Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 09:00
Về đánh giá thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009
05/01/2015
Theo báo cáo số 6806/BC-UBND ngày 14 tháng 11 năm 2008: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 được triển khai thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế cả nước gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn, có những yếu tố vượt dự báo chung như giá cả nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư tăng cao làm gia tăng lạm phát trong những tháng đầu năm và xảy ra các cơn sốt hàng hoá; giá đầu vào không ổn định, lãi suất ngân hàng tăng cao và hạn mức tín dụng thấp, tỷ giá ngoại hối biến động bất thường làm cho sản xuất trong nước gặp khó khăn, thị trường bất động sản trầm lắng, việc giải ngân vốn đầu tư chậm, hoạt động xuất nhập khẩu bị hạn chế; dịch bệnh gia cầm, gia súc tái phát; tình trạng đình công của công nhân có xu hướng tăng cùng với sự gia tăng lạm phát… Tuy nhiên, cũng có nhiều yếu tố tích cực, thuận lợi: tình hình chính trị, xã hội cơ bản ổn định; sản xuất lương thực thời gian đầu tương đối thuận lợi về thời tiết và giá tiêu thụ; vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới tiếp tục tăng theo xu hướng chung của cả nước.
Trong bối cảnh trên, thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức việc phân giao kế hoạch cho các đơn vị cơ sở đúng tiến độ; triển khai đồng bộ và quyết liệt 8 nhóm giải pháp theo chỉ đạo của Chính phủ và chủ trương của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; tăng cường quản lý các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhằm đẩy nhanh tiến độ, sắp xếp lại các dự án thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; lập lại trật tự trong lĩnh vực quản lý qui hoạch; tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản. Thành tựu đạt được: kinh tế vẫn tiếp tục đà tăng trưởng và duy trì được tốc độ tăng trưởng cao; khu vực sản xuất nông nghiệp có xu hướng tăng, khu vực công nghiệp, xây dựng và một số chỉ tiêu chủ yếu đạt xấp xỉ so với cùng kỳ năm trước; môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, thông thoáng hơn, tình hình thu hút đầu tư trong và ngoài nước tiếp tục đạt kết quả khả quan; các hoạt động văn hóa xã hội tiếp tục có nhiều tiến bộ; quốc phòng an ninh, an sinh xã hội, an toàn giao thông tiếp tục chuyển biến tích cực, góp phần ổn định chính trị, xã hội địa phương.
UBND tỉnh đánh giá tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2008 như sau:
I. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2008:
1. Tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2008 ước 14,3-14,5%, đạt kế hoạch đề ra (14,0-14,5%), cao hơn mức tăng trưởng năm trước (13,5%), GDP bình quân đầu người đạt 17,38 triệu đồng (kế hoạch 14 triệu đồng). Thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế năm 2008 là sự tăng trưởng khá cao của khu vực sản xuất nông nghiệp, đạt 5,7% (kế hoạch: 4,5%). Nguyên nhân chính là do sự gia tăng sản lượng lương thực. Khu vực sản xuất công nghiệp – xây dựng và thương mại dịch vụ vẫn duy trì ở mức cao và hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch do mức độ ảnh hưởng của lạm phát chính sách vĩ mô kiềm chế lạm phát ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp và dịch vụ của tỉnh trong những tháng đầu năm không lớn và đang có xu hướng ổn định, tích cực đã tạo tâm lý khá tốt trong sản xuất và tiêu dùng trong các tháng còn lại; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn duy trì mức tăng trưởng cao do phần lớn là xuất xứ từ các nước Châu Á nên ít bị tác động của tình hình lạm phát trong nước cũng như khủng hoảng kinh tế, tài chính của Mỹ và các nước Châu Âu hiện nay. Đồng thời, UBND tỉnh tăng cường các giải pháp để nâng cao tăng trưởng của khu vực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu theo hướng tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, vận động các doanh nghiệp gia tăng sản lượng, mở rộng thị trường, hỗ trợ tín dụng.
Cơ cấu kinh tế năm 2008 tăng ở khu vực I (chiếm 38,8%, tăng 2,1% so với năm 2007) và giảm ở các khu vực II (chiếm 32,6%, giảm 0,4%), khu vực III (chiếm 28,6%, giảm 1,7%). Tuy đạt kế hoạch về tốc độ tăng trưởng nhưng cơ cấu kinh tế dịch chuyển ngược chiều. Nguyên nhân chính là do sự gia tăng nhanh về sản lượng nông nghiệp và biến động giá nông sản tăng mạnh hơn giá sản phẩm công nghiệp.
2. Kết quả thực hiện trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu:
2.1. Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): Ước cả năm đạt tăng trưởng 5,7%, vượt so với kế hoạch 1,2%. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt mức tăng 10,3%, chủ yếu do sản lượng lúa tăng (tăng 11,7% so với cùng kỳ). Mức tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 0,9%). Riêng giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản giảm mạnh (giảm 12,1%) do giá nguyên liệu đầu vào của ngành thủy sản tăng cao đồng thời giá một số loại thủy sản giảm mạnh. Cụ thể:
- Trồng trọt: do thời tiết, giá cả đầu năm tương đối thuận lợi nên diện tích gieo trồng tăng (tăng 28.624 ha lúa so với năm 2007) và cùng với việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cây lúa nên sản xuất lúa năm 2008 đạt 2,178 triệu tấn, vượt kế hoạch 14,2%. Các sản phẩm chủ yếu khác hầu hết đều tăng so với cùng kỳ: bắp tăng 3,7%, mía tăng 2,3%, dưa hấu tăng 3,5%, thanh long tăng 24%,… Riêng đay giảm 76,7% do Nhà máy Bột giấy Phương Nam chưa đi vào hoạt động, nông dân chưa yên tâm sản xuất.
- Chăn nuôi: dịch cúm gia cầm cơ bản được khống chế, đàn gia cầm tăng 28,7%; đàn bò tăng 3,3%. Riêng đàn heo do ảnh hưởng của dịch bệnh tai xanh ở các vùng lân cận, thiếu con giống.
- Nuôi trồng thuỷ sản gặp rất nhiều khó khăn. Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 9.683 ha, giảm 23,1% so với năm 2007. Diện tích nuôi tôm sú 6.104 ha giảm 32,8%; sản lượng ước đạt 5.136 tấn, giảm 24,5% so cùng kỳ.
Nhìn chung năm 2008 khu vực I tăng trưởng khá cao nhưng còn những khó khăn như: giá vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi, thủy sản tăng cao trong khi đó giá nông sản không ổn định, thị trường bấp bênh, tồn đọng sản lượng hàng hoá (lúa) nên hiệu quả sản xuất không cao, gây thiệt hại cho nông dân; nguy cơ thiên tai, dịch bệnh cao; các thách thức hậu gia nhập WTO, nhất là kỹ thuật đầu tư thâm canh ngày càng lớn;
- Thực hiện Chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ tiến độ vẫn còn chậm: đến tháng 11/2008 số hộ bình xét 25.813 hộ, giao nền: 20.433 hộ đạt tỷ lệ 62,3% so với quy mô; vào ở rất thấp mới đạt 9.988 hộ, chỉ đạt gần 50% kế hoạch năm (kế hoạch 20.000 hộ).
2.2. Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II) tăng trưởng cả năm ước 25,7-26% vượt mức kế hoạch đề ra (đạt 25,0-25,5%). Mức tăng của khu vực này chủ yếu là do sự đóng góp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng khoảng 65%. Đa số sản phẩm công nghiệp chủ yếu duy trì được mức tăng trưởng khá cao so cùng kỳ. Kết quả trên một phần do những tháng cuối năm UBND tỉnh tập trung lãnh đạo thực hiện rà soát các dự án đầu tư, tăng cường hậu kiểm đối với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đầu tư; tổ chức các đoàn làm việc, động viên và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài có qui mô lớn, thuộc các ngành chủ lực của tỉnh và có khả năng tăng sản lượng, giá trị sản xuất nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp để hoàn thành kế hoạch chung của tỉnh.
Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp, xây dựng đang gặp một số khó khăn do ảnh hưởng của lạm phát trong nước và khủng hoảng tài chính bên ngoài, nhất là đối với các doanh nghiệp trong nước có qui mô đầu tư nhỏ và vừa (chiếm đa số), doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phải nhập khẩu nguyên, vật liệu...; thị trường hàng hoá, bất động sản, chứng khoán không ổn định, ảnh hưởng không tích cực đến đầu tư và sản xuất; tiến độ triển khai của các dự án... Trong những tháng cuối năm UBND tỉnh chỉ đạo các ngành tập trung rà soát 139 dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, qua đó giúp doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đồng thời kiên quyết thu hồi các dự án đầu tư kéo dài do nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.
- Về tình hình sử dụng đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp: thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng qui định, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hạn chế việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa nước. Việc sử dụng đất cho phát triển khu, cụm công nghiệp chủ yếu là đất nhiễm mặn, nhiễm phèn, sản xuất nông nghiệp năng suất thấp, bấp bênh. Toàn tỉnh hiện có 18 khu công nghiệp với tổng diện tích 7.719 ha và 43 cụm công nghiệp với tổng diện tích 6.350 ha. Đến nay, có 10 khu công nghiệp đã được UBND tỉnh giao đất và cho thuê đất với diện tích là 2.519 ha; 13 cụm công nghiệp đã được UBND tỉnh giao đất và cho thuê đất với diện tích 1.128 ha. Diện tích đã giao và cho thuê trong các khu, cụm công nghiệp đến nay là 3.648 ha, với tỷ lệ lấp đầy 34,6%.
Lũy kế đến nay diện tích đã được giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong và ngoài khu, cụm công nghiệp đối với 1.259 dự án đầu tư là 7.668 ha, chiếm tỷ trọng 53%.
2.3. Khu vực thương mại-dịch vụ (khu vực III): Dự kiến tuy có mức tăng trưởng khá, nhưng không đạt kế hoạch đề ra (11,2%-11,5%/KH 12%-12,5%), tương đương so cùng kỳ (năm 2007 tăng 11,2%). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tăng 3,8% so với kế hoạch, tăng 27,8% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 tăng 3% so với kế hoạch, tăng 30,2% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu năm 2008 tăng 36,6% so với kế hoạch, tăng 15,4% so với cùng kỳ. Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường được triển khai thực hiện thường xuyên, nhưng có nơi, có lúc còn chưa chặt chẽ để xảy tình trạng không kiểm soát được tình hình giá cả thị trường một số mặt hàng thiết yếu trên địa bàn (sốt giá gạo), gian lận thương mại; tình hình buôn lậu trên địa bàn tỉnh còn diễn biến phức tạp. Vì vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo tập trung lãnh đạo thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xuất khẩu, mở rộng thị trường nội địa và nội khối ASEAN cùng với thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường xuất khẩu; đề xuất với Chính phủ các giải pháp giá cả thu mua, xuất khẩu, dự trữ lương thực để tiêu thụ hết sản lượng lúa, gạo hàng hóa trong dân. Tăng cường quản lý, phân công rõ trách nhiệm từng ngành, huyện thị trong công tác kiểm soát chặt chẽ thị trường hàng hóa, ổn định giá cả, tập trung chống buôn lậu và gian lận thương mại, phát huy giám sát của nhân dân trong công tác quản lý thị trường.
Dự kiến tuy có mức tăng trưởng khá, nhưng không đạt kế hoạch đề ra (11,2%-11,5%/KH 12%-12,5%), tương đương so cùng kỳ (năm 2007 tăng 11,2%). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tăng 3,8% so với kế hoạch, tăng 27,8% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 tăng 3% so với kế hoạch, tăng 30,2% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu năm 2008 tăng 36,6% so với kế hoạch, tăng 15,4% so với cùng kỳ. Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường được triển khai thực hiện thường xuyên, nhưng có nơi, có lúc còn chưa chặt chẽ để xảy tình trạng không kiểm soát được tình hình giá cả thị trường một số mặt hàng thiết yếu trên địa bàn (sốt giá gạo), gian lận thương mại; tình hình buôn lậu trên địa bàn tỉnh còn diễn biến phức tạp. Vì vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo tập trung lãnh đạo thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xuất khẩu, mở rộng thị trường nội địa và nội khối ASEAN cùng với thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường xuất khẩu; đề xuất với Chính phủ các giải pháp giá cả thu mua, xuất khẩu, dự trữ lương thực để tiêu thụ hết sản lượng lúa, gạo hàng hóa trong dân. Tăng cường quản lý, phân công rõ trách nhiệm từng ngành, huyện thị trong công tác kiểm soát chặt chẽ thị trường hàng hóa, ổn định giá cả, tập trung chống buôn lậu và gian lận thương mại, phát huy giám sát của nhân dân trong công tác quản lý thị trường.
2.4. Về đầu tư phát triển: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2008 ước thực hiện bằng 45,5% GDP (giá hiện hành). Nguồn vốn đầu tư phát triển đã được bố trí tập trung hơn, từng bước khắc phục tình trạng phân tán, dàn trải của những năm trước. Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch, sắp xếp lại các dự án đầu tư và phân bổ vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước được thực hiện một cách hợp lý hơn, tập trung vốn cho các công trình trọng điểm theo tiến độ, các dự án có thể hoàn thành trong năm, các dự án chuyển tiếp có đủ điều kiện thuận lợi, hạn chế dự án khởi công mới, rà soát dừng khởi công mới hoặc giãn tiến độ đối với các dự án chưa hoàn thành hồ sơ thủ tục, chưa giải phóng mặt bằng, chưa cấp bách, cụ thể:
- Tổng vốn đầu tư phát triển của kế hoạch vốn xây dựng cơ bản năm 2008 là 1.065 tỷ đồng, trong đó phần tỉnh quản lý là 680 tỷ đồng; huyện quản lý 224 tỷ đồng. Đến tháng 9/2008, khối lượng thực hiện được 712 tỷ đồng, đạt 66,24% so với kế hoạch; cấp phát được 601 tỷ đồng, đạt 56,4% kế hoạch. Ước thực hiện cả năm khối lượng và cấp phát đạt 100% KH. Thực hiện các giải pháp góp phần kiềm chế lạm phát, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, các chủ đầu tư thuộc sở, ngành tỉnh và các huyện, thị thực hiện đình, hoãn, giãn tiến độ các công trình xây dựng cơ bản theo tiêu chí, cụ thể đình hoãn khởi công và giản tiến độ 145 công trình, dự án, giá trị 119,4 tỷ đồng, bằng 16,5% tổng vốn thực hiện dự án.
Theo tiến độ đạt được hiện nay, hầu hết các công trình xây dựng cơ bản đều rất chậm, kể cả các công trình trọng điểm. Do những nguyên nhân chính sau đây:
- Về khách quan: tình hình tăng giảm giá vật tư, nhiên liệu khá phức tạp; Việc hướng dẫn, xử lý của các ngành chức năng Trung ương còn chậm, còn chồng chéo; tình hình nhân lực cho các dự án xây dựng khan hiếm; năng lực của các đơn vị tư vấn lập dự án và thiết kế tại địa phương không đáp ứng yêu cầu.
- Về chủ quan: một số chủ đầu tư vẫn chưa phát huy vai trò trách nhiệm; phối hợp giữa ngành, địa phương chưa chặt chẽ; một số dự án đã đấu thầu nhưng khi tiến hành thi công vẫn còn bị vướng giải phóng mặt bằng.
Trong những tháng cuối năm, UBND tỉnh đã tiến hành rà soát các dự án đầu tư xây dựng cơ bản nhằm thắt chặt chi tiêu công theo các tiêu chí trong giải pháp chống lạm phát của Chính phủ; tăng cường cải cách thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, phát huy vai trò trách nhiệm của chủ đầu tư; kiến nghị trung ương cho áp dụng các hình thức đấu thầu thuận lợi cho việc triển khai các dự án về y tế, giáo dục bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ.
- Thu hút đầu tư trong và ngoài nước tiếp tục đạt kết quả khả quan, nhất là các doanh nghiệp trong nước:
Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong nước năm 2008 được 750 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 26.450 tỷ đồng; lũy kế đến cuối năm 2008 có 4.276 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 46.013 tỷ đồng. Ngoài ra, đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 33 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 4.500 tỷ đồng.
Dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng: Năm 2008, cấp mới 70 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (bằng số dự án so với cùng kỳ) với vốn đầu tư gần 1.000 triệu USD (tăng 205 triệu USD so cùng kỳ). Lũy kế đến cuối năm 2008 đã cấp chứng nhận đầu tư 267 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.966 triệu USD; đến nay có 117 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 1.026 triệu USD.
Tuy nhiên, hiệu quả thu hút đầu tư chưa cao do công tác quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, quản lý tiến độ triển khai của các dự án vẫn còn hạn chế,... Khắc phục tình trạng trên, trong những tháng cuối năm UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo thực hiện những giải pháp: hoàn chỉnh nhiệm vụ bổ sung, điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và các huyện vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh; tiến hành qui hoạch vùng ở một số địa bàn thuộc các huyện Cần Giuộc, Đức Hòa, Cần Đước..., rà soát triển khai công tác qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai làm cơ sở cho việc rà soát qui hoạch các khu, cụm công nghiệp, dân cư, đô thị; tăng cường kêu gọi đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.
- Công tác xúc tiến đầu tư được đổi mới và nâng cao hiệu quả. Trong năm, tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện xúc tiến đầu tư trong nước và ngoài nước; chuyển nội dung từ quảng bá hình ảnh sang mời gọi đầu tư bằng danh mục cụ thể và tiếp cận với các nhà đầu tư tiềm năng cụ thể. Đồng thời đã thực hiện đánh giá nền kinh tế của tỉnh sau một năm gia nhập WTO cùng với triển khai kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh; tham gia tích cực vào các hội thảo về xúc tiến đầu tư ở một số địa phương khác trong khuôn khổ hợp tác khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Qua đó tỉnh đã ký kết được một số biên bản ghi nhớ đầu tư với các đối tác, đặc biệt là với Tập đoàn Viễn thông Việt Nam về phát triển hạ tầng viễn thông trên địa bàn tỉnh; với các nhà đầu tư Hàn Quốc để nghiên cứu xây dựng các đề án về điều chỉnh qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, xây dựng khu hành chính mới, dự án chế biến các sản phẩm từ cây tràm, cấp nước sạch phục vụ dân cư, công nghiệp, xử lý nước thải thị xã Tân An...
Về công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước: cơ bản ngành tài chính đã thẩm định xong giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp cổ phần hóa năm 2008, nhưng còn khó khăn bất hợp lý trong việc xác định giá trị lợi thế vị trí địa lý áp dụng đối với doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức thuê đất (vì các doanh nghiệp cổ phần hóa đều là doanh nghiệp hoạt động công ích), tỉnh đã có kiến nghị Bộ Tài chính về vấn đề này và đang chờ ý kiến của Bộ Tài chính. Nhìn chung, tiến độ thực hiện cổ phần hóa còn chậm so với lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp năm 2008 đã đặt ra vì lý do khách quan trên.
2.5. Hoạt động quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Ước thu ngân sách nhà nước năm 2008 đạt 2.028 tỷ đồng (tăng 16,7% so với cùng kỳ); vượt 23,5% dự toán tỉnh giao (chưa kể thu xổ số kiến thiết 350 tỷ đồng, vượt dự toán 20,7%). Hầu hết các khoản thu đều vượt dự toán.
Ước chi ngân sách địa phương năm 2008 đạt 2.529 tỷ đồng (tăng 10,5% so với cùng kỳ); vượt 14,3% dự toán tỉnh giao.
Ngoài việc thực hiện tiết kiệm 10% tổng chi thường xuyên theo quy định ngay từ đầu năm để làm lương, còn thực hiện tiết kiệm thêm 10% tổng chi thường xuyên 8 tháng cuối năm 2008 theo chủ trương của Chính phủ để góp phần kiềm chế lạm phát.
Thu ngân sách nhà nước vượt dự toán được duyệt để tăng chi cho con người, bảo đảm an sinh xã hội và bổ sung vào nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển. Tiếp tục thắt chặt chi tiêu công, thực hiện kiên quyết chủ trương tiết kiệm 10% chi thường xuyên.
3. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực; phần lớn các chỉ tiêu văn hoá – xã hội đều đạt kế hoạch.
Qui mô giáo dục và cơ sở trường học phát triển qua thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “hai không” và tổ chức nhiều hoạt động nhằm phục vụ mục tiêu đổi mới phương pháp giảng dạy, góp phần làm cho chất lượng giáo dục ngày được nâng cao. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúnh độ tuổi được giữ vững và đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS vào thời điểm tháng 12/2007, tuy nhiên tỷ lệ học sinh bỏ học còn khá cao. Xây dựng trường chuẩn chậm chủ yếu do khó khăn về đất, đến nay có 54 trường đạt chuẩn quốc gia.
Về lĩnh vực y tế, các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về y tế thực hiện tốt, đảm bảo tiến độ; công tác y tế dự phòng được duy trì, không để dịch bệnh lớn xảy ra; cố gắng mở rộng hoạt động khám chữa bệnh và cơ bản đáp ứng nhu cầu, hạn chế dần tình trạng quá tải. Dự kiến 85% xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, tỷ lệ xã có bác sĩ đạt 89,2% (KH 90%), duy trì 100% xã có y sĩ hoặc nữ hộ sinh gắn với củng cố mạng lưới y tế ấp. Tập trung đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án về dân số, gia đình, trẻ em, đặc biệt là mở rộng chiến dịch truyền thông dân số và CSSKSS/KHHGĐ đến tận vùng sâu, vùng xa. Làm tốt việc huy động Quỹ bảo trợ trẻ em, giáo dục, giúp đỡ trẻ em khó khăn và khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn dưới 17%, vượt kế hoạch đề ra (số liệu điều tra mới đầu năm 2008 là 17,4%). Tỷ lệ giảm sinh không đạt kế hoạch, tăng 0,6%o.
Ngành văn hóa thông tin, thể thao, phát thanh truyền hình tổ chức nhiều hoạt động đa dạng, phong phú thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của điạ phương; Phong trào xây dựng đời sống văn hóa được các địa phương quan tâm thực hiện, thường xuyên kiểm tra, củng cố nên có chuyển biến góp phần kiềm chế tệ nạn xã hội, tạo môi trường xã hội ngày càng tốt hơn. Xây dựng Trung tâm văn hóa thể thao cấp xã chậm so kế hoạch. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động dịch vụ internet, băng đĩa hình có nội dung xấu, tập trung trong thanh niên và nhà trường. Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển rộng rãi. Số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt kế hoạch đề ra 20%, số hộ gia đình thể thao đạt kế hoạch 15%.
Tập trung thực hiện có kết quả chương trình giải quyết việc làm - giảm nghèo, đào tạo nghề; giải quyết việc làm cho 35.000 lao động (đạt 100% KH), giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 6,7% xuống còn dưới 5,2%, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 36% (KH 34%), đang tiến hành điều tra hộ nghèo theo tiêu chí mới để thực hiện vào năm 2009.
Thực hiện đầy đủ và kịp thời các chế độ đối với đối tượng chính sách. Tổ chức thành công kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ, thăm tặng quà cho các đối tượng chính sách, đẩy mạnh huy động quỹ Đền ơn đáp nghĩa, nhà tình thương...
Triển khai kế hoạch tìm kiếm cất bốc hồi hương hài cốt quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở Cam pu chia giai đoạn VII (2007-2008).
4. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng an ninh; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định.
Triển khai thực hiện tốt công tác nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2008, trong đó thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm như tuyển quân, tuyển sinh quân sự, chiêu sinh đào tạo bổ túc sĩ quan dự bị, huy động huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng động viên năm 2008. Hoàn thành công tác gọi thanh niên nhập ngũ năm 2008, giao quân đạt 100% chỉ tiêu với chất lượng tốt (đảng viên 3,8%, đoàn viên 96,2%, tình nguyện 10,13%); thực hiện tốt công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng…
Triển khai thực hiện tốt công tác nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2008, trong đó thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm như tuyển quân, tuyển sinh quân sự, chiêu sinh đào tạo bổ túc sĩ quan dự bị, huy động huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng động viên năm 2008. Hoàn thành công tác gọi thanh niên nhập ngũ năm 2008, giao quân đạt 100% chỉ tiêu với chất lượng tốt (đảng viên 3,8%, đoàn viên 96,2%, tình nguyện 10,13%); thực hiện tốt công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng…
Công tác quốc phòng, an ninh biên giới ổn định; tổ chức sơ kết 20 năm thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân”; triển khai thực hiện công tác phân giới căm mốc theo kế hoạch và đã tổ chức lễ khởi công xây dựng cột mốc biên giới.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có nhiều tiến bộ; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, công tác thanh kiểm tra có nhiều tiến bộ.
5. Xây dựng bộ máy chính quyền; thực hiện cải cách hành chính, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm:
- Triển khai thực hiện Nghị định số 13, 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp lại tổ chức bộ máy các sở ngành cấp tỉnh và phòng ban chuyên môn cấp huyện theo cơ cấu mới, hoàn thành đúng thời hạn quy định. Giao chỉ tiêu biên chế hành chính và biên chế công chức dự bị năm 2008 cho các sở ngành, huyện, thị xã.
- Tiếp tục triển khai kế hoạch cải cách hành chính năm 2008, tăng cường kiểm tra công tác cải cách thủ tục hành chính ở các ngành, các cấp, kiểm tra, chấn chỉnh việc thực hiện cơ chế một cửa và triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh, thực hiện tốt quy định làm việc vào ngày thứ Bảy.
- Triển khai kế hoạch phòng chống tham nhũng 2008, tiến hành 07 cuộc thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại 03 Sở và 04 huyện, thị xã. Qua thanh tra đã chấn chỉnh các cơ quan, đơn vị khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng.
Tổ chức 92 cuộc thanh tra về kinh tế-xã hội, phát hiện 04 vụ có dấu hiệu tham nhũng với số tiền là 268.310.000 đồng và 31.633m2 nông nghiệp, đã thu hồi nộp ngân sách số tiền 263.810.000 đồng và 31.633m2 đất, thu hồi hoàn trả lại cho người dân 4.500.000đồng, đã xử lý cảnh cáo 01 người, chuyển cơ quan điều tra 03 vụ. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng: khởi tố mới trong năm 06 vụ với 10 bị can. Đã kết thúc điều tra, truy tố 03 vụ với 6 bị can. Tổng số tiền sai phạm là 1.188.342.000đ, đã thu hồi cho nhà nước là 999.099.000đ.
UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập. Kết quả có 444 cơ quan, tổ chức, đơn vị với 3.244 cán bộ, công chức, viên chức đã kê khai tài sản thu nhập, trong đó đối tượng thuộc cấp ủy quản lý là 1.070 người.
Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng tỉnh và Bộ phận giúp việc đã được củng cố ổn định về mặt tổ chức, đã ban hành quy chế và đề ra kế hoạch hoạt động, tham mưu Tỉnh ủy thành lập Đoàn kiểm tra thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
UBND tỉnh đã chỉ đạo tiếp tục triển khai mạnh mẽ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu trong toàn bộ máy nhà nước từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn; chỉ đạo các ngành, các cấp sơ kết 2 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đồng thời nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, tập trung hoàn chỉnh cơ chế một cửa liên thông trong thủ tục hành chính về xây dựng, đất đai, tư pháp... đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực gắn với việc xác lập các qui trình phối hợp thống nhất giữa các ngành, các cấp (riêng quy định về thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, đăng ký thuế và cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu trên địa bàn tỉnh Long An đã được UBND tỉnh Quyết định ban hành). Tăng cường công tác thanh tra công vụ; triển khai thực hiện các nội dung kết luận công tác thanh tra, kiểm tra...
Kiểm tra, chấn chỉnh công việc trọng tâm của các ngành, địa phương, tăng cường kỷ cương, trách nhiệm, lề lối làm việc để thực hiện nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành của các ngành, UBND các huyện, thị xã. Chuẩn bị nội dung sơ kết, tổng kết công tác quan hệ, phối hợp hoạt động giữa UBND tỉnh với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các Đoàn thể.
II. Nhận xét, đánh giá chung:
Trong điều kiện có nhiều khó khăn do ảnh hưởng của lạm phát, các ngành các cấp trong tỉnh đã thể hiện quyết tâm hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, không điều chỉnh chỉ tiêu và đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch, như: lĩnh vực sản xuất lương thực, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên mức tăng trưởng này chỉ phản ánh sự biến đổi về lượng, chất lượng tăng trưởng chưa cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế không theo định hướng; sản xuất nông nghiệp được mùa nhưng hiệu quả không cao; đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều vướng mắc, khối lượng thực hiện và giải ngân đạt thấp; trật tự trong thu hút đầu tư được tăng cường, chấn chỉnh nhưng còn phải tiếp tục xử lý tồn tại như: công tác qui hoạch, quản lý thực hiện qui hoạch; rà soát, kiểm tra thúc đẩy tiến độ đầu tư…; giá cả, thị trường biến động cao làm cho đời sống nhân dân gặp khó khăn; tình hình đình công và lãn công, khiếu kiện đông người vẫn tiếp diễn; hoạt động chỉ đạo điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước tuy có tiến bộ nhưng chưa đáp ứng yêu cầu.
Nguyên nhân:
- Khách quan: do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh; vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng; những khó khăn chung của nền kinh tế vượt dự báo chung.
- Chủ quan:
Sự quản lý điều hành của UBND các cấp có mặt hạn chế. Vai trò trách nhiệm người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao, chậm đổi mới, chưa khoa học, tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn dàn trải không có trọng tâm, trọng điểm; thiếu chủ động, sáng tạo, không kiên quyết thực hiện nhiệm vụ giao.
Công tác phối hợp giữa các ngành, giữa ngành với địa phương chưa chặt chẽ và đồng bộ, còn đùn đẩy trách nhiệm, chậm xử lý các khó khăn vướng mắc phát sinh, tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng, thu hút đầu tư, công tác đưa dân vào ở trọng cụm tuyến dân cư, công tác cải cách thủ tục hành chánh, các vấn đề xã hội phát sinh…
Còn một bộ phận cán bộ, công chức năng lực còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ chưa cao.

Phần thứ hai
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009
Năm 2009 là năm thứ 4 thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, trong điều kiện cả nước hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, đặc biệt là ảnh hưởng của lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh thời gian qua thấp hơn bình quân của kế hoạch năm năm. Vì vậy đòi hỏi sự nỗ lực cao của các ngành, các cấp từng bước khắc phục khó khăn, ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội để hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu. Khi nền kinh tế đã có bước phát triển ổn định trong năm 2009 và bắt đầu có tích lũy thì sẽ tạo đà cho sự tăng trưởng vào năm 2010 theo cơ cấu hợp lý, nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ chuyển mạnh vào tỉnh, kết hợp với nguồn lực trong nước sẽ giúp kinh tế tỉnh tăng trưởng mạnh bền vững. Do vậy năm 2009 là năm có nhiều khó khăn, cũng là năm mở ra cơ hội rất lớn cho kinh tế tỉnh, tạo tiền đề vững chắc cho việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu của kế hoạch năm năm vào năm 2010.
I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH
I. Tình hình trong nước:
Qua 2 năm gia nhập vào nền kinh tế thế giới với thành tựu tăng nhanh về thu hút đầu tư nước ngoài và kim ngạch xuất khẩu, thể hiện Việt Nam đã tận dụng được lợi thế so sánh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững. Mặc khác tiến trình này cũng tạo ra cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa và tham gia có hiệu quả trong phân công lao động quốc tế; thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài để góp phần tạo ra năng lực sản xuất mới; việc các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dỡ bỏ hoặc giảm bớt làm cho thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng, năng lực xuất khẩu ngày càng được cải thiện.
Bước vào năm 2009, dự báo tình hình trong nước vẫn có nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội. Trước hết là sự ổn định chính trị, môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện,… những biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững của Chính phủ đã và đang phát huy hiệu quả, mức lạm phát sẽ giảm dần và sẽ tạo niềm tin cho nhà đầu tư, người dân, tiếp tục thu hút mạnh mẽ mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho sự phát triển của nền kinh tế.
Bên cạnh những thuận lợi trên, thực hiện hội nhập vào nền kinh tế quốc tế sẽ tạo ra sự canh tranh gay gắt trên mọi lĩnh vực, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động giá cả, tăng trưởng của nền kinh tế thế giới và khu vực… Mặt khác, dù nền kinh tế nước ta về trực tiếp bị ảnh hưởng không đáng kể từ cơn khủng hoảng tài chính của Mỹ, nhưng với nguy cơ suy thoái toàn cầu, nền kinh tế nước ta đang bị “ngấm” không ít khó khăn, nhất là giá cả nguyên vật liệu, lương thực tăng ở mức cao, nguồn vốn đầu tư giảm sút, giá dầu và giá nông sản giảm khiến trị giá xuất khẩu sẽ bị sụt giảm, thị trường xuất khẩu thu hẹp... trong khi, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất còn thấp; một số vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết hiệu quả, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, cải thiện môi trường, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống tham nhũng, lãng phí…
2. Tình hình trong tỉnh:
Ngoài những thuận lợi và khó khăn chung của cả nước, bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 tỉnh có những thuận lợi đặc thù cần phát huy như sau:
- Thuận lợi lớn nhất là sự thống nhất đoàn kết, đồng thuận tạo thành sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Long An quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà;
- Các chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt tạo nền tảng vững chắc phát huy tiềm năng của tỉnh, thúc đẩy sản xuất phát triển và ổn định đời sống nhân dân.
Các chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt tạo nền tảng vững chắc phát huy tiềm năng của tỉnh, thúc đẩy sản xuất phát triển và ổn định đời sống nhân dân.
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đã từng bước thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội những năm qua tạo thế và lực mới cho tỉnh; kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư ngày càng hoàn thiện; sản xuất công nghiệp đang dần chiếm vị trí chủ đạo của nền kinh tế, tạo điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh, tiến nhanh và sâu hơn vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cùng cả nước hội nhập kinh tế quốc tế;
- Công tác cải cách hành chính được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện tốt, môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi trong thu hút đầu tư trong và ngoài nước ngày càng tăng.
Tuy nhiên, tỉnh cũng còn nhiều khó khăn, thách thức:
- Nhu cầu chi cho đầu tư phát triển là rất lớn, nhất là chi cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong khi khả năng cân đối nguồn vốn có giới hạn.
- Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đã bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu hội nhập, chưa đáp ứng yêu cầu về lao động kỹ thuật cao, chuyên sâu.
- Thiên tai, dịch bệnh vẫn là mối đe doạ thường xuyên, ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tăng trưởng của ngành chăn nuôi, trồng trọt.
- Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn trong khi nền sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp hiện chưa đủ sức cạnh tranh trước các thách thức hậu gia nhập WTO.
- Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp do chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển công nghiệp.
II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2009.
Nhiệm vụ đặt ra của năm 2009 là phải tiếp tục tập trung thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 2009, như sau:
1. Mục tiêu:
Thực hiện các giải pháp tạo sự đột phá để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đảm bảo lộ trình tăng trưởng kinh tế nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 5 năm đã đề ra. Mức tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2009 phải cao hơn năm 2008, cả tỉnh phấn đấu đạt mức tăng trưởng 15-15,5%. Đồng thời có các giải pháp đồng bộ để tiếp tục nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ; phát huy các điều kiện thuận lợi về môi trường đầu tư, kết cấu hạ tầng cũng như các chính sách liên quan nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển để đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tạo sự chuyển biến mới về phát triển khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế; giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, các vấn đề về môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, trong sạch dân chủ, hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước.
2. Một số chỉ tiêu chủ yếu:
2.1. Các chỉ tiêu kinh tế
- Tổng GDP tăng 15-15,5% so với năm 2008.
Tổng GDP tăng 15-15,5% so với năm 2008.
- Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4,5% - 5%.
- Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng 26% - 26,5%.
- Giá trị tăng thêm của ngành thương mại-dịch vụ tăng khoảng 12,5% - 13%.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trên 30% so với năm 2008.
- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm 45,5-46% GDP, tăng 32% so với năm 2008.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khoảng 2.075 tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 2.839,5 tỷ đồng (1).
- Sản lượng lương thực: duy trì sản lượng 2 triệu tấn.
Sản lượng lương thực: duy trì sản lượng 2 triệu tấn.

2.2. Các chỉ tiêu xã hội:
- Thực hiện mức giảm sinh bình quân trong năm trên 0,4%0.
Thực hiện mức giảm sinh bình quân trong năm trên 0,4%0.
- Giải quyết việc làm cho người lao động: 35.000 lao động.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 19,36% năm 2008 xuống còn dưới 17,7% vào năm 2009 (theo tiêu chí cũ: dưới 4,5%).
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 17,0%.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ 95%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện trên 97%.
- Giảm số xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã: 14/18.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 42%.
2.3. Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch: 87% (đô thị: 99%).
- Tỷ lệ thị xã, thị trấn được thu gom rác: 90%.
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 16,22%.
III. DỰ BÁO MỘT SỐ CÂN ĐỐI LỚN CỦA NỀN KINH TẾ NĂM 2009
1. Dự báo về khả năng cân đối ngân sách: chỉ số giá GDP sẽ ở mức 15%. GDP theo giá hiện hành sẽ đạt khoảng 33.000 – 34.000 tỷ đồng, tăng 8.000-9.000 tỷ đồng so với ước thực hiện năm 2008. Dự kiến khả năng cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 như sau:
- Tổng thu ngân sách nhà nước là 2.075 tỷ đồng, gồm: thu nội địa 1.940 tỷ đồng; thu các hoạt động xuất nhập khẩu 135 tỷ đồng. Trong tổng thu ngân sách, chưa tính nguồn thu xổ số kiến thiết 315 tỷ đồng.
- Tổng chi ngân sách nhà nước dự kiến là 2.839,5 tỷ đồng (chửa kể nguồn xổ số kiến thiết).
2. Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển:
Dự báo khả năng huy động nguồn vốn đầu tư phát triển năm 2009 khoảng 15.000-15.200 tỷ đồng, bằng 45,5-46,0% GDP. Nguồn vốn huy động như sau:
- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 3.100 tỷ đồng chiếm 20,5% tổng vốn đầu tư, trong đó: ngân sách địa phương quản lý khoảng 1.830 tỷ đồng (kể cả vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn khác do địa phương quản lý), ngân sách Trung ương đầu tư trên địa bàn khoảng 1.270 tỷ đồng (các công trình giao thông và thuỷ lợi trung ương đầu tư trên địa bàn).
- Nguồn vốn tín dụng khoảng 300 tỷ đồng chiếm 2,0% tổng vốn đầu tư (kể cả tín dụng trung ương).
- Nguồn vốn từ doanh nghiệp nhà nước khoảng 360 tỷ đồng chiếm khoảng 2,4% tổng vốn đầu tư.
- Nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh khoảng 4.680 tỷ đồng chiếm khoảng 31% tổng vốn đầu tư.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6.660 tỷ đồng chiếm khoảng 44,1% tổng vốn đầu tư.
Dự báo năm 2009, việc giảm đầu tư theo hướng giảm những dự án đầu tư lớn từ ngân sách nhà nước, chuyển một phần vốn sang các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như nâng chất lượng dự án đầu tư nước ngoài, hạn chế những dự án đầu tư bất động sản lớn thì việc hấp thu vốn đầu tư sẽ tốt nên, hài hòa giữa nội lực và ngoại lực.
IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC
1. Về kinh tế
1.1. Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn:
Nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động của tỉnh ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo hướng phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế sẽ giảm nhưng năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị phải tăng; lao động trong nông nghiệp giảm trong quá trình tổ chức lại sản xuất và đẩy mạnh phân công lao động nông thôn nhưng chất lượng nguồn nhân lực lao động nông nghiệp và kinh tế nông thôn phải được nâng cao. Theo quy hoạch, đất cho sản xuất nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm do phát triển các khu, cụm công nghiệp và đô thị nhưng quỹ đất thích hợp cho an ninh lương thực quốc gia phải được bảo đảm và dựa vào tiến bộ kỹ thuật - công nghệ áp dụng trong sản xuất nông nghiệp để cây trồng, vật nuôi cho giá trị kinh tế cao phải tăng lên, nhất là bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia về lương thực. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông nghiệp 4,5% - 5%; sản lượng lương thực 2 triệu tấn. Tập trung thực hiện một số giải pháp chính:
- Hoàn thành rà soát, điều chỉnh qui hoạch phát triển nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại theo hướng xác định cơ cấu hợp lý bao gồm các ngành chủ yếu nông - lâm - ngư nghiệp, khai thác có hiệu quả các nguồn lực lao động, đất đai, các tài nguyên kinh tế từ rừng và vùng lũ. Nền nông nghiệp dựa trên thâm canh và chuyên canh, đòi hỏi lao động phải được đào tạo, có chuyên môn, biết áp dụng kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất và hình thành những vùng chuyên canh lớn, nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời chú trọng đẩy mạnh công nghiệp chế biến, mở rộng mạng lưới dịch vụ nông nghiệp, phát triển du lịch sinh thái đi đôi với bảo vệ môi trường; hạn chế tối đa việc sử dụng đất canh tác nông nghiệp có hiệu quả, đất lúa hai vụ làm công nghiệp và các mục đích khác, giữ ổn định diện tích đất sản xuất lúa hai vụ.
- Đẩy mạnh công tác giống: phát huy thành tựu đã được trong công tác giống cây trồng, vật nuôi để nhân rộng ra toàn tỉnh. Tăng cường qui mô và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học nhằm nâng cao khả năng và chất lượng của công tác giống; xây dựng lộ trình để cơ bản thay thế giống đối với các loại cây trồng, vật nuôi thế mạnh của tỉnh theo hướng thay thế giống có năng suất thấp, chất lượng kém, khó tiêu thụ hiện nay bằng giống xác nhận có năng suất cao, chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu; chú ý phát triển hệ thống nhân giống rộng rãi trong nhân dân gắn với việc đẩy mạnh công tác khuyến nông và phát triển các loại hình dịch vụ nông nghiệp ở nông thôn.
- Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp: triển khai các biện pháp hỗ trợ nông dân cơ giới hoá, nhất là khâu thu hoạch và sau thu hoạch; tăng cường khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng các mô hình gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ đối với các loại nông sản thế mạnh của tỉnh theo hướng liên hoàn, thực hiện phân công và hợp tác đồng bộ chặt chẽ; xây dựng, nhân rộng nhiều cánh đồng đạt giá trị tăng thêm trên 25 triệu đồng/ha/năm. Phát triển hiệu quả kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại, các vùng chuyên canh trong nông nghiệp, từng bước hình thành vùng nông nghiệp công nghệ cao. Tập trung phát triển vùng đay nguyên liệu, vùng sản xuất gạo thơm xuất khẩu của tỉnh.
Định hướng phát triển một số ngành chính như sau:
Trồng trọt: lúa gạo vẫn là sản phẩm chủ lực; tiếp tục thâm canh tăng cao năng suất và chất lượng gạo. Tập trung các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, nhất là dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và các loại dịch bệnh nguy hại khác trên lúa; chủ động có các phương án đối phó với thời tiết bất thuận lợi như hạn cuối vụ, mưa lũ sớm; có kế hoạch chuẩn bị lúa giống xác nhận đảm bảo đủ lúa giống cho gieo cấy vượt kế hoạch về diện tích, chủ động ứng phó kịp thời khi xảy ra tình huống xấu về thiên tai.
Chăn nuôi: phát triển nhanh chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn thực phẩm. Bảo đảm về giống, thức ăn, kỹ thuật, tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phòng chống bệnh dịch (lỡ mồm long móng trên gia súc, dịch cúm trên gia cầm,…) trên vật nuôi và các điều kiện khác để phát triển nhanh ngành chăn nuôi.
Duy trì phát triển đàn gia cầm 6 triệu con, đàn bò 94.000-95.000 con; phục hồi đàn heo trên 350.000 con.
Thủy sản: thực hiện tốt các điều kiện về con giống, nguồn nước, lịch thời vụ, phòng trừ dịch bệnh để khôi phục phát triển tôm sú tại các vùng thích hợp; điều chỉnh quy hoạch thủy sản theo hướng thu gọn hợp lý vùng nuôi thủy sản nước lợ, chú trọng phát triển thuỷ sản nước ngọt bền vững ở vùng Đồng Tháp Mười. Tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển thuỷ sản.
Phấn đấu đạt sản lượng nuôi trồng thuỷ sản các loại đạt 36.000 tấn, trong đó tôm sú đạt 5.500 tấn.
Lâm nghiệp: khôi phục và phát triển ổn định các loại rừng gắn với việc phát triển các nhà máy chế biến các sản phẩm của rừng; tiếp tục triển khai thực hiện dự án của trung ương về trồng mới 5 triệu ha rừng.
- Hỗ trợ nông dân hoặc các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân giải quyết vấn đề tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp thông qua các giải pháp: khuyến khích hình thành các vùng chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến; phát triển các chợ đầu mối tiêu thụ nông sản, xây dựng các mối quan hệ đối tác cung cấp nông sản tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua các kênh bán lẻ, các siêu thị, chợ; xây dựng và ban hành các thể chế, qui tắc và tiêu chuẩn đối với một số mặt hàng nông sản chủ lực, hỗ trợ nông dân về kỹ thuật, vốn đầu tư, cung cấp thông tin thị trường, tạo cơ hội giới thiệu sản phẩm nông nghiệp tới người tiêu thụ, xây dựng thương hiệu hàng nông sản của tỉnh.
Nâng cao đời sống và đào tạo nghề cho nông dân, triển khai chính sách hỗ trợ đào tạo việc làm cho lao động nông thôn phù hợp theo từng đối tượng cụ thể, giúp nông dân tiếp cận các hỗ trợ việc làm một cách bền vững; phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là lĩnh vực chế biến nông sản để thu hút nguồn nhân lực và nguồn nguyên liệu tại chỗ; khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống và nghề mới ở nông thôn; nâng cao trình độ dân trí thông qua các phương tiện truyền thông, chương trình phổ cập giáo dục quốc gia, tập huấn, hình thức hợp tác kinh tế,… để nông dân nhận thức và thực hiện sản xuất theo kinh tế thị trường.
- Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn: tăng mạnh vốn đầu tư từ ngân sách cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trong đó chú trọng vào thuỷ lợi, kênh mương nội đồng đảm bảo nước tưới chủ động cho gieo cấy và thâm canh lúa, hoàn thànhgiao thông, điện, nước sạch, xóa cầu khỉ. Phấn đấu trong năm 2009 giảm 14/18 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã; đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thủy sản. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tăng tỷ trọng đầu tư của ngân sách nhà nước cho khu vực nông nghiệp, nông thôn từ mức 60% năm 2008 lên mức 65% tổng vốn đầu tư ngân sách cho toàn bộ nền kinh tế, trong đó đầu tư cho hạ tầng chiếm ít nhất là 2/3 tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.
Tập trung tuyên truyền các chủ trương, chính sách hỗ trợ người dân vào cụm, tuyến dân cư; tập trung vốn đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu, xây dựng chợ, kết nối giao thông và tổ chức dạy nghề, tạo việc làm trên các cụm dân cư có điều kiện để thu hút dân vào sống ổn định, xây dựng mô hình nông thôn mới văn minh, hiện đại.
Quan tâm thực hiện tốt an sinh xã hội khu vực nông thôn. Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, trạm xá, trường học và đào tạo đội ngũ cán bộ ngay khu vực nông thôn để phục vụ an sinh xã hội; mở rộng các đối tượng được thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản, nước sạch sinh hoạt. Nghiên cứu xây dựng các quỹ bảo trợ cho nông dân. Thu hút người dân, doanh nghiệp tham gia xây dựng hệ thống an sinh xã hội ở khu vực nông thôn.
2.2. Phát triển công nghiệp:
Thúc đẩy phát triển công nghiệp, duy trì tăng trưởng với tốc độ cao đi đôi với việc tạo chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của sản xuất công nghiệp. Phấn đấu giá trị gia tăng đạt 26%-26,5%, trong đó dự kiến giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng trên 29%.
Tập trung vào các giải pháp chính:
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành công nghiệp thế mạnh, có tiềm năng phát triển của tỉnh theo hướng:
Đối với công nghiệp chế biến nông sản: tiếp tục khuyến khích đổi mới, cải tiến công nghệ các ngành công nghiệp xay xát, công nghiệp mía đường, chế biến thức ăn gia súc, chế biến thủy sản, hạt điều nhân nhằm nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, nhất là xuất khẩu. Phấn đấu mức sản lượng thức ăn gia súc, thuỷ sản 700.000 tấn, thuỷ sản chế biến 21.000 tấn, hạt điều nhân 22.000 tấn, đường mía duy trì 140.000 tấn,…
Đối với ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may: khuyến khích tạo mặt hàng mới, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, đẩy mạnh thâm nhập thị trường nước ngoài, phát huy lợi thế của sản phẩm. Sản lượng vải thành phẩm phấn đấu đạt 48.000-50.000 triệu m2, sản phẩm may mặc 38-39 triệu cái.
Đối với công nghiệp sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy: tiếp tục đầu tư phát triển mạnh; tạo điều kiện đưa Nhà máy bột giấy Phương Nam đi vào hoạt động ổn định gắn với phát triển vùng nguyên liệu.
Đối với công nghiệp sản xuất và phân phối điện: tiếp tục đầu tư các công trình điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, sản lượng điện thương phẩm tăng 25% so với năm 2008.
Đối với công nghiệp cơ khí: tạo điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị, hiện đại của các thành phần kinh tế; từng bước trang bị máy móc cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu xuất khẩu.
Các ngành công nghiệp khác: quan tâm thu hút đầu tư công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao theo điều kiện phát triển thực tế của địa phương.
- Nâng cao hiệu quả thu hút và khả năng hấp thu vốn đầu tư phát triển công nghiệp:
Thực hiện đồng bộ các giải pháp về tăng cường đầu tư, kêu gọi đầu tư kết cấu hạ tầng, tập trung cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, ổn định tái định cư, có biện pháp giáo dục, ngăn chặn kịp thời tình trạng chuyển nhượng, tách bộ, xây dựng nhà trái phép trong vùng quy hoạch… nhằm tăng cường thu hút đầu tư phát triển công nghiệp. Phấn đấu trong năm 2009 có tối thiểu 1.500 ha đất có đủ điều kiện giao cho nhà đầu tư trực tiếp. Phấn đấu nâng tỷ lệ lắp đầy các khu cụm công nghiệp 5.140 ha/14.070 ha.
Tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để các dự án đầu tư của doanh nghiệp sớm đi vào hoạt động hiệu quả; tích cực hỗ trợ nhà đầu tư từ khâu đầu đến đi vào hoạt động sản xuất; tăng cường kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện của các dự án đầu tư sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; rà soát sắp xếp lại các dự án đầu tư cụm công nghiệp, khu dân cư, đô thị mới trên địa bàn theo qui hoạch, từng bước đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, nhất là tại các địa phương vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh; triển khai thực hiện quy chế quản lý các cụm công nghiệp bảo đảm như khu công nghiệp.
Rà soát, sắp xếp các khu, cụm công nghiệp, dân cư, đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại phù hợp với điều kiện thị trường mở, khuyến khích phát triển các khu công nghiệp theo hướng tổng hợp, đồng thời thực hiện liên kết toàn diện giữa các khu, cụm công nghiệp trong địa bàn tỉnh và với các địa phương trong vùng để đảm bảo tính đồng bộ của các yếu tố cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội và môi trường; tăng cường bảo vệ và cải thiện môi trường xung quanh các khu, cụm công nghiệp.
Tổ chức lại hoạt động xúc tiến đầu tư của tỉnh gắn với chương trình xúc tiến đầu tư của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực đồng bằng sông Cửu Long và của quốc gia; chuyển dần từ hoạt động tạo dựng hình ảnh sang những hoạt động tạo lập cơ hội đầu tư chú trọng theo lĩnh vực, địa bàn và đối tác cụ thể; tạo lập quỹ xúc tiến đầu tư từ nguồn ngân sách và đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp; xử lý dứt điểm và kịp thời các vướng mắc của các dự án đang triển khai để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư; thực hiện các cam kết cụ thể của chính quyền đối với các nhà đầu tư.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, thành lập và hoạt động doanh nghiệp (đăng ký kinh doanh qua mạng, thực hiện cơ chế “đầu mối liên thông”,…), đất đai, xây dựng; đồng thời triển khai các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
- Thực hiện chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nhất là những mặt hàng thiết yếu và hàng xuất khẩu; khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, quản lý môi trường (ISO 9000, TQM, ISO 14000, HACCP, …).
2.3. Phát triển các ngành dịch vụ
Tạo sự chuyển biến quan trọng trên lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch. Phấn đấu giá trị tăng thêm toàn ngành thương mại, dịch vụ khoảng 12,5% - 13%. Định hướng phát triển một số ngành chính như sau:
- Định hướng phát triển thương mại: triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại trong điều kiện hội nhập, mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Phát triển và khai thác có hiệu quả mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị trên địa bàn tỉnh. Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội tăng trên 25% so với năm 2008; tổ chức tốt tiêu thụ các loại hàng hoá chủ lực của tỉnh, đặc biệt là hàng hoá nông sản.
- Thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu: khuyến khích doanh nghiệp tham gia, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn liền với việc tháo gỡ các trở ngại liên quan đến xuất khẩu để giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các thông tin về thị trường, tín dụng và tổ chức xúc tiến thương mại theo hướng mở rộng thị trường xuất khẩu trong nội khối ASEAN, đồng thời với tăng cường phát triển thị trường nội địa để tăng nội lực đối ứng với xuất khẩu tạo một nền kinh tế bền vững; tăng cường đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng chất lượng cao và hạ giá thành, cải tiến khâu lưu thông phân phối hiện đang có chi phí quá cao. Phấn đấu duy trì tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt trên 30% so với năm 2008.
- Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, có giá trị gia tăng cao như ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, dịch vụ cảng, dịch vụ hạ tầng… Tạo điệu kiện thuận lợi để nhà đầu tư tiến hành xây dựng hạ tầng Cảng Long An đảm bảo tiến độ theo kế hoạch dự án nhằm nhanh chóng đưa dự án Cảng đi vào hoạt động.
Đầu tư khai thác Khu kinh tế cửa khẩu Long An (Bình Hiệp) và Khu cửa khẩu Mỹ Quý Tây; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn vốn đầu tư vào phát triển kinh tế biên mậu.
- Phát triển mạnh du lịch; đẩy nhanh tiến độ đầu tư các điểm du lịch theo kế hoạch; tiếp tục tăng cường đầu tư, kêu gọi đầu tư hạ tầng ngành du lịch, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; đưa vào khai thác và kêu gọi nhà đầu tư khai thác khu du lịch sinh thái Làng Nổi Tân Lập, Lâm viên Thanh niên, Khu di tích lịch sử cách mạng Bình Thành, Khu Di tích Vàm Nhựt Tảo…
- Tiếp tục thực hiện tốt công tác kiểm soát thị trường: kiểm soát việc cung ứng và giá bán các loại hàng hoá và dịch vụ kinh doanh, kiểm soát việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu như lương thực, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng, nhiên liệu,…. Đảm bảo cân đối cung cầu hàng hoá, không để xảy ra tình trạng khan hiếm giả tạo, đầu cơ; xây dựng và phát triển mạng lưới phân phối để đảm bảo cung ứng hàng hoá với giá cả hợp lý, nhất là hàng tiêu dùng thiết yếu và tại những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Tiếp tục thực hiện công tác kiểm tra, ngăn chặn có hiệu quả hàng gian, hàng giả, hàng lậu trên thị trường
2.4. Thu chi ngân sách:
- Quản lý, khai thác tốt nguồn thu trên cơ sở thu đúng, thu đủ, kịp thời đảm bảo tính công bằng và nuôi dưỡng nguồn thu.
- Chi ngân sách đảm bảo kịp thời chi thường xuyên và nhiệm vụ chi đầu tư phát triển trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách nhà nước; cân đối ngân sách để tăng chi đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn theo Chương trình hành động của Tỉnh ủy.
Cụ thể theo báo cáo riêng về thu chi ngân sách năm 2009.
2.5. Định hướng đầu tư phát triển:
- Có chính sách huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực toàn xã hội thực hiện các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 – 2010 và kế hoạch năm 2009. Tập trung vào các nguồn vốn chính:
Vốn ngân sách nhà nước: phấn đấu tăng thu để tăng chi cho đầu tư phát triển.
Vốn đầu tư trong nước: chú trọng tạo điều kiện để khai thác nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp trong nước và các thành phần kinh tế khác vào triển khai các dự án đầu tư phát triển của tỉnh, xem đây là nguồn lực quan trọng của tỉnh.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): đẩy mạnh thu hút vốn FDI, dự kiến thu hút trong năm 2009 khoảng 1,5 tỷ USD. Đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tạo điều kiện để các dự án sớm triển khai đi vào hoạt động, dự kiến vốn thực hiện khoảng 400 triệu USD và phấn đấu nâng mức giải ngân vốn FDI lên mức 600 triệu USD.
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): sử dụng có hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ giải ngân nguồn vốn ODA, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ thủ tục nhằm tranh thủ huy động nguồn này, tập trung vào các dự án xử lý chất thải rắn, nước thải, cung cấp nước sạch.
- Giải ngân nhanh các nguồn vốn đầu tư phát triển có nguồn gốc từ ngân sách, nhất là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu.
- Bố trí chi đầu tư phát triển tập trung cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đã được phê duyệt; trong đó ưu tiên bố trí vốn cho các dự án, công trình trọng điểm, các mục tiêu ưu tiên của tỉnh thuộc các chương trình trọng điểm mà tỉnh đã xác định; tiếp tục ưu tiên bố trí vốn để phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân,…
- Bố trí dự toán chi đầu tư phát triển theo hướng tập trung đủ vốn để trả các khoản vay, nợ tạm ứng cho đầu tư xây dựng cơ bản đã đến hạn; đảm bảo vốn đối ứng các dự án ODA; tập trung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2009 và các công trình chuyển tiếp, các dự án, công trình trọng điểm, có hiệu quả và các công trình cấp bách khác; đảm bảo vốn cho công tác chuẩn bị đầu tư; thanh toán khoản nợ khối lượng xây dựng cơ bản đã hoàn thành của các công trình. Kiên quyết đình hoãn các dự án không có trong quy hoạch được duyệt, chưa đủ thủ tục theo quy định, còn nhiều vướng mắc về thủ tục đầu tư, chưa giải phóng mặt bằng, các dự án khác chưa thật sự cấp bách, không mang lại hiệu quả,…
- Lập dự toán chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương như các chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và các chương trình dự án quan trọng khác được xác định trên cơ sở tiêu chí, định mức phân bổ đầu tư phát triển theo Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn khác.
- Xây dựng dự toán chi phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, môi trường, khoa học, công nghệ, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính nhà nước, hoạt động của Đảng, các đoàn thể theo đúng chính sách, chế độ, định mức hiện hành; ưu tiên bố trí chi ngân sách cho mục tiêu phát triển nguồn nhân lực, chi cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo - dạy nghề năm 2009 phải đạt ít nhất 20% tổng chi ngân sách nhà nước; đảm bảo đủ vốn cho lĩnh vực khoa học công nghệ theo qui định và chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt trên 1% tổng chi ngân sách nhà nước; ưu tiên bố trí tăng chi cho lĩnh vực y tế cao hơn tốc độ tăng chi chung của ngân sách nhà nước.
- Tiếp tục chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng; nâng cao trách nhiệm của các chủ đầu tư; tăng cường công tác giám sát, thanh tra đầu tư nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham ô, lãng phí, bảo đảm chất lượng của công trình.
2.6. Định hướng khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: tiếp tục thực hiện kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (cổ phần hoá 03 doanh nghiệp: Công ty TNHH Công trình đô thị Đức Hòa, Công ty TNHH Công trình Môi trường đô thị Mộc Hoá và Chi nhánh của công ty tại Thạnh Hóa và Vĩnh Hưng, Công ty TNHH Công trình đô thị Vĩnh Hưng); tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp đổi mới sớm gia nhập thị trường đi vào hoạt động hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi để nhà máy bột giấy Phương Nam đi hoạt động ổn định, có hiệu quả gắn với phát triển vùng nguyên liệu đay tập trung góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế các huyện Đồng Tháp Mười.
- Đối với kinh tế tư nhân: tập trung vào các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Trước hết là tạo thị trường xuất khẩu ổn định thông qua việc tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng qui mô sản xuất, chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Xây dựng các phương án giúp các doanh nghiệp phòng tránh hiệu quả và chủ động các rào cản kỹ thuật của các quốc gia tham gia WTO.
- Đối với kinh tế hộ, cá thể: tạo điều kiện phát triển theo định hướng, khuyến khích các hộ cá thể, cá nhân trong xã hội tự nguyện hợp tác tổ chức sản xuất kinh doanh từ tổ liên kết, hợp tác sản xuất đến hình thức hợp tác. Phát triển kinh tế hộ gắn với các mô hình kinh tế hiệu quả như mô hình cánh đồng 25 triệu đồng giá trị tăng thêm/ha/năm.
- Đối với kinh tế tập thể: khuyến khích phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, dự kiến thành lập mới 06 hợp tác xã. Tiếp tục đổi mới, phát triển các hình thức hợp tác xã theo cơ chế thị trường. Thực hiện đầy đủ và kịp thời chính sách hỗ trợ đối với thành phần kinh tế hợp tác và đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo lao động, tiếp cận các nguồn vốn, xây dựng kết cấu hạ tầng… Tổng kết, nhân rộng các mô hình kinh tế tập thể, kinh tế trang trại.
- Đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: tập trung thu hút các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có vốn đầu tư lớn, các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến tinh, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, các ngành có lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại.
3. Nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và các lĩnh vực khác.
3.1. Khoa học công nghệ và thông tin - truyền thông.
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống. Trong nông nghiệp tạo bước đột phá về giống cây con, kỹ thuật canh tác, thu hoạch để tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế nông thôn. Trong công nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh hàng hóa.
Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
Tiếp tục xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện chuyển giao, duy trì hoạt động Đề án 112 của tỉnh theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông; triển khai hệ thống thông tin địa lý tỉnh Long An; tiếp tục xây dựng và triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2000 trong các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh. Tăng cường khả năng ứng dụng CNTT và chuyển giao công nghệ trong các ngành, các cấp.
3.2. Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
- Về giáo dục phổ thông: có giải pháp hạ thấp tỉ lệ học sinh bỏ học, góp phần giữ vững, củng cố công tác phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, phát triển phổ cập giáo dục trung học.
Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “hai không” và tăng cường cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của nhà trường; xây dựng trường học thân thiện, trong đó chú ý trường có nhà vệ sinh, trường đạt mức giáo dục tối thiểu.
Triển khai có hiệu quả chương trình kiên cố hóa trường lớp giai đoạn II (2008-2012) và phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 15%,trong đó chú ý đến trường trung học cơ sở.
- Về giáo dục cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề: tiếp tục phát triển quy mô đào tạo song song việc điều chỉnh cơ cấu đào tạo theo bậc đào tạo; ưu tiên cho những ngành nghề phục vụ phát triển kinh tế xã hội và phục vụ nhu cầu hội nhập. Khuyến khích xã hội hóa mạnh mẽ lĩnh vực này.
Thực hiện tốt chính sách cho sinh viên, học sinh học nghề có hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi để học tập.
- Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục. Trước hết là đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi các trường bán công sang loại hình thích hợp; xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các trường học chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh từ nay đến năm 2020.
3. 3. Dân số, gia đình và trẻ em:
Hoàn thiện và triển khai thực hiện Đề án về công tác DS-KHHGĐ, phấn đấu hạ thấp mức sinh, tập trung củng cố bộ máy cán bộ làm công tác dân số. Tiếp tục triển khai thực hiện chiến dịch truyền thông dân số lồng ghép cung cấp dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ đến tận vùng sâu, vùng xa, kiểm tra mô hình xã phường không có người sinh con thứ 3 trở lên, giám sát thực hiện công tác DS-KHHGĐ các huyện.
Tăng 2% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở các cấp học phổ thông và 5% số trẻ em ở lứa tuổi 3-5 được đi nhà trẻ, mẫu giáo.
Quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đảm bảo tối đa số trẻ em không bị xâm hại, không bị phân biệt đối xử, gắn với xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, thực hiện phòng chống bạo lực trong gia đình.
3.4. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng công tác giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp:
Nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình Giải quyết việc làm - giảm nghèo, đào tạo nghề.
Phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động. Thực hiện phân luồng học sinh, hoàn thiện bước đầu hệ thống dạy nghề theo hướng đảm bảo cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng, địa phương hợp lý.
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ thiết thực cho những đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Hoàn thành cơ bản xây dựng nhà đại đoàn kết cho các đối tượng trong năm 2009. Lồng ghép hiệu quả các chương trình, dự án nhằm thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; tiếp tục tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho một số vùng khó khăn, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và thực hiện công bằng xã hội.
3.5. Tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Thực hiện có hiệu quả các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; tập trung làm tốt công tác y tế dự phòng, vệ sinh phòng dịch, không để phát sinh dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới phát sinh. Tăng cường quản lý, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng. Tổ chức tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Phấn đấu đạt 16,5 giường bệnh/vạn dân, 4,6 bác sĩ/vạn dân.
Đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo y, bác sĩ để phục vụ tốt hơn yêu cầu của nhân dân. Triển khai dự án xây dựng Bệnh viện tâm thần.
Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế bằng nhiều hình thức phù hợp điều kiện thực tế của địa phương, kêu gọi các tổ chức, cá nhân đầu tư bỏ vốn hoặc đầu tư vào trang thiết bị; hình thành bộ phận phục vụ chăm sóc, điều trị theo yêu cầu…; tạo điều kiện để thu hút các dự án đầu tư bệnh viện sản, nhi; bệnh viện đa khoa kỹ thuật cao...
3.6. Văn hóa, thể thao:
Nâng cao hiệu quả thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa – sức khỏe”. Phấn đấu đạt 85% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa. Xây dựng xã văn hoá và thiết chế văn hóa xã, phường, trong đó, tập trung xây dựng Trung tâm văn hoá - thể thao, thư viện. Làm tốt công tác bảo tàng, bảo tồn di tích cách mạng, di tích lịch sử, văn hóa quốc gia.
Đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao cả về quy mô và chất lượng: tăng số lượng các câu lạc bộ thể dục thể thao với tỷ lệ bình quân 5-10%/năm, phấn đấu nâng số người luyện tập thể thao thường xuyên (trên 25%). Quan tâm phát triển thể thao quần chúng với nhiều loại hình đa dạng, phong phú, nhất là trong trường học, trong khu cụm công nghiệp, lực lượng vũ trang và ởvùng sâu, vùng xa.
Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động văn hoá, thể thao, huy động nhiều nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng các công trình thể dục thể thao tại các khu dân cư, đô thị.
3.8. Thực hiện chương trình phát triển thanh niên Việt Nam:
Tiếp tục triển khai thực hiện chiến lược quốc gia về thanh niên. Phát động mạnh mẽ phong trào thanh niên xung kích, tình nguyện trong phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tham gia phòng chống tệ nạn xã hội, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức phẩm chất và có trách nhiệm với cộng đồng.
Mở rộng công tác dạy nghề cho thanh niên, hỗ trợ thanh niên tìm việc làm. Đẩy mạnh phong trào thi đua, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật trong thanh niên, góp phần nâng cao dân trí, tham gia giảm nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
3.9. Thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ:
Tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đời sống, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục thực hiện công tác xóa mù chữ cho phụ nữ ở độ tuổi dưới 40, nâng tỷ lệ phụ nữ được đào tạo nghề. Đảm bảo phụ nữ có nhu cầu được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi của mọi người dân, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, vùng sâu, vùng xa về bình đẳng giới, các quyền của phụ nữ…
4. Công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường.
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm ô nhiễm môi trường và cải thiện chất lượng môi trường; tăng cường việc kiểm tra, giám sát, thực hiện chế tài về việc chấp hành các qui định về môi trường của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp; Chủ động kiểm soát các vấn đề về ô nhiễm môi trường; phối hợp với các tỉnh lân cận kiểm soát ngay từ khâu quy hoạch, kiểm soát chặt chẽ và có giải pháp kịp thời, ngăn chặn gây ô nhiễm từ các cơ sở công nghiệp, dân cư, đặc biệt là bảo vệ các dòng sông.
Kịp thời thông tin diễn biến thời tiết, khí hậu, thuỷ văn, chủ động phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiệt hại, làm tốt cứu nạn, cứu hộ.
- Quản lý và lựa chọn phương án sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, nước sạch theo hướng tiết kiệm và bền vững. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về môi trường; coi giữ gìn và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội.
5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng chống tham nhũng.
5.1. Đẩy mạnh cải cách hành chính.
Cải cách hành chính phải hướng tới mục tiêu xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, hiện đại, trong sạch, dân chủ, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực, tác phong chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Trước hết là tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước; tổ chức sắp xếp lại bộ máy chính quyền các cấp theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp. Nâng cao vai trò của thủ trưởng cơ quan hành chính; trong thực thi nhiệm vụ, phải xác định công tác trọng tâm, trọng điểm; phối hợp chặt chẽ, xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp, khắc phục ngay tình trạng đùn đẩy, dàn trãi; đồng thời phải phân định rõ trách nhiệm người đứng đầu và tập thể lãnh đạo. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, trước hết là xem xét lại các qui trình công việc, chuẩn hoá và đơn giản hoá các thủ tục liên quan đến đầu tư, thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, các dịch vụ hành chính liên quan đến đời sống của nhân dân theo đúng Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 01/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
Triển khai thực hiện Chương trình Chính phủ điện tử gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính, phù hợp với tiến trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước. Nâng cao chất lượng công việc của cán bộ công chức thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin.
Thực hiện nguyên tác công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; phổ biến và niêm yết công khai tại công sở qui chế, qui trình và các thủ tục hành chính rõ ràng, cụ thể.
Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, bao gồm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách khác... Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, trong đó chú trọng giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị và trách nhiệm cho công chức.
Phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường đối thoại giữa chính quyền địa phương với cộng đồng doanh nghiệp và dân cư.
5.2. Phòng chống tham nhũng, lãng phí:
Triển khai và thực hiện đồng bộ Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đề cao vai trò, ý thức trách nhiệm của người đứng đầu UBND các cấp, các cơ quan, đơn vị và của các cán bộ, công chức, viên chức trong công tác phòng, chống tham nhũng.
Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng với Chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, thu và chi ngân sách nhà nước, quản lý tài chính công, công tác đề bạt và bố trí cán bộ. Tăng cường kiểm tra kịp thời xử lý vi phạm. Tăng cường quản lý, giám sát thu nhập của cán bộ, công chức, nhất là những người có chức, có quyền.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ; đảm bảo công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế, tài chính ở các cơ quan hành chính sự nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra các vụ việc tiêu cực, tham nhũng và xử lý kiên quyết. Tiếp tục tăng cường thanh tra trong các lĩnh vực đầu tư XDCB, quản lý thu chi ngân sách và quản lý tài sản công.
6. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo đảm các điều kiện cơ bản về sản xuất, đời sống cho nhân dân vùng biên giới. Hoàn thành việc nâng cấp Cửa khẩu Bình Hiệp và Cửa khẩu Mỹ Quí Tây lên cửa khẩu quốc tế.
Tiếp tục bảo đảm tốt hơn các nhu cầu của lực lượng Quân đội, Công an về các mặt đời sống, vũ khí trang bị, tăng cường công tác bảo đảm kỹ thuật, cơ sở vật chất, nhất là hệ thống đồn, trạm biên phòng.
Thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trên tuyến biên giới, chính quyền và lực lượng chức năng cần giữ được mối quan hệ tốt, hữu nghị, chủ động giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh. Tổ chức quản lý chặt chẽ theo quy chế khu vực biên giới, chú trọng tuần tra kiểm soát các cửa khẩu và đường tiểu ngạch nhằm ngăn chặn bọn tội phạm, buôn lậu và các đối tượng xâm nhập trái phép; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường quản lý và bảo vệ biên giới; đẩy mạnh xây dựng hệ thống đường tuần tra biên giới, hệ thống đồn trạm biên phòng; bảo đảm tiến độ phân cắm mốc biên giới theo thỏa thuận; từng bước hoàn thiện các khu vực phòng thủ, kế hoạch động viên công nghiệp...
7. Phát triển vùng lãnh thổ.
Trong năm 2009 sẽ định hướng lại quy hoạch và chính sách phát triển vùng theo hướng: hình thành 02 tiểu vùng phát triển kinh tế trên cơ sở 03 tiểu vùng. Do đó, định hướng phát triển vùng, lãnh thổ sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
7.1. Vùng kinh tế trọng điểm: triển khai định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội các huyện trong vùng; rà soát qui hoạch các khu, cụm công nghiệp, dân cư, đô thị, qui hoạch sử dụng đất. Trên cơ sở đó kêu gọi, tiếp nhận, bố trí các dự án đầu tư cho phù hợp. Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống giao thông liên vùng, hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp có trọng tâm, tập trung. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư xây dựng hạ tầng Cảng Long An, nhanh chóng đưa vào hoạt động; từng bước phát triển các trục giao thông gắn kết các vùng kinh tế của tỉnh về Cảng Long An.
7.2. Vùng Đồng Tháp Mười: tiếp tục đầu tư hệ thống giao thông đến trung tâm các xã, có hướng giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo cuộc sống cho nhân dân trên cụm, tuyến dân cư. Vùng trọng điểm lương thực, phát triển các mô hình sản xuất lớn theo hướng năng suất và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu kết hợp nuôi trồng thủy sản nước ngọt đồng thời phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến; tạo điều kiện để dự án sản xuất lúa thơm xuất khẩu sớm đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng; đầu tư khu kinh tế cửa khẩu, nâng cấp các cửa khẩu, phục vụ khai thác có hiệu quả kinh tế biên mậu, đẩy mạnh giao lưu hàng hóa với Campuchia và thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, các tour du lịch đặc trưng vùng ngập lũ.
7.3. Vùng hạ: Phát triển đa dạng, kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản, nghiên cứu các giải pháp phát triển thuỷ sản theo hướng bền vững. Thu hút các dự án đầu tư nông nghiệp công nghệ cao đồng thời đẩy mạnh đào tạo nghề, chuyển đại bộ phận lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Chuẩn bị các điều kiện về quy hoạch, kết cấu hạ tầng để tiếp nhận đầu tư phát triển công nghiệp trên diện tích sản xuất lúa, thuỷ sản năng suất thấp, kém hiệu quả.
V. Các nhóm giải pháp chủ yếu:
1. Giải pháp về cơ chế, chính sách.
- Trước hết là hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng qui hoạch đầu tư theo hướng phát huy lợi thế của tỉnh, từng vùng, từng ngành, gắn với mục tiêu phát triển đột phá và hiệu quả kinh tế. Trong đó, coi trọng đóng góp chất xám và nâng cao hàm lượng khoa học của qui hoạch. Đối với các qui hoạch “cứng” như qui hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, qui hoạch đô thị, khu công nghiệp gắn với qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo tầm nhìn dài hạn, phải cụ thể, rõ ràng để các ngành, các cấp tuân thủ tránh tình trạng phá sản qui hoạch, qui hoạch đi sau thực tế. Đối với các qui hoạch “mềm” như qui hoạch cho sản xuất các ngành thì chỉ nên định hướng nhu cầu gắn với thị trường để cho các thành phần kinh tế tự cân nhắc đầu tư khi thấy có lợi. Chú ý xác định thứ tự ưu tiên đối với các dự án đầu tư trong qui hoạch và xác định rõ trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng.
Rà soát, bổ sung, cập nhật và hiệu chỉnh các qui hoạch đã được phê duyệt cho phù hợp với tình hình phát triển mới. Kết hợp qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội với qui hoạch sử dụng đất, nhất là sử dụng đất ven đô, ven đường giao thông, đất khu công nghiệp, nhanh chóng khắc phục tình trạng qui hoạch treo.
- Xây dựng các qui chế vận dụng chủ trương, chính sách chung vào điều kiện cụ thể tỉnh để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý điều hành vĩ mô nền kinh tế. Triển khai, hoàn thiện các qui chế xây dựng trong năm 2008 như: qui chế đầu tư thí điểm khu tái định cư tập trung; qui chế thu hút đầu tư các dự án đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng; qui chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; qui chế quản lý cụm công nghiệp.
- Có cơ chế khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề chiến lược và phát triển doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao. Các ngành nghề mũi nhọn được xác định dựa trên lợi thế lâu dài của tỉnh (lao động) và dựa trên nguồn tài nguyên nông nghiệp, lâm nghiệp, các ngành công nghiệp phụ trợ. Cần có sự định hướng thu hút đầu tư và tăng cường sự kiểm soát đối với các tập đoàn kinh tế đầu tư nhiều dự án, dự án qui mô lớn trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng cơ chế đặc thù về huy động vốn để thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng chưa có cơ chế chung.
2. Giải pháp về nguồn lực.
2.1. Về nguồn vốn đầu tư:
- Chủ động khai thác các nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các dự án của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Giải pháp trọng tâm là đổi mới và hoàn thiện công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư để thu hút hơn nữa cac dự án đầu tư. Trước hết là chấn chỉnh việc thực hiện các qui trình triển khai đảm bảo tính dân chủ, công khai thật sự trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng từ việc phổ biến chủ trương, qui hoạch, họp lấy ý kiến của nhân dân đến việc lập phương án đền bù, hỗ trợ địa phương, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu tái định cư… Thứ hai là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp chặt chẽ trong thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng giữa cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và đàn thể các cấp; chú trọng công tác tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu và chấp hành tốt chính sách pháp luật; đồng thời quan tâm nắm bắt nguyện vọng chính đáng của dân để có biện pháp, chính sách giải quyết kịp thời, phù hợp với qui định chung của Nhà nước và thực tế tại địa phương đảm bảo hài hòa lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân với lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội. Thứ ba là thực hiện đồng bộ giữa qui hoạch, giải phóng mặt bằng với việc bố trí tái định cư và bố trí đất sản xuất cho những hộ dân có đủ điều kiện; bên cạnh việc tính toán bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đúng, đủ theo qui định, cần quan tâm đến đời sống kinh tế trước và sau khi các hộ bị thu hồi đất.
Giải pháp quan trọng thứ hai để thu hút đầu tư là tập trung đầu tư nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, cấp thoát nước, các công trình giao thông, cảng biển nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư. Đối với các cơ sở hạ tầng này có thể huy động từ chính các nhà đầu tư.
Giải pháp thứ ba là tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư mời gọi các dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp hiện có và các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
- Khai thác lợi thế, tiềm năng của tỉnh trong điều kiện hội nhập đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Củng cố, mở rộng liên kết, liên danh với các tỉnh, thành phố để phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời thực hiện tốt chương trình xã hội hóa trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các lĩnh vực văn hóa – xã hội để huy động tối đa nguồn lực trong toàn xã hội tham gia phất triển kinh tế.
- Tiếp tục tăng cường và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển, phân bổ nguồn vốn hợp lý, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho những công trình, dự án mang tính đột phá, thu hút nhiều nguồn vốn khác tham gia. Khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải, không đảm bảo tiến độ, hiệu quả sử dụng thấp trong đầu tư xây dựng cơ bản.
- Tăng cường rà soát, sắp xếp lại các dự án khu, cụm công nghiệp, dân cư, đô thị để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý tiến độ thực hiện dự án ngoài vốn ngân sách nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tiếp cận các nguồn vốn, phát triển nhiều hình thức tín dụng ngắn – trung – dài hạn, cho thuê tài chính,… nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.2. Về phát triển nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nhưng hiện nay chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn hạn chế. Do đó trong năm 2009 và các năm tiếp sau cần tập trung phát triển nguồn nhân lực theo 2 hướng: tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Giải pháp trọng tâm, trọng điểm cần thực hiện:
- Củng cố, tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, nâng cao mặt bằng dân trí - tạo nền tảng cơ bản, vững chắc cho đào tạo nguồn nhân lực ở những giai đoạn, thang bậc trình độ cao hơn. Trước hết tạo ra những chuyển biến cơ bản về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung và phương pháp dạy và học để nâng chất lượng giáo dục và đào tạo hướng tới các chuẩn mực quốc gia.
- Ưu tiên xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cốt yếu sau: đội ngũ giảng viên, giáo viên các cấp từ giáo dục phổ thông đến dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, đại học; xây dựng và phát triển đội ngũ công chức hành chính nhà nước theo hướng chuyên nghiệp hoá, có trình độ chuyên môn cao, văn hoá công sở, năng lực làm việc và ứng xử theo chuẩn mực mới, phù hợp với thông lệ quốc tế; xây dựng đội ngũ chuyên gia tư vấn hoạch định chính sách trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý…; bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ doanh nhân và chuyên gia quản trị kinh doanh có bản lĩnh vững vàng, trước mắt cần có đội ngũ lãnh đạo và chuyên gia quản lý bậc trung đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời có những chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý, cung cấp về thông tin thị trường cho chủ hộ kinh tế gia đình - những doanh nhân tiềm năng; tập trung xây dựng và phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật, trong đó đặc biệt chú trọng đến đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật trình độ cao sẵn sàng cung cấp cho yêu cầu phát triển khu công nghệ cao sắp triển khai của tỉnh.
- Phát triển toàn diện thể chất, tăng cường thể lực cho người lao động, hướng tới thực hiện những mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam. Quan tâm đào tạo nghề, nâng cao kiến thức pháp luật, tác phong lao động phù hợp cho bộ phận nông dân chuyển sang lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ; có cơ chế, chính sách đảm bảo chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, người lao động… để tạo điều kiện nâng cao thể lực và năng suất lao động chung của tỉnh.
- Tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng để huy động rộng rãi tất cả các nguồn lực, lực lượng xã hội, kể cả trong nước và nước ngoài cho phát triển nguồn nhân lực.
- Khẩn trương xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động và dịch vụ về đào tạo, tìm kiếm, giới thiệu việc làm, làm cầu nối giữa cung và cầu lao động, giữa người lao động, cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động.
- Thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ hơn nữa trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ hiện đại và quản lý kinh tế, đô thị ở nước ngoài; mạnh dạn thuê giảng viên và chuyên gia giỏi nước ngoài tham gia đào tạo nguồn nhân lực ở trong tỉnh để nhanh chóng đạt đẳng cấp quốc tế trong đào tạo nhân lực.
3. Giải pháp về công tác quản lý, điều hành năm 2009.
- Ban hành chỉ thị tổ chức thực hiện kế hoạch ngay từ đầu năm kế hoạch. Trong đó, làm rõ quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch 5 năm bằng việc lựa chọn phương án tăng trưởng cao ngay trong điều kiện kinh tế trong nước và thế giới có nhiều khó khăn; đồng thời xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, các giải pháp mang tính đột phá cần tập trung chỉ đạo trong năm 2009. Hàng tháng gắn việc báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội với việc rà soát tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao để kịp thời đôn đốc, nhắc nhở.
- Lãnh đạo kiên quyết, nhất quán theo định hướng chiến lược, sát với qui hoạch; điều hành chặt chẽ theo chủ trương, chính sách, qui định pháp luật; phối hợp đồng bộ, kịp thời, đảm bảo tính thống nhất giữa các cấp, các ngành; mở rộng phạm vi và đối tượng phân công, phân cấp trong công tác quản lý nhà nước về qui hoạch và quản lý qui hoạch, đầu tư, xây dựng cơ bản, đất đai, môi trường...
- Xác định rõ vai trò, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ; ban hành cơ chế về điều hành, chỉ huy trong triển khai các công trình trọng điểm.
Lượt người xem:   15703
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​