Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 08:30
Tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008
05/01/2015
Theo báo cáo số 6151/BC-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2007: Năm 2007, trong điều kiện có nhiều thuận lợi: kế thừa thành tựu của các năm trước, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đầu tư phát huy tác dụng, với nỗ lực của các ngành, UBND các cấp và sự đồng thuận trong nhân dân. Tuy nhiên còn nhiều khó khăn, thách thức như hạn chế về nguồn lực đầu tư phát triển, dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp; giá cả thị trường không ổn định; hạn chế về công tác chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ… Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các cấp, các ngành và nhân dân đã nỗ lực phấn đấu đạt được kết quả quan trọng, sau đây:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2007 đạt cao nhất từ trước đến nay với mức 13,5% đạt kế hoạch đề ra, tăng khá so với năm 2006 (tăng 11,2%), trong đó: khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,6% (KH 5%); khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 25,8% (KH 25,5%); khu vực thương mại, dịch vụ tăng 11,2% (KH 11%). GDP bình quân đầu người 11,75 triệu đồng (KH 11,5 triệu đồng), tăng hơn 19,6% so năm 2006.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: KV I chiếm tỷ trọng 36,4% (-2,0%), KV II chiếm 33,7% ( 1,8%), KV III chiếm 29,9% ( 0,2%).
2. Sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi gặp một số khó khăn như dịch bệnh trên tôm sú, nguy cơ dịch bệnh trên gia cầm, gia súc ảnh hưởng đến sức sản xuất, nhưng đã khống chế được dịch bệnh trên cây lúa, sản lượng lương thực 1,95 triệu tấn lúa đạt 108,4% kế hoạch năm.
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp tăng 4,7% so với năm 2006.
3. Sản xuất công nghiệp được tập trung, chỉ đạo phát triển, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao, thể hiện vai trò đầu tàu quyết định tốc độ tăng trưởng chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó sự đóng góp tích cực của các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 100,6% KH và tăng 28% so với năm 2006.
4. Hoạt động quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, có nhiều nỗ lực phấn đấu, số thu hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, đáp ứng yêu cầu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007.
5. Thu hút đầu tư phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh, tăng đáng kể cả về số lượng và vốn đầu tư. Đầu tư trong nước, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng 33%, vốn đầu tư tăng 4,2 lần so với năm 2006; đầu tư nước ngoài tăng hơn 2,2 lần cả về số lượng và vốn đầu tư.
6. Do kinh doanh bán lẻ hàng hoá phong phú, đa dạng và các ngành dịch vụ như ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải, nhà nghỉ, nhà trọ,… được khai thác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất và đời sống của nhân dân, đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng của khu vực vượt kế hoạch. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ vượt kế hoạch 6%, tăng 25,3% so với năm 2006. Doanh thu du lịch tăng hơn 33% so năm 2006.
7. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị truờng và giá cả, các doanh nghiệp có nhiều nỗ lực phấn đấu, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng nhiều, tăng 2 lần so với năm 2006, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu đạt 110% kế hoạch, tăng 34% so với năm 2006 (kế hoạch tăng 25%).
8. Các lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt, vượt kế hoạch đề ra, như: giải quyết việc làm cho 31.000 lao động; giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 8,5%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 19,2%; tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch 83%; huy động quỹ đền ơn đáp nghĩa đạt 105,8% kế hoạch; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30%.
9. Tiếp tục tập trung công tác cải cách hành chính và bước đầu phát huy hiệu quả, nhất là trong cải cách thủ tục hành chính đã góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư, tăng lòng tin của người dân, doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước.
II. TÌNH HÌNH CỤ THỂ VỀ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH CỦA CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC TRONG NĂM 2007 NHƯ SAU:
1. Nông, lâm nghiệp, thủy sản:
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 5562,8 tỷ đồng (giá cố định 1994) tăng 4,7% so với cùng kỳ. Trong đó nông nghiệp 4.510,3 tỷ (tăng 5,3%), lâm nghiệp 251,2 tỷ (giảm 0,7%) và thủy sản 801,3 tỷ (tăng 3,0%).
a) Giá trị sản xuất trồng trọt tăng 8,9% (năm 2006 giảm 6,4%). Do chủ động thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cây lúa nên sản xuất lúa năm 2007 đạt khá. Diện tích lúa cả năm 428.391 hecta tuy giảm 4.810 hecta so với năm trước nhưng năng suất bình quân 46,2 tạ/hecta (tăng 4,9 tạ/hecta), sản lượng 1,95 triệu tấn đạt 108,4% KH (KH 1,8 triệu tấn). Các loại cây trồng khác đều tăng diện tích, sản lượng. Riêng cây đay với diện tích 8.800 hecta, do Dự án nhà máy bột giấy Phương Nam chưa hoạt động nên nông dân gặp khó khăn trong việc tiêu thụ đay.
Triển khai thực hiện Chương trình xây dựng cánh đồng có giá trị tăng thêm 25 triệu đồng/hecta/năm trên địa bàn một số huyện, thị: cánh đồng lúa luân canh rau màu, lúa kết hợp nuôi thủy sản, rau, lúa gắn với VAC, nuôi tôm sú kết hợp nuôi cá, lúa kết hợp cây trồng cạn (mè, khoai, bắp,..)...
Trong năm UBND tỉnh quyết định phê duyệt phương án cơ giới hóa trong nông nghiệp nhằm nâng cao tỷ lệ diện tích nông nghiệp được cơ giới hóa, góp phần tăng năng suất, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
b) Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng 13,2% (năm 2006 tăng hơn 31%). Dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đã được khống chế. Tuy nhiên, nguy cơ tái phát còn rất cao gây tâm lý ngại chăn nuôi và khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm đã làm tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành giảm so với cùng kỳ.
c) Nuôi trồng thủy sản: do thời tiết và môi trường nước không ổn định, con giống nhiễm bệnh, công tác vệ sinh ao nuôi chưa tốt, người nuôi không tuân thủ lịch mùa vụ, không cắt vụ để ngăn chặn dịch bệnh… đã gây thiệt hại đến sản lượng nên giá trị sản xuất ngành thủy sản chỉ tăng 3% so với cùng kỳ. Trong năm 2007 tỉnh tiếp tục tập trung thực hiện các dự án nuôi thủy sản.
d) Về lâm nghiệp: do tiêu thụ cây tràm vẫn khó khăn, giá thấp, do đó giá trị sản xuất của ngành giảm 0,3% so với cùng kỳ. Trong năm toàn tỉnh đã trồng 70 hecta rừng phòng hộ, đạt 100% KH vốn, trồng 03 triệu cây phân tán đạt 100% KH. Diện tích rừng hiện có 61.701 ha, bằng 89,8% so với cùng kỳ do một số diện tích rừng chuyển sang cây trồng khác (chủ yếu là trồng lúa); tỷ lệ che phủ rừng năm 2007 đạt 17,3%. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng được quan tâm, nhưng trong năm đã xảy ra 10 vụ cháy 100,5 hecta tràm.
e) Thực hiện chương trình đầu tư cụm tuyến dân cư tiến độ còn rất chậm: đến tháng 11/2007 số hộ bình xét 25.010 hộ, giao nền: 18.521 hộ đạt tỷ lệ 52,1% so với quy mô; vào ở rất thấp mới đạt 8.868 hộ, chỉ đạt 44,3% kế hoạch năm (kế hoạch 20.000 hộ).
2. Công nghiệp:
a) Sản xuất công nghiệp được tập trung, chỉ đạo phát triển, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao, thể hiện vai trò đầu tàu quyết định tốc độ tăng trưởng chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Giá trị sản xuất công nghiệp 11.694,6 tỷ đồng (giá cố định 1994) đạt 100,6% KH và tăng 28% so với năm 2006. Trong đó khu vực quốc doanh Trung ương đạt 106,8% KH và tăng 8,4% so với năm 2006; khu vực quốc doanh địa phương đạt 123% KH và giảm 18% so với năm 2006, khu vực ngoài quốc doanh đạt 97% KH và tăng 11,6% so với năm 2006; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng đạt 100,8% KH và tăng 35,2% so với năm 2006.
Tuy gặp khó khăn nhất định về giá cả vật tư, nguyên liệu, thị trường tiêu thụ… nhưng sản xuất công nghiệp vẫn đạt và vượt kế hoạch do nhiều doanh nghiệp mới thành lập và đầu tư mở rộng, đặc biệt vào những tháng cuối năm cùng với sự tập trung tháo gỡ khó khăn, kịp thời động viên các doanh nghiệp tăng năng suất, tăng sản lượng. Năm 2007 có 23 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ngành. Các sản phẩm chủ yếu như vải thành phẩm, quần áo may sẵn, đường mía…tăng khá; thức ăn gia súc, thuỷ sản, giấy các loại tăng mạnh.
Các sản phẩm chủ yếu gồm: 40,5 triệu mét vải thành phẩm, 31,6 triệu sản phẩm may, 24.000 tấn hạt điều nhân, 157.133 tấn đường, 18.000 tấn thủy sản chế biến, 26.000 tấn giấy, 5 triệu m2 gạch men, 65 triệu lít nước khoáng...
b) Ngành điện tiếp tục phát triển, đáp ứng yêu cầu sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 96% không đạt KH đề ra (97%), do gặp khó khăn trong đầu tư hạ thế đối với những hộ thuộc vùng sâu, vùng xa; tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch 83%, đạt KH đề ra.
3. Thương mại - dịch vụ:
a) Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 8.900 tỷ đồng, vượt kế hoạch 6% (KH 8.400 tỷ đồng), tăng 25,3% so với năm 2006. Doanh thu du lịch 42 tỷ đồng, tăng gần 40% so năm 2006. Chỉ số giá tiêu dùng chung tăng khá cao: 11 tháng đầu năm tăng 12,29%, trong đó hàng hóa tăng 13,42% và dịch vụ tăng 8,35%. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống gian lận thương mại được quản lý chặt chẽ, xử lý kịp thời vi phạm.
Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân. Năm 2007 có thêm nhiều Chi nhánh Ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động; nhà nghỉ, nhà trọ phát triển mạnh; hoạt động bưu chính - viễn thông phát triển tốt, mật độ điện thoại 37,5 máy/100 dân (kể cả mạng di động) đạt 191,2% KH và tăng 117% so cùng kỳ, tất cả các xã đều có điểm bưu điện văn hóa xã… góp phần tăng trưởng khu vực III đạt 11,2% vượt kế hoạch đề ra (KH 11%), trong đó thương mại tăng 11%, dịch vụ tăng 11,25%.
b) Xuất, nhập khẩu tăng trưởng khá:
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị truờng và giá cả nhưng kim ngạch xuất khẩu đạt 640 triệu USD, đạt 110% kế hoạch (KH 581 triệu USD) và tăng 34% so với năm 2006, do trong năm có 208 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, (tăng 104 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2006), trong đó có 108 doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, 100 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng sản lượng và tăng giá so với cùng kỳ: hạt điều (22.000 tấn/KH 21.000 tấn), may mặc (125 triệu USD/KH 120 triệu USD), giày da (145 triệu USD/KH 30 triệu USD), thủy sản (65 triệu USD/KH 42 triệu USD),… Riêng mặt hàng gạo dự kiến sản lượng xuất khẩu chỉ đạt 280 ngàn tấn, đạt 96,55% kế hoạch (KH 290 ngàn tấn), do quý IV năm 2007 tạm ngưng xuất khẩu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nhưng về mặt giá trị kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt kế hoạch do giá xuất khẩu tăng so với cùng kỳ (310 USD/tấn so cùng kỳ 2006 chỉ đạt 285 USD/tấn).
Về nhập khẩu: kim ngạch nhập khẩu 330 triệu USD, đạt 132% kế hoạch (KH 250 triệu USD) và tăng 8% so với năm 2006. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ; nguyên nhiên vật liệu: sợi dệt, hóa chất, hạt nhựa…
4. Đầu tư phát triển:
* Dự kiến huy động vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 đạt 8.740 tỷ đồng, tăng 35,5% so với năm 2006, chiếm gần 49,8% GDP (đạt kế hoạch đề ra là 49%).
a) Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2007 là 873,45 tỷ đồng. Giá trị khối lượng thực hiện ước 752,0 tỷ đồng đạt 86,1% KH. Giá trị cấp phát 728,3 tỷ đồng đạt 83,4% KH. Cụ thể: khối lượng thực hiện phần tỉnh quản lý 538,1 tỷ đồng, đạt 81,6% KH, cấp phát ước 514,45 tỷ đồng, đạt 78% KH; phần huyện quản lý: khối lượng thực hiện và cấp phát ước 213,9 tỷ đồng, đạt 100% KH. Vốn xây dựng cơ bản KH 2007 ưu tiên bố trí trả nợ ứng trước, công trình chuyển tiếp, và công trình trọng điểm.
b) Tiếp tục tập trung đầu tư đường ô tô về đến trung tâm xã bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đến cuối năm 2007 chỉ thông tuyến đến 10 xã, không đạt kế hoạch đề ra, còn lại 22 xã đang triển khai thực hiện.
c) Đã xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo trụ sở xã, phường, trong đó dự kiến hoàn thành đề án triển khai vào quí I/2008.
d) Các chương trình mục tiêu quốc gia: tổng vốn năm 2007 được phân bổ 68,378 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển 9,38 tỷ đồng; tiến độ thực hiện rất chậm (do khâu chuẩn bị thủ tục hồ sơ chậm), đến tháng 11, khối lượng thực hiện chỉ đạt gần 31%, cấp phát đạt khoảng 21%. Những tháng cuối năm tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện hoàn thành khối lượng chương trình. Thực hiện các chương trình mục tiêu đã góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề bức xúc của địa phương như giảm nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục, y tế, nước sạch vệ sinh môi trường, giải quyết khó khăn cho các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
Đã xây dựng lộ trình xây dựng cơ bản đến năm 2010, trong đó chú trọng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng.
5. Thu hút đầu tư trong và ngoài nước tiếp tục đạt được kết quả khả quan:
a) Đầu tư trong nước tăng đáng kể cả về số lượng và vốn đầu tư. Năm 2007 thành lập mới 750 doanh nghiệp, tăng 33% so với năm 2006; trong năm có một số công ty cổ phần đăng ký với vốn đầu tư tương đối lớn đưa tổng vốn đăng ký mới (kể cả điều chỉnh tăng vốn) đạt 11.680 tỷ đồng, tăng 4,2 lần so với năm 2006. Lũy kế đến cuối năm 2007 có 3.415 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh, với tổng vốn đăng ký hơn 17.700 tỷ đồng.
Thu hút đầu tư nước ngoài đạt kết quả khả quan, số lượng dự án và vốn đầu tư (kể cả điều chỉnh tăng vốn) cao nhất từ trước đến nay, có 65 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư (tăng 40 dự án so với năm 2006) với tổng vốn đầu tư khoảng 780 triệu USD (tăng hơn 2,2 lần so với năm 2006).
Lũy kế đến cuối năm 2007 có 191 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 1.872 triệu USD, trong đó đi vào hoạt động 107 dự án, sử dụng hơn 45.000 lao động trực tiếp.
b) Hoạt động xúc tiến đầu tư được củng cố về mặt tổ chức và cơ chế hoạt động, từng bước thực hiện được vai trò đầu mối trong tiếp nhận dự án đầu tư; thực hiện một số chương trình về xúc tiến đầu tư vào tỉnh Long An. Ngoài ra các ngành đang triển khai thực hiện chương trình liên kết, hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh; đang xây dựng kế hoạch liên kết, hợp tác với thành phố Cần Thơ, Đồng Nai và một số tỉnh tiếp giáp Long An.
c) Tình hình đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh:
Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã tiếp nhận các dự án đầu tư công nghiệp với tổng diện tích trên 16.000 hecta, trong đó đã bố trí đầu tư hạ tầng 16 khu công nghiệp với diện tích 6.693 hecta, 46 cụm công nghiệp với diện tích 7.346 hecta. So với chỉ tiêu sử dụng đất công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (10.532 hecta 3.871 hecta/6.356 hecta) thì còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển. Trước tình hình trên, một mặt phải tập trung chỉ đạo, giải quyết vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng thu hút nhà đầu tư sản xuất, mặt khác phải rà soát, lập qui hoạch - kế hoạch sử dụng đất của tỉnh thời kỳ 2011- 2020 trình Chính phủ phê duyệt trong thời gian tới.
d) Về đầu tư kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào khu, cụm công nghiệp: tập trung thi công các tuyến giao thông phục vụ cho khu, cụm công nghiệp như đường qua Khu công nghiệp Đức Hoà 2 - 3, đường vào Khu công nghiệp Thuận Đạo, đường Long Cang - Long Định, đường tỉnh 832; huy động các nguồn lực khác đầu tư (bước đầu thực hiện một số cơ chế đầu tư hạ tầng ngoài hàng rào, qui định đối với nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp,…) để đẩy nhanh tiến độ đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng trong và ngoài các khu, cụm công nghiệp, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp phát triển. Cụ thể: đường vào khu công nghiệp Tân Đức, Hải Sơn; bước đầu huy động vốn không hoàn lại của doanh nghiệp đầu tư để đầu tư đường Long Hậu - Tân Tập, ĐT 826B…; đầu tư các dự án cấp nước phục vụ cho công nghiệp (nhà máy nước Cần Giuộc, Cần Đước, khu công nghiệp Đức Hòa III, hệ thống cấp nước Hòa Khánh Tây...).
đ) Về công tác giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất:
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.140 dự án được giao, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với tổng diện tích là 6.628,1 ha.
Công tác giải phóng mặt bằng trong năm có tiến bộ rõ rệt, đến cuối năm hoàn thành kế hoạch 1.000 ha đất đã san lấp mặt bàng để giao cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn cần tập trung giải quyết: trình tự thủ tục trong thu hồi đất chưa được đồng bộ, chặt chẽ (ban hành quyết định thu hồi đất cá thể không đồng thời với thu hồi đất tổng thể); tình trạng xây dựng nhà và sang nhượng đất trái phép; giá đền bù về đất, vật kiến trúc trên đất chưa được nhân dân đồng tình cao; hệ thống cung cấp nước sạch cho các khu công nghiệp chưa triển khai thực hiện; giao thông bên ngoài hàng rào chưa hoàn chỉnh; công tác đầu tư khu tái định cư chậm, chưa đúng quy trình, chưa đồng bộ với tiến độ triển khai dự án.
Ngoài ra công tác qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa đồng bộ, kịp thời và không theo kịp yêu cầu phát triển nên gây khó khăn trong công tác xúc tiến, thu hút đầu tư.
6. Thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2007 cơ bản đạt kế hoạch, kết quả:
- Hoàn thành thủ tục chuyển đổi 8 doanh nghiệp công ích (quá trình chuẩn bị năm 2006 chuyển sang), Công ty cấp nước Long An và Công ty TRACODI sang Công ty TNHH một thành viên.
- Đã tổ chức thành công đấu giá bán tài sản của 2 doanh nghiệp giải thể: Công ty Dệt Long An và Công ty Công trình Giao thông Long An.
Ngoài ra, đang chuẩn bị các thủ tục để chuyển 5 công ty TNHH một thành viên (Cty TNHH Công trình đô thị: Bến Lức, Tân An, Tân Thạnh, Thủ Thừa, Châu Thành) sang Công ty Cổ phần theo phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2008 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
7. Tài chính - tín dụng:
a) Hoạt động quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong năm ước thực hiện 1.494 tỷ đồng, đạt 118,4% so dự toán Trung ương giao, đạt 112,9% dự toán HĐND tỉnh giao, trong đó: thu nội địa đạt 1.374 tỷ đồng, đạt 120,6% so dự toán Trung ương giao, đạt 114,1% dự toán HĐND tỉnh giao; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 120 tỷ đồng đạt 98,4% so dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao. Hầu hết các khoản thu nội địa đạt vượt dự toán, riêng thu từ doanh nghiệp nhà nước Trung ương chỉ đạt 87,5% dự toán Trung ương giao, đạt 77,4% dự toán HĐND tỉnh giao do sản xuất, kinh doanh, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn.
Tổng chi ngân sách cân đối địa phương 2.164 tỷ đồng, đạt 124,5% dự toán Trung ương giao, đạt 120,3% dự toán HĐND tỉnh giao, trong đó chi đầu tư phát triển 618,5 tỷ đồng chiếm 30% tổng chi. Đảm bảo chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên; thực hiện tốt chương trình hành động tiết kiệm.
Riêng thu, chi từ nguồn xổ số kiến thiết đạt 290 tỷ đồng, đạt 100% dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao (đạt 95% dự toán phấn đấu giao 305 tỷ đồng).
Ngoài ra, năm 2007 đã thực hiện:
- Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh, theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ.
- Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh, huyện-thị xã và thí điểm 30% xã, phường, thị trấn, theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ. Dự kiến năm 2008 sẽ nhân rộng thực hiện 100% xã, phường, thị trấn.
b) Đầu tư tín dụng tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của các các thành phần kinh tế. Tổng nguồn vốn tín dụng và tổng dư nợ tăng so với năm 2006, kiểm soát chặt chẽ nên giảm rủi ro, tỷ lệ nợ xấu giảm.
8. CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI:
a) Hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ năm học 2006-2007, chất lượng giáo dục có chuyển biến; thực hiện có kết quả cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững. Đẩy mạnh kiểm tra để hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở toàn tỉnh vào cuối năm 2007.
Tiến độ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học đạt kết quả khá tốt, đã triển khai thực hiện 1.006 phòng đạt 91,95% kế hoạch. Toàn tỉnh có 50 trường đạt chuẩn quốc gia, tuy nhiên chưa có trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đạt chuẩn.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong tỉnh tăng về số lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được nâng lên.
b) Tập trung công tác vệ sinh phòng dịch nên không có dịch lớn xảy ra và khống chế được cúm A H5N1,... Riêng sốt xuất huyết tăng so cùng kỳ nhưng đã tập trung nhiều biện pháp phòng chống, kềm chế không để lây lan thành ổ dịch lớn và hạn chế tử vong.
Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở, mở rộng và thành lập mới một số khoa phòng ở bệnh viện tỉnh, huyện, tăng cường trang thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng hoạt động. Công tác khám chữa bệnh được nâng cao, phục vụ kịp thời yêu cầu người bệnh, giảm dần tình trạng quá tải. Dự kiến 85% xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế (đạt KH), 85% xã có bác sĩ (KH là 90%), 100% xã có y sĩ hoặc nữ hộ sinh và có 989 nhân viên y tế ấp/1015 ấp. Tiếp tục công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, xây dựng mạng lưới y tế ấp.
c) Tập trung đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án về dân số, gia đình, trẻ em, đặc biệt là mở rộng chiến dịch truyền thông dân số và CSSKSS/KHHGĐ đến tận vùng sâu, vùng xa; tập huấn kỹ năng cho cán bộ dân số ở 100% xã, phường, thị trấn, mở rộng mạng lưới cộng tác viên (tăng 12,5%) tạo thuận lợi cho công tác dân số ở cơ sở; tổ chức các hoạt động Tháng hành động Vì trẻ em, ngày Gia đình Việt Nam 28/6 và ngày Dân số Thế giới 11/7 với nội dung thiết thực góp phần làm chuyển biến nhận thức về công tác dân số, gia đình, trẻ em, tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm 1,4% so năm 2006, có thêm 10 xã đạt chuẩn không có người sinh con thứ 3 trở lên. Tuy nhiên do cơ cấu dân số trẻ, một bộ phận dân nông thôn còn chịu ảnh hưởng tâm lý xã hội nên mức giảm sinh chỉ thực hiện được 0,1‰ (KH là 0,4‰). Làm tốt việc huy động Quỹ bảo trợ trẻ em, giáo dục, giúp đỡ trẻ em khó khăn và khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 19,2%, đạt KH đề ra.
d) Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị tại địa phương; phát triển nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật quần chúng góp phần làm phong phú đời sống văn hóa của người dân. Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được đẩy mạnh ở cơ sở. Tổ chức thành công hội nghị biểu dương gia đình văn hóa tiêu biểu, xuất sắc lần thứ nhất. Xây dựng xã văn hóa, Trung tâm văn hóa thể thao cấp xã thực hiện chậm so kế hoạch. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động dịch vụ internet, băng đĩa hình có nội dung xấu đối với giáo dục giới trẻ, sinh viên - học sinh, gây bức xúc xã hội.
Phong trào TDTT quần chúng ở cơ sở tiếp tục phát triển rộng rãi với nhiều loại hình hoạt động phong phú, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt 100% KH, số hộ gia đình thể thao chiếm trên 13%. Tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng năm 2007 và các giải đấu thể thao chào mừng các ngày lễ lớn trong năm.
đ) Tập trung thực hiện chương trình giải quyết việc làm - giảm nghèo, đào tạo nghề, triển khai đề án tổ chức và cán bộ làm công tác giải quyết việc làm - giảm nghèo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ. Hoàn chỉnh đề án xuất khẩu lao động và quy định về hỗ trợ vốn xuất khẩu lao động từ ngân sách địa phương. Xây dựng được mô hình giảm nghèo cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nhưng đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng cho các xã nghèo còn hạn chế. Kết quả, đạt KH năm các chỉ tiêu giải quyết việc làm cho 31.000 lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 8,5%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 30%, xuất khẩu lao động 500 người.
Thực hiện tốt chế độ đối với các đối tượng chính sách. Tổ chức thành công kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ, thăm tặng quà cho các đối tượng chính sách, đẩy mạnh huy động quỹ Đền ơn đáp nghĩa đạt 105,8% KH. Thực hiện thí điểm Đề án tổ chức quản lý và dạy nghề cho người sau cai nghiện, đã khai giảng lớp dạy nghề đầu tiên cho 34 học viên sau cai nghiện, đang tiếp tục thực hiện các bước còn lại của Đề án.
Hoàn thành KH tìm kiếm cất bốc hồi hương hài cốt quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở Campuchia giai đoạn VI (2006-2007) với 76 bộ hài cốt; lũy kế 6 giai đoạn (2001-2007) được 1.614 bộ hài cốt; chuẩn bị triển khai KH giai đoạn VII (2007-2008).
9. AN NINH - QUỐC PHÒNG:
a) Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, nhìn chung đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên tình hình tội phạm và tai-tệ nạn xã hội nhiều nơi còn phức tạp; trong đó xâm phạm về trật tự xã hội tăng 20,9%, tai nạn và tệ nạn xã hội tăng 2,9% so cùng kỳ; bắt và vận động đầu thú 46 đối tượng truy nã; triệt xoá 70 tụ điểm cờ bạc, 11 tụ điểm mại dâm; đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng 96 đối tượng; cảnh cáo giáo dục, xử lý tại xã phường 2.487 đối tượng. Xét đặc xá 56 phạm nhân năm 2007.
Tăng cường công tác trật tự an toàn giao thông, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông, tăng cường lực lượng tuần tra kiểm soát, xử lý 31.606 trường hợp vi phạm, thu phạt tiền 9,787 tỷ đồng. Tuy nhiên tai nạn giao thông đường bộ chưa kềm chế được, xảy ra 279 vụ, tăng 8,1% so cùng kỳ.
b) Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2007, trong đó tập trung các nhiệm vụ trọng tâm như tuyển quân, tuyển sinh quân sự, huy động huấn luyện quân dự bị, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng. Tổ chức sơ kết 4 năm thực hiện đào tạo Chỉ huy trưởng quân sự xã, phường, thị trấn; 4 năm thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng tỉnh, huyện và 5 năm hoạt động phòng không lục quân, phòng không nhân dân. Hoàn thành công tác gọi công dân nhập ngũ năm 2007 đạt 100% chỉ tiêu.
c) Ngành Thanh tra thực hiện 122 cuộc thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, kết hợp phòng chống tham nhũng, lãng phí; qua đó giúp các cơ quan, đơn vị chấn chỉnh, củng cố, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định pháp luật, đã kết thúc 96 cuộc, phát hiện sai phạm trị giá 17,266 tỷ đồng, kiến nghị xử lý theo quy định pháp luật. Thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng tỉnh Long An; tiếp tục thực hiện Chương trình hành động phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Các vụ việc tham nhũng xảy ra trên địa bàn tỉnh được điều tra làm rõ, xử lý theo pháp luật.
Tập trung tiếp công dân và giải quyết được nhiều vụ việc khiếu nại - tố cáo của công dân, góp phần ổn định trật tự xã hội. Tuy nhiên vẫn còn phát sinh một số vụ kéo kiện vượt cấp. Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã kịp thời thành lập các Đoàn thẩm tra, xử lý không để tình hình phức tạp thêm.
10. XÂY DỰNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN:
Tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, hoàn chỉnh cơ cấu cấp phòng thuộc Sở ngành và huyện, thị xã. Quản lý sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp theo đúng quy định. Tổ chức thanh tra công chức, công vụ ở các ngành và địa phương theo kế hoạch, chấn chỉnh các thiếu sót tồn tại. Tiếp tục phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Tăng cường kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh sơ sót trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” nên có chuyển biến, hồ sơ thủ tục công khai minh bạch, tạo thuận lợi và bớt phiền hà cho người dân. Triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu cơ chế « một cửa liên thông » trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thuế, khắc dấu...Tuy nhiên trong quá trình cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế « một cửa » chưa thực sự đồng bộ, xuyên suốt, thủ tục còn khó khăn, phức tạp cần phải tiếp tục tháo gỡ.
Thực hiện thí điểm Đề án ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hành chính nhà nước tại UBND thị xã đạt kết quả, phục vụ tốt hơn yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, sẽ mở rộng áp dụng cho các địa phương khác.
III. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM :
1. Bên cạnh những kết quả đạt được trên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh còn một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục trong thời gian tới:
a) Chất lượng tăng trưởng kinh tế không cao, thiếu ổn định, bền vững, nhất là khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản do còn chịu ảnh hưởng của yếu tố khách quan như thời tiết, dịch bệnh sản xuất còn bấp bênh, hiệu quả không cao, xây dựng các cánh đồng có giá trị tăng thêm 25 triệu đồng/ha/năm chưa đều khắp các huyện, thị xã.
b) Một số nhiệm vụ chưa được cụ thể hoá, thiếu tập trung chỉ đạo điều hành thực hiện dẫn đến đạt kết quả, hiệu quả chưa cao như: công tác qui hoạch, quản lý thực hiện qui hoạch; tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh tập trung, qui mô lớn; những cánh đồng có giá trị tăng thêm 25 triệu đồng/ha/năm; xây dựng thương hiệu hàng hoá; xây dựng chiến lược toàn diện về xuất khẩu; huy động nguồn lực xã hội còn hạn chế... Công tác đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là các công trình trọng điểm, cụm tuyến dân cư chậm; một số vấn đề về xã hội chưa được quan tâm thực hiện. Từ những tồn tại trên dẫn đến các chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra như: đường ô tô về đến trung tâm xã: thực hiện đạt 91% (KH 94%); đưa dân vào ở trong cụm tuyến dân cư 8.868 hộ (KH 20.000 hộ); hộ dân sử dụng điện 96% (KH 97%); xã có bác sĩ 85% (KH 90%); tỉ lệ giảm sinh 0,1‰ (KH 0,4‰).
c) Công tác thu hút đầu tư có phát triển nhưng chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư, một số vấn đề phát sinh chưa kịp thời giải quyết như: hiệu quả sử dụng đất chưa cao, tiến độ đầu tư một số dự án chậm, vấn đề ô nhiễm môi trường chưa giải quyết dứt điểm; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, chuyển đổi lao động còn hạn chế,...
d) Chưa có cơ chế phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá xã hội; chưa có giải pháp tích cực để đa dạng hoá các hình thức thu hút nguồn lực đầu tư hạ tầng kinh tế-xã hội, từ đó hiệu quả huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển đạt thấp.
đ) Một số vấn đề bức xúc của xã hội chưa được giải quyết kịp thời như: chất lượng phổ cập giáo dục chưa vững chắc, công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác y tế ở cơ sở còn hạn chế, tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông chưa được kiềm chế, tình hình an ninh công nhân, nông thôn một số nơi chưa được bảo đảm, còn diễn biến phức tạp.
2. Những hạn chế, yếu kém trên do nhiều nguyên nhân:
a) Về khách quan: tình hình dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp; giá cả vật tư tăng, thủ tục xây dựng cơ bản rườm rà, nặng nề; vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng… Các khó khăn trên đã được dự báo ngay từ đầu năm nhưng vẫn chưa khắc phục tốt.
b) Về chủ quan: do sự quản lý điều hành của UBND tỉnh có mặt hạn chế. Vai trò trách nhiệm người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao, chậm đổi mới, chưa khoa học, tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn dàn trãi không có trọng tâm, trọng điểm; thiếu chủ động, sáng tạo, không kiên quyết thực hiện nhiệm vụ giao.
- Công tác phối hợp giữa các ngành, giữa ngành với địa phương chưa chặt chẽ và đồng bộ, còn đùn đẩy trách nhiệm, chậm xử lý các khó khăn vướng mắc phát sinh nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng, thu hút đầu tư, công tác đưa dân vào ở trọng cụm tuyến dân cư, công tác cải cách thủ tục hành chánh, các vấn đề xã hội phát sinh,…
- Còn một bộ phận cán bộ, công chức năng lực còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ chưa cao.
Các nguyên nhân chủ quan trên, nếu được quan tâm, tập trung khắc phục thì chắc chắn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2007 sẽ đạt kết quả, hiệu quả cao hơn.


Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008

Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VIII đã đề ra, có ý nghĩa rất quan trọng, tạo động lực để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêucủa cả giai đoạn phát triển. Từ đó, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị để đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mức cao và bền vững hơn.
I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH
Năm 2008, ngoài những đặc điểm chung của cả nước hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế, tỉnh Long An còn có những thuận lợi riêng:
Thuận lợi lớn nhất là sự thống nhất đoàn kết, đồng thuận trong nội bộ và nhân dân tạo nên sức mạnh cho quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội những năm qua, đặc biệt là các chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt, tạo nền tảng vững chắc phát huy tiềm năng của tỉnh, thúc đẩy sản xuất phát triển và ổn định đời sống nhân dân, tạo thế và lực mới cho tỉnh trong quá trình hội nhập vào Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hội nhập kinh tế quốc tế.
Môi trường đầu tư được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi trong thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài; nhiều dự án đầu tư trong nước và nước ngoài với vốn đăng ký lớn sẽ triển khai trong năm 2008.
Tuy nhiên, tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức:
Nhu cầu chi cho đầu tư phát triển rất lớn, nhất là chi cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong khi khả năng huy động nội lực có hạn.
Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Trình độ quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển của xã hội; thiếu lao động kỹ thuật cao, chuyên sâu.
Tiềm lực khoa học công nghệ còn hạn chế, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến chưa cao; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và một số sản phẩm thế mạnh còn thấp trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt; sản xuất nông nghiệp vẫn còn ảnh hưởng bởi nguy cơ dịch bệnh, thời tiết diễn biến phức tạp.
Một số vấn đề bức xúc xã hội đang đặt ra và còn phức tạp như: môi trường sinh thái suy giảm, nhất là môi trường ở các khu, cụm công nghiệp; tình hình trật tự xã hội, an ninh nông thôn, an ninh công nhân,…
Mặt khác thị trường hiện nay là vấn đề toàn cầu, không thể địa phương tự kiềm chế, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều mặt trong quản lý, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Cơ chế, chính sách vĩ mô vận dụng thực tiễn sẽ còn rất phức tạp.
II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU KẾ HOẠCH NĂM 2008:
1. Mục tiêu:
Nâng cao tốc độ chất lượng tăng trưởng kinh tế và sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ; tạo bước chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ; giải quyết tốt các vấn đề bức xúc xã hội, các vấn đề về môi trường, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và đảm bảo an ninh quốc phòng.
Cải thiện môi trường đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng, cải thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học, công nghệ, vận dụng tốt các chính sách liên quan nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển để nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trong năm 2008 và những năm tiếp theo.
2. Một số chỉ tiêu chủ yếu:
2.1. Các chỉ tiêu kinh tế:
- Tổng GDP tăng 14 - 14,5% so với năm 2007, trong đó phấn đấu 14,5%.
Trong đó:
Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,5% (chiếm tỷ trọng 31,2 - 31,5% GDP).
Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp, xây dựng tăng 25 - 25,5% (chiếm tỷ trọng 38,8 - 38,9% GDP).
Giá trị tăng thêm của ngành thương mại, dịch vụ tăng 12 - 12,5% (chiếm tỷ trọng 29,7 - 29,9% GDP).
- GDP bình quân đầu người 14 triệu đồng/người/năm.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trên 30%.
- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 9.250 - 9.300 tỷ đồng, chiếm 45,5 - 46,0% GDP.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 1.932 tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 2.503 tỷ đồng, trong đó có thu, chi xổ số kiến thiết 290 tỷ, chi đầu tư phát triển do địa phương quản lý 813,96 tỷ đồng (bao gồm cả nguồn Trung ương bố trí có mục tiêu).
- Sản lượng lương thực đạt 1,96 triệu tấn.
- Mật độ điện thoại 42 máy/100 dân (kể cả mạng di động).
2.2. Các chỉ tiêu xã hội:
- Mức giảm sinh hàng năm trên 0,4 ‰.
- Giải quyết việc làm cho người lao động: 35.000 lao động.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn: 7,5%.
- Giảm hộ nghèo: 2.500 hộ.
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn: 18,5%.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ: 90%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện: 96,5%.
- Xã có đường ô tô đến trung tâm: giảm 11/22 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 34%.
2.3. Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch: 85%.
- Tỷ lệ thị xã, thị trấn được thu gom rác: 84%.
- Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2007 đạt 17,4%.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ LĨNH VỰC
A. VỀ KINH TẾ
1. Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn:
Duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ ngành; cải thiện đời sống nông dân, đổi mới bộ mặt nông thôn. Phấn đấu giữ vững sản lượng lúa đạt 1,96 triệu tấn, mía 1,1 triệu tấn, đậu phộng 23.250 tấn; phát triển đàn bò 95.000 con, đàn heo 400.000 con, khôi phục đàn gia cầm 4,5 triệu con; nâng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 31.500 tấn, trong đó tôm sú đạt 8.650 tấn.
Tập trung thực hiện các giải pháp chính:
- Tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyên canh, tập trung, qui mô lớn: qui hoạch lại ngành nghề nông thôn hậu gia nhập WTO; tiếp tục thực hiện qui hoạch và triển khai thực hiện vùng đay, tràm, mía,... tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp sớm triển khai dự án 12.000 ha lúa thơm xuất khẩu ở vùng Đồng Tháp Mười, xác định rõ địa chỉ các cánh đồng đạt giá trị tăng thêm trên 25 triệu đồng/ha/năm; khuyến khích phát triển hiệu quả kinh tế trang trại, các vùng chuyên canh trong nông nghiệp. Tăng cường xây dựng và phát triển các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp; hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề, khuyến khích các hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia xuất khẩu. Bên cạnh đó phải thực hiện công tác dự báo thời tiết, dịch bệnh, cung cấp kịp thời thông tin thị trường để chủ động sản xuất nông nghiệp.
Về trồng trọt: phát huy hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh (rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá) trên cây lúa; giảm diện tích lúa năng suất thấp, tăng qui mô trồng các loại cây phù hợp thổ nhưỡng, đáp ứng nhu cầu thị trường; đẩy nhanh tiến độ xây dựng vùng nguyên liệu đay tập trung tại huyện Tân Thạnh, Thạnh Hóa và Mộc Hóa. Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống mới, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất và hiệu quả đầu tư. Hỗ trợ xây dựng thương hiệu hàng hóa nông sản, trong đó chú trọng các hàng hóa truyền thống, có chất lượng như gạo xuất khẩu, thơm Bến Lức, thanh long Châu Thành,...
Về chăn nuôi: tăng cường phòng chống dịch bệnh trên gia súc, phòng chống tái phát dịch; tạo điều kiện để người dân khôi phục, phát triển đàn gia cầm, gia súc; khuyến khích phát triển và hình thành các vùng chăn nuôi tập trung theo hình thức trang trại, nuôi công nghiệp gắn với cơ sở chế biến tập trung và xử lý chất thải.
Về thủy sản: đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án thủy sản, tăng cường công tác quản lý an toàn dịch bệnh cho vùng nuôi thủy sản; tập trung chỉ đạo mùa vụ, kiểm soát con giống và đẩy mạnh công tác hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm sú, tập huấn, trình diễn để phát triển các mô hình nuôi thủy sản hiệu quả, nhất là tôm sú, tôm càng xanh, cá da trơn, cá rô phi chất lượng cao... Khuyến khích hình thành các vùng nuôi thủy sản tập trung, nuôi công nghiệp gắn với cơ sở chế biến.
Về lâm nghiệp: đảm bảo kế hoạch trồng mới và bảo vệ rừng tập trung, tiếp tục trồng cây phân tán ở các vùng xung yếu bảo vệ công trình như ở cụm, tuyến dân cư, các công trình giao thông, thủy lợi,... bù đắp cho diện tích rừng đang giảm mạnh như hiện nay; tạo điều kiện để sớm triển khai các dự án sản xuất bột giấy, ván ép từ nguyên liệu tràm; đồng thời tiếp tục tìm giải pháp khai thác tối đa tài nguyên rừng tràm.
- Giảm chi phí sản xuất nông nghiệp trong tiến trình hội nhập: nghiên cứu sâu về chi phí sản xuất nông nghiệp ở các ngành, vùng để xác định các phương pháp khắc phục các yếu tố nhằm giảm chi phí sản xuất; xây dựng nền nông nghiệp đa dạng sinh học, đa qui mô, nhiều cơ cấu ngành nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp theo cơ chế hợp đồng; thực hiện các biện pháp hỗ trợ theo cam kết WTO như tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, cung cấp thông tin thành tựu khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường trong nước và quốc tế, hỗ trợ cơ giới hoá nông nghiệp, nhất là khâu thu hoạch, bảo quản, sơ chế, chế biến sâu; từng bước xây dựng cơ chế để hộ nông dân mua cổ phần các công ty cung ứng đầu vào, tiêu thụ nông sản, công ty sản xuất kinh doanh trên đất nông nghiệp bị thu hồi…
- Ưu tiên các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn:tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, gắn với qui hoạch phát triển ngành nghề nông nghiệp, nông thôn, vùng chuyên canh, nhất là thủy lợi nội đồng, giao thông nông thôn phù hợp với yêu cầu phát triển. Quan tâm, tập trung đầu tư phát triển các tuyến giao thông nông thôn đến trung tâm xã; tiếp tục bố trí nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thủy sản.
- Hoàn thành giai đoạn 1 và tiếp tục triển khai giai đoạn 2 chương trình dân sinh vùng lũ: tập trung chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể tham gia tuyên truyền các chủ trương, chính sách hỗ trợ người dân vào cụm, tuyến dân cư; tập 9 các nhiệm vụ sau:
- Rà soát các cơ chế, chính sách, các thủ tục hành chính có liên quan đến thu hút đầu tư để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp; kiến nghị Trung ương kịp thời sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách khong còn phù hợp, làm mất cơ hội thu hút đầu tư hoặc xin cơ chế đặc thù của tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, đẩy mạnh tiến độ các dự án đầu tư, kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai, không triển khai, chỉ triển khai một phần hoặc thu hồi bớt diện tích đã giao lớn so với nhu cầu. Kiên quyết không gia hạn đối với các dự án do nguyên nhân chủ quan của nhà đầu tư.
- Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất, bảo đảm quyền lợi cho các hộ bị giải toả theo hướng đảm bảo bù đắp đất cất nhà bị giải toả; triển khai qui hoạch, xây dựng các khu tái định cư tập trung để sử dụng chung cho nhiều dự án gắn với qui hoạch phát triển đô thị, đảm bảo các điều kiện hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, các cơ sở phục vụ an sinh xã hội; khi thẩm định qui hoạch yêu cầu các nhà đầu tư phải có dự án xây dựng nhà ở ổn định cho công nhân,...
- Rà soát, dự báo tình hình để lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011-2020 trình Chính phủ phê duyệt.
- Hoàn thành qui hoạch các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các huyện, thị xã để bố trí tiếp nhận các dự án nhỏ lẻ.
- Thực hiện các giải pháp tiếp nhận đầu tư như: chọn lựa ngành nghề, ưu tiên những dự án có công nghệ cao, sử dụng ít đất đai và lao động; bố trí đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp; kiên quyết không tiếp nhận đầu tư đan xen trong khu dân cư; không tiếp nhận đầu tư thứ cấp có ngành nghề không đúng qui hoạch chi tiết được phê duyệt; kiên quyết xử lý theo qui định đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.
- Thực hiện qui định đối với nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cơ chế đầu tư kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng trong và ngoài các khu, cụm công nghiệp, góp phần thu hút đầu tư... Phấn đấu trong năm 2008 có tối thiểu 1.000 ha đất có đủ điều kiện hạ tầng giao cho nhà đầu tư trực tiếp. Đẩy mạnh thu hút đầu tư sản xuất nhằm khai thác hiệu quả các khu, cụm công nghiệp đã được qui hoạch và hoàn chỉnh về hạ tầng.
- Cải thiện môi trường đầu tư theo hướng thông thoáng hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp: cải thiện chỉ số năng lực cạnh của tỉnh, nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư, công khai minh bạch việc cung cấp thông tin liên quan đến đầu tư cho doanh nghiệp qua việc nâng cao chất lượng hoạt động website tỉnh; đẩy mạnh hơn nữa cải cách thủ tục hành chính nhất là liên quan đến đầu tư, thành lập và hoạt động doanh nghiệp (đăng ký kinh doanh qua mạng, thực hiện qui định về trình tự, thủ tục đầu tư và cơ chế một cửa liên thông,...), đất đai, xây dựng; tích cực hỗ trợ nhà đầu tư từ khâu tiếp xúc đến khi đi vào hoạt động sản xuất; thực hiện cơ chế qui định cam kết giữa chính quyền và nhà đầu tư.
2.2. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến hàng nông sản (mía đường, xay xát gạo, thủy sản…), công nghiệp chế biến hàng hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn, xây dựng (thức ăn chăn nuôi, thép cán…), công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, tiêu dùng (hạt điều, dệt, may mặc,..). Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ tiên tiến và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, quản lý môi trường (ISO 9000, TQM, ISO 14000, HACCP,...). Khuyến khích thành lập các hiệp hội, ngành nghề công nghiệp. Triển khai xây dựng các thương hiệu hàng hóa của tỉnh Long An.
- Triển khai xây dựng tiêu chí phấn đấu để đến năm 2020, tỉnh Long An trở thành tỉnh công nghiệp theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã đề ra.
- Đẩy mạnh hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó trọng tâm là hỗ trợ gián tiếp như cung cấp dịch vụ dự báo công nghệ, đào tạo và tư vấn cho doanh nghiệp, hỗ trợ nâng cao năng lực kỹ thuật, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và khả năng cạnh tranh, hỗ trợ phát triển liên ngành, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Đẩy nhanh tốc độ và chất lượng sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; đổi mới tổ chức quản lý, nâng cao trình độ và tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp đổi mới sớm gia nhập thị trường đi vào hoạt động hiệu quả.
- Chú trọng thực hiện tốt công tác kiểm tra, xử lý kiên quyết, công bằng, công khai các doanh nghiệp làm ăn tắc trách, thiếu uy tín, vi phạm pháp luật.
2.3. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng phục vụ nhu cầu của các khu, cụm công nghiệp: hình thành trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực của tỉnh để phát triển hệ thống đào tạo nhân lực phù hợp; triển khai đào tạo theo đơn đặt hàng của các ngành, công ty lớn qua liên kết 3 bên: các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp có nhu cầu và các cơ quan nhà nước (giáo dục- đào tạo, lao động – thương binh và xã hội); nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng sử dụng ngoại ngữ. Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nhân lực.
2.4. Nâng cao chất lượng qui hoạch, thẩm định qui hoạch và quản lý thực hiện qui hoạch; rà soát, điều chỉnh qui hoạch vùng cho phù hợp qui hoạch phát triển công nghiệp (kể cả qui hoạch chi tiết) để bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả trong phát triển; một số qui hoạch lớn của tỉnh cần thuê tư vấn có chất lượng, kể cả tư vấn nước ngoài (Qui hoạch tổng thể khu vực phía đông sông Vàm Cỏ, hành lang đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh-Trung Lương, đường Quốc lộ N2; qui hoạch đô thị thị xã Tân An, Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc).
Chấn chỉnh công tác quản lý xây dựng cơ bản: tổ chức lại hoạt động của các ban quản lý dự án; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá đầu tư, thực hiện giám sát ngay từ khâu qui hoạch, lập dự án, thẩm định, bố trí vốn đầu tư, đảm bảo tuân thủ theo qui hoạch, kế hoạch được duyệt; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp trong việc bố trí, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc báo cáo giám sát đầu tư. Các ngành chức năng tiếp tục rà soát lại các thủ tục về đầu tư xây dựng cơ bản, kịp thời phối hợp tham mưu tháo gỡ khó khăn vướng mắc để tập trung thực hiện hoàn thành các công trình chuyển tiếp và các công trình trọng điểm của tỉnh năm 2008 gồm: đường qua khu công nghiệp Đức Hòa 2 - Đức Hòa 3, đường Long Cang - Long Định, đường tỉnh 832, Cảng Long An, Trường Cao đẳng nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên; đối với những vấn đề vượt thẩm quyền thì kiến nghị cấp trên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
2.5. Phát triển đô thị: tập trung đầu tư xây dựng nâng cấp thị xã Tân An lên thành phố và huyện Mộc Hóa lên thị xã; bước đầu triển khai đầu tư nâng cấp thị trấn Hậu Nghĩa, Bến Lức đạt chuẩn đô thị loại IV.
Liên kết lập, triển khai qui hoạch khu đô thị tam giác Đức Hòa – Củ Chi - Trảng Bàng. Tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư sớm triển khai khu đô thị kiểu mẫu Sài Gòn - MêKông (2.500 ha ở huyện Bến Lức), khu đô thị tổng hợp, đô thị cảng ở huyện Cần Giuộc.
3. Phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ:
Phát triển và khai thác có hiệu quả mạng lưới chợ, Trung tâm thương mại, siêu thị trên địa bàn tỉnh. Kêu gọi đầu tư khu thương mại - dịch vụ cửa khẩu Bình Hiệp, tiếp tục đầu tư nâng cấp lên cửa khẩu quốc tế đồng thời nâng cấp, mở rộng các tuyến đường khu vực cửa khẩu Tho Mo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biên mậu.
Khuyến khích các ngành dịch vụ, tiếp tục mở rộng, phát triển, nhất là những ngành dịch vụ có giá trị tăng cao như dịch vụ hạ tầng, dịch vụ bảo hiểm, tài chính, dịch vụ phụ trợ phát triển công nghiệp… Xúc tiến đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng hạ tầng Cảng Long An nhằm nhanh chóng đưa Cảng đi vào hoạt động tạo điểm đột phá trong phát triển kinh tế của tỉnh.
Tiếp tục mở rộng liên doanh, liên kết với thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Nai và các địa phương tiếp giáp, đặc biệt với thành phố Hồ Chí Minh trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và khai thác các dự án thương mại, du lịch của tỉnh như Khu di tích cách mạng Bình Thành, Khu du lịch làng nổi Tân Lập, Khu di tích đồn Rạch Cát,...
Triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại trong điều kiện hội nhập, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt ở một số thị trường chủ lực (Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi). Xây dựng chiến lược toàn diện về xuất khẩu, trong đó chú trọng tăng cường hoạt động xuất khẩu đi đôi với nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng, nhất là các mặt hàng xuất khẩu trọng yếu như gạo, hạt điều nhân, thủy sản, dệt may, giày da, vải sợi...
Tiếp tục phát triển mạng lưới dịch vụ bưu chính, viễn thông đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng phát triển công nghiệp, đô thị của tỉnh.
4. Thu chi ngân sách:
Quản lý, khai thác tốt nguồn thu và phát triển nguồn thu, nhất là các nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích thành lập mới doanh nghiệp mở chi nhánh tại tỉnh Long An để tạo nguồn thu hợp pháp từ địa bàn khác vào tỉnh; xử lý tích cực và có hiệu quả các khoản nợ đọng thuế, chống thất thu, trốn lậu thuế và gian lận thương mại, chống tình trạng chuyển giá, chuyển số thu từ địa bàn tỉnh sang địa bàn khác trái qui định; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm. Dự kiến thu nội địa (không bao gồm nguồn thu tiền sử dụng đất) tăng tối thiểu 10% so với mức thực hiện năm 2007, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng tối thiểu 10%.
Chi ngân sách cân đối trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách nhà nước. Tiết kiệm chi thường xuyên, dành một phần chi ngân sách cho các hoạt động bảo trợ trẻ em, giảm nghèo; lồng ghép có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia với đầu tư từ ngân sách địa phương và đẩy mạnh huy động các nguồn lực khác, tạo ra hiệu quả cao nhất trong sử dụng vốn đầu tư. Chi cho đầu tư phát triển tập trung cho các dự án, công trình trọng điểm, chương trình ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, chương trình phát triển nguồn nhân lực. Ưu tiên ngân sách cho các lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đảm bảo cho các hoạt động quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính nhà nước, hoạt động của Đảng, các đoàn thể theo chính sách, chế độ, định mức hiện hành và theo đúng các Nghị quyết của Đảng, của Hội đồng nhân dân. Trong đó, chi ngân sách cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo - dạy nghề không dưới 20% tổng chi ngân sách nhà nước.
5. Huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:
Huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 9.250 - 9.300 tỷ đồng, chiếm
45,5 - 46,0% GDP, tăng 23,5% so với năm 2007. Trong đó thu hút vốn đầu tư các doanh nghiệp trong nước khoảng 2.250 - 2.300 tỷ đồng; thu hút đầu tư nước ngoài khoảng 3.600 - 3.650 tỷ đồng (tương đương vốn thực hiện đạt 230 - 235 triệu USD).
Nhu cầu vốn xây dựng cơ bản do địa phương quản lý năm 2008 là 913,96 tỷ đồng, khả năng cân đối là 813,96 tỷ đồng (gồm cân đối ngân sách địa phương 735 tỷ đồng và vốn hỗ trợ đầu tư có mục tiêu của Trung ương 78,96 tỷ đồng, vốn nước ngoài ODA 10 tỷ đồng). Phần còn lại được huy động từ các nguồn vốn khác như: kêu gọi đầu tư, nguồn vốn ODA, vay tạm ứng Kho bạc,... Kế hoạch phân bổ đủ 913,96 tỷ đồng, như sau:
- Dự kiến phân cấp huyện, thị 223,905 tỷ đồng (do UBND các huyện, thị xã trình HĐND huyện, thị xã quyết định danh mục đầu tư cụ thể).
- Tỉnh quản lý 690,055 tỷ đồng (vốn địa phương cân đối chi xây dựng cơ bản 105,645 tỷ đồng, nguồn thu xổ số kiến thiết 290 tỷ đồng). Trong đó, chi trả nợ Kho bạc và Ngân hàng Phát triển 173,7 tỷ đồng.
Nguồn vốn ngân sách tập trung và nguồn xổ số kiến thiết bố trí đầu tư theo theo thứ tự ưu tiên: trả nợ tạm ứng kho bạc, Ngân hàng phát triển, nợ khối lượng hoàn thành; danh mục chuyển tiếp; danh mục công trình trọng điểm; vốn đối ứng cho các chương trình mục tiêu quốc gia; các dự án khác đã có đủ điều kiện theo quy định và đủ khả năng cân đối.
Ngoài nguồn vốn cân đối trên, năm 2008 tỉnh phấn đấu tạo nguồn vốn tăng thêm 100 tỷ đồng để chi cho đầu tư phát triển, hỗ trợ xây dựng thị xã Tân An lên thành phố, thị trấn Mộc Hóa lên thị xã, thị trấn Hậu Nghĩa, Bến Lức từng bước lên đô thị loại 4; hỗ trợ các huyện đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhất là các công trình giao thông thủy lợi.
B. CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI:
1. Về giáo dục, đào tạo: Củng cố, duy trì và phát huy kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục thời gian qua, gắn với đẩy mạnh phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Phấn đấu nâng tỷ lệ trẻ đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học đạt 98,5%, bậc trung học cơ sở đạt 90%, trung học phổ thông đạt 48%. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “hai không” với 4 nội dung trong ngành giáo dục gắn với cuộc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện như đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy, tăng cường trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, đào tạo bồi dưỡng để chuẩn hoá giáo viên. Đẩy mạnh thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp và tiếp tục đầu tư các trường THPT nơi bức xúc để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, chuyển các trường bán công, dân lập sang tư thục; khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia đầu tư vào hoạt động giáo dục, đào tạo.
2. Về khoa học công nghệ: Tập trung ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống. Trong nông nghiệp tạo bước đột phá về giống cây, con, kỹ thuật canh tác, thu hoạch, sau thu hoạch để tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế nông thôn. Trong công nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh hàng hóa. Triển khai xây dựng Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ Đồng Tháp Mười.
Thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện cổng thông tin điện tử của tỉnh.
3. Về lao động - thương binh và xã hội: Tập trung thực hiện chương trình giải quyết việc làm - giảm nghèo với chất lượng và tính bền vững cao, trong đó chú trọng mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và nâng cao số lao động đi làm việc nước ngoài; phấn đấu giải quyết việc làm mới cho 35.000 lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống dưới 4,3% số lao động trong độ tuổi, giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) còn 7,5%.
Tăng mức đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề công lập hiện có, đồng thời có cơ chế chính sách xã hội hóa dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề trong tình hình mới, gắn đào tạo nghề và hoạt động của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả. Phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động, hội chợ việc làm và nâng cao hiệu quả hoạt động Trung tâm giới thiệu việc làm của tỉnh. Thực hiện các dự án chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho lao động nữ, lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Tập trung phòng, chống và giảm mạnh các tệ nạn xã hội gắn với xây dựng xã phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội. Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất của Trung tâm cai nghiện theo đề án đã được duyệt nhằm thực hiện tốt việc dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với phòng, chống tệ nạn xã hội. Tăng cường cơ chế phối hợp, thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn chặn tình trạng đình công, bãi công của công nhân ở các khu, cụm công nghiệp tập trung.
Thực hiện tốt công tác thương binh liệt sĩ, chế độ chính sách đối với người có công, công tác bảo trợ xã hội. Tiếp tục cất bốc, qui tập hài cốt liệt sĩ theo kế hoạch đề ra.
4. Về y tế - dân số: Tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân với chất lượng ngày càng cao. Tập trung làm tốt công tác vệ sinh phòng dịch, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh. Tăng cường các biện pháp kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thức ăn, tai nạn thương tích lao động.
Tăng giường bệnh/1 vạn dân lên 15 giường, tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ đạt 90%. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ khám chữa bệnh người có công, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách, xã hội. Thực hiện chính sách và chế độ hỗ trợ đào tạo cán bộ y tế vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Tập trung đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở y tế để nâng cao khả năng khám điều trị bệnh. Xây dựng và thực hiện Đề án nâng cấp chất lượng dịch vụ y tế cơ sở tạo điều kiện để y tế cơ sở đáp ứng được nhiều dịch vụ khám bệnh thiết yếu và tính tiện dụng cao đối với người dân.
Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế bằng nhiều hình thức đa dạng và phù hợp điều kiện thực tế để huy động được nhiều nguồn lực xã hội, phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chũa bệnh của người dân ngày càng cao. Khuyến khích kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập.
Tập trung thực hiện tốt công tác dân số, gia đình và trẻ em, thường xuyên đẩy mạnh truyền thông dân số để đạt mục tiêu dân số đề ra. Phấn đấu đạt mức giảm sinh trên 0,4 ‰ và đạt tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,12%, giảm số lượng người sinh con thứ 3 trở lên. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 18,5%. Tăng mỗi năm 2% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở các cấp học phổ thông và 5% số trẻ em ở lứa tuổi 3-5 được đi nhà trẻ, mẫu giáo.
Chú trọng nâng cao nhận thức, vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Hạn chế tối đa số trẻ em bị phân biệt đối xử, bị xâm hại, tiếp tục xây dựng xã phường phù hợp với trẻ em.
5. Về văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Thực hiện có hiệu quả phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa - sức khỏe”. Phấn đấu đạt 100% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa. Kiểm tra nâng cao chất lượng ấp văn hóa gắn với xây dựng xã văn hóa. Khuyến khích và huy động các nguồn vốn để xây dựng thiết chế văn hóa xã, phường, trong đó tập trung xây dựng Trung tâm văn hóa - thể thao cấp xã.
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền kịp thời đưa chủ trương, chính sách, pháp luật về cơ sở. Phát triển nhiều loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cơ sở. Thực hiện bảo tồn di tích cách mạng, di tích lịch sử, văn hóa, tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh các công trình di tích để phát huy hiệu quả.
Tiếp tục mở rộng quá trình chuyên nghiệp hóa gắn với xã hội hóa thể thao đối với các môn thế mạnh, có điều kiện. Đồng thời quan tâm đầu tư hỗ trợ phát triển thể thao quần chúng đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, phấn đấu nâng số người luyện tập thể thao thường xuyên (trên 20%).
6. Thực hiện chương trình phát triển thanh niên Việt Nam: Triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia về thanh niên. Phát động mạnh mẽ phong trào thanh niên xung kích, tình nguyện tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; động viên thanh niên trí thức về công tác tại các địa bàn nông thôn, vùng xâu, vùng xa. Quan tâm hỗ trợ thanh niên trong học nghề và giải quyết việc làm, trong phong trào sáng tạo, phát huy tiến bộ khoa học kỹ thuật, góp phần nâng cao dân trí, giảm nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
7. Thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ: Tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 Chiến lược Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đời sống, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục thực hiện công tác xóa mù chữ cho phụ nữ ở độ tuổi dưới 40, nâng tỷ lệ phụ nữ được đào tạo nghề. Đảm bảo phụ nữ có nhu cầu được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi của mọi người dân, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, vùng sâu, vùng xa về bình đẳng giới, các quyền của phụ nữ…
C. TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG
Quản lý và lựa chọn phương án sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng tiết kiệm và bền vững, đáp ứng các cam kết bảo vệ môi trường với cộng đồng quốc tế, hạn chế tác động xấu của quá trình toàn cầu hóa. Chủ động phối hợp các tỉnh lân cận kiểm soát chặt chẽ liên vùng các vấn đề về ô nhiễm môi trường; phối hợp với các tỉnh lân cận kiểm soát ngay từ khâu qui hoạch. Phối hợp với thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục cải tạo và xử lý môi trường trên các sông Cần Giuộc, Kênh Thầy Cai; tiến hành kiểm soát chặt chẽ và có giải pháp ngăn chặn, khắc phục các nguồn chất thải từ các cơ sở công nghiệp và hoạt động dân cư ven sông.
Tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư ý thức tham gia bảo vệ môi trường không xả thải, nước thải, rác thải trong sinh hoạt, sản xuất, nhất là khuyến cáo nông dân trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định. Bên cạnh việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về môi trường, tăng cường việc kiểm tra, giám sát, thực hiện chế tài về việc chấp hành các qui định về môi trường của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp cần triển khai thực hiện Chiến lược môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; đặc biệt là sẵn sàng đối phó với các sự cố môi trường trong các khu, cụm công nghiệp dọc theo các tuyến sông, Trung tâm các khu dân cư, đô thị. Tăng cường theo dõi chặt diễn biến thời tiết khí hậu, thuỷ văn, chỉ đạo xây dựng và thực hiện công tác phòng chống lũ lụt hàng năm. Nâng cao năng lực phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tại, sự biến động khí hậu bất lợi đối với môi trường.
D. XÂY DỰNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN:
Sắp xếp, ổn định hoạt động cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo cơ cấu mới, đủ sức thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, tiếp tục phân cấp quản lý gắn với tăng cường kiểm tra, hỗ trợ, quy định rõ trách nhiệm từng cấp, từng ngành, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, tinh thần trách nhiệm củangành, địa phương trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Đảm bảo cơ sở vật chất,phương tiện cần thiết phục vụ hoạt động của các tổ chức nhà nước.
Tăng cường kiểm tra, nâng cao hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính, mở rộng thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” đơn giản thủ tục hành chính, công khai, minh bạch các quy định về thủ tục hành chính đảm bảo tính tiện ích và thuận lợi cho doanh nghiệp và công dân.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình hành động về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung vào lĩnh vực XDCB, quản lý nhà-đất,…Thường xuyên kiểm ta, xử lý kịp thời những hành vi tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí tài sản, tiền vốn của nhà nước.
E. QUỐC PHÒNG - AN NINH, TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI:
Tăng cường phối hợp đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động của phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, góp phần thực hiện đạt kết quả chương trình phòng chống tội phạm giai đoạn 2006-2010; mục tiêu 3 giảm; đảm bảo an ninh nông thôn, công nhân.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; có giải pháp đồng bộ và hiệu quả kéo giảm tai nạngiao thông, giảm thiệt hại. Tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại.
Thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, tập trung chỉ đạo giải quyết đến nơi đến chốn các nội dung khiếu kiện chính đáng, không để điểm nóng và kéo kiện đông người, vượt cấp. Kiên quyết xử lý đối tượng cầm đầu, kích động, xúi giục.
Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng năm 2008, trong đó tập trung các nhiệm vụ trọng tâm như: tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, gọi công dân nhập ngũ; tổ chức huấn luyện diễn tập; công tác đào tạo Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng năm 2008. Tổ chức diễn tập, vận hành cơ chế theo Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị.
Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, quan tâm chăm lo sản xuất, đời sống nhân dân vùng biên giới, phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới. Thực hiện công tác phân giới cắm mốc biên giới theokế hoạch./.
Lượt người xem:   4749
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​