quy hoạch; phòng, chống hiệu quả dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; tiếp tục cải thiện giống, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi; tạo điều kiện mở rộng các hình thức chăn nuôi trang trại bán công nghiệp, công nghiệp.
Hoàn chỉnh rà soát vùng nuôi thủy sản nước lợ của tỉnh, triển khai kế hoạch phát triển thuỷ sản giai đoạn 2011- 2015, nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để đạt hiệu quả cao. Thanh tra, kiểm tra và quản lý môi trường, dịch bệnh, chất lượng con giống, thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản và sản phẩm thuỷ sản sau thu hoạch.
Tiếp tục đầu tư chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng của tỉnh kết hợp đẩy mạnh trồng cây phân tán, trồng lại rừng sau khai thác và phát triển thị trường tiêu thụ để đến cuối 2012 diện tích rừng toàn tỉnh đạt khoảng 40.000 ha.
Triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015. Phấn đấu năm 2012 -2013 toàn tỉnh có 6 xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Triển khai các giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ, củng cố phát huy mọi nguồn lực trong xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật đảm bảo phát triển ổn định, bền vững trên lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Triển khai đề án hỗ trợ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp. Tập trung thực hiện công tác khắc phục lũ lụt nhất là khôi phục lại hạ tầng và chuẩn bị chu đáo kế hoạch và các điều kiện để chủ động phòng tránh lũ lụt, thiên tai năm 2012.
b) Về phát triển công nghiệp - xây dựng:
Nắm chắc tình hình hoạt động, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện để các dự án dự án đầu tư hạ tầng có quy mô lớn, chế biến nông sản, kho vận, kho chứa lương thực sớm triển khai, đi vào hoạt động. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư, thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, ít gây ô nhiễm môi trường.
Kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ các ngành, địa phương giải quyết kịp thời các vướng mắc trong đầu tư xây dựng; xử lý kiên quyết, kịp thời đối với các dự án chậm triển khai do chủ đầu tư không có khả năng tài chính. Giải quyết tốt công tác tái định cư, ổn định cuộc sống người dân.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch đảm bảo phát triển ngành công nghiệp toàn diện, hài hòa, đúng định hướng. Xây dựng đề án xây dựng nhà ở cho công nhân và hệ thống hạ tầng xã hội phục vụ người lao động ở các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước để phục vụ phát triển công nghiệp.
Thực hiện Đề án khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp để khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, làng nghề, sử dụng lao động tại chỗ, áp dụng công nghệ tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu và năng lượng.
Triển khai kế hoạch Chương trình thực hiện việc đầu tư, nâng cấp các đô thị của tỉnh theo Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh.
c) Phát triển thương mại, dịch vụ:
Đổi mới và nâng cao hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
Thực hiện nghiêm công tác chống buôn lậu và quản lý thị trường, giá cả.
Triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển khu vực dịch vụ. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các siêu thị, trung tâm thương mại, các loại hình dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính ngân hàng, tư vấn, thiết kế, khoa học công nghệ, dịch vụ du lịch, cảng …..tiến hành lập dự án kêu gọi đầu tư trung tâm logistic tại khu vực Cảng Long An và khu vực gần điểm giao của đường Vành Đai 4 và đường cao tốc TP. HCM - Trung Lương nhằm tăng cường vai trò đầu mối của tỉnh với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Triển khai lập quy hoạch xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Long An.
d) Phát triển doanh nghiệp:
Tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định, thủ tục hành chính theo hướng tạo mọi điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp. Hoàn thành cổ phần hóa 4 doanh nghiệp còn lại; thực hiện tốt công tác hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm để tiếp tục tập trung chỉ đạo, khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn.
e) Định hướng đầu tư phát triển, thu chi ngân sách:
Xây dựng các giải pháp khả thi, phù hợp để tập trung các nguồn lực, lồng ghép thực hiện các chương trình đột phá (trong đó có cả Chương trình Tam nông) và các công trình trọng điểm của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015.
Triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn số 7356/BKHĐT-TH ngày 28/10/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo nguyên tắc ưu tiên bố trí vốn cho thanh toán khối lượng các công trình đã hoàn thành, đủ đối ứng cho các dự án ODA; tập trung vốn cho các công trình, dự án chuyển tiếp hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2012, các dự án quan trọng nhằm phát huy hiệu quả đầu tư. Hạn chế tối đa việc bố trí vốn cho các công trình, dự án khởi công mới chưa thật sự cấp bách.
Xây dựng các biện pháp đồng bộ để thực hiện tốt dự toán ngân sách năm 2012, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời, khai thác có hiệu quả mọi nguồn thu phát sinh trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách tài chính công, chống lãng phí, tiêu cực, bảo đảm thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về quản lý tài chính, ngân sách.
Sử dụng ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả dự toán được giao; phấn đấu tăng thu để tăng chi, ưu tiên chi đầu tư phát triển. Thực hiện tốt mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trong năm 2012. Xây dựng và triển khai thực hiện các cơ chế: cơ chế tài chính hợp lý để thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh về xây dựng và phát triển thành phố Tân An đến năm 2020; cơ chế khuyến khích các địa phương vượt thu tiền sử dụng đất trên địa bàn mình.
3. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội
a) Khoa học và công nghệ:
Thực hiện gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Trọng dụng và phát huy tài năng cán bộ khoa học và công nghệ; phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao trong các doanh nghiệp.
Triển khai các chương trình đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Tập trung xây dựng và triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ tại vùng nông thôn.
b) Giáo dục và đào tạo:
Triển khai Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2030; thực hiện Đề án Đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015; thực hiện Đề án Phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2011 - 2015…
Hoàn thành chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012. Tiếp tục triển khai đầu tư Đề án xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 theo lộ trình.
Triển khai có hiệu quả Chiến lược dạy nghề giai đoạn 2011-2020; phát triển các hình thức dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa trong giáo dục đào tạo và dạy nghề, khuyến khích phát triển các hình thức liên kết giữa cơ sở sử dụng lao động và cơ sở đào tạo.
c) Về công tác dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, tăng cường giám sát dịch tể không để các bệnh dịch nguy hiểm xảy ra, giám sát và phòng, chống có hiệu quả bệnh tay, chân, miệng. Đẩy mạnh hoạt động vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong trường học, bệnh viện, doanh nghiệp; tăng cường thanh tra, kiểm soát, hạn chế thấp nhất vi phạm.
Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời xã hội hóa một số dự án trong lĩnh vực y tế, phấn đấu đạt tỷ lệ 20 giường/vạn dân (hiện nay 18 giường/vạn dân). Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh 0,2‰ và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Đẩy mạnh thực hiện mô hình xã, phường không có người sinh con thứ ba trở lên và giảm số người sinh con thứ ba 0,4%.
Thực hiện Đề án BHYT toàn dân đến năm 2014, tăng tỷ lệ người có bảo hiểm y tế đạt 70%; Thực hiện Đề án Đào tạo nguồn nhân lực y tế, đạt tỷ lệ 4,8 bác sĩ/vạn dân (hiện nay 4,5 bác sĩ/vạn dân). Duy trì thực hiện Đề án 1816 tăng cường cán bộ giúp tuyến dưới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Chú ý giáo dục nâng cao y đức và thái độ phục vụ của cán bộ y tế, đấu tranh đẩy lùi, các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ y tế tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh.
d) Về lao động, thương binh, xã hội:
Lồng ghép việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 và chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2011-2015 để thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển đồng bộ nguồn nhân lực - giải quyết việc làm - giảm nghèo của tỉnh.
Kiểm tra nâng cao hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với đẩy mạnh đào tạo nghề; thực hiện đề án quy hoạch mạng lưới các Trường cao đẳng nghề, Trường trung cấp nghề và Trung tâm dạy nghề tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2020.
Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để đảm bảo an sinh xã hội như: bảo hiểm y tế, bảo trợ xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,…
Triển khai Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020. Tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tập trung thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên giai đoạn 2011-2020 nhằm xây dựng môi trường phát triển toàn diện cho thanh niên đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Tiếp tục thực hiện các Chương trình, đề án bảo vệ, phát triển trẻ em; thực hiện Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011-2020; Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011- 2015.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp, thường xuyên quan hệ phối hợp, theo dõi sát thực hiện để kịp thời ngăn chặn đình công, lãn công.
e) Phát triển văn hóa, thể dục thể thao, thông tin và truyền thông:
Triển khai thực hiện chiến lược văn hóa, gắn kết chặt chẽ phát triển văn hoá với phát triển kinh tế. Nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Làm tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc. Khuyến khích sáng tạo các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức, lối sống lành mạnh trong gia đình.
Thực hiện đề án xây dựng Huyện điểm điển hình về văn hóa - huyện Cần Đước. Tổ chức phúc tra công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa theo kế hoạch đề ra. Triển khai cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" để thu hút đông đảo lực lượng xã hội tham gia. Quản lý các lễ hội, hoạt động văn hoá, thể thao, bảo đảm tiết kiệm, an ninh trật tự xã hội.
Triển khai và hướng dẫn các đơn vị thực hiện các dự án ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh, trọng tâm là dự án “Ứng dụng CNTT để thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, giai đoạn 2 (2012-2015)” và dự án “Triển khai phần mềm quản lý văn bản, điều hành tác nghiệp tại các cơ quan nhà nước của tỉnh”.
Thực hiện Kế hoạch số 1324/KH-UBND ngày 05/5/2011 của UBND tỉnh triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở vùng sâu, vùng xa, biên giới trên địa bàn tỉnh Long An, giai đoạn 2012-2015. Tăng cường quản lý, kiểm tra, chấn chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, quảng cáo, ... theo đúng quy định của pháp luật.
4. Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Triển khai Chương trình khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; xây dựng và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường; tập trung thanh tra, kiểm tra, xử lý, bảo vệ môi trường bền vững, giải quyết triệt để các "điểm đen", "điểm nóng" về môi trường.
Kiểm tra, hướng dẫn, bảo đảm 100% khu, cụm công nghiệp xây dựng xong hệ thống nước thải tập trung; kiên quyết thực hiện chủ trương: không có hệ thống nước thải tập trung thì không cho hoạt động trong khu, cụm công nghiệp; đưa khu xử lý rác thải huyện Thạnh Hóa đi vào hoạt động, đồng thời đóng cửa khu xử lý rác tại xã Lợi Bình Nhơn.
5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 30C/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 trên địa bàn tỉnh.Thực hiện nghiêm công tác kiểm soát thủ tục hành chính và nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
Tiếp tục cải cách công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Tổ chức hoạt động có hiệu quả Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng của tỉnh. Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra; nâng cao ý thức trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ và công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm...; giải quyết công tác khiếu nại, tố cáo của công dân, không để điểm nóng xảy ra.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ trương của Tỉnh ủy và Thủ tướng Chính phủ quy định tại Chỉ thị số 1973/CT-TTg ngày 07/11/2011.
6. Tăng cường công tác quốc phòng, an ninh, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc
Thực hiện hiệu quả chương trình quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong tình hình mới; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh; thực hiện tốt hơn công tác phân giới cắm mốc, quản lý tốt lao động nhập cư (kể cả Việt kiều Campuchia trở về tỉnh).
Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc như kiếm chế và giảm tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội; thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tội phạm; có giải pháp giải quyết tình trạng sang biên giới đánh bạc, buôn lậu...; thực hiện đồng bộ các giải pháp để hạn chế thấp nhất tình trạng đình công, lãn công trên địa bàn tỉnh.
Báo cáo này thay thế Báo cáo số 3821/BC-UBND ngày 11/11/2011 của UBND tỉnh./.
Lượt người xem:   5136
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​