Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Số liệu KT-XH

Website

Liên kết

Số liệu KT-XH
Thứ 2, Ngày 05/01/2015, 08:00
Tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2007
05/01/2015
Theo báo cáo số 5933/BC-UBND ngày 01 tháng 12 năm 2006, Căn cứ Nghị quyết Tỉnh ủy, Nghị quyết HĐND tỉnh về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng năm 2006, Nghị quyết số 01/2006/NQ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2006, và các chủ trương, chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời trên cơ sở kế thừa những thành tựu phát triển các năm trước; UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo điều hành UBND các cấp, các ngành vượt qua khó khăn, triển khai thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 đạt được kết quả cụ thể như sau:
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương năm 2006 đạt 11,2% (KH 12%), trong đó khu vực I đóng góp vào tăng trưởng chung 0,6%, khu vực II đóng góp 7,7%, khu vực III đóng góp 2,9%. GDP bình quân đầu người 9,9 triệu đồng (KH 9,9 triệu đồng).
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: khu vực I chiếm tỷ trọng 38,6% (-3,6%), khu vực II chiếm 31% ( 2,7%), khu vực III chiếm 30,4% ( 0,9%).
Tăng trưởng năm 2006 tuy không đạt KH đề ra nhưng cao hơn năm trước, là cố gắng trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Khu vực nông-lâm-thủy sản chỉ tăng 1,3%, trong đó nông nghiệp tăng trưởng âm -1,5% (lần đầu tiên kể từ năm 1997 âm –2,9%). Do đó mức tăng trưởng chung dựa vào sự phát triển nhanh của khu vực công nghiệp-xây dựng (tăng trưởng 26,3%/KH 23,5%), và sự tiến bộ của khu vực thương mại-dịch vụ.
II. CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ:
1. Nông, lâm, thuỷ sản:
Giá trị sản xuất ngành nông-lâm-thuỷ sản 5.300 tỷ đồng (giá cố định 1994) tăng 1% so với cùng kỳ. Trong đó nông nghiệp 4.264 tỷ (giảm 1,4%), lâm nghiệp 253 tỷ (tăng 1,4%) và thuỷ sản 783 tỷ (tăng 15,9%).
1.1. Giá trị sản xuất trồng trọt giảm 6,4%, trong đó riêng cây lúa giảm 8,5%. Sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn, do rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá gây hại nặng làm cho năng suất ở hầu hết các huyện, thị xã đều giảm. Đến ngày 8/11/2006 toàn tỉnh có 34.534 hecta/64.300 hecta lúa Mùa và Đông xuân 2006-2007 bị nhiễm. Diện tích lúa cả năm ước 433.201 hecta (tăng 3.922 hecta), năng suất bình quân 40,8 tạ/hecta (giảm 4,2 tạ/hecta), sản lượng 1.769.419 tấn chỉ đạt 92,2% KH (chỉ tiêu năm 2006 là 1,920 triệu tấn).
UBND tỉnh đã phê duyệt chương trình xây dựng những cánh đồng có giá trị tăng thêm 25 triệu đồng/hecta/năm, theo đó Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với các huyện, thị xã để xây dựng các mô hình và triển khai thực hiện trong năm 2007.
1.2. Giá trị sản xuất chăn nuôi tăng 31,1% nhưng chiếm tỷ trọng thấp trong khu vực I (khoảng 15%). Dịch cúm gia cầm và bệnh lỡ mồm long móng gia súc được khống chế, tổ chức tiêm phòng và kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ để ngăn chặn tái phát. Đang trong giai đoạn khôi phục đàn.
1.3. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển khá, tăng trưởng 15,8%. Trong đó nuôi tôm sú tăng 12,2%, nuôi cá nước ngọt tăng 24%. Năm 2006 tập trung thực hiện 7 dự án nuôi thủy sản ở các huyện Cần Giuộc, Tân Trụ, Châu Thành, Mộc Hóa, Tân Hưng. Tập trung chỉ đạo mùa vụ, kiểm soát con giống và đẩy mạnh công tác hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm sú, tập huấn, trình diễn để phát triển các mô hình nuôi tôm càng xanh, cá rô đồng, cá sặc rằn…
1.4. Lâm nghiệp không triển khai trồng mới, chủ yếu chăm sóc khai thác rừng hiện có và trồng cây phân tán, do đó chỉ tăng trưởng 1,3%. Toàn tỉnh có 66.627 hecta rừng, giảm 2.121 hecta so đầu năm. Tiêu thụ cây tràm khó khăn, giá giảm thấp nên người dân chuyển một số diện tích sang trồng lúa. Trồng cây phân tán được 3 triệu cây (60% KH). Tập trung phòng chống cháy rừng, chỉ xảy ra 5 vụ cháy 24 hecta tràm.
1.5. Chương trình dân sinh vùng lũ tiếp tục thi công hạ tầng kỹ thuật, giao nền, đưa dân vào ở cụm, tuyến dân cư. Đã xét duyệt 20.846/22.273 hộ đăng ký, giao nền13.631 hộ, vào ở 4.854 hộ. Thu tiền bán nền 128,8 tỷ đồng, trong đó bán nền có hệ số sinh lợi 118,8 tỷ đồng. Nhìn chung có cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công hạ tầng kỹ thuật nhưng còn chậm do thiếu vốn, kết quả đưa dân vào ở còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu đề ra (15.000 hộ).
2. Công nghiệp:
2.1. Sản xuất công nghiệp được tập trung thúc đẩy phát triển, qui mô mở rộng, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao. Kết cấu hạ tầng trong và ngoài các khu, cụm công nghiệp được tiếp tục đầu tư hoàn thiện, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp phát triển, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Giá trị sản xuất công nghiệp 9.119,3 tỷ đồng (giá cố định 1994) đạt 100,1% KH và tăng 28,6% so với năm 2005. Trong đó khu vực quốc doanh Trung ương đạt 126,2% KH (tăng 7,1%), khu vực quốc doanh địa phương đạt 228% KH (giảm 69,7%), khu vực ngoài quốc doanh đạt 54,6% KH (tăng 8,6%), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 124,3% KH (tăng 40,5%).
Tuy gặp khó khăn nhất định về giá cả vật tư, nguyên liệu, thị trường tiêu thụ… nhưng sản xuất công nghiệp vẫn đạt và vượt kế hoạch do nhiều doanh nghiệp mới thành lập và đầu tư mở rộng, tăng năng lực sản xuất. Năm 2006 có 11 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động, một số doanh nghiệp có doanh thu cao (Green Feed 100 tỷ đồng/tháng, Yuen Foong Yu 16 tỷ/tháng, Sim My 8 tỷ/tháng...) góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ngành. Các sản phẩm chủ yếu như vải thành phẩm, quần áo may sẵn, đường mía… tiếp tục tăng khá; thức ăn gia súc, thuỷ sản, giấy các loại tăng mạnh.
Các sản phẩm chủ yếu gồm: 45,4 triệu mét vải thành phẩm, 26,2 triệu sản phẩm may, 20.500 tấn hạt điều nhân, 133.743 tấn đường, 22.717 tấn thủy sản chế biến, 28.103 tấn giấy, 5.500 tấn thép, 5 triệu m2 gạch men, 56,28 triệu lít nước khoáng...
2.2. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng khá, đạt 20,6%, góp phần tăng trưởng chung của khu vực II đạt mức cao nhất từ trước đến nay 26,3%, vượt kế hoạch (23,5%).
2.3. Hoạt động bưu chính-viễn thông phát triển tốt. Mật độ điện thoại 17,5 máy/100 dân đạt 100,9% KH và bằng 128% so cùng kỳ. Có 170 điểm bưu điện-văn hóa xã.
2.4. Ngành điện cung cấp 870 triệu kwh điện thương phẩm đạt 103,5% KH và tăng 18,2% so với năm 2005. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 95,8%.
3. Đầu tư phát triển:
3.1. Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006 là 768,7 tỷ đồng. Giá trị khối lượng thực hiện 690,5 tỷ đồng đạt 89,8% KH. Giá trị cấp phát 644 tỷ đồng đạt 83,4% KH. Cụ thể: khối lượng thực hiện phần tỉnh quản lý 550,5 tỷ, đạt 88,8% KH, cấp phát 519 tỷ đồng, đạt 83,7% KH; phần huyện quản lý: khối lượng thực hiện 140 tỷ đồng, đạt 94,2% KH, cấp phát 125 tỷ đồng, đạt 84% KH. Các công trình xây dựng cơ bản trong KH 2006 hầu hết là công trình chuyển tiếp, được ghi vốn đầy đủ để các chủ đầu tư, đơn vị thi công điều hành thực hiện. Thu từ nguồn sử dụng đất được bố trí hết cho công tác xây dựng cơ bản của tỉnh (những công trình bức xúc thiếu vốn bố trí đầu năm).
Về đầu tư các tuyến đường giao thông nông thôn, đã triển khai thi công 15/17 tuyến đường về trung tâm xã, khối lượng chung đạt trên 50%. Hiện còn 2 tuyến về xã Vĩnh Châu A, Vĩnh Bửu chuẩn bị khởi công. Theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ đầu tư vốn các đường giao thông nông thôn về trung tâm các xã; năm 2006 đã phân bổ 109 tỷ vốn, đến nay đã giải ngân 42 tỷ thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, đang tiếp tục đề nghị Trung ương chuyển tiếp để thanh toán; phấn đấu đến năm 2008 sẽ thi công dứt điểm 17 tuyến đường ô-tô về đến trung tâm 28 xã.
3.2. Đầu tư trong nước tăng cả về số lượng và vốn đầu tư. Năm 2006 thành lập mới 620 doanh nghiệp (năm 2005 là 447 doanh nghiệp), vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp 4 tỷ đồng (năm 2005 là 3,9 tỷ). Tổng vốn đăng ký và vốn tăng thêm 2.266 tỷ đồng (năm 2005 là 2.127 tỷ đồng). Lũy kế đến nay có 2.910 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh, với tổng vốn 6.630 tỷ đồng.
3.3. Thu hút đầu tư nước ngoài đạt kết quả khá, số lượng dự án và vốn đầu tư (kể cả điều chỉnh tăng vốn) đều tăng so với năm 2005, được 300 triệu USD gấp 2 lần so với năm 2005. Đến tháng 11/2006 đã cấp phép đầu tư 24 dự án với vốn 154,5 triệu USD (năm 2005 là 19 dự án vốn 89,6 triệu USD), và 11 dự án tăng vốn 136,7 triệu USD (năm 2005 là 14 dự án tăng vốn 74 triệu USD). Lũy kế đến nay có 121 dự án còn hiệu lực trên địa bàn vốn tổng vốn đầu tư 1,061 tỷ USD, trong đó đi vào hoạt động 73 dự án sử dụng hơn 40.000 lao động trực tiếp.
Trung tâm Xúc tiến và tư vấn đầu tư có cố gắng thực hiện nhiệm vụ, tuy nhiên còn nhiều hạn chế. Đang lập phương án củng cố tổ chức, hoạt động để làm tốt vai trò là đầu mối của tỉnh trong công tác tư vấn, xúc tiến, tiếp nhận đầu tư.
3.4. Về công tác giải phóng mặt bằng, chuyển mục đích sử dụng đất:
- Tổng số dự án đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư trên địa bàn tỉnh trong năm 2006 là 159 dự án với tổng diện tích 3.558,63 hecta, trong đó dự án đã được chấp thuận chủ trương cho kê biên bồi thường là 44 dự án với diện tích 2.935,15 hecta. Tổng số dự án đã tiến hành san lấp mặt bằng, triển khai đầu tư hạ tầng là 23 dự án với diện tích 1.018 hecta, ngoài ra còn các dự án nhỏ lẻ đầu tư ngoài các khu, cụm công nghiệp với diện tích 50 hecta.
Như vậy, tổng số diện tích đã san lấp mặt bằng đầu tư hạ tầng kỹ thuật trong năm 2006 là 1.068 hecta, đạt chỉ tiêu Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND đề ra trong năm 2006.
- Tổng số dự án UBND tỉnh đã thu hồi chủ trương tiếp nhận đầu tư là 23, do không triển khai thực hiện dự án với diện tích 1.837 hecta.
- Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất:
Trong năm 2006 đã giải quyết 136 hồ sơ của doanh nghiệp về đất với diện tích 2.902 hecta, gồm: 56 hồ sơ thuê đất của doanh nghiệp trong nước với diện tích 1.412 hecta, 13 hồ sơ thuê đất của doanh nghiệp nước ngoài với diện tích 71,5 hecta, 24 hồ sơ giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích 1.351,5 hecta, 43 hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 66,5 hecta.
Lũy kế đến nay trên địa bàn tỉnh có 984 dự án được giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với tổng diện tích là 5.418 hecta.
3.5. Thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2006 cơ bản đạt kế hoạch.
- Các doanh nghiệp cổ phần hóa năm 2005 chuyển sang: đã hoàn thành sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp, gồm: Công ty Cơ khí, Công ty Dược và Vật tư Y tế, Xí nghiệp Bến xe tàu khách, Công ty TNHH một thành viên Đồng Tháp I, Công ty TNHH một thành viên Đồng Tháp IV. Riêng Công ty Quản lý và sửa chữa giao thông, do cổ phần bán ra thấp đang tập trung xử lý.
- Các doanh nghiệp thực hiện trong năm 2006: tập trung cổ phần hóa Công ty Cấp nước đảm bảo thực hiện xong trong năm 2006. Có 5/8 doanh nghiệp công ích (Công ty Công trình công cộng huyện, thị xã) hoàn thành chuyển đổi sang Cty TNHH một thành viên. Các doanh nghiệp công ích còn lại sẽ hoàn thành chuyển đổi trong năm 2007.
Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp tỉnh bán đấu giá thành công toàn bộ phần vốn nhà nước ở các doanh nghiệp đã cổ phần hóa (Cty May xuất khẩu, Cty Tư vấn xây dựng giao thông, Cty Tư vấn xây dựng thủy lợi, Cty Tư vấn thiết kế xây dựng, Cty In Phan Văn Mảng, Cty Giấy).
3.6. Các chương trình mục tiêu quốc gia: tổng vốn năm 2006 được phân bổ 64,336 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển 12,69 tỷ đồng. Ước thực hiện đạt 100% KH. Thực hiện các chương trình đã góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề bức xúc của địa phương như giảm nghèo, giải quyết quyết việc làm, giáo dục, y tế, nước sạch vệ sinh môi trường, giải quyết khó khăn cho các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh. Tuy nhiên cũng gặp khó khăn như nguồn vốn phân bổ chưa đáp ứng nhu cầu, suất đầu tư cao do vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn.
4. Thương mại - dịch vụ:
4.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước 7.000 tỷ đồng, vượt kế hoạch (KH 6.965 tỷ đồng) và tăng 18% so với năm 2005.Doanh thu du lịch 30 tỷ đồng tăng 18% so năm 2005. Giá tiêu dùng chung tăng 10,89%, trong đó hàng hóa tăng 10,73% (lương thực thực phẩm tăng 8,63%; phi lương thực thực phẩm 12,58%), dịch vụ tăng 12,58%.
Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư. Năm 2006 có thêm nhiều chi nhánh ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh viễn thông được thành lập, nhà nghỉ, nhà trọ phát triển mạnh… mức lương tối thiểu khu vực hành chính sự nghiệp được nâng lên, góp phần tăng trưởng khu vực III đạt kế hoạch 10,5%, trong đó thương mại tăng 9,5%, dịch vụ tăng 10,8%.
4.2. Kim ngạch xuất khẩu ước 465 triệu USD, đạt KH và tăng 25% so với năm 2005 do có nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu (hiện có 137 doanh nghiệp gồm 85 doanh nghiệp trong nước, 52 doanh nghiệp nước ngoài), mặt hàng chủ yếu là gạo, hạt điều nhân, hàng may mặc, thủy sản đóng hộp... Riêng xuất khẩu gạo đã tạm ngưng theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. Kim ngạch nhập khẩu ước 233 triệu USD, vượt KH (230 triệu USD) và tăng 8% so với năm 2005.
5. Tài chính - tín dụng:
5.1. Hoạt động quản lý, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tổng thu ngân sách ước 1.459 tỷ đồng đạt 106,1% dự toán HĐND tỉnh giao và tăng 9,6% so với năm 2005, trong đó thu nội địa 1.319 tỷ đạt 101,5% dự toán HĐND tỉnh giao. Có 6 khoản thu nội địa không đạt dự toán như: thu từ doanh nghiệp nhà nước Trung ương (80% dự toán), thu từ khu vực ngoài quốc doanh (98% dự toán), thu xổ số kiến thiết (91,3% dự toán).... do sản xuất, kinh doanh, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn.
Tổng chi ngân sách địa phương ước 1.925 tỷ đồng đạt 112% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 8% so năm 2005. Đảm bảo chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên (kể cả chi lương mới) và thực hiện tốt chương trình hành động tiết kiệm.
5.2. Đầu tư tín dụng tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của các các thành phần kinh tế. Tổng nguồn vốn tín dụng và tổng dư nợ tăng so với năm 2005, kiểm soát chặt chẽ nên giảm rủi ro, giảm tỷ lệ nợ xấu.
III. VĂN HÓA - XÃ HỘI:
1. Các mục tiêu nhiệm vụ năm học 2005-2006 được thực hiện tốt, chất lượng giáo dục có chuyển biến, tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa lớp5, lớp 10 trong năm học 2006-2007. Triển khai cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Thực hiện chu đáo KH triển khai phổ thông trung học phân ban như cơ sở vật chất, sách, thiết bị dạy học, bồi dưỡng giáo viên, thông tin hướng dẫn phụ huynh và học sinh về phân ban. Các lớp 10 phân ban đều dạy đủ các môn học quy định.
Hệ thống cơ sở giáo dục các cấp tiếp tục được quy hoạch, điều chỉnh đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục vùng sâu được quan tâm tạo điều kiện phát triển. Huy động trẻ mầm non ra lớp tăng so năm học trước. Học sinh bậc trung học phổ thông tăng, bậc tiểu học và trung học cơ sở tiếp tục giảm do dân số trong độ tuổi giảm.
Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững. Phổ cập giáo dục trung học cơ sở có 9/14 huyện, thị xã (64,3%) và 179/188 xã, phường, thị trấn (95,2%) đạt chuẩn (KH 95%).
Tiến độ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học đạt kết quả khá tốt, được 1.005 phòng đạt 91,8% KH. Toàn tỉnh có 73 trường đạt chuẩn quốc gia, tuy nhiên chưa có trường trung học phổ thông đạt chuẩn.
Đội ngũ giáo viên được bổ sung và tiếp tục chuẩn hóa. Bậc mầm non, tiểu học, trung học cơ sở cơ bản đáp ứng yêu cầu, bậc trung học phổ thông còn thiếu khoảng 400 giáo viên. Tỷ lệ đạt chuẩn khu vực mẫu giáo 84,2%, bậc tiểu học 90,2%, trung học cơ sở 98,5%, trung học phổ thông 94,7%, nhiều giáo viên đạt trên chuẩn. Ngành Giáo dục hiện có 4 tiến sĩ, 23 thạc sĩ và đang đào tạo 2 tiến sĩ, 60 thạc sĩ, tỷ lệ Đảng viên 18%.
2. Tình hình dịch bệnh không có đột biến. Theo dõi chặt chẽ tình hình nhiễm cúm A và hội chứng não cấp. Bệnh sốt xuất huyết tuy tăng cao so năm 2005 nhưng đã tập trung nhiều biện pháp phòng chống, kềm chế không để lây lan thành ổ dịch lớn và hạn chế tử vong.
Tập trung thực hiện các chương trình y tế quốc gia đạt tiến độ đề ra. Làm tốt việc khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi. Củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế, tăng cường kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, cơ sở y tế tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.Đã triển khai chiến lược phát triển y học cổ truyền đến năm 2010, xã hội hóa về phòng chống suy dinh dưỡng và phòng chống rối loạn do thiếu hụt iode.
Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở, mở rộng và thành lập mới một số khoa phòng ở bệnh viện tỉnh, huyện, tăng cường trang thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng hoạt động. Công tác khám chữa bệnh đáp ứng được yêu cầu, tuy nhiên có hiện tượng quá tải ở các cơ sở y tế tỉnh, huyện. Hiện có 112 xã (59,6%) đạt chuẩn Quốc gia y tế xã, 85% xã có bác sĩ đạt KH. Tiếp tục công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, xây dựng mạng lưới y tế ấp.
3. Tình hình thực hiện mục tiêu dân số và kế hoạch hóa gia đình có chuyển biến tích cực. Tiến độ triển khai các chương trình, dự án đảm bảo KH đề ra, triển khai có hiệu quả chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hóa gia đình và mô hình xã phường không có người sinh con thứ 3 trở lên. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm 1% so năm 2005 đạt KH. Các mục tiêu về trẻ em cũng được quan tâm thực hiện. Đến nay có 170.000 trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí. Tỷ lệsuy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 20,2% đạt KH.
4. Hoạt động văn hóa thông tin, văn nghệ, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình đa dạng phong phú, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương, kịp thời đưa Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn.
Lập kế hoạch xây dựng thiết chế văn hóa-thể thao xã phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010 và đến 2020. Thực hiện tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, có 98% hộ dân thực hiện nếp sống văn hóa, 22 đơn vị đăng ký phấn đấu xây dựng xã, phường, thị trấn văn hóa và có 2 xã được công nhận là xã văn hóa.
Phong trào thể dục thể thao ở cơ sở tiếp tục phát triển, góp phần lành mạnh hóa đời sống người dân. Hiện có 20,7% dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao (KH 20%). Tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng và Đại hội Thể dục thể thao cấp tỉnh. Xã hội hóa thể dục thể thao phát triển tốt, hiện có nhiều sân bãi được tư nhân đầu tư ở cấp huyện, xã.
5. Đến nay huy động được 162.551 ngàn lao động công ích đạt 114% KH, trong đó thu gián tiếp 8,605 tỷ đồng. Đã có 13/14 huyện, thị xã hoàn thành KH (còn huyện Mộc Hóa đạt 95,3%).
Tập trung thực hiện chương trình giải quyết việc làm-giảm nghèo, đào tạo nghề, triển khai đề án tổ chức và cán bộ làm công tác giải quyết việc làm-giảm nghèo và tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ. Hoàn chỉnh đề án xuất khẩu lao động và quy định về hỗ trợ vốn xuất khẩu lao động từ nguồn vốn địa phương. Hoàn thành điều tra thực trạng lao động việc làm và thất nghiệp năm 2006 theo chủ trương Trung ương. Tổ chức Hội chợ việc làm lần 3/2006. Xây dựng được mô hình giảm nghèo cho các xã vùng sâu, vùng xa, khó khăn nhưng đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng cho các xã nghèo còn hạn chế. Dự kiến đạt KH năm các chỉ tiêu giải quyết việc làm cho 31.000 lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 9,6%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 26%, xuất khẩu lao động 500 người.
Thực hiện tốt chế độ đối với các đối tượng chính sách. Sơ kết thực hiện Quyết định 290/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với người tham gia kháng chiến chống Mỹ chưa được hưởng chính sách, đến nay có 1.601 hồ sơ, trong đó đã thẩm định xét duyệt đề nghị trợ cấp cho 1.158 đối tượng.
Tăng cường phòng chống tệ nạn xã hội ở các địa bàn có nguy cơ cao. Tệ nạn ma túy giảm so cùng kỳ năm 2005, mãi dâm tuy được kềm chế nhưng còn một số nơi diễn biến phức tạp, tinh vi. Công tác cai nghiện, chữa trị phục hồi cho người nghiện và gái mãi dâm có kết quả tích cực. Đã lập dự án mở rộng Trung tâm giáo dục lao động xã hội để triển khai thực hiện Đề án quản lý giáo dục người sau cai nghiện.
IV. AN NINH - QUỐC PHÒNG:
1. Quốc phòng - an ninh, trật tự xã hội cơ bản ổn định, đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội đạt kết quả. Tổ chức thành công diễn tập cấp tỉnh phòng chống gây rối, bạo loạn, khủng bố năm 2006. Tiếp tục kiểm tra, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 09/CP và chương trình quốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 2006-2010.
Thực hiện mục tiêu 3 giảm đạt kết quả nhất định, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự địa phương. Phạm pháp hình sự xảy ra 664 vụ (tăng 27,4% so năm 2005). Đã điều tra làm rõ 62,9% số vụ, trong đó án nghiêm trọng đạt 88,9%. Tội phạm về ma túy phát hiện 22 vụ (giảm 18,5%). Tiếp tục tăng cường công tác trật tự an toàn giao thông nhưng tai nạn giao thông đường bộ còn nhiều (tăng 6,7%). Tệ nạn xã hội 137 vụ (xấp xỉ năm 2005), trong đó phá 13 tụ điểm mãi dâm, xử lý 30 đối tượng.
Tình hình đình công, lãng công trong công nhân có xảy ra nhưng mức độ không lớn và được giải quyết kịp thời, không gây mất ổn định.
Triển khai thực hiện kế hoạch phân giới cắm mốc và tổ chức khảo sát tuyến biên giới phục vụ cho công tác phân giới cắm mốc, đang tập huấn cán bộ. Đặc xá 2 đợt gồm 62 phạm nhân dịp Quốc khánh 2/9.
2. Triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự-quốc phòng năm 2006, chỉ đạo tập trung làm tốt các nhiệm vụ trọng tâm như tuyển quân, tuyển sinh quân sự, huy động huấn luyện quân dự bị, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu năm 2006. Công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đảm bảo KH đề ra.
Hoàn thành công tác gọi công dân nhập ngũ hai đợt trong năm 2006, giao quân đạt 100% chỉ tiêu.
3. Trong năm 2006 triển khai thực hiện 175 cuộc thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Qua đó đã giúp các cơ quan, đơn vị chấn chỉnh, củng cố, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định pháp luật, thu hồi 1,4 tỷ đồng vào công quỹ nhà nước. Triển khai thực hiện chương trình hành động phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đến nay cơ bản các vụ việc tham nhũng xảy ra trên địa bàn tỉnh đã được điều tra làm rõ và xử lý nghiêm theo pháp luật, một số vụ phức tạp đang tập trung xử lý.
Tập trung giải quyết khiếu nại-tố cáo của công dân, chủ yếu khiếu nại giá đền bù, tái định cư, tranh chấp quyền sử dụng đất. Duy trì tiếp công dân theo quy định, nhất là cấp xã từ khi thành lập tổ tiếp dân có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều vụ việc được giải quyết tại chỗ, hạn chế đơn thư vượt cấp. Một số đoàn đông người được tập trung giải quyết nên không gây mất ổn định.
Thực hiện đợt cao điểm thi hành án dân sự đạt kết quả, góp phần làm giảm án tồn đọng. Hoàn thành rà soát đăng ký quản lý hộ tịch, hộ khẩu cho Việt kiều Campuchia trở về nước. Triển khai các văn bản luật mới.
V. XÂY DỰNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN:
Tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo Nghị định của Chính phủ, hoàn chỉnh cơ cấu cấp phòng thuộc Sở ngành và huyện, thị xã. Hoàn chỉnh Đề án quy hoạch các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đến năm 2020, đưa vào hoạt động 3 phường mới của Thị xã Tân An. Triển khai thực hiện Đề án thí điểm thi tuyển chức danh Trưởng, Phó phòng cấp Sở và cấp huyện (chọn 3 Sở và 3 huyện làm điểm).
Quản lý sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp theo đúng quy định. Tổ chức thanh tra công chức, công vụ ở các ngành và địa phương theo kế hoạch, chấn chỉnh các thiếu sót tồn tại. Ban hành Quyết định về tổ chức bộ máy và chế độ chính sách cho cán bộ cấp xã (thay thế Quyết định năm 2004) trong đó xếp lại lương, nâng mức phụ cấp một số đối tượng cho phù hợp.
Tiếp tục phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong năm đã có 281 cán bộ tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng như: đại học và sau đại học các chuyên ngành, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị, kiến thức quốc phòng-an ninh, tác nghiệp Bí thư, Chủ tịch cấp xã, dự nguồn cơ sở.
Tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh sơ sót nên thực hiện cơ chế “một cửa” có chuyển biến, nhiều nơi bố trí cán bộ có tinh thần trách nhiệm nên giảm tình trạng phiền hà, nhũng nhiễu các tổ chức, cá nhân giải quyết công việc. Tuy nhiên thủ tục còn rườm rà, cần phải tiếp tục chấn chỉnh, xử lý tồn tại để nâng cao hiệu quả. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị ở một số nơi chưa thực hiện tốt.
ĐÁNH GIÁ CHUNG:
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2006 còn nhiều khó khăn gay gắt nhưng được sự quan tâm lãnh đạo tập trung của Tỉnh ủy và sự quyết tâm cao của các ngành, UBND các cấp và nhân dân đã phấn đấu thực hiện đạt kết quả nhất định trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tăng trưởng kinh tế cao hơn năm trước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng. Sản xuất công nghiệp đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế, với mức tăng trưởng cao. Tập trung thực hiện đầu tư hạ tầng kinh tế, xã hội. Củng cố, cải thiện môi trường thu hút đầu tư, tích cực cải tiến thủ tục hành chính, kịp thời xử lý khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp. Hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì nhịp độ phát triển. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản chặt chẽ và theo đúng kế hoạch. Thu chi ngân sách có quan tâm, đạt dự toán đề ra, điều hành chi chặt chẽ tiết kiệm. Lĩnh vực văn hóa xã hội có tiến bộ. An ninh quốc phòng, trật tự xã hội cơ bản ổn định.
Tuy nhiên còn nhiều khó khăn, yếu kém cần khắc phục trong thời gian tới như sau:
- Tăng trưởng kinh tế tốc độ còn chậm, chưa tương xứng với lợi thế và tiềm năng của tỉnh, chất lượng tăng trưởng chưa cao, còn tiềm ẩn những yếu tố bấp bênh, chi phí sản xuất một số ngành cao, sức cạnh tranh hàng hóa thấp.
- Sản xuất nông nghiệp chưa ổn định, do ảnh hưởng của dịch bệnh nên tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp rất thấp, làm ảnh hưởng đến tăng trưởng chung trong năm 2006.
- Năng lực cạnh tranh sản phẩm công nghiệp của tỉnh còn thấp, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chậm đổi mới thiết bị công nghệ, chưa đủ sức cạnh tranh, còn nhiều khó khăn khi hội nhập kinh tế thế giói.
- Hoạt động thương mại - dịch vụ chưa thật sự đóng vai trò cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ, nhất là tiêu thụ nông sản hàng hóa. Kết cấu hạ tầng của ngành chưa được đầu tư kịp thời, còn yếu, nhất là hệ thống chợ, hạ tầng du lịch… nên ảnh hưởng đến phát triển thương mại - dịch vụ.
- Tiến độ đầu tư thực hiện các công trình xây dựng cơ bản chậm, không đạt kế hoạch đề ra, đã làm ảnh hưởng đến yêu cầu phát triển.
- Một số vấn đề bức xúc của xã hội chưa được giải quyết tốt, tội phạm, tệ nạn xã hội tuy được kềm chế nhưng chưa đạt yêu cầu và còn diễn biến phức tạp; chương trình giải quyết việc làm-giảm nghèo tính ổn định và tính bền vững chưa cao, số hộ ngưỡng nghèo còn khá lớn, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế.
- Trình độ năng lực cán bộ từng bước được nâng lên nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; cải cách hành chính có chuyển biến, nhưng vẫn còn hạn chế nhất định, nhất là thủ tục hành chính còn rườm rà, năng nề; chưa có sự phối hợp tốt giữa các ngành, địa phương trong giải quyết công việc chung...
Nguyên nhân của những tồn tại trên :
1. Ngoài các nguyên nhân khách quan được nhận định từ đầu năm như: thiên tai, dịch bệnh khó lường, giá cả thị trường biến động... Về chủ quan trong chỉ đạo điều hành một số lĩnh vực còn lúng túng, chưa tập trung, sâu sát và kiên quyết xử lý tồn tại phát sinh, nhất là công tác dập dịch rầy nâu, tiêu hủy bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trên lúa...
2. Công tác đầu tư xây dựng cơ bản tiến độ chậm, không đạt kế hoạch đề ra, về khách quan do giá cả vật tư biến động tăng; trình tự thủ tục xây dựng cơ bản chặt chẽ theo qui định, nhưng rườm rà, nặng nề nên việc lập hồ sơ đầu tư xây dựng cơ bản mất nhiều thời gian. Công tác giải phóng mặt bằng còn vướng mắc kéo dài... Về chủ quan, một số chủ đầu tư năng lực quản lý yếu, chưa thể hiện tốt vai trò của chủ đầu tư trong kiểm tra đôn đốc kịp thời giải quyết vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ đầu tư... Về vấn đề tạo thêm vốn đầu tư, các ngành chức năng chưa thể hiện sự quyết tâm thực hiện nhiệm vụ giao, nên đã làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006.
3. Vai trò trách nhiệm người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao; chưa chủ động, chậm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chức trách giao; thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa ngành, địa phương trong giải quyết công việc chung. Nếu giữa các ngành, UBND các cấp có sự chủ động, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong quá trình điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ thì kinh tế - xã hội của tỉnh sẽ tốt hơn.
Phần thứ hai
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KTXH NĂM 2007
Năm 2007 là năm thứ 2 thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ VIII (2005-2010), có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng cao và bền vững cho các năm tiếp theo. Theo yêu cầu đó, UBND tỉnh đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2006 như sau:
A. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN:
1. Thuận lợi: Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế gắn với tự do thương mại, nhất là khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) sẽ là nhân tố quan trọng tác động tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội nước ta.
Môi trường kinh tế vĩ mô trong nước ngày càng được hoàn thiện, là điều kiện và động lực huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế; đặc biệt việc triển khai các luật quan trọng trong năm 2006 như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp…
2. Khó khăn: những biến động của kinh tế thế giới có thể tác động không thuận lợi đối với kinh tế Việt Nam. Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, nhất là đối với các nước đang phát triển, tiềm lực kinh tế còn nhỏ, năng lực cạnh tranh còn kém như nước ta, cụ thể khi gia nhập WTO, nền kinh tế sẽ chịu sức ép cạnh tranh rất lớn làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, đồng thời nguồn nhân lực với chất lượng còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Tình hình trong nước vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức: hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn thấp, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp…
3. Đối với tỉnh Long An:
Thuận lợi:
- Các chương trình trọng điểm của tỉnh tiếp tục phát triển tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và an sinh xã hội.
- Nhiều danh mục công trình được Trung ương và địa phương đã và đang đầu tư trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi để phát huy lợi thế phát triển kinh tế như Quốc lộ N2, 50, đường cao tốc, cửa khẩu chính Bình Hiệp, các dự án du lịch...
- Kết cấu hạ tầng, năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế khi bước vào năm kế hoạch 2007 đã tăng lên. Một số mô hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế năng động, hiệu quả được nhân rộng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Khó khăn, thách thức:
- Nhu cầu đầu tư phát triển rất lớn, nhất là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong khi nguồn vốn thì có hạn.
- Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, nhất là trình độ nghiệp vụ chuyên sâu; trình độ quản lý không theo kịp tốc độ phát triển của xã hội.
- Khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến còn nhiều hạn chế; năng lực cạnh tranh sản phẩm hàng hóa còn thấp.
- Tình hình dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn diễn biến phức tạp.
- Tình hình an ninh, quốc phòng tuy ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp khó lường.
B. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU KH NĂM 2007:
I. MỤC TIÊU:
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, chủ động chuẩn bị các điều kiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ cao.
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khu vực dân doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh xã hội hóa (XHH) trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao mức sống của nhân dân, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc. Đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc.
II. CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
1. Các chỉ tiêu kinh tế:
- Tổng GDP tăng 13,5% so với năm 2006.
- Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, thủy sản khoảng 5,0%.
- Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp và xây dựng khoảng 25,5%.
- Giá trị tăng thêm ngành thương mại - dịch vụ khoảng 11,0%.
- GDP bình quân đầu người 11.800.000 đ/năm.
- Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành) KV1 chiếm 35%, KV2 chiếm 34,4%, KV3chiếm 30,6%.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 25%.
- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 8.200 tỷ đồng, chiếm 49% GDP (1), tăng 31% so với năm 2006.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.324 tỷ (Trung ương giao 1.262 tỷ đồng), không tính phần thu xổ số kiến thiết - 290 tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 1.799,5 tỷ đồng (Trung ương giao 1.738 tỷ đồng), không tính chi đầu tư từ nguồn xổ số kiến thiết.
- Sản lượng lương thực đạt 1,8 triệu tấn.
- Mật độ điện thoại 19,6 máy/100 dân.
2. Các chỉ tiêu xã hội:
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,12 %.
- Duy trì mức giảm sinh bình quân trong năm: 0,4 %o.
- Giải quyết việc làm cho người lao động: 31.000 người.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn: 8,5%.
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn: 19,3%.
- Tỷ lệ xã có bác sĩ: 90%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện: 97%.
- Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm: 94%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 30%.
3. Chỉ tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch 83%.
- Tỷ lệ che phủ đến cuối năm 2007 đạt 18,5%.
- Tỷ lệ rác thu gom đạt 77%.
C. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ LĨNH VỰC:
I. VỀ KINH TẾ:
1. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn:
Đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh, tiếp tục chỉ đạo sản xuất theo hướng thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hướng sang các sản phẩm thế mạnh như lúa, mía, bắp lai, đậu phộng, rau xanh, rau sạch, bò, tôm sú... Tăng cường ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, tập trung chủ yếu vào công tác giống cây, con, thu hoạch, bảo quản; đẩy mạnh thực hiện cơ giới hóa. Cụ thể như sau:
- Về trồng trọt: Tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trên cây lúa, trong đó phấn đấu thực hiện thắng lợi sản xuất thắng lợi vụ đông xuân 2006-2007; tổ chức tuyên truyền tập huấn nông dân xử lý dịch bệnh, khuyến khích nông dân sử dụng các giống lúa kháng rầy thay thế các giống lúa nhiểm bệnh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng (đậu phộng, bắp mè, rau...). Chuyển bớt diện tích lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản và các cây con khác hiệu quả hơn, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân rộng mô hình 3 giảm 3 tăng trong sản xuất. Kế hoạch sản lượng sản phẩm chủ yếu: lúa 1,8 triệu tấn, mía 1,1 triệu tấn, đậu phộng 20.800 tấn,...
- Về chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi theo hướng đàn bò, heo hướng nạc, triển khai chương trình khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng trên gia súc; phòng chống tái phát dịch cúm gia cầm, phục hồi và phát triển nhanh đàn gia cầm trên cơ sở kiểm soát tốt dịch bệnh. Kế hoạch năm 2007 Đàn bò 96.000 con, đàn gia cầm 4,5 triệu con.
- Về thủy sản: Nhanh chóng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng các dự án thủy sản, đẩy mạnh công tác quản lý an toàn dịch bệnh cho vùng nuôi thuỷ sản, tập trung nuôi tôm sú, tôm càng xanh, cá da trơn, cá rô phi chất lượng cao... KH sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 31.068 tấn, trong đó tôm sú đạt 8.375 tấn.
- Về lâm nghiệp: Hoàn thành quy hoạch 3 loại rừng; Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án bột giấy, ván ép từ nguyên liệu tràm. Xây dựng vùng nguyên liệu đay 15.000 ha tại huyện Tân Thạnh, Thạnh Hóa và Mộc Hóa.
Thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng, tìm đầu ra cho ngành lâm nghiệp, trồng 3 triệu cây phân tán ở các vùng xung yếu bảo vệ công trình,...bù đắp cho diện tích rừng đang giảm mạnh như hiện nay, năm 2007 tỷ lệ che phủ đạt 18,5%.
- Về tổ chức lại sản xuất một cách toàn diện từ bố trí lại lịch thời vụ, cải tạo đất, môi trường, sử dụng giống kháng rầy có năng suất cao... nhằm bảo đảm an toàn, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã, nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác. Đồng thời phát triển mạnh kinh tế trang trại trong nông nghiệp. Kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở những nơi có điều kiện.
Tạo điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện các mô hình cánh đồng có giá trị tăng thêm 25 triệu/ha/năm (như cánh đồng tôm sú, tôm càng xanh luân canh cá nước ngọt ở các vùng dự án nuôi thủy sản tập trung của tỉnh, cánh đồng chuyên rau màu ở các xã vùng thượng huyện Cần Đước, Cần Giuộc,...)
- Về đầu tư: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp –nông thôn. Tập trung vốn để đẩy nhanh tiến độ chương trình dân sinh vùng lũ nhằm ổn định sản xuất, đời sống của nhân dân vùng ngập lũ; mục tiêu đến cuối năm 2007 bố trí dân cư ổn định khoảng 20.000 hộ.
Đẩy nhanh thực hiện xã hội hóa, thực hiện tốt phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương từ nguồn vốn ODA, vốn chương trình mục tiêu quốc gia. Ngân sách nhà nước chỉ tập trung vào những khâu, lĩnh vực quan trọng. Ngoài ra tiếp tục bố trí theo chương trình Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho đầu tư thuỷ sản. Nguồn vốn để lại cho huyện, thị xã sẽ được bố trí theo tiêu chí phân bố vốn; phần vốn chương trình 135, vốn chương trình bải ngang,... được bố trí theo phân bổ hỗ trợ của Trung ương.
Tiếp tục bố trí đầu tư cho những công trình chuyển tiếp: Trung tâm giống vật nuôi, Trại giống lúa Hòa Phú, kênh Thủy Tân, kênh Cái Sách, kênh hậu Cái Sách, kênh Sông Trăng,…;
Khởi công mới cống Mồng Gà, Kênh Măng Đa - Cả Môn, kênh Ngang,… đầu tư các trạm khuyến nông ở 02 huyện Đức Huệ, Cần Giuộc, Trạm Thú y Cần Giuộc,…
2. Phát triển công nghiệp:
Năm 2007 xác định công tác phát triển công nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản là khu vực mũi nhọn, đột phá để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với các nhiệm vụ:
Tiếp tục phát triển công nghiệp với tốc độ tăng trưởng cao trên cơ sở nâng cao chất lượng, tăng cường năng lực cạnh tranh đi đôi với giảm chi phí bất hợp lý trong giá thành sản phẩm. Tạo điều kiện đẩy nhanh các hoạt động ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất kinh doanh. Ưu tiên cho công nghiệp chế biến hàng nông sản, công nghiệp cơ khí - điện tử, phân bón, xi măng, vật liệu xây dựng, thép,...Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất và xuất khẩu hàng hóa, lấy xuất khẩu làm mục tiêu để phát triển công nghiệp. Trong tiếp nhận và bố trí đầu tư đặc biệt ưu tiên thiết bị và công nghệ tiên tiến để đảm bảo tính bền vững của môi trường, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa và theo đúng qui hoạch, kiên quyết thu hồi chủ trương tiếp nhận dự án đầu tư đã quá thời hạn nhưng không triển khai thực hiện.
Chấn chỉnh công tác giải phóng mặt bằng và thực hiện tốt công tác tái định cư, tạo điều kiện ổn định cuộc sống cho người dân sau di dời. Đẩy mạnh đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài khu công nghiệp, phấn đấu tối thiểu có thêm 1.000 ha đất đủ điều kiện hạ tầng để giao nhà đầu tư trực tiếp trong năm 2007.
Tập trung thi công xong trong năm 2007 các tuyến giao thông phục vụ cho khu, cụm công nghiệp như đường qua Khu công nghiệp Đức Hoà 2 – 3, đường vào Khu công nghiệp Thuận Đạo, đường Long Cang - Long Định, đường tỉnh 832; huy động các nguồn lực khác đầu tư đường vào Khu công nghiệp Tân Đức, Hải Sơn, đường Long Hậu - Tân Tập phục vụ cho các dự án cảng Cần Giuộc, khu công nghiệp, sân golf và trường Đại học Sài Gòn – Long An…; đầu tư các dự án cấp nước phục vụ cho công nghiệp (nhà máy nước Cần Giuộc, Cần Đước, khu công nghiệp Xuyên Á,...) và dân sinh.
Đồng thời quan tâm nâng cao năng lực công tác đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu đào tạo 31.000 lao động.
Đẩy mạnh đầu tư xây dựng Nhà máy bột giấy Phương Nam đi vào hoạt động đúng tiến độ trong năm 2007.
Củng cố tổ chức, qui chế làm việc của Trung tâm Xúc tiến và Tư vấn đầu tư trực thuộc UBND tỉnh; Xây dựng và triển khai thực hiện tốt kế hoạch, phương thức vận động xúc tiến đầu tư, thường xuyên nắm bắt thông tin và giải quyết những vướng mắc của các doanh nghiệp; Tạo môi trường về pháp luật và cơ chế, chính sách thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động như đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, tiếp cận các nguồn vốn, ưu tiến sản xuất hàng xuất khẩu, hỗ trợ quảng bá về thông tin, đào tạo nguồn nhân lực, chấn chỉnh phong cách mối quan hệ giữa ngành, địa phương trong giải quyết công việc chung liên quan đến doanh nghiệp...
Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng 26,5-27% so với năm 2006; giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 25,5%.
3. Thương mại - dịch vụ:
Đầu tư phát triển hệ thống thương mại dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, gia tăng xuất khẩu, mở rộng thị trường; tổ chức quản lý lại buôn bán tiểu ngạch qua biên giới, vừa khai thác nguồn thu cho ngân sách, vừa ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới. Chủ động trong việc chuẩn bị các điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng cường hoạt động xuất khẩu, nhất là các mặt hàng nông sản, phấn đấu kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 25%; thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu, bao gồm giá cả, chất lượng, phương thức phân phối,...
Tiếp tục tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại, đẩy mạnh tiến độ đầu tư các dự án du lịch, bố trí vốn theo Chương trình Trương ương hỗ trợ có mục tiêu nhằm hoàn thành xây dựng khu du lịch Làng nổi Tân Lập để đưa vào khai thác, sử dụng. Tiếp tục đầu tư xây dựng và khai thác hiệu quả cửa khẩu Bình Hiệp - Mộc Hoá. Kiến nghị Trung ương sớm đầu tư tuyến đường kết nối Quốc lộ 62 từ cửa khẩu Bình Hiệp đến đường Xuyên Á (22 km). Kêu gọi đầu tư phát triển cảng Long An.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng chợ mới Tân An, xúc tiến đầu tư siêu thị ở thị xã Tân An, xây dựng khách sạn ở Mộc Hóa, Đức Hòa và các nơi có điều kiện. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án sân golf, Thể dục Thể thao liên hợp...
Đổi mới tổ chức, phát triển mạng viễn thông và dịch vụ bưu chính và tăng cường các giải pháp chăm sóc khách hàng; từng bước nâng cao chất lượng và giảm chi phí.
Tiếp tục mở rộng phổ biến và cung cấp rộng rãi các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; mở rộng mạng lưới tín dụng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu đầu tư phát triển của các đối tượng, tăng cường vốn tín dụng trung và dài hạn.
Nâng cao hoạt động của Ngân hàng chính sách, phục vụ các đối tượng chính sách, hộ nghèo, người đi lao động nước ngoài... để cải thiện đời sống.
4. Thu chi ngân sách:
Đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, phấn đấu tăng thu, chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng gian hàng giả, trốn lậu thuế, tích cực thu các khoản nợ, quản lý chặt chẽ các khoản thu tại xã, phường thị trấn. Tăng cường công tác kiểm tra việc hoàn thuế giá trị gia tăng, chống gian lận chiếm đoạt tiền ngân sách Nhà nước.
Xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể để thực hiện chỉ tiêu phấn đấu tăng thêm để tăng chi, đủ nguồn kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản (870 tỷ đồng, kể cả phần vốn huyện quản lý).
Quản lý chặt chẽ chi tiêu của các tổ chức, đơn vị thụ hưởng ngân sách. Ưu tiên chi đầu tư các công trình trọng điểm. Tuân thủ thực hiện nguyên tắc: tăng thu thì tăng chi; thu thấp chi giảm tương ứng.
Kiểm tra đầy đủ và chặt chẽ việc thực hiện luật Ngân sách ở các cấp.
5. Huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:
Huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 8.200 tỷ đồng, chiếm 49% GDP, tăng hơn 31% so với năm 2006 (nguyên nhân chủ yếu do phần tăng vốn của doanh nghiệp quốc doanh địa phương - theo kế hoạch đi vào hoạt động của Nhà máy bột giấy phương Nam, dự kiến thực hiện khoảng 50% vốn đầu tư tức 720 tỷ đồng), trong đó thu hút vốn đầu tư các doanh nghiệp trong nước khoảng 2.600-2.800 tỷ đồng; thu hút đầu tư nước ngoài khoảng 200 triệu USD.
Hoàn thành sắp xếp đổi mới doanh theo chủ trương phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.
Nhu cầu vốn XDCB năm 2007 là 870,54 tỷ đồng, khả năng cân đối là 720,54 tỷ đồng (gồm cân đối ngân sách địa phương 646,59 tỷ đồng và vốn hỗ trợ đầu tư có mục tiêu của TW 73,95 tỷ đồng). So với nhu cầu vốn còn thiếu 150 tỷ đồng, đề nghị vay tạm ứng kho bạc để cân đối ngân sách còn thiếu này. KH phân bổ như sau:
- Phân cấp huyện, thị 213,9 tỷ đồng (do UBND các huyện, thị xã trình HĐND huyện, thị xã quyết định danh mục đầu tư cụ thể).
- Tỉnh quản lý 656,64 tỷ đồng (gồm vốn chi xây dựng cơ bản 216,64 tỷ đồng, nguồn thu xổ số kiến thiết 290 tỷ đồng và vay tạm ứng kho bạc 150 tỷ đồng), trong đó dự kiến chi trả nợ kho bạc và Ngân hàng Phát triển 119 tỷ đồng.
Yêu cầu đầu tư rất lớn, trong khi khả năng ngân sách có hạn, vì vậy nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2007 phần tỉnh quản lý gồm: nguồn vốn ngân sách tập trung và nguồn xổ số kiến thiết sẽ bố trí đầu tư theo thứ tự ưu tiên như sau:
Ưu tiên thanh toán các khoản nợ tới hạn như: tạm ứng kho bạc, nợ các đơn vị thi công...
Bố trí vốn để thi công các công trình dỡ dang năm 2006 chuyển qua, trong đó đối với công trình dự kiến hoàn thành trong năm 2007 thì bố trí đủ vốn để thi công dứt điểm, công trình còn chuyển tiếp thì phân bố vốn dần từng năm.
Tập trung bố trí vốn đầu tư các công trình trọng điểm năm 2007, trong đó tập trung thi công xong các tuyến đường qua Khu công nghiệp Đức Hoà 2 – 3, đường vào Khu công nghiệp Thuận Đạo, Long Cang - Long Định, đường tỉnh 832.
Các vấn đề trên được cụ thể hóa trong báo cáo về thực hiện kế hoạch xây dựng cơ bản năm 2006 và phân bổ kế hoạch xây dựng cơ bản năm 2007.
Ngoài nguồn vốn cân đối trên, UBND tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo, phấn đấu tạo nguồn vốn tăng thêm khoảng 100 tỷ đồng để đầu tư cầu Cả Môn, cùng với mục tiêu của Trung ương hỗ trợ để đầu tư mới, cải tạo nâng cấp trụ sở xã trong tỉnh.
II. VỀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI:
1. Giáo dục và đào tạo:
Về giáo dục phổ thông: Củng cố kết quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tập trung chỉ đạo phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở những địa phương kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, hoàn thành trong năm 2007. Thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông ở những nơi có điều kiện.
Tiếp tục phát triển hệ thống các trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo, ưu tiên đầu tư trên các cụm và tuyến dân cư; tiến hành quy hoạch mạng lưới trường học tại các huyện, thị xã.
Bố trí vốn đầu tư các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2007 như trường trung học kinh tế kỹ thuật, trường Chính trị, các trường THPT Đức Huệ, Cần Đước, Cần Giuộc,…; tiếp tục bố trí đầu tư cho những công trình chuyển tiếp như trường THPT Lê Quí Đôn, THPT Thủ Thừa, THPT Rạch Kiến, THPT Mộc Hóa,…
Cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục. Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy, củng cố kết quả dạy và học đạt được đối với các lớp 1, 2, 3, 4 bậc tiểu học, lớp 6, 7, 8 và 9 bậc trung học cơ sở; và chuẩn bị điều kiện triển khai đổi mới ở các lớp tiếp theo cho năm học 2006-2007 để đến năm học 2007-2008 triển khai đại trà ở tất cả các lớp học phổ thông.
Về giáo dục cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề: Tiếp tục phát triển quy mô đào tạo song song điều chỉnh cơ cấu đào tạo theo bậc đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng giáo viên các trường sư phạm, 100% giáo viên đạt chuẩn theo quy định.
Đẩy mạnh đào tạo nghề, chú trọng đào tạo nghề phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dạy nghề cho lao động nông thôn. Phát triển thêm các hình thức dạy nghề mới, đẩy nhanh tiến độ đầu tư các trường dạy nghề và trung tâm dạy nghề.
Tiếp tục quan tâm đầu tư từ ngân sách nhà nước cho mạng lưới cơ sở dạy nghề. Bố trí ngân sách nhà nước tỉnh quản lý đầu tư cho công trình trường dạy nghề Đồng Tháp Mười hoàn thành đi vào sử dụng trong năm 2007 và các công trình chuyển tiếp như mở rộng Trung tâm giáo dục lao động Thạnh Hóa, trường dạy nghề Long An,…, khởi công mới trường dạy nghề Đức Hoà.
Thực hiện Nghị định 05 của Chính phủ về xã hội hóa giáo dục, chuyển các trường bán công, dân lập sang tư thục; khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia đầu tư vào hoạt động giáo dục.
2. Khoa học và công nghệ:
Tập trung ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống. Trong nông nghiệp tạo bước đột phá về giống cây con, kỹ thuật canh tác, thu hoạch để tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế nông thôn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo quản, chế biến và sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Trong công nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh hàng hóa. Ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là công tác quản lý nhà nước.
Tăng cường hiệu quả hoạt động của các tổ chức tiêu chuẩn đo lường và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Mở rộng đăng ký chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, có biện pháp thích ứng kịp thời đối với hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu.
Xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ phục vụ công tác thẩm định, đánh giá và giám định công nghệ sau giấy phép đầu tư.
Đẩy mạnh hoạt động tư vấn, dịch vụ khoa học và công nghệ.
3. Dân số, gia đình và trẻ em:
Phấn đấu duy trì mức giảm sinh 0,4%o, tỷ lệ tăng dân số là 1,31%, quy mô dân số khoảng 1,431 triệu người. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần.
Nâng cao nhận thức vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đảm bảo mọi trẻ em được hưởng các dịch vụ y tế cơ bản và giáo dục có chất lượng.
Tăng mỗi năm 2% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở các cấp học phổ thông và 5% số trẻ em ở lứa tuổi 3-5 được đi nhà trẻ, mẫu giáo. Giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi xuống dưới 2 %o và tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi dưới 2,5%o.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục các chủ trương, chính sách, pháp luật về dân số, kế hoạch hóa gia đình, gia đình và trẻ em, nhất là đối với vị thành niên, thanh niên và các đối tượng ở nông thôn, vùng xa, vùng sâu khó khăn. Hình thành và duy trì hoạt động của mạng lưới dịch vụ xã hội về truyền thông - giáo dục - tư vấn bảo vệ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục trẻ em cho gia đình và cộng đồng.
Hoàn thiện cơ chế lồng ghép, phối hợp liên ngành trong công tác dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục trẻ em.
4. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm:
Trong năm 2007, giải quyết việc làm cho 31.000 người, đào tạo nghề cho 11.250 lao động; xuất khẩu 500 lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống khoảng 4,5%, nâng quỹ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên hơn 81%.
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Hỗ trợ các khu công nghiệp, làng nghề để thu hút thêm nhiều lao động. Nâng cao chất lượng đào tạo các cơ sở dạy nghề, có chính sách hỗ trợ người nghèo tham gia học nghề; tăng cường dạy nghề cho lao động bị thu hồi đất do thành lập các khu công nghiệp, đô thị hóa. Xây dựng làng thanh niên lập nghiệp ở xã Mỹ Bình, huyện Đức Huệ.
Phối hợp với các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre... trong việc đào tạo và cung ứng nguồn lao động cho sản xuất công nghiệp.
5. Nâng cao chất lượng công tác giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp:
Phấn đấu đến năm 2007 giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 8,5% (trong năm giảm 2.780 hộ nghèo).
Tiếp tục hỗ trợ các xã nghèo trọng điểm (xã có tỷ lệ hộ nghèo cao) lồng ghép có hiệu quả các chương trình quốc gia cho công tác giảm nghèo, kết hợp công tác giảm nghèo với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư cho các hộ nghèo.
Tiếp tục tiến hành xây dựng mô hình giảm nghèo cho các xã vùng sâu, vùng khó khăn; tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo bằng các nguồn vốn. Tăng nguồn vốn cho vay trợ giúp người nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh; phát triển việc làm và nghề phụ.
Triển khai xây dựng hệ thống thông tin giám sát, đánh giá thực hiện các mục tiêu giảm nghèo từ tỉnh đến địa phương.
6. Tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Duy trì 100% trạm y tế xã có đủ điều kiện hoạt động và đủ nữ hộ sinh, 100% phòng khám khu vực được xây dựng kiên cố và đủ bác sĩ hoạt động; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 19,3%, tỷ lệ xã có bác sĩ 90%. Đảm bảo 98% trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 06 loại vắc xin.
Tiếp tục xây dựng và phát triển hệ thống y tế các cấp, hoàn chỉnh mạng lưới y tế cơ sở, nâng cấp các bệnh viện, nhất là bệnh viện đa khoa tuyến huyện. Bố trí vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý để đầu tư hoàn thành trong năm 2007 các công trình bệnh viện Cần Giuộc, bệnh viện Châu Thành, trường Trung học Y tế, đối ứng vốn ADB (các huyện).
Xây dựng và thực hiện đề án nâng cấp chất lượng dịch vụ y tế cơ sở (đồng bộ về cơ sở, trang thiết bị, bồi dưỡng đào tạo, đào tạo lại cán bộ y tế, các chính sách khuyến khích đối với cán bộ y tế cơ sở) tạo điều kiện để y tế cơ sở có thể đáp ứng được nhiều dịch vụ khám bệnh thiết yếu và tính tiện dụng cao đối với người dân khi sử dụng dịch vụ. Đầu tư thiết bị bệnh viện Cần Giuộc, bệnh viện Châu Thành, đầu tư xây lấp và thiết bị bệnh viện Thạnh Hóa 9 tỷ đồng từ nguồn vốn chương trình Trung ương hỗ trợ có mục tiêu.
Tăng cường công tác phòng ngừa dịch bệnh, các giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm; tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu y tế và phòng chống HIV/AIDS, hỗ trợ y tế vùng sâu, vùng xa, các xã nghèo.
Khuyến khích phát triển hệ thống y tế ngoài công lập; mở rộng hình thức chăm sóc sức khỏe tại nhà.
Tiếp tục thực hiện các chính sách xã hội, chăm sóc người có công với nước, người già không nơi nương tựa, trẻ em lang thang; vận động xã hội tham gia chăm sóc phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công, gia đình chính sách, xây dựng nhà tình nghĩa.
7. Về văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình:
Thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sông văn hoá-sức khoẻ", chú trọng vùng sâu, vùng xa.
Phấn đấu số hộ gia đình thực hiện nếp sống văn hóa mới đạt 98%.
Tăng tỷ lệ số hộ nghe đài lên 96%, số hộ xem truyền hình 95%, nâng chất lượng chương trình phát thanh truyền hình.
Tăng cường công tác tuyên truyền đường lối, định hướng của Đảng và Nhà nước, tập trung tuyên truyền Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII.
Tiếp tục triển khai tốt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, bảo đảm các điều kiện để nâng dần mức hưởng thụ văn hóa trong nhân dân, chú trọng đầu tư khu vui chơi trẻ em, nâng cao chất lượng hoạt động các nhà văn hóa huyện, các tụ điểm sinh hoạt văn hóa xã, phường. Triển khai có hiệu quả chương trình đưa văn hóa về cơ sở và chống xuống cấp các di tích lịch sử, di tích văn hóa.
Đẩy nhanh xã hội hóa lĩnh vực văn hóa thông tin. Huy động các nguồn lực, trí tuệ trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hoá. Ưu tiên đầu tư các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng (như trung tâm văn hóa thể thao ở các xã, phường, thư viện, công viên, khu vui chơi, giải trí…).
Tiếp tục đầu tư các công trình chuyển tiếp của ngành như: Di tích Vàm Nhật Tảo, di tích lịch sử cách mạng Đức Huệ, tượng đài Long An Trung dũng Kiên cường...
8. Phát triển thể dục thể thao:
Thúc đẩy phong trào tập luyện TDTT, đặc biệt là thể thao quần chúng ở cơ sở. Đẩy mạnh các hoạt động thể thao cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao thể lực, trí tuệ người dân.
Thu hút hơn 20% dân số thường xuyên tham gia luyện tập thể thao, hơn 14% hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình thể thao. Phấn đấu duy trì thành tích của các môn thể thao thành tích cao (như bóng đá, bóng chuyền…).
Thực hiện tốt đề án đưa thể dục thể thao về cơ sở, tạo sự chuyển biến cơ bản trong phong trào TDTT quần chúng. Chuẩn bị tốt lực lượng cho Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VI.
Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động TDTT, đầu tư sân chơi, bãi tập ở xã phường và khu dân cư.
Tăng cường xã hội hóa trong hoạt động TDTT. Xây dựng một số mô hình dịch vụ TDTT theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
9. Thực hiện Chương trình phát triển thanh niên Việt Nam:
Đẩy mạnh triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về thanh niên, trong đó thanh niên được đặt vào vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
Tạo thuận lợi cho thanh niên thực hiện vai trò xung kích, tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm của tỉnh.
Mở rộng công tác dạy nghề cho thanh niên, hỗ trợ thanh niên tìm việc làm; phát triển câu lạc bộ doanh nghiệp trẻ; đẩy mạnh phong trào thanh niên lập nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp ở những vùng khó khăn.
Thực hiện các giải pháp thúc đẩy phát triển tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thanh niên, góp phần nâng cao dân trí, tham gia giảm nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa; xây dựng mô hình "tăng cường cung cấp thông tin khoa học, công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa" tại các địa phương đặc biệt khó khăn; có biện pháp thiết thực để ngăn chặn, hạn chế số thanh niên mắc tệ nạn xã hội.
10. Công tác bình đẳng giới:
Thực hiện giai đoạn 2 Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Tiếp tục thực hiện công tác xoá mù chữ cho phụ nữ ở độ tuổi dưới 40; tăng tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm và nâng tỷ lệ nữ đưa đi đào tạo trong tổng số lao động nữ đang làm việc; đảm bảo phụ nữ có nhu cầu được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và bình đẳng trong chăm sóc sức khoẻ.
Củng cố tổ chức bộ máy các Ban vì tiến bộ phụ nữ để nâng cao vai trò, trách nhiệm của các ngành, địa phương trong việc cụ thể hóa các kế hoạch hành động và có giải pháp cụ thể góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Lồng ghép kế hoạch hành động vì tiến bộ phụ nữ vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Giới thiệu, triển khai thực hiện các mô hình hay về bình đẳng giới. Thực hiện quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ, tạo nguồn cán bộ kế cận, đáp ứng yêu cầu mới. Tăng cường tuyên truyền trên mọi phương tiện thông tin đại chúng và nhiều hình thức khác nhằm nâng cao nhận thức của mọi người dân, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, vùng sâu, vùng xa để họ tự bảo vệ quyền lợi của mình.
11. Phòng, chống và giảm mạnh các tệ nạn xã hội:
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng xã phường trong sạch, vững mạnh, không có tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư".
Kiểm soát chặt chẽ tệ nạn ma tuý, mại dâm; gắn các hoạt động của Đoàn Thanh niên từng xã, phường, thị trấn, tham gia phòng chống tệ nạn XH tại địa bàn; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và có hiệu quả ở các khâu truy quét các ổ chứa, đầu mối cung cấp, tàng trữ, tổ chức sử dụng chất ma túy.
Đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia và phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển các hình thức cai nghiện. Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách về phòng chống các tệ nạn xã hội tại cơ sở xã, phường; làm rõ trách nhiệm đối với chính quyền các cấp, đặc biệt là xã, phường trong phòng chống ma túy, mại dâm; tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ. Triển khai thực hiện các dự án phòng chống ma túy có hiệu quả.
Ngăn ngừa tệ nạn mại dâm và kiểm soát được tình hình và giảm tác hại của sự lây lan các bệnh xã hội, đặc biệt là HIV/AIDS.
III. VỀ MÔI TRƯỜNG:
Quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh, giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.
Bảo vệ các vùng đất ngập nước, khu bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ các giống loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng trong danh mục cần được bảo vệ, ngăn chặn sự xâm nhập của các sinh vật ngoại lai.
Phòng chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu về khoa học và công nghệ môi trường; lồng ghép việc bảo vệ môi trường vào nội dung giảng dạy của các cấp giáo dục phổ thông, nâng cao nhận thức cộng đồng.
Đa dạng hóa hình thức đầu tư bảo vệ môi trường, đầu tư cho môi trường được lồng ghép với các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích đầu tư của tư nhân vào các dịch vụ môi trường.
Điều tra ô nhiễm môi trường ở những khu trung tâm, khu đông dân cư, khu công nghiệp đang có hiện tượng bị ô nhiễm nặng, tiến hành lồng ghép kế hoạch bảo vệ môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đối với những doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường phải kiên quyết xử lý, giải quyết dứt điểm không để gây nên tình trạng suy thoái môi trường.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về phát triển bền vững nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư, các tổ chức đoàn thể xã hội, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Tổ chức tốt việc điều tra cơ bản để cung cấp đầy đủ các dữ liệu về tài nguyên và môi trường phục vụ các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội bền vững giai đoạn 2006-2010.
IV. QUỐC PHÒNG, AN NINH, TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI:
Tiếp tục thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Triển khai thực hiện Nghị quyết 09/CP và chương trình phòng chống tội phạm giai đoạn 2006-2010; tiếp tục thực hiện mục tiêu 3 giảm; đảm bảo an ninh trật tự nông thôn, công nhân; tiếp tục thực hiện các giải pháp kềm chế tai nạn giao thông.
Tập trung thực hiện công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại. Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, tăng cường công tác tiếp dân, đối thoại trực tiếp, tập trung chỉ đạo giải quyết đến nơi đến chốn các nội dung khiếu kiện chính đáng, đồng thời kiên trì giải thích, đấu tranh kiên quyết với những sai trái, không để điểm nóng và kéo kiện đông người.
Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự-quốc phòng năm 2007, trong đó tập trung các nhiệm vụ trọng tâm như: tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân; bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu gọi công dân nhập ngũ; tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Tiếp tục công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng năm 2007.
Tiếp tục xây dựng khu vực biên giới mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng, an ninh; giữ mối quan hệ hữu nghị với Campuchia, chủ động giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh.
Tiếp tục thực hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh với xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội; tiếp tục hỗ trợ tăng cường cơ sở vật chất đối với các cơ quan lực lượng vũ trang.
V. PHÁT TRIỂN VÙNG LÃNH THỔ:
- Phát triển vùng kinh tế trọng điểm: tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp, hệ thống giao thông liên vùng như: Đường qua KCN Đức Hòa 2 – 3; Đường Long Định – Long Cang, Đường Nguyễn Trung Trực (Bourbon mở rộng), Hương Lộ 16, Hương Lộ 12 (Cần Giuộc),... chuẩn bị đầu tư các dự án cấp nước: Nhà máy nước các KCN Xuyên Á, KCN Phước Vĩnh Đông (Cần Giuộc), KCN Tân Kim. Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống đô thị hiện đại gắn kết với phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ; từng bước tổ chức bố trí lại dân cư theo hướng tập trung, phát triển đô thị. Đẩy mạnh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư. Thu hút đầu tư, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, qui hoạch các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo tinh thần công văn số 625/UBND-KT của UBND tỉnh Long An.
Vùng phía Nam của tỉnh: phát triển kinh tế công, nông, dịch vụ kết hợp, đa dạng giữa trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản. Đồng thời phát triển vùng rau an toàn, thu hút các dự án đầu tư nông nghiệp công nghệ cao; phát triển nền nông nghiệp ven đô.
- Vùng Đồng Tháp Mười: tiếp tục đầu tư hệ thống giao thông đến trung tâm các xã; tiếp tục hoàn thiện Chương trình dân sinh vùng lũ, hoàn thiện hệ thống hạ tầng cụm tuyến dân cư và bố trí dân vào sinh sống ổn định; phát triển vùng trọng điểm lương thực kết hợp phát triển thuỷ sản nước ngọt, du lịch sinh thái, kinh tế cửa khẩu, khai thác các tiềm năng của lũ; phát triển các mô hình kết hợp, khép kín nhằm khai thác tối đa hiệu quả trên đơn vị diện tích.
Về đầu tư kết cấu hạ tầng: Tiếp tục đầu tư xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ, củng cố và phát triển các hệ thống đê bao bảo vệ sản xuất và các khu dân cư tập trung; đầu tư các công trình chuyển tiếp kênh Thủy Tân, kênh Cái Sách, kênh hậu Cái Sách, kênh Sông Trăng,…, về giao thông đầu tư nâng cấp đường tỉnh 829; hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi kết hợp giao thông nông thôn.
Tiếp tục bố trí đầu tư hoàn thành dự án Làng nổi Tân Lập, đầu tư khu kinh tế cửa khẩu chính Bình Hiệp,... Đầu tư các dự án phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt: Dự án thủy sản Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng.
- Vùng hạ: tiếp tục phát triển thuỷ sản theo hướng nuôi công nghiệp, bán công nghiệp, đầu tư dự án thủy sản thủ Thừa; tập trung thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ cảng; chú trọng nâng cao mặt bằng dân trí, đẩy mạnh đào tạo nghề, chuyển đại bộ phận lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Đầu tư các công trình giao thông: ĐT 832 (đoạn km5 000 – km7 000 KCN An Nhựt Tân), ĐT 827A đoạn đầu và đoạn cuối, trung tu ĐT 827B,... Tiếp tục đầu tư các xã bãi ngang.
D. MỘT SỐ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU NĂM 2007:
1. Tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp; tích cực chuẩn bị hội nhập đạt kết quả:
Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế; đặc biệt, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng (chế biến hàng nông sản, công nghiệp cơ khí-điện tử, phân bón, vật liệu xây dựng...) và lợi thế phát triển các ngành dịch vụ có chất lượng cao (tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, bảo hiểm...)... Xây dựng các cơ chế khuyến khích áp dụng công nghệ mới trong sản xúât và quản lý. Ưu tiên các dự án vay vốn để đổi mới công nghệ, thiết bị; tạo điều kiện và đẩy nhanh tiến độ cho các doanh nghiệp thực hiện các hình thức vay vốn ngắn hạn, trung-dài hạn, thuê mua tài chính, tín dụng; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi nhằm triển khai các dự án đầu tư; phát triển các hình thức thuê mua tài chính để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Hỗ trợ phát triển và mở rộng thị trường, bao gồm cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
2. Khuyến khích, thu hút đầu tư:
Củng cố, hoàn thiện cơ chế một đầu mối về thu hút đầu tư; xây dựng và triển khai thực hiện tốt kế hoạch hoạt động xúc tiến đầu tư năm 2007. Tăng cường năng lực xúc tiến đầu tư thông qua việc củng cố tổ chức bộ máy và hoạt động của Trung tâm xúc tiến và tư vấn đầu tư trực thuộc UBND tỉnh, thực hiện tốt chức năng được giao.
Thực hiện cam kết giữa chính quyền và nhà đầu tư về quy trình hồ sơ thủ tục và tiến độ triển khai dự án trên địa bàn tỉnh; định kỳ gặp gỡ doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc tạo điêu kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp.
Xây dựng chương trình cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tập trung vào một số lĩnh vực: tính minh bạch, thái độ, trách nhiệm, thời gian, thanh kiểm tra, chi phí không chính thức, thiết chế pháp lý, đào tạo lao động…
Tăng cường, củng cố cơ quan trực tiếp thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đảm bảo đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, chú ý những địa bàn trọng yếu, nhiều dự án (Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Thạnh Hóa). Đổi mới phương thức, qui trình, thủ tục nhằm rút ngắn thời gian thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tránh tình trạng dự án triển khai thực hiện kéo dài.
Ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng các khu tái định cư tập trung (kể cả nghĩa trang) phù hợp quy hoạch vả gắn kết với phát triển đô thị, đảm bảo ổn định đời sống của người dân trong vùng dự án; kiên quyết không cho triển khai các dự án khi chưa triển khai thực hiện phương án bố trí tái định cư. Huy động các nguồn lực để xây dựng các khu tái định cư; bố trí đầu tư từ ngân sách xây dựng các khu tái định cư tập trung để phục vụ tái định cư chung cho nhiều dự án trong cùng khu vực, sau đó thu hồi lại vốn từ nghĩa vụ của nhà đầu tư và người tái định cư.
3. Về thu hút và đào tạo nguồn nhân lực:
Tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho bộ máy quản lý các doanh nghiệp.
Xã hội hóa các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề cho công nhân đáp ứng cho nhu cầu phát triển CNH, HĐH.
Có cơ chế, chính sách thu hút, tiếp nhận, hỗ trợ tìm việc làm cho các sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp về tỉnh. Thực hiện chính sách ưu đãi cho một số ngành nghề, lĩnh vực tỉnh đang cần, đặc biệt là tạo điều kiện và môi trường làm việc phù hợp với nghiệp vụ chuyên môn của từng đối tượng.
4. Về cải cách hành chánh:
Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa”, tiếp tục xác định rõ những việc Nhà nước phải làm, phân định rõ ranh giới các hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Củng cố tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước để đủ sức thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao, tiếp tục phân cấp quản lý gắn với tăng cường kiểm tra, hướng dẫn. Củng cố, chấn chỉnh vai trò, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Đề cao tinh thần trách nhiệm giữa ngành, địa phương trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung.
Tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện thông tin hiện đại phục vụ cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan đảng và các đoàn thể nhân dân.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động hệ thống hành chính nhà nước, trong đó yêu cầu tiến hành rà soát, đơn giản thủ tục hành chính, công khai, minh bạch các quy định về thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp và đời sống của dân, là một trong những giải pháp quan trọng để bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2007.
5. Về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm:
Tiếp tục tổ chức triển khai và thực hiện có hiệu quả chương trình hành động của tỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chóng tham nhũng. Xử lý nghiêm khắc những hành vi lợi dụng chức, quyền để tham nhũng gây thất thoát, lãng phí tài sản và tiền vốn của nhà nước.
Tiếp tục thực hiện phân cấp trong quản lý kinh tế và quy định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị và người đứng đầu.
Tăng cường công tác thanh kiểm tra và giám sát hệ thống hành chính nhà nước, trong đó việc công khai các quy định về các thủ tục hành chính để dân biết được xem là một biện pháp quan trọng.
Trên đây là báo cáo thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2006 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007.
Báo cáo này thay thế báo cáo số 5664/BC-UBND ngày 17/11/2006 của UBND tỉnh./.
Lượt người xem:   22917
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​