Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Tuyên Truyền

Liên kết

Website

 
Thông Tin Tuyên Truyền
 
Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một trong những chính sách an sinh của Đảng và Nhà nước, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, là loại hình dịch vụ công, hoạt động phi lợi nhuận, lấy hiệu quả xã hội làm mục đích. Đây là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức. 
 
Hệ thống đo tốc độ truy cập Internet Việt Nam (VNNIC Internet Speed) là sản phẩm được Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) và Cục Viễn thông xây dựng, phát triển dùng để đo tốc độ truy cập Internet Việt Nam. 
 
Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 là sân chơi đổi mới sáng tạo thường niên dành cho học sinh, sinh viên khắp cả nước do Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh triển khai thực hiện. Cuộc thi chính thức phát động và nhận đơn đăng ký từ ngày 19/3/2022 đến ngày 05/6/2022. 
 
Tháng hành động vì an toàn thực phẩm được các cấp các ngành triển khai từ ngày 15/4 đến 15/5 hàng năm. Để tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nâng cao nhận thức, kiến thức của người tiêu dùng trong công tác đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, đảm bảo nguồn cung thực phẩm chất lượng, an toàn cho tiêu dùng. Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm nay được triển khai với chủ đề: “Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản thực phẩm trong tình hình mới” diễn ra từ ngày 15/4/2022 đến 15/5/2022. 
 
Nhằm góp phần hỗ trợ Người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, thiếu hụt lao động và hỗ trợ Người sử dụng lao động giảm chi phí, từng bước thích ứng với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất, kinh doanh, ổn định việc làm cho người lao động; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1131/KH-UBND ngày 14/4/2022 về triển khai thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho Người lao động, cụ thể như sau: 
 
Ngày 04/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1862/QĐ-TTg về việc tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam thay thế Quyết định số 284/QĐ-TTg ngày 24/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Sách Việt Nam, theo đó lấy ngày 21 tháng 4 là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam. 
 
Năm Du lịch quốc gia 2022 là sự kiện văn hóa, kinh tế, xã hội, du lịch tiêu biểu quy mô cấp quốc gia và cũng là sự kiện du lịch thường niên lớn nhất của ngành Du lịch Việt Nam. Sự kiện tạo cơ hội thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, thông qua đó tăng cường giới thiệu, quảng bá hình ảnh, các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể, tài nguyên và sản phẩm du lịch đặc sắc của Việt Nam, đồng thời thúc đẩy mạnh liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương. 
 
Ngày 13/6/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020. Quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2022; khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này trước ngày 01/7/2022. 
 
Ngày 13/6/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020. Quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2022; khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này trước ngày 01/7/2022. 
 
Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó xác định người dân là trung tâm của chuyển đổi số và thiết bị di động thông minh là phương tiện chính trong thế giới số giúp hình thành “Văn hóa số” gắn với bảo vệ chủ quyền số quốc gia, đồng thời chỉ đạo các cấp, các ngành cùng doanh nghiệp triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy sử dụng điện thoại di động thông minh (smartphone) và truy cập internet cáp quang hộ gia đình. Việc thực hiện chủ trương trên mang lại cho người dân những lợi ích cụ thể, thiết thực có thể kể đến một số nội dung tiêu biểu như sau: 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2021)Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2021)

I-  NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG

Lịch sử Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng gắn liền với quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng cứu nước của các sĩ phu yêu nước và các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, mà sự kiện tạo ra bước ngoặt căn bản trong việc hình thành con đường cứu nước của dân tộc là khi Người đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin vào tháng 7/1920.

Những nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và các chiến sĩ cách mạng tiền bối trong việc truyền bá hệ tư tưởng Mác xít và tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng…  đã góp phần tích cực làm nên sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, đó là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.

Sau Hội nghị thành lập Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã thành lập Ban Cổ động và Tuyên truyền - cơ quan tham mưu, chỉ đạo công tác tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ trước mắt là tuyên truyền, giác ngộ quần chúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, về Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và đường lối cách mạng của Đảng; cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân giác ngộ cách mạng, hiểu Đảng, ủng hộ Đảng, tin và đi theo Đảng làm cách mạng.

Đặc biệt, ngày 1/8/1930, nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, Ban Cổ động và Tuyên truyền đã xuất bản tài liệu mang tên "Ngày quốc tế đỏ 1/8". Đây là Tài liệu duy nhất và sớm nhất còn lưu giữ đến nay đề rõ "Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành". Ngay sau khi phát hành, Tài liệu đã tạo được tiếng vang lớn, có sức cổ vũ mạnh mẽ quần chúng cách mạng nước ta đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức, bóc lột, phản đối chiến tranh xâm lược, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Từ đó, ngày 1/8 trở thành một mốc son lịch sử, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa đối với công tác tuyên giáo của Đảng.

Đánh giá cao sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt này, năm 2000, Bộ Chính trị (Khoá VIII) quyết định lấy ngày 1/8 hàng năm làm Ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng. Năm 2007, sau khi hợp nhất Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) quyết định lấy ngày 1/8 hằng năm làm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng.

Ngày 1/8/1930 được chọn là Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng nhưng trên thực tế, công tác tuyên giáo đã có từ trước khi thành lập Đảng, từ khi Nguyễn Ái Quốc bắt đầu các hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam.

II- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VẺ VANG CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUA 91 NĂM (1930 - 2021)

1. Công tác tuyên giáo đã góp phần xây dựng, phát triển phong trào cách mạng, khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám 1945, giành chính quyền về tay nhân dân (giai đoạn 1930 - 1945)

a. Cao trào cách mạng (1930 - 1931) và Xô Viết Nghệ Tĩnh

Ngay sau khi thành lập, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về việc thành lập Đảng và đường lối cách mạng của Đảng; phổ biến rộng rãi Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; đề ra nhiều khẩu hiệu phản ánh nguyện vọng bức thiết của quần chúng lao động…; qua đó đã làm dấy lên phong trào cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong cả nước. Hàng trăm cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, binh lính đã nổ ra quyết liệt trên nhiều tỉnh, thành phố, đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Công tác tuyên truyền trong nhân dân được tiến hành công khai, sâu rộng, mà trọng tâm là tuyên truyền các chính sách của cách mạng: xoá nợ, giảm tô, chia lại công điền cho nông dân, thủ tiêu mọi thứ thuế, ban bố các quyền dân chủ, xét xử bọn phản động, bài trừ hủ tục, tổ chức học văn hoá... Nhiều tờ báo của Đảng và các địa phương ra đời. Thơ ca cách mạng được lưu truyền. Sách, báo, tài liệu cách mạng được phổ biến rộng rãi.

Trọng tâm của công tác tư tưởng thời kỳ này là công tác tuyên truyền và đào tạo cán bộ tuyên huấn. Công tác tư tưởng tập trung giác ngộ chính trị cho đảng viên và quần chúng, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, chuyển tư tưởng yêu nước của nhân dân ta theo lập trường của giai cấp công nhân. Công tác tuyên truyền thường xuyên tố cáo tội ác của đế quốc và tay sai, chống lại các thủ đoạn lừa bịp của chúng, chống chủ nghĩa quốc gia cải lương; gắn chặt với cuộc đấu tranh hàng ngày của quần chúng đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, kết hợp các khẩu hiệu kinh tế với khẩu hiệu chính trị, thông qua đấu tranh mà nâng cao trình độ chính trị, rèn luyện đảng viên và quần chúng. Đối với cán bộ, đảng viên, công tác tư tưởng đã coi trọng việc giáo dục tính chất giai cấp của Đảng, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và phẩm chất đạo đức cách mạng, phân rõ ranh giới tư tưởng vô sản với các tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, giữ vững đường lối chính trị đúng đắn, quan điểm tư tưởng vô sản, chống các tư tưởng phi vô sản, đào tạo một đội ngũ cán bộ kiên cường, trung thành, tận tụy với cách mạng.

 

b. Đấu tranh chống khủng bố, khôi phục và phát triển phong trào cách mạng (giai đoạn 1932 - 1935)

Thời gian này, công tác tư tưởng đã được tiến hành kịp thời, sắc bén, bám sát thực tiễn, góp phần quan trọng ổn định tư tưởng cán bộ, đảng viên, nâng cao lòng tin vào lý tưởng và thắng lợi của cách mạng, đẩy lùi các hiện tượng bi quan, dao động; nêu gương sáng về tinh thần hy sinh, bất khuất vì lợi ích cách mạng của những người cộng sản; góp phần quan trọng vào việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng trước sự khủng bố tàn bạo của địch, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh rộng lớn hơn về sau.

c. Cuộc vận động dân chủ chống phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (giai đoạn 1936 - 1939)

Trong thời kỳ này, Trung ương Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ công tác báo chí, xuất bản, phát hành, huấn luyện, đào tạo cán bộ thông qua việc phát triển xuất bản sách báo công khai và chọn đảng viên có trình độ viết sách, viết bài; mỗi chi bộ lập"bình dân thư xã" mua và đọc sách, báo cách mạng; khuyến khích quần chúng mua và đọc sách, báo. Các cấp đảng bộ tái bản những tài liệu tuyên truyền của Trung ương, lập ra Ban huấn luyện chăm lo đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chính trị cho đảng viên và quần chúng. Nhiều tác phẩm văn hóa hiện thực phê phán ra đời. Phong trào Truyền bá quốc ngữ phát triển sâu rộng. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, ta đã giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử Viện dân biểu Bắc kỳ và Viện dân biểu Trung kỳ (1937 - 1938).

Công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng tạo ra một cao trào cách mạng sôi nổi, đây được coi là cuộc tổng diễn tập thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945; bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, đó là: đấu tranh cho tự do dân chủ, cải thiện đời sống và hoà bình, chống phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh; tạo điều kiện cho đường lối, chủ trương của Đảng đi sâu vào quần chúng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hoá dân tộc, cổ vũ mạnh mẽ khí thế của phong trào cách mạng, tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tiến bộ tham gia vận động cách mạng.

d. Cao trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám (giai đoạn 1939 - 1945)

Công tác tuyên giáo trong thời kỳ 1939 - 1945 đã gắn chặt và phục vụ thiết thực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ, khó khăn nhưng rất oanh liệt, vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Thông qua công tác tuyên giáo góp phần phát huy cao độ lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết, anh hùng, bất khuất của dân tộc, nổi dậy tự giải phóng mình khỏi ách nô lệ của đế quốc và tay sai. Đó là kịp thời truyền đạt các nhận định và chủ trương của Đảng, đưa ra những khẩu hiệu sát hợp hướng dẫn tư tưởng và hành động của quần chúng; đấu tranh sắc bén với các tư tưởng tự ti, nô lệ, các khuynh hướng sai lầm, rụt rè, do dự hoặc nóng vội, manh động… với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, thậm chí táo bạo như: tuyên truyền xung phong, tuyên truyền vũ trang, biểu tình vũ trang; cổ vũ nhân dân nổi dậy với khí thế mạnh mẽ áp đảo quân thù. Đó là góp phần bồi dưỡng, đào tạo hàng loạt cán bộ về chính trị, về kinh nghiệm tổ chức, phát động quần chúng, giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong cách mạng, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, quyết tâm đấu tranh cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đ­ường lối độc lập tự chủ và đầy sáng tạo của cách mạng Việt Nam; đồng thời cũng là thành tựu to lớn của công tác tuyên giáo trong việc tuyên truyền, vận động cách mạng, biến chủ nghĩa Mác - Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng thành phong trào cách mạng của quần chúng trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, phong kiến.

2. Công tác tuyên giáo tham gia huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (giai đoạn 1945 - 1954)

a. Tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng xã hội mới (giai đoạn 1945 - 1946)

Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám, chính quyền cách mạng mới ra đời gặp muôn vàn khó khăn. Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có ngành tuyên giáo, là đoàn kết toàn dân bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chống thù trong, giặc ngoài, góp phần đưa cách mạng tiến lên. Công tác tuyên giáo lúc này tập trung giáo dục ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, tự do; cổ vũ nhân dân thực hiện ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngay sau khởi nghĩa, Bộ Tuyên truyền được thành lập, tiếp quản các cơ sở tuyên truyền, báo chí của chế độ cũ. Các binh chủng chủ lực của công tác tuyên giáo lần lượt ra đời như Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã. Báo của Đảng, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chức đoàn thể đã được phát hành công khai, rộng rãi. Công tác tuyên truyền tập trung tố cáo âm mưu và tội ác của thực dân Pháp ở miền Nam, khơi dậy ý chí quyết tâm chống xâm lược, ủng hộ đồng bào miền Nam kháng chiến. Nhiều tỉnh thành trên cả nước diễn ra các cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược. Đặc biệt, các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ có nhiều hình thức động viên phong phú để quyên góp thuốc men, quần áo, vũ khí chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Hàng vạn thanh niên nô nức tham gia tòng quân, xung phong "Nam tiến". Tại Nam Bộ, công tác tuyên truyền được tiến hành sâu rộng nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng.

Tháng 11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc, xác định tính chất cách mạng nước ta và hai nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chế độ mới. Công tác tuyên truyền tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân, chống nạn mù chữ. Khắp nơi có khẩu hiệu "Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt", nhiều ca dao, hò vè được sáng tác để cổ vũ phong trào... Kết quả sau một năm, đã có 2 triệu người thoát nạn mù chữ.

Cuộc vận động xây dựng đời sống mới, giáo dục tinh thần yêu nước, đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính", chống các hủ tục, lạc hậu cũng được tuyên truyền sâu rộng. Nạn trộm cắp, cờ bạc, các hủ tục trong ma chay, cưới xin được xoá bỏ ở nhiều nơi, công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng, nhất là ca hát, thể dục thể thao phát triển rộng rãi.

Tháng l/1946, Chính phủ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức. Công tác tuyên truyền, vận động bầu cử thực sự là một cuộc đấu tranh gay gắt chống lại sự phá hoại của quân đội Tưởng và bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách ở miền Bắc, thực dân Pháp ở miền Nam. Với khẩu hiệu phổ biến mọi nơi là: "Tất cả cử tri tới thùng phiếu"; "Mỗi lá phiếu là một viên đạn diệt thù", công tác tuyên giáo đã góp phần giúp cuộc Tổng tuyển cử thành công, thu hút đại đa số cử tri đi bỏ phiếu bầu cho các ứng cử viên của Mặt trận Việt Minh, kể cả ở miền Nam dưới bom đạn của thực dân Pháp.

b. Động viên toàn dân kháng chiến, toàn quốc kháng chiến, thi đua yêu nước, giết giặc, lập công; đẩy mạnh cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới và đi tới thắng lợi quyết định (giai đoạn 1946 - 1954)

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ... đã có mặt trên các chiến trường nóng bỏng, phản ánh, động viên chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu, sản xuất của chiến sĩ, đồng bào cả nước. Thời gian này, công tác khoa giáo tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, vận động trí thức. Công tác tuyên huấn đã động viên phong trào thi đua yêu nước, diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Công tác tuyên truyền, cổ động tập trung nêu cao ý nghĩa chiến thắng Việt Bắc, phổ biến Lời kêu gọi ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống tư tưởng chủ quan, khinh địch, vạch trần âm mưu lập chính quyền bù nhìn Bảo Đại của thực dân Pháp, cổ vũ cho phong trào thi đua yêu nước trên mọi lĩnh vực kháng chiến, kiến quốc.

Năm 1954, quân ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Công tác tuyên giáo tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ và chiến sĩ ngoài mặt trận, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tích cực tiến công, ý chí quyết thắng, quyết tâm chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, khắc phục tư tưởng tiêu cực, ngại gian khổ hy sinh, uốn nắn tư tưởng chủ quan, khinh địch khi có thắng lợi, biểu dương các gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh. Qua đó góp phần quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng miền Bắc, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Điểm nổi bật của công tác tuyên truyền thời kỳ này là đã đi vào từng nhà, từng người; gắn tuyên truyền đường lối kháng chiến với cổ động hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể của kháng chiến từng thời kỳ, ở mọi lúc, mọi nơi…; thường xuyên biểu dương gương điển hình tiên tiến; mọi hoạt động văn học, nghệ thuật, giáo dục, báo chí… đều hướng vào phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ quần chúng đã phát triển mạnh mẽ; lĩnh vực khoa giáo được quan tâm và đẩy mạnh. Nhìn chung, trong kháng chiến chống Pháp, công tác tuyên giáo đã được triển khai mạnh mẽ, toàn diện, góp phần huy động sức mạnh của toàn dân tộc tham gia vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thắng lợi.

3. Công tác tuyên giáo đồng hành cùng nhân dân cả nước tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (giai đoạn 1954 - 1975)

a. Quán triệt và thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở miền Nam (giai đoạn 1954 - 1960)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7/1954) và Nghị quyết Bộ Chính trị về khôi phục kinh tế, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, công tác tuyên huấn đã giúp cấp ủy tổ chức lực lượng tuyên truyền sâu rộng các chính sách của Chính phủ đối với vùng mới giải phóng; vạch trần luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của địch, vận động đồng bào tham gia đấu tranh thực hiện tốt công tác tiếp quản. Biểu dương các phong trào "Nhường cơm sẻ áo", "Một miếng khi đói bằng một gói khi no"… tác động tích cực đến quần chúng. Tập trung quán triệt và giúp cấp ủy đảng triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, kế hoạch của Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường tổ chức học tập lý luận Mác - Lênin cho cán bộ, đảng viên; giáo dục giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho đảng viên; về hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội…

Giai đoạn này, công tác tuyên giáo đóng vai trò trọng yếu trong việc khơi dậy ý chí, tri thức và sức mạnh trong quần chúng, cổ vũ mạnh mẽ các phong trào thi đua như Gió Đại PhongSóng Duyên Hải, Tiếng trống Bắc LýCờ Ba nhất… Đây cũng là giai đoạn công tác tuyên giáo đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trên lĩnh vực khoa giáo, như: giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân…

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, công tác tuyên giáo đã động viên phong trào quần chúng ủng hộ, cổ vũ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, phản đối Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp khủng bố đồng bào miền Nam, phá hoại hiệp thương, tổng tuyển cử, động viên phong trào đấu tranh chính trị, tiến tới Đồng khởi ở miền Nam.

b. Đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (giai đoạn 1961 - 1965)

Công tác tuyên giáo tập trung tuyên truyền, vận động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Nhiều điển hình xuất sắc xuất hiện trong phong trào quần chúng đã trở thành ngọn cờ cổ vũ phong trào thi đua như: Gió Đại PhongSóng Duyên Hải, Tiếng trống Bắc LýCờ Ba nhất …

Trong những năm 1960 - 1964, nhân dân miền Nam đã đồng khởi nổi dậy và đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, công tác tư tưởng đã luôn chú trọng tới việc quán triệt phương hướng, nhiệm vụ, phương châm đấu tranh trong tình hình mới; coi trọng việc phổ biến những kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời tích cực tham mưu, đề xuất Đảng, Nhà nước phát động phong trào thi đua "Dũng sĩ diệt Mỹ", nâng cao quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

c. Miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu, chi viện cho miền Nam, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà (giai đoạn 1965 - 1975)

Với mục tiêu đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng trong việc động viên quân dân miền Bắc chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và tích cực chi viện cho miền Nam. Các phong trào văn hóa - văn nghệ phát triển mạnh; công tác xây dựng Đảng về tư tưởng kịp thời chuyển hướng để bảo đảm yêu cầu lãnh đạo quân dân ta thực hiện tốt những nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc: tăng cường hơn nữa công tác giáo dục đảng viên, học tập kết hợp chặt chẽ với phê bình và tự phê bình, phát huy tính tiền phong, gương mẫu; công tác tuyên truyền đối ngoại được tăng cường, tích cực tranh thủ các diễn đàn quốc tế, thông qua các hoạt động ngoại giao, nêu cao tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Thành công của công tác tuyên giáo giai đoạn này là tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái lao động, sản xuất, chiến đấu. Miền Bắc, công tác tuyên giáo tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, như "Vì miền Nam ruột thịt", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", chi viện đắc lực sức ng­ười, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, động viên lớp lớp thanh niên hăng hái lên đường đánh giặc với tinh thần "Xẻ dọc Tr­ường Sơn đi cứu n­ước". Với miền Trung, tập trung tuyên truyền, khơi dậy lòng yêu nước và truyền thống cách mạng, tất cả một lòng "Xe cho qua, nhà không tiếc; Đư­ờng ch­o thông, không tiếc máu x­ương".  Ở miền Nam, công tác tuyên giáo đã cổ vũ quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang ở khắp mọi nơi, trên cả ba vùng: vùng núi, đồng bằng và đô thị; khơi dậy lòng căm thù giặc, bồi dưỡng lòng yêu nư­ớc, tinh thần dũng cảm, không quản ngại hy sinh, tạo nên nhiều phong trào thi đua giết giặc, lập công: "Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công", "Xuống đường đòi tự do, dân chủ", "Hát cho đồng bào tôi nghe"… Sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đã được chuyển hóa bằng thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã lãnh đạo công tác tuyên giáo thực hiện cuộc vận động chính trị nhằm quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Với ý chí "không có gì quý hơn độc lập tự do", thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước của toàn dân tộc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Công tác tuyên giáo đã thành công trong việc bồi dưỡng ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

4. Công tác tuyên giáo trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (giai đoạn 1975 - 2021)

a. Thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế (giai đoạn 1975 - 1985)

Đất n­ước vừa trải qua 30 năm chiến tranh, phải đối phó với các cuộc chiến tranh biên giới, bị đế quốc Mỹ và các thế lực đế quốc bao vây cấm vận, kinh tế - xã hội nư­ớc ta lâm vào khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, công tác tuyên giáo đã tập trung động viên các tầng lớp nhân dân nêu cao ý chí khắc phục khó khăn, quyết tâm vư­ợt qua thử thách, nhanh chóng thực hiện thống nhất đất nư­ớc; cổ vũ khí thế phấn đấu nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc, từng bư­ớc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu quan trọng của đất nư­ớc, tạo điều kiện cho các b­ước phát triển tiếp theo. Đặc biệt là qua thực tiễn, đã từng b­ước chuẩn bị lý luận cho công cuộc đổi mới đất n­ước.

b. Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (giai đoạn 1986 - 2021)

Tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta khởi xư­ớng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất n­ước. Kể từ đó đến nay đã 35 năm, nhiệm vụ, chức năng là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, tham mưu giúp các cấp ủy đảng trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, về chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, lý luận chính trị, lịch sử Đảng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, thông tin đối ngoại, khoa giáo; công tác tuyên giáo đã đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện sự nghiệp đổi mới và đã đạt được những thắng lợi bước đầu. Sự đóng góp của công tác tuyên giáo được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nổi bật, đó là:

+ Tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.

+ Củng cố niềm tin, niềm tự hào về Đảng, về đất nước và con người Việt Nam; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

+ Góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng chăm lo và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

+ Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội an toàn, lành mạnh, xây dựng con người mới Việt Nam.

Đặc biệt là trong 5 năm trở lại đây, công tác tuyên giáo từ Trung ương đến địa phương đã có sự chuyển biến sâu sắc và đạt được những kết quả nổi bật, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Cụ thể:

- Công tác tham mưu giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các lĩnh vực công tác tuyên giáo ngày càng chủ động, nhạy bén, sáng tạo, sát với yêu cầu của thực tiễn. Toàn Ngành đã chủ động tham mưu tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương ban hành trong nhiệm kỳ; nghiên cứu, tham mưu có chất lượng nhiều vấn đề quan trọng trên lĩnh vực tuyên giáo, đồng thời phục vụ tích cực cho việc xây dựng, ban hành, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy địa phương để tháo gỡ khó khăn, bất cập cũng như những định hướng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tuyên giáo trong tình hình mới.

Việc tham mưu, đề xuất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đặc biệt là việc biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương "người tốt, việc tốt" trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục, với nhiều nội dung và cách làm mới, đã tạo sức lan toả sâu rộng trong xã hội, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị.

+ Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống, đạo đức, lối sống trong các trường phổ thông; công tác lý luận, giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề được chú trọng, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được chủ động triển khai, ngày càng nền nếp, bài bản hơn. Công tác triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức. Việc tổ chức học tập, quán triệt triển khai thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 khóa XII được đổi mới từ chỗ học tập, quán triệt bằng hình thức trực tiếp thì nay được kết hợp phương pháp trực tuyến với nội dung ngắn gọn, súc tích, giúp cho cán bộ, đảng viên nắm vững, hiểu rõ những nội dung cơ bản, cốt lõi của các nghị quyết; thời gian tổ chức sớm hơn, nội dung thảo luận, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết khả thi hơn, sát hợp hơn với thực tế địa phương, đơn vị.

Toàn Ngành đã chú trọng tìm tòi, đổi mới nội dung và phương thức tham mưu về công tác lý luận chính trị; tập trung chỉ đạo, định hướng các cơ quan, đơn vị chức năng nghiên cứu một số vấn đề về đường lối, chính sách, phương thức lãnh đạo, thực hiện dân chủ trong Đảng; khẳng định và làm rõ một số giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thống yêu nước tiếp tục được coi trọng và tăng cường, từng bước được đổi mới, đa dạng về nội dung và phương thức. Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống và nghiên cứu, biên soạn và xuất bản sách lịch sử Đảng được cấp ủy các cấp quan tâm triển khai.

+ Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội có nhiều đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của thực tiễn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng tuyên truyền được coi trọng, tập trung chỉ đạo sâu sát, kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt, triển khai các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không ngừng đổi mới theo hướng chủ động, sáng tạo, hiệu quả; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử quan trọng; tuyên truyền kinh tế - xã hội; tuyên truyền quốc phòng, an ninh có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức tạo sức lan tỏa trong xã hội. Công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên cũng đã được ban tuyên giáo các cấp chú trọng và thực hiện có hiệu quả. Công tác chỉ đạo, định hướng tuyên truyền trên internet, mạng xã hội được quan tâm. Việc chỉ đạo, định hướng thông tin tuyên truyền trên báo chí được đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt, từng bước tạo lập môi trường thông tin trong sạch, lành mạnh trên báo chí và trên không gian mạng. Công tác sắp xếp, quy hoạch báo chí được thực hiện đồng bộ với nhiều phương pháp hiệu quả. Công tác nắm bắt, điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội từng bước được đổi mới theo hướng chủ động, sớm và sát thực tiễn hơn; nhất là trước các vấn đề phức tạp, nhạy cảm mà đông đảo nhân dân quan tâm.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa - văn nghệ bám sát nhiệm vụ chính trị, đúng định hướng, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước và từng địa phương.

Công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực, ngày càng đi vào chiều sâu; thông tin về thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đường lối đối ngoại; quảng bá văn hóa, hình ảnh Việt Nam ra thế giới; về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam; các vấn đề chủ quyền biên giới lãnh thổ, vấn đề Biển Đông, tôn giáo, dân tộc, dân chủ nhân quyền... được tăng cường.

+ Công tác tham mưu trên các lĩnh vực khoa giáo ngày càng chủ động, có nhiều chuyển biến quan trọng. Ngành Tuyên giáo đã tập trung chỉ đạo, định hướng chính trị trong triển khai các nội dung, nhiệm vụ công tác khoa giáo như: đổi mới giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường; phòng chống thiên tai, dịch bệnh; phát triển y tế, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, bình đẳng giới. Chủ động tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nghị quyết chỉ thị, nghị quyết này trong tình hình mới.

+ Công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng hiệu quả. Chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống âm mưu "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa có chuyển biến tích cực, rõ nét hơn so với trước; nhất là việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc, phản bác quan điểm sai trái thù địch, xuyên tạc trên Internet, mạng xã hội và tăng cường cung cấp thông tin chính thống, tổ chức đối thoại, định hướng thông tin trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm.

III- SỰ TRƯỞNG THÀNH, LỚN MẠNH CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUA 91 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

1. Hệ thống tuyên giáo các cấp ngày càng được củng cố, kiện toàn; đội ngũ cán bộ tuyên giáo không ngừng phát triển về số lượng, lớn mạnh về chất lượng

Trải qua 91 năm, công tác tuyên giáo của Đảng ngày càng khẳng định sự trưởng thành, phát triển và lớn mạnh không ngừng.

Tổ chức bộ máy hệ thống tuyên giáo cấp ủy đảng các cấp từng bước được đổi mới, kiện toàn chất lượng hoạt động ngày một được nâng lên. Đến nay, đã có 659 Ban Tuyên giáo quận, huyện, thị uỷ; 42 tỉnh, thành phố thành lập được hệ thống tuyên giáo cơ sở xã, phường, thị trấn (65%), một số tỉnh, thành ủy đang tiến hành xây dựng, nhiều nơi đang triển khai thực hiện thí điểm thành lập hệ thống tuyên giáo xã, phường, thị trấn.

Đội ngũ cán bộ tuyên giáo giai đoạn đầu còn ít, lực lượng cán bộ "mỏng", qua mỗi thời kỳ cách mạng, lực lượng ấy ngày càng đông về số lượng, mạnh về chất lượng. Hiện nay, tổng số cán bộ tuyên giáo chuyên trách của cấp ủy đảng từ Trung ương đến cấp huyện và tương đương trên cả nước là khoảng trên 3.800 người (cấp Trung ương: 319 người; cấp tỉnh, thành ủy: khoảng 1.200 người; cấp quận huyện, thị: 2.300 người). Lực lượng cán bộ tuyên giáo ngày càng đông đảo, không chỉ có đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo của cấp ủy, mà còn có đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, các phóng viên, biên tập viên báo chí, các chuyên gia, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, trí thức, cùng đông đảo đội ngũ cộng tác viên. Tính đến cuối năm 2019, chỉ tính riêng đội ngũ Báo cáo viên Trung ương đã có 490 người. Số lượng Báo cáo viên cấp tỉnh và tương đương là 3.945 người, Báo cáo viên cấp huyện và tương đương là 39.107 người; tuyên truyền viên ở cơ sở là 179.094 người (số liệu năm đến tháng 10/2017). Số cộng tác viên dư luận xã hội trên cả nước là 17.398 người (trong đó cấp Trung ương: 60 người; cấp tỉnh: 1.953 người; cấp huyện: 15.445 người).

Nhìn chung, các lực lượng, binh chủng làm công tác tuyên giáo ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên giáo đều là những đồng chí có năng lực, đạo đức, tâm huyết, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, có năng lực, kiến thức chuyên môn, hiểu biết nghiệp vụ, trách nhiệm với công việc; nhiều đồng chí có bề dày kinh nghiệm, đã trải qua nhiều chức vụ lãnh đạo, công tác ở nhiều lĩnh vực (cấp ủy, chính quyền, đoàn thể).

Trong bối cảnh hiện nay, xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng mới, xu thế thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch không ngừng chống phá quyết liệt bằng mọi thủ đoạn, phương thức nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta; đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo ngày càng khẳng định bản lĩnh tư tưởng, năng lực tham mưu mới, sáng tạo, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Thành công của cách mạng Việt Nam luôn có sự đóng góp thiết thực, hiệu quả của đội ngũ cán bộ tuyên giáo chuyên trách và bán chuyên trách các cấp qua mọi giai đoạn cách mạng.

2. Ngành Tuyên giáo ngày càng thể hiện tính chủ động, tính chiến đấu, vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp đổi mới xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế

Công tác tham mưu của ngành Tuyên giáo với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy Đảng mang tầm chiến lược và ngày càng thực hiện tốt vai trò đi trước mở đường, đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trở thành hiện thực trong đời sống xã hội.

Nội dung, phương thức công tác tuyên giáo đổi mới, sát với yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn; chất lượng, hiệu quả ngày càng được nâng lên; tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cán bộ tuyên giáo các cấp ngày càng được phát huy. Công tác tư tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử đã có bước đổi mới tích cực, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong xã hội với tinh thần "lấy cái đẹp, dẹp cái xấu". Công tác tư tưởng, tuyên giáo ngày càng nhanh nhạy đi trước mở đường, khắc phục căn bản tình trạng "chạy theo, nói lại", "tầm chương trích cú". Đặc biệt, đã sớm phát hiện và chủ động chỉ đạo, định hướng tuyên truyền những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, như vấn đề xây dựng Luật Đặc khu, vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, vấn đề Formosa, vụ việc cá chết ở Hồ Tây…

Công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được chú trọng đẩy mạnh, đạt hiệu quả thiết thực; việc đấu tranh, phản bác các quan điểm, sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dần đi vào nền nếp và hoạt động ngày càng hiệu quả. Từ chỗ mới chỉ có một số bài viết đấu tranh nhỏ lẻ, rải rác trên báo chí; đến nay, ngành Tuyên giáo đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn, phản bác quan điểm sai trái, thù địch; bước đầu kết hợp hài hòa các biện pháp kỹ thuật, pháp lý, kinh tế và tuyên truyền, giáo dục để ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, quan điểm xấu độc nhất là trên không gian mạng, làm lành mạnh hóa môi trường thông tin truyền thông, internet và mạng xã hội.

Qua mỗi giai đoạn cách mạng, ngành Tuyên giáo không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, nhạy bén, đổi mới công tác tham mưu, không ngừng sáng tạo, tự làm mới mình, bắt kịp sự phát triển thời đại công nghệ 4.0, tổ chức triển khai các nhiệm vụ đồng bộ, bài bản có trọng tâm, trọng điểm, góp phần quan trọng trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước, lao động, sáng tạo, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, giữ vững ổn định kinh tế chính trị, trật tự an toàn xã hội.

IV- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy để chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch trọng tâm hàng năm; nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, tăng cường công tác dự báo để chủ động tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy giải quyết tốt, đúng và trúng các vấn đề, các sự việc diễn ra, nhất là các vấn đề, sự việc có tính chất phức tạp, nhạy cảm.

Hai là, luôn xác định tinh thần trực chiến trên mặt trận tư tưởng của Đảng; đối diện, không né tránh những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động công tác tuyên giáo; nâng cao tính chủ động, sáng tạo và nhạy bén chính trị, để tham mưu đúng và trúng những giải pháp xử lý các vấn đề mới, khó, phức tạp, cũng như những vấn đề thường xuyên thuộc lĩnh vực công tác tuyên giáo ở mỗi thời điểm, địa bàn cụ thể.

Ba là, quan tâm đầu tư, tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh vững vàng, nhạy bén chính trị, có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết, có khả năng tập hợp, đoàn kết, thuyết phục quần chúng. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo cần được xây dựng theo hướng chuyên sâu, có cơ cấu hợp lý, có tính ổn định tương đối, bộ máy tinh gọn để nâng cao hiệu quả công việc. Ưu tiên chuẩn hóa nghiệp vụ và hiện đại hóa phương tiện tác nghiệp của đội ngũ cán bộ tuyên giáo để luôn đáp ứng yêu cầu mới.

Bốn là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị làm công tác tuyên giáo; tăng cường phối hợp giữa ngành Tuyên giáo với các ban, bộ, ngành, địa phương.

Năm là, chủ động, kiên quyết phản bác có cơ sở khoa học và sức thuyết phục các quan điểm sai trái, thù địch nhất là đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội; vừa tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông mới phục vụ cho công tác tuyên giáo.         

2. Nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tuyên giáo trong thời gian tới

(1). Chủ động bám sát, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, thực hiện tốt chức năng định hướng chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, quan tâm phát hiện những điểm mới trong đời sống xã hội, nâng cao chất lượng tham mưu các cấp ủy đảng trong từng lĩnh vực công tác tuyên giáo. Triển khai và thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

(2). Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; nâng cao chất lượng việc tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả, khả thi. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc tổ chức học tập, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng.

(3). Thể hiện rõ vai trò tiên phong, chủ lực trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; gắn nhiệm vụ xây dựng Đảng với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

(4). Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tuyên giáo; lấy cơ sở lý luận và thực tiễn để tăng khoa học, tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác tuyên giáo. Bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo theo kế hoạch chung của toàn Ngành, phát huy hơn nữa tính chủ động, sáng tạo của tuyên giáo các cấp, các lĩnh vực, các địa phương. Tăng cường sự phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề nổi cộm, Nhân dân quan tâm".

(5). Nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Từ đó, chủ động dự báo tình hình, lên các phương án kế hoạch công tác tư tưởng, không để bùng phát thành "điểm nóng".

(6). Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường tính chiến đấu, tính hiệu quả và tính thuyết phục, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn đất nước. Tiếp tục chỉ đạo và tổ chức tốt công tác tuyên truyền thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các sự kiện trọng đại của đất nước năm 2020, đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng; tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, đồng thuận trong xã hội, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

(7). Đổi mới sâu sắc, quyết liệt hơn nữa công tác định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại; chú trọng công tác tham mưu thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo,dạy nghề, khoa học, công nghệ, y tế, thể dục, thể thao, dân số, gia đình, trẻ em..; góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người và tiềm lực khoa học, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

(8). Chỉ đạo quyết liệt công tác đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới".

(9). Động viên, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt, các nhân tố tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội gắn với thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Xây dựng ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, tạo đà quan trọng thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng.

(10). Tổ chức đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tuyên giáo từ Trung ương đến cơ sở, dự kiến nhu cầu, chủ động tạo nguồn và triển khai kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ, tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị "về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức" và Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".

                                                         ***                                                        

91 năm qua, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, công tác tuyên giáo đã có những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, là niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và nhất là thế hệ những cán bộ đã và đang công tác trong ngành Tuyên giáo. Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống của ngành Tuyên giáo là dịp để chúng ta cùng ôn lại và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của ngành Tuyên giáo; bồi đắp thêm niềm tự hào về những đóng góp to lớn, có ý nghĩa lịch sử của ngành Tuyên giáo trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; củng cố và tăng cường niềm tin vào mục tiêu lý tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, đây cũng là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động ngành Tuyên giáo ra sức phấn đấu, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị, biểu thị quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An


26/07/2021 10:00 SAĐã ban hành
Số điện thoại đường dây nóng của Long An về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19Số điện thoại đường dây nóng của Long An về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19
Sở Y tế tỉnh Long An thông báo số điện thoại đường dây nóng về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19, như sau:

5-2-2020--duong-day-nong-1.jpg

5-2-2020--duong-day-nong-2.jpg

05/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
Ngày Sách Việt Nam 21/4Ngày Sách Việt Nam 21/4
Ngày 04/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1862/QĐ-TTg về việc tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam thay thế Quyết định số 284/QĐ-TTg ngày 24/02/2014 của  Thủ tướng Chính phủ về Ngày Sách Việt Nam, theo đó lấy ngày 21 tháng 4 là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam.

Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam được tổ chức nhằm khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, tạo dựng môi trường đọc thuận lợi; hình thành thói quen đọc sách, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đọc sách. Qua đó, trang bị kiến thức và kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người. Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam cũng là dịp để tôn vinh giá trị, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người tham gia sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách. Việc tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam thường niên cũng đã góp phần quan trọng để các cấp, các ngành, cơ quan chức năng, tổ chức xã hội quan tâm, tạo điều kiện, chung tay, đồng hành xây dựng và phát triển văn hóa đọc trên địa bàn tỉnh.

Dù xã hội có phát triển đến đâu, các phương thức lưu giữ thông tin khác có thể phát triển, nhưng việc lưu giữ sách và hiểu được tầm quan trọng của sách sẽ giúp cho xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ hơn. Đọc sách có chọn lọc và hiểu hết các giá trị trong cuốn sách sẽ giúp người đọc ngày càng phát triển được bản thân. Chính vì vậy, mỗi người hãy cố gắng rèn luyện, giải trí bằng việc tạo thói quen đọc sách mỗi ngày để không ngừng nâng cao trí tuệ bản thân và làm cho cuộc sống trở nên thú vị hơn.

Đặc biệt hơn, vai trò của sách hướng con người đến chân thiện mỹ. Sách truyền tải những nội dung nhân văn, giáo dục con người về tình cảm yêu thương lẫn nhau, lối sống và đạo đức con người. Vì vậy, đọc sách sẽ giúp con người hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Đó là một trong những tầm quan trọng của việc đọc sách mà bạn không nên bỏ qua.

Hãy chia sẻ những gì đã đọc được, giới thiệu những sách hay, bổ ích cho bạn bè, người thân và gia đình, tri thức của bạn sẽ được lan rộng hơn, xã hội sẽ văn minh, tốt đẹp hơn./.

* Một số Website giới thiệu sách mới, sách hay, nhiều thể loại

https://waka.vn

http://dtbooks.com.vn

https://sachtot.vn

https://tiki.vn/ebook

https://ybook.vn

https://www.vinabook.com

https://www.fahasa.com

http://komo.vn 

TH

07/04/2022 6:00 SAĐã ban hành
Thông tin cần biết về chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyệnThông tin cần biết về chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một trong những chính sách an sinh của Đảng và Nhà nước, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, là loại hình dịch vụ công, hoạt động phi lợi nhuận, lấy hiệu quả xã hội làm mục đích. Đây là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức.

Đối tượng tham gia: Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc nhóm người tham gia BHXH bắt buộc.

Lợi ích của việc tham gia BHXH tự nguyện: Được lựa chọn mức đóng theo điều kiện kinh tế của bản thân; Được hưởng lương hưu khi về già; Được cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) miễn phí trong suốt quá trình hưởng lương hưu, với mức quyền lợi hưởng chi phí khám bệnh, chữa bệnh là 95%; Lương hưu được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng; Thời gian tham gia BHXH được cộng dồn để tính hưởng chế độ BHXH; Người tham gia BHXH tự nguyện từ đủ 60 tháng trở lên và người đang hưởng lương hưu không may qua đời thì thân nhân được hưởng mai táng phí bằng 10 tháng lương cơ sở; Người đang đóng BHXH tự nguyện, người đang bảo lưu thời gian tham gia BHXH và người đang hưởng lương hưu khi chẳng may qua đời thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất.

Mức đóng: Mức đóng hằng tháng của người tham gia BHXH tự nguyện bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn có sự hỗ trợ của Nhà nước. Trong đó:

Mức thu nhập lựa chọn thấp nhất là 1.500.000 đồng, cao nhất là 29.800.000 đồng. Kể từ ngày 01/01/2022, mức đóng BHXH tự nguyện thấp nhất là 330.000 đồng/người/tháng; mức đóng BHXH tự nguyện cao nhất là 6.556.000 đồng/người/tháng.

Mức hỗ trợ đóng của Nhà nước theo từng nhóm người, cụ thể: 30% đối với người thuộc hộ nghèo, 25% đối với người thuộc hộ cận nghèo và 10% với nhóm khác. Như vậy, số tiền đóng BHXH tự nguyện mức thấp nhất đối với người lao động thuộc Hộ nghèo là 231.000đồng/người/tháng; hộ cận nghèo là 247.500 đồng/người/tháng; nhóm khác là 297.000 đồng/người/tháng.

Người tham gia được giảm trừ ngay số tiền Nhà nước hỗ trợ khi đóng BHXH tự nguyện. Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXH tự nguyện thực tế của mỗi người nhưng không quá 10 năm.

Phương thức đóng: Người tham gia có thể lựa chọn đóng hàng tháng, đóng 3 tháng/lần, 6 tháng/lần, 12 tháng/lần, đóng 1 lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm 1 lần. Đặc biệt, người tham gia có thể đóng 1 lần cho những năm còn thiếu (không quá 10 năm) để đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Nơi đăng ký tham gia: Người lao động tự do có thể thực hiện các thủ tục đăng ký tại cơ quan BHXH nơi mình cư trú hoặc các đại lý thu BHXH, BHYT của UBND xã, phường, thị trấn, Bưu điện, Hội đoàn thể,....

"Vì cuộc sống ấm no, không lo tài chính khi hết tuổi lao động, hãy tham gia BHXH tự nguyện ngay hôm nay"./.

Theo Bảo hiểm xã hội tỉnh


15/05/2022 11:00 SAĐã ban hành
Thúc đẩy sử dụng điện thoại thông minh và phổ cập Internet cáp quang hộ gia đình tỉnh Long AnThúc đẩy sử dụng điện thoại thông minh và phổ cập Internet cáp quang hộ gia đình tỉnh Long An
Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó xác định người dân là trung tâm của chuyển đổi số và thiết bị di động thông minh là phương tiện chính trong thế giới số giúp hình thành “Văn hóa số” gắn với bảo vệ chủ quyền số quốc gia, đồng thời chỉ đạo các cấp, các ngành cùng doanh nghiệp triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy sử dụng điện thoại di động thông minh (smartphone) và truy cập internet cáp quang hộ gia đình. Việc thực hiện chủ trương trên mang lại cho người dân những lợi ích cụ thể, thiết thực có thể kể đến một số nội dung tiêu biểu như sau:

Dễ dàng giao tiếp với cơ quan nhà nước và thực hiện dịch vụ hành chính công: Với điện thoại thông minh hoặc máy tính có kết nối Internet, người dân có thể dễ dàng thực hiện thủ tục hành chính khi có nhu cầu (chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản, quyền sử dụng đất, nhà ở,….) trên cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh (địa chỉ website: https://dichvucong.longan.gov.vn); tìm kiếm thông tin các cơ quan nhà nước trong tỉnh để liên hệ, hỏi đáp, tìm hiểu các thông tin về chủ trương, chính sách của nhà nước về nông nghiệp, khuyến nông,…trên cổng/trang thông tin điện tử tỉnh (địa chỉ website: https://www.longan.gov.vn). 

h1-tuyen truyen.jpg

Hình 1: Cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh và cổng/trang thông tin điện tử tỉnh Long An

Nghiên cứu học tập phục vụ sản xuất, kinh doanh trên Internet: Thông qua các công cụ tìm kiếm thông tin trên Internet (Google.com; bing.com,…), người dân có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về giá cả, nguyên liệu đầu vào, thông tin mùa vụ, các mô hình hay trong sản xuất, kinh doanh,... Từ đó có thể học hỏi, sáng tạo, cải tiến quy trình trong sản xuất, chăn nuôi, chọn giống cây trồng phù hợp để nâng cao năng suất và đầu ra cho sản phẩm của mình. 

h2-tuyen truyen.jpg 

Hình 2: Dễ dàng tìm kiếm thông tin, nâng cao kiến thức phục vụ sản xuất, kinh doanh 

Về thương mại điện tử: Đang trở thành phương thức giao dịch, mua bán được lựa chọn phổ biến của doanh nghiệp, người tiêu dùng, đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19 hiện nay. Người dân sử dụng smartphone hoặc các thiết bị khác có kết nối mạng Internet (laptop, destop, máy tính bảng,…) để mua bán các sản phẩm, hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử (Lazada, Sendo, Shopee, Vỏ sò, Postmart,…), đặc biệt là 02 sàn: Postmart.vn (Tổng công ty Bưu điện Việt Nam) và sàn Voso.vn (Tổng công ty cổ phần Bưu chính Viettel) hỗ trợ đưa các hộ sản xuất nông nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, tổ hợp tác lên sàn thương mại điện tử giúp kết nối, quảng bá, giới thiệu sản phẩm rộng rãi trong và ngoài nước, đa dạng kênh mua bán và mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, giảm phụ thuộc vào thương lái hoặc trung gian. 

h3-tuyentruyen.jpg

Hình 3: Sàn Vỏ sò và Sàn Postmart

Vì vậy, với những lợi ích trên, mỗi người dân cần trang bị cho mình 01 điện thoại thông minh (khi trang bị mới hoặc khi đổi điện thoại di động), mỗi hộ gia đình cần có 01 đường truyền internet cáp quang để phục vụ sản xuất, kinh doanh, học tập online giúp phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, góp phần xây dựng Chính quyền số, xã hội số, kinh tế số, đồng thời, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng./.

TH


27/02/2022 5:00 SAĐã ban hành
Lợi ích thiết thực khi tham gia bảo hiểm y tếLợi ích thiết thực khi tham gia bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế (BHYT) là chính sách bảo hiểm của Đảng và Nhà nước, vì quyền lợi của người lao động và Nhân dân, được Nhà nước bảo hộ, do cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) thực hiện không vì mục đích lợi nhuận để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho mỗi người dân khi ốm đau, bệnh tật.

1. BHYT hộ gia đình:

- Người tham gia: Những người có tên trong Sổ hộ khẩu/Sổ tạm trú hoặc cùng đăng ký thường trú/tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp theo quy định của pháp luật; Người sinh sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, trừ những người đã có thẻ BHYT thuộc nhóm tham gia khác; Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người sống trong cơ sở bảo trợ xã hội mà không được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHYT.

- Mức đóng hằng tháng:

+ Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở hiện hành tương ứng với 67.050 đồng/tháng, bằng 804.600 đồng/năm.

Đặc biệt Nhà nước có chính sách hỗ trợ mức đóng BHYT hộ gia đình cho các thành viên cùng tham gia trong năm tài chính, cụ thể:

+ Người thứ hai đóng bằng 70% mức đóng của người thứ nhất, tương ứng với 46.935 đồng/tháng, bằng 563.220 đồng/năm;

+ Người thứ ba đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất, tương ứng với 40.230 đồng/tháng, bằng 482.760 đồng/năm;

+ Người thứ tư đóng bằng 50% mức đóng của người thứ nhất, tương ứng với 33.525 đồng/tháng, bằng 402.300 đồng/năm;

+ Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất, tương ứng với 26.820 đồng/tháng, bằng 321.840 đồng/năm.

- Phương thức đóng:

Người tham gia được lựa chọn đóng định kỳ: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng tại Đại lý thu BHXH, BHYT hoặc cơ quan BHXH.

- Quyền lợi của người tham gia BHYT:

Được cấp thẻ BHYT; được chi trả chi phí khám chữa bệnh (KCB) trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng quy định trên thẻ BHYT; Được lựa chọn và thay đổi nơi đăng ký KCB ban đầu vào tháng đầu mỗi quý; Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BHYT.

Người tham gia có thể liên hệ đại lý thu xã, phường, thị trấn, đại lý thu Bưu điện, đại lý thu Hội Nông dân hoặc cơ quan BHXH huyện, tỉnh nơi cư trú để làm thủ tục tham gia BHYT hộ gia đình.

Lưu ý: Người tham gia lần đầu hoặc tham gia không liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm tài chính thì thẻ BHYT có giá trị sử dụng sau 30 ngày kể từ ngày đóng tiền. Người tham gia BHYT liên tục, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày đóng tiền. Gia hạn thẻ tại đại lý thu BHXH, BHYT hoặc cơ quan BHXH để thẻ BHYT có giá trị sử dụng liên tục và không bị gián đoạn trước khi thẻ BHYT hết hạn sử dụng.

2. BHYT học sinh, sinh viên (HS,SV):

BHYT HS,SV là loại hình bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với tất cả HS,SV đang theo học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo, trừ trường hợp đã tham gia theo nhóm khác.

Tham gia BHYT HS,SV ngoài các quyền lợi được hưởng về KCB BHYT theo quy định, HS,SV còn được chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại trường học. Năm học 2021-2022, HS,SV tham gia BHYT đóng theo mức 4,5% mức tiền lương cơ sở/tháng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 30%, HS,SV đóng 70%. Mức đóng BHYT thuộc phần trách nhiệm đóng của HS, SV, cụ thể như sau:

+ 46.935 đồng/tháng.

+ 140.805 đồng/3 tháng;

+ 563.220 đồng/12 tháng;

+ 704.025 đồng/15 tháng.

HSSV thực hiện đóng BHYT thông qua cơ sở giáo dục nơi theo học.

3. Mức hưởng BHYT: (áp dụng cho BHYT hộ gia đình và BHYT HSSV)

- Trường hợp cấp cứu: Được hưởng KCB BHYT tại các cơ sở KCB BHYT và phải xuất trình các giấy tờ theo quy định trước khi ra viện.

- KCB BHYT đúng tuyến: đúng nơi đăng ký KCB ban đầu ghi trên thẻ và thực hiện chuyển tuyến KCB BHYT theo đúng quy định được hưởng:

+ 100% chi phí KCB khi đi KCB tại tuyến xã hoặc tổng chi phí của một lần KCB thấp hơn 15% mức lương cơ sở (tương đương 223.500 đồng) tại thời điểm đi KCB;

+ 100% chi phí KCB khi có thời gian tham gia BHYT 05 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, tương đương lớn hơn 8.940.000 đồng. Người bệnh lưu giữ chứng từ thu phần chi phí cùng chi trả làm căn cứ để cơ quan BHXH cấp giấy chứng nhận không cùng chi trả trong năm.

+ Hưởng 80% chi phí KCB trong các trường hợp khác.

- KCB không đúng tuyến

Trường hợp không có Giấy chuyển tuyến mà xuất trình đầy đủ thủ tục KCB BHYT, được quỹ BHYT thanh toán trong phạm vi, mức hưởng và tỷ lệ hưởng theo quy định như sau:

+ 40% chi phí KCB nội trú tại bệnh viện tuyến Trung ương;

+ 100% chi phí KCB nội trú tại bệnh viện tuyến tỉnh, huyện;

+ 100% chi phí KCB nội hoặc ngoại trú tại bệnh viện tuyến huyện.

Lưu ý đối với trường hợp KCB tại các cơ sở KCB tuyến tỉnh trong phạm vi cả nước:

- Điều trị nội trú tuyến tỉnh: Quỹ BHYT chi trả 100% chi phí trong phạm vi và mức hưởng của người tham gia. Người bệnh không được miễn cùng chi trả chi phí KCB, đồng thời phần chi phí cùng chi trả trong trường hợp này không được xác định là điều kiện để cấp Giấy chứng nhận không cùng chi trả trong năm.

- Điều trị ngoại trú tuyến tỉnh: không được quỹ BHYT chi trả chi phí KCB.

Tham gia BHYT là cách đóng góp khi lành, để dành khi ốm, giúp bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình "Hãy tham gia BHYT để được chia sẻ gánh nặng khi ốm đau, bệnh tật"./.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An


21/12/2021 8:00 SAĐã ban hành
Thông tin hành vi vi phạm về phòng, chống dịch covid-19 và mức xử phạt tối đaThông tin hành vi vi phạm về phòng, chống dịch covid-19 và mức xử phạt tối đa

1-IMG_9902.jpg2-IMG_9902.jpg3-IMG_9902.jpg4-IMG_9903.jpg5-IMG_9903.jpg6-IMG_9904.jpg7-IMG_9904.jpg8-IMG_9905.jpg9-IMG_9905.jpg

TH


29/07/2021 6:00 SAĐã ban hành
Ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hộiBan hành Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội
Bộ quy tắc hướng đến xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam.

Đồng thời, tạo điều kiện phát triển lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Ngày 17/6/2021, Bộ TT&TT có quyết định số 874/QĐ-BTTTT về việc ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Theo đó, Bộ quy tắc áp dụng cho 03 nhóm đối tượng: Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước sử dụng mạng xã hội; Tổ chức, cá nhân khác sử dụng mạng xã hội; Nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội tại Việt Nam.

Nội dung của Bộ quy tắc ứng xử bao gồm: quy tắc ứng xử chung; quy tắc ứng xử cho tổ chức, cá nhân; quy tắc ứng xử cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước; quy tắc ứng xử cho các cơ quan nhà nước; quy tắc ứng xử cho các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội.

Các cơ quan, tổ chức căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và Bộ quy tắc này triển khai thực hiện và phổ biến nội dung của Bộ quy tắc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đặc thù của cơ quan, tổ chức của mình, trong đó chú trọng đến việc bảo đảm an toàn, lành mạnh cho "người yếu thế" khi sử dụng mạng xã hội. Người sử dụng và nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội được khuyến khích thực hiện đầy đủ các nội dung Bộ quy tắc và tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tới các tổ chức, cá nhân khác sử dụng mạng xã hội./.

TH


12/07/2021 5:00 CHĐã ban hành
Khuyến cáo phòng bệnh viêm da nổi cục trên trâu bòKhuyến cáo phòng bệnh viêm da nổi cục trên trâu bò
Bệnh Viêm da nổi cục (còn được gọi là bệnh da sần), là bệnh truyền nhiễm do vi rút gây ra trên trâu, bò (không lây nhiễm và không gây bệnh trên người). Bệnh lây truyền chủ yếu qua côn trùng đốt như muỗi, ruồi, ve; tiếp xúc giữa gia súc bệnh và gia súc khỏe mạnh; bệnh cũng có thể lây truyền do vận chuyển trâu, bò mang mầm bệnh, sử dụng chung máng uống, khu vực cho ăn, sữa, tinh dịch; thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 4 - 14 ngày. Triệu chứng chính của bệnh bao gồm: sốt cao (có thể trên 41oC), bỏ ăn, giảm tiết sữa, da và niêm mạc nổi những nốt sần có đường kính khoảng 2 - 5 cm, đặc biệt là ở vùng da cổ, đầu, bầu vú, cơ quan sinh dục và vùng đáy chậu.

benh-viem-da-noi-cuc-trau-bo-41120.jpg

Bò bị nhiễm bệnh viêm da nổi cục. Ảnh: Quang Duy/TTXVN

Bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào tháng 10/2020, đến nay đã lây lan trên nhiều tỉnh thành cả nước. Trên địa bàn tỉnh Long An, hiện nay bệnh Viêm da nổi cục đã xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi thuộc địa bàn xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, với số bò mắc bệnh là 02 con.

Dịch bệnh Viêm da nổi cục diễn biến phức tạp và có nguy cơ lây lan nhanh, mạnh trên phạm vi rộng là rất cao. Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh, bảo vệ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thịt, sữa trâu, bò...; Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản Long An khuyến cáo với các hộ chăn nuôi cần thực hiện ngay một số nội dung sau:

Luôn cảnh giác, không được chủ quan, phải thường xuyên theo dõi sức khỏe đàn vật nuôi. Mua trâu, bò giống phải có nguồn gốc rõ ràng hoặc phải có giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển động vật của cơ quan thú y trong trường hợp mua con giống ngoài tỉnh.

Định kỳ phát quang bụi rậm, hạn chế chăn thả chung đồng cỏ, sử dụng hóa chất đặc hiệu tiêu diệt côn trùng (ruồi, muỗi, ve, mòng…); vôi bột, hóa chất để khử trùng tiêu độc khu vực chăn nuôi, tối thiểu 7-10 ngày/lần.

Chủ động tiêm phòng vắc xin Viêm da nổi cục trên trâu, bò, bò sữa theo hướng dẫn của ngành Thú y (tiêm vắc xin hiện nay là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh, vắc xin có thời gian miễn dịch 12 tháng), tuyệt đối không sử dụng vắc-xin không rõ nguồn gốc.

Khi phát hiện trâu, bò nghi ngờ bị bệnh Viêm da nổi cục (có nhiều nốt sần đặc trưng trên da, sốt cao, giảm năng suất sữa, bỏ ăn, tiết nhiều nước bọt, sưng hạch...) phải báo ngay cho cán bộ thú y xã hoặc Trạm Chăn nuôi và Thú y cấp huyện hoặc đường số điện thoại 0272.3838.146 (DĐ: 0938.480579) để được tư vấn, hướng dẫn kịp thời để giảm thiệt hại kinh tế.

Bà con chăn nuôi cần cảnh giác, chủ động thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học và tiêm vắc-xin phòng bệnh Viêm da nổi cục để bảo vệ tốt đàn trâu bò của gia đình và địa phương./.

TH


21/07/2021 6:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đối với người bệnh, người cao tuổiHướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đối với người bệnh, người cao tuổi
File ghi âm hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đối với người bệnh, người cao tuổi do Cục Thông tin cơ sở cung cấp:

 


01/04/2020 8:00 SAĐã ban hành
Sử dụng ứng dụng i-Speed đo tốc độ truy cập Internet Việt NamSử dụng ứng dụng i-Speed đo tốc độ truy cập Internet Việt Nam
Hệ thống đo tốc độ truy cập Internet Việt Nam (VNNIC Internet Speed) là sản phẩm được Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) và Cục Viễn thông xây dựng, phát triển dùng để đo tốc độ truy cập Internet Việt Nam.

Người dùng Internet tại Việt Nam được chủ động lựa chọn điểm đo, thực hiện đo, và tự đánh giá tốc độ truy cập Internet của mình với các thông số: tốc độ tải xuống (Download), tốc độ tải lên (Upload), thời gian trễ (Ping, Jitter: đo qua giao thức http).

Người dùng có thể đo tốc độ truy cập Internet của mình qua Ứng dụng i-Speed by VNNIC (i-Speed) trên các thiết bị di động dùng hệ điều hành Android, iOS hoặc trên Website https://speedtest.vn, https://i-speed.vn.

Là hệ thống đo trung lập, VNNIC Internet Speed phản ánh trung thực kết quả đo tốc độ truy cập Internet của người dùng. Dữ liệu đo từ người dùng sẽ đóng góp xây dựng cơ sở dữ liệu về tốc độ, chất lượng truy cập Internet, trải nghiệm của người dùng; hỗ trợ tốt công tác quản lý nhà nước, phát triển mạng Internet Việt Nam, thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ Internet của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng.

Cách cài đặt ứng dụng i-Speed

* Tải ứng dụng từ Apple Store

Truy nhập vào "App Store"

Tìm ứng dụng với các từ khoá: i-speed by VNNIC; speedtest vn; ispeed; i-speed và tiến hành cài đặt ứng dụng.

11-5-2022-ispeep1.jpg


Tải ứng dụng từ Google Play Store

Truy nhập vào "Ch Play"

Tìm ứng dụng với các từ khoá: i-speed, i-speed by VNNIC và tiến hành cài đặt ứng dụng.

11-5-2022-ispeed2.jpg


Sở Thông tin và Truyền thông


11/05/2022 10:00 SAĐã ban hành
Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 – “Chuyển đổi số - Thách đố sáng tạo” từ Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí MinhCuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 – “Chuyển đổi số - Thách đố sáng tạo” từ Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 là sân chơi đổi mới sáng tạo thường niên dành cho học sinh, sinh viên khắp cả nước do Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh triển khai thực hiện. Cuộc thi chính thức phát động và nhận đơn đăng ký từ ngày 19/3/2022 đến ngày 05/6/2022.

Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 - mùa thứ 7, với chủ đề "Chuyển đổi số - Thách đố sáng tạo", gồm bảng thi sinh viên và bảng thi học sinh từ lớp 8 đến lớp 12. Chương trình được tổ chức nhằm thúc đẩy, ươm mầm tinh thần, tư duy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho thế hệ trẻ. Cuộc thi góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ và hình thành nên các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo cho quốc gia.

Đồng thời, cuộc thi còn góp phần tích cực hưởng ứng thực hiện chủ trương từ các Bộ, ngành, Đề án liên quan của Chính phủ về khởi nghiệp (Đề án 844 "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" và Đề án 1665 "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" của Chính phủ), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030", Thông báo số 331/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về chuyển đổi số…

Thông tin nội dung Cuộc thi: xem tại đây.

TH


29/04/2022 11:00 SAĐã ban hành
Long An: tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnhLong An: tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh
Ngày 05/8/2021, UBND tỉnh có văn bản số 7854/UBND-VHXH về việc tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh.

Theo văn bản, sau 04 ngày tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐTTg ngày 31/7/2021 và Công văn số 5255/VPCPKGVX ngày 31/7/2021 của Văn phòng Chính phủ, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và khó dự báo; số ca bệnh ghi nhận hàng ngày liên tục tăng và ở mức rất cao.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến số ca mắc tăng cao, trong đó một trong những nguyên nhân chính là do ý thức chấp hành thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg và các biện pháp tăng cường theo chỉ đạo của UBND tỉnh thực hiện chưa nghiêm, chưa thực sự hiệu quả, người dân, kể cả cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn ra đường đông với các lý do không chính đáng; đồng thời công tác quản lý, kiểm tra, giám sát người về từ vùng dịch tại một số địa phương còn lỏng lẻo, tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng.

Trước tình hình trên, để thực hiện bằng được mục tiêu bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, hạn chế thấp nhất trường hợp tử vong, bảo vệ hệ thống y tế và khả năng điều trị, cứu chữa bệnh nhân, bảo vệ bằng được "vùng xanh", khống chế và đẩy lùi dịch bệnh tại các địa phương thuộc "vùng đỏ", nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường mới, UBND tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan tập trung thực hiện các nội dung sau:

1. Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đầy đủ hơn nữa các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ được UBND tỉnh chỉ đạo tại Công văn số 7427/UBND-VHXH ngày 27/7/2021, Công văn số 7426/UBND-VHXH ngày 27/7/2021 và Công văn số 7658/UBND-VHXH ngày 01/8/2021. Tuyệt đối không để người dân ra đường khi không thật sự cần thiết, trừ những trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định. Người đứng đầu các địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chủ tịch UBND tỉnh, trước pháp luật về công tác phòng, chống dịch trên địa bàn.

2. Phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương, đặc biệt là vị trí, vai trò, trách nhiệm của Tổ COVID cộng đồng trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát người về từ vùng dịch, đảm bảo không để sót, lọt bất cứ trường hợp người về từ vùng dịch, trường hợp nghi nhiễm nào trong cộng đồng mà chưa được đưa đi cách ly tập trung, xét nghiệm và thực hiện các biện pháp dự phòng phù hợp theo Chỉ thị số 2415/CT-UBND ngày 27/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Tiếp tục củng cố củng cố, tổ chức hướng dẫn, tập huấn chuyên môn để Tổ COVID cộng đồng từng bước tham gia hỗ trợ lực lượng y tế hướng dẫn người dân thực hiện khai báo y tế, lấy mẫu xét nghiệm, cách ly tại nhà và chăm sóc y tế ban đầu cũng như chăm lo đời sống cho mọi người dân trên địa bàn khi có dịch bệnh theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại Công văn số 5312/VPCP-KGVX ngày 03/8/2021.

3. Giao Công an tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các lực lượng chức năng phối hợp với các lực lượng, đơn vị liên quan rà soát bố trí hợp lý các rào chắn (barie) nhằm kiểm soát không để người dân di chuyển ra đường khi không thật sự cần thiết; đồng thời tổ chức tuần tra, kiểm soát 24/24 giờ các tuyến đường liên xã, phường, thị trấn để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

4. Sở Y tế phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông hướng dẫn, chỉ đạo công khai, minh bạch, kịp thời mọi thông tin về phòng, chống dịch bệnh để nhân dân biết, đồng thuận ủng hộ và tích cực tham gia, tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch.

5. Các thành viên Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm đối với người của tỉnh, huyện, thị xã, thành phố theo nhiệm vụ, địa bàn được phân công tiếp tục phối hợp với cấp ủy, địa phương chủ động thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19, đảm bảo nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả.

6. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An tiếp tục tăng cường, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền các quy định, biện pháp phòng, chống dịch; trong đó tập trung ghi nhận, phản ánh kịp thời những kết quả, nỗ lực phấn đấu của các lực lượng tuyến đầu, những mô hình hay, những gương điển hình trong công tác phòng, chống dịch bệnh và diễn biến tình hình dịch bệnh trên địa bàn để mọi người dân nắm biết, tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống dịch.

Yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung chỉ đạo trên; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu để xảy ra các trường hợp không chấp hành nghiêm quy định trên địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách./.

 7854_Thuc hien nghiem cac BP phong chong dich.pdf

TH


05/08/2021 9:00 SAĐã ban hành
Long An: ban hành kế hoạch tiêm vắc xin phòng COVID-19 trên địa bàn tỉnhLong An: ban hành kế hoạch tiêm vắc xin phòng COVID-19 trên địa bàn tỉnh
Ngày 02/8/2021, UBND tỉnh Long An ban hành Kế hoạch số 2465/KH-UBND về việc tiêm vắc xin phòng COVID-19 trên địa bàn tỉnh Long An. Nội dung cụ thể như sau:

1. Mục tiêu:

- Thực hiện tiêm vắc-xin phòng COVID-19 cho toàn dân từ 18 tuổi trở lên nhằm thực hiện chiến lược miễn dịch cộng đồng trên địa bàn toàn tỉnh.

- Đảm bảo an toàn tiêm chủng khi sử dụng vắc-xin phòng COVID-19.

2. Đối tượng

Tất cả người dân từ 18 tuổi trở lên hiện đang sinh sống và làm việc trên địa bàn tỉnh Long An với tổng cộng dự kiến 1.361.733 người (không phân biệt có hay không có hộ khẩu tại Long An) sẽ tiêm lần lượt theo thứ tự như sau:

- Nhóm ưu tiên 1: Đối tượng tuyến đầu chống dịch, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức ngoài nhóm 9 đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ, lực lượng dân sự, Hội, Đoàn thể tham gia phục vụ truy vết, cách ly, phong tỏa, chốt kiểm soát dịch Covid-19.

- Nhóm ưu tiên 2: Người dân từ 65 tuổi trở lên.

- Nhóm ưu tiên 3: Tất cả người dân còn lại.

3. Thời gian, phạm vi:

- Giai đoạn 1: Thực hiện tiêm vắc xin trên địa bàn các huyện Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa và thành phố Tân An, với tổng cộng dự kiến là 852.128 người.

+ Từ ngày 09/8/2021 đến ngày 15/8/2021: Thực hiện tiêm vắc xin mũi 1 cho đối tượng tuyến đầu chống dịch, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức ngoài nhóm 9 đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ, lực lượng dân sự, Hội, Đoàn thể tham gia phục vụ truy vết, cách ly, phong tỏa, chốt kiểm soát dịch Covid-19.

+ Từ ngày 16/8/2021 đến ngày 29/8/2021: Thực hiện tiêm vắc xin mũi 1 cho người dân từ 65 tuổi trở lên.

+ Từ ngày 30/8/2021 đến ngày 05/9/2021: Thực hiện tiêm vắc xin mũi 1 cho tất cả người dân còn lại.

- Giai đoạn 2: Thực hiện tiêm vắc xin  trên địa bàn các huyện Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành Đức Huệ, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng và thị xã Kiến Tường, với tổng cộng dự kiến là 509.605 người.

+ Từ ngày 06/9/2021 đến ngày 12/9/2021: Thực hiện tiêm vắc xin mũi 1 cho đối tượng tuyến đầu chống dịch, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức ngoài nhóm 9 đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ, lực lượng dân sự, Hội, Đoàn thể tham gia phục vụ truy vết, cách ly, phong tỏa, chốt kiểm soát dịch Covid-19.

+ Từ ngày 13/9/2021 đến ngày 22/9/2021: Thực hiện tiêm vắc xin mũi 1 cho người dân từ 65 tuổi trở lên.

+ Từ ngày 23/9/2021 đến ngày 30/9/2021: Thực hiện tiêm vắc xin mũi 1 cho tất cả người dân còn lại.

​Hiện nay, vắc xin COVID-19 là biện pháp quan trọng và rất cần thiết. Với mục tiêu chung là phòng, chống dịch chủ động bằng việc sử dụng vắc xin COVID-19 cho đối tượng nguy cơ và cho cộng đồng. Vắc xin COVID-19 giúp hệ miễn dịch nhận biết và sẵn sàng chống lại virus nếu chúng xâm nhập vào cơ thể, giúp ngăn ngừa khả năng bị bệnh nặng ngay cả khi đang nhiễm COVID-19. Ngoài ra, người được tiêm vắc xin đầy đủ ít có khả năng bị lây nhiễm bệnh mà không có triệu chứng (hay còn gọi là lây nhiễm không triệu chứng) cũng như ít có khả năng lây lan virus cho những người khác. Vì vậy, "Tiêm vắc xin phòng COVID-19 là quyền lợi đối với cá nhân, là trách nhiệm đối với cộng đồng" nên càng nhiều người tiêm vắc xin, cuộc sống bình thường càng sớm trở lại.
Để góp phần chiến thắng đại dịch, mọi người dân cần chung tay đồng lòng, quyết tâm phòng chống dịch COVID-19 và nâng cao ý thức, trách nhiệm gắn với thực hiện tốt các khuyến cáo của Bộ Y tế và thực hiện tiêm vắc xin phòng COVID– 19 khi tới lượt. Đề nghị người dân phối hợp tốt với chính quyền địa phương, ngành y tế trong quá trình triển khai và thực hiện tiêm vắc xin.

Hãy cùng nhau thực hiện biện pháp 5K + Vắc xin để phòng chống bệnh dịch COVID-19./.


TH


02/08/2021 11:00 SAĐã ban hành
Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản thực phẩm trong tình hình mớiTiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản thực phẩm trong tình hình mới
Tháng hành động vì an toàn thực phẩm được các cấp các ngành triển khai từ ngày 15/4 đến 15/5 hàng năm. Để tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nâng cao nhận thức, kiến thức của người tiêu dùng trong công tác đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, đảm bảo nguồn cung thực phẩm chất lượng, an toàn cho tiêu dùng. Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm nay được triển khai với chủ đề: “Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản thực phẩm trong tình hình mới” diễn ra từ ngày 15/4/2022 đến 15/5/2022.

Với mục tiêu thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm an toàn thích ứng với dịch bệnh Covid trong tình hình mới và nhiệt liệt hưởng ứng Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2022 cần có sự chung tay của đơn vị sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng và người tiêu dùng, với trách nhiệm cụ thể như sau:

1. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng phải tuân thủ quy định pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Trong đó:

- Phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ nhà xưởng, vệ sinh máy, thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm, không sử dụng dụng cụ sản xuất gây ô nhiễm sản phẩm thực phẩm.

- Sử dụng nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến phải nằm trong danh mục cho phép, đúng liều lượng, đúng đối tượng, không sử dụng nguyên liệu, phụ gia quá hạn sử dụng để sản xuất thực phẩm; không sử dụng, kinh doanh các chất cấm trong sản xuất, chế biến thực phẩm như: vàng ô, hàn the, foocmon,...nguyên liệu, phụ gia phải được kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc, chất lượng; có chứng từ nhập, xuất nguyên liệu phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc.

- Tổ chức tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và khám sức khỏe định kỳ, trang bị trang phục, bảo hộ chuyên dùng, đảm bảo vệ sinh cá nhân cho người lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo quy định.

- Các cơ sở kinh doanh thực phẩm hãy "nói không" với thực phẩm bẩn, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm nhập lậu, thực phẩm không có nhãn mác, thực phẩm không rõ nguồn gốc, không an toàn, ...; bảo quản, vận chuyển thực phẩm kinh doanh đúng quy định của nhà sản xuất.

- Tăng cường, phát triển các vùng chuyên canh sản xuất an toàn thực phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực. Không sử dụng hóa chất, kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.

2. Với Người tiêu dùng: Lựa chọn, bảo quản, chế biến, tiêu dùng thực phẩm an toàn. Không sử dụng thực phẩm đã ôi, thiu, hỏng, mốc.

- Khi chọn mua thực phẩm phải chú ý, đọc kỹ thông tin trên nhãn sản phẩm để lựa chọn sản phẩm thực phẩm an toàn cho sức khỏe; Sử dụng các sản phẩm thực phẩm có nhãn mác đầy đủ, còn thời hạn sử dụng, bao bì không bị biến dạng và được bảo quản đúng theo yêu cầu của nhà sản xuất. Ưu tiên lựa chọn các sản phẩm thuộc chuỗi thực phẩm an toàn, các sản phẩm truyeenf thống của địa phương,

- Không sử dụng thực phẩm giả, thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, kém chất lượng, thực phẩm nhập lậu. Lựa chọn thực phẩm sạch, an toàn, đảm bảo sức khỏe.

- Hiểu đúng, dùng đúng và tìm hiểu kỹ các thông tin về thực phẩm bảo vệ sức khỏe.

- Mỗi người tiêu dùng hãy cùng cộng đồng tham gia phòng ngừa, đấu tranh với việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, không bảo đảm an toàn thực phẩm lưu thông trên thị trường, kiên quyết từ chối, tẩy chay các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, ô nhiễm, ôi thiu, mốc, hỏng đồng thời tố cáo các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật đến cơ quan quản lý nhà nước để kịp thời xử lý, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và các nguy cơ xảy ra mất an toàn thực phẩm.

Vì sự phát triển kinh tế, vì sức khỏe cộng đồng, Sở Công Thương và các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đề nghị nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm nghiêm chỉnh chấp hành chính sách pháp luật và kiểm soát an toàn thực phẩm từ các yếu tố đầu vào, cung cấp các sản phẩm, chuỗi thực phẩm an toàn, củng cố niềm tin của người tiêu dùng, giúp phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu trong tình hình mới./.

Sở Công Thương


26/04/2022 12:00 CHĐã ban hành
Giới thiệu Cẩm nang điện tử phòng, chống dịch COVID-19Giới thiệu Cẩm nang điện tử phòng, chống dịch COVID-19
Cẩm nang điện tử phòng, chống dịch COVID-19 vừa được Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Y tế hoàn thành và cho ra mắt cộng đồng với mong muốn giúp cho mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có thể dễ dàng tra cứu trực tuyến về các biện pháp phòng chống dịch.

Với mong muốn giúp mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tra cứu trực tuyến về các biện pháp phòng chống dịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Y tế đã cho ra mắt cộng đồng Cẩm nang điện tử phòng, chống dịch COVID-19 (được đăng tải tại địa chỉ https://covid19.mic.gov.vn/). Cẩm nang được bố cục với 4 mục lớn, bao gồm: Dữ liệu, Văn bản, Tuyên truyền và Công nghệ; là nơi tổng hợp các dữ liệu, hình ảnh, văn bản và công nghệ về phòng, chống COVID-19 và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện để thực sự trở thành Website hữu ích, giúp mọi người dân tra cứu trực tuyến bất cứ ở đâu, khi nào, biết cách ứng xử đúng để phòng, chống dịch hiệu quả./.

TH


08/09/2021 6:00 CHĐã ban hành
Khuyến cáo việc mua, bán, sử dụng thuốc an toàn trong thời gian thực hiện chống dịch Covid-19Khuyến cáo việc mua, bán, sử dụng thuốc an toàn trong thời gian thực hiện chống dịch Covid-19
Hiện nay, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên thế giới và ở Việt Nam nên nhu cầu sử dụng thuốc tăng cao có thể tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân có các hình thức trục lợi bất chính từ việc sản xuất buôn bán thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ và thuốc kém chất lượng.

Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã cảnh báo về tình hình thuốc giả liên quan tới Covid-19 đang gia tăng đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Việc sản xuất, buôn bán, sử dụng thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, thuốc không đảm bảo chất lượng gây nguy hại tới sức khỏe người tiêu dùng, gây bất an cho Nhân dân và ảnh hưởng đến uy tín của các đơn vị sản xuất, kinh doanh nhất là trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay.

Để đảm bảo an toàn cho người bệnh, Nhân dân trong thời gian chống dịch, Sở Y tế đề nghị:

- Người dân chỉ mua thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp; không mua bán thuốc không rõ nguồn gốc.

- Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc phải thực hiện nghiêm túc các quy định về sản xuất, kinh doanh thuốc; mua bán phải có hóa đơn, chứng từ hợp lệ. 

- Khi phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ về sản xuất, buôn bán, sử dụng thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, thuốc kém chất lượng vui lòng thông báo về đường dây nóng: Dược sỹ Nguyễn Thanh Nhàn; điện thoại: 0918289198, 02723.837.897; email: nvdsytla@gmail.com. Sở Y tế sẽ kịp thời xử lý thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật./.

TH


12/09/2021 6:00 SAĐã ban hành
Công bố danh sách những người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh Long An khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026Công bố danh sách những người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh Long An khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026
Ngày 27/4, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh Long An đã ban hành Nghị quyết số 91/NQ-UBBC về việc lập và công bố danh sách chính thức 98 người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026 tại 19 đơn vị bầu cử.

Xin giới thiệu danh sách chính thức các ứng cử viên theo nội dung Nghị quyết.

Đơn vị bầu cử số 1: Huyện Đức Huệ

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Võ Thị Quế Lâm, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đức Huệ

2. Nguyễn Thị Xuân Lan (Út Muội), Bí thư Huyện đoàn Đức Huệ

3. Nguyễn Thanh Nguyên, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Đức Huệ

4. Huỳnh Thị Phương Quyên, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện Đức Huệ

5. Võ Minh Thành, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường

Đơn vị bầu cử số 2: Gồm các xã, thị trấn: Lộc Giang, An Ninh Tây, An Ninh Đông, thị trấn Hiệp Hòa, Hiệp Hòa, Tân Mỹ, thị trấn Hậu Nghĩa, Đức Lập Thượng, Đức Lập Hạ, Đức Hòa Thượng, Mỹ Hạnh Nam thuộc huyện Đức Hòa.

Số người ứng cử: 8 người

Số đại biểu được bầu: 5 đại biểu

1. Bùi Công Dân (Bùi Quang Nhân), Linh mục Chánh xứ Giáo xứ Hiệp Hòa; Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tỉnh Long An

2. Vũ Hồng Hạnh, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Đức Hòa

3. Lê Thị Ngọc Hoa, Trưởng Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Đức Hòa

4. Nguyễn Trà My, Giáo viên, Bí thư Đoàn Trường THPT Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa

5. Mai Văn Nhiều, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Long An

6. Nguyễn Thị Hồng Phúc, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Long An

7. Trần Văn Tiếng, Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm Long An

8. Ngô Thanh Tuyền, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Long An

Đơn vị bầu cử số 3: Gồm các xã, thị trấn: Hòa Khánh Nam, Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Mỹ Hạnh Bắc, Đức Hòa Đông, Đức Hòa Hạ, thị trấn Đức Hòa, Hựu Thạnh, Hòa Khánh Đông thuộc huyện Đức Hòa.

Số người ứng cử: 8 người

Số đại biểu được bầu: 5 đại biểu

1. Phan Nhân Duy, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Đức Hòa

2. Nguyễn Thị Kim Hoàng, Trưởng Phòng Ngoại vụ miền Nam, Công ty TNHH LaVie

3. Nguyễn Thị Kiều Oanh, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Đức Hòa

4. Phan Văn Tâm, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đức Hòa

5. Dương Long Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Địa ốc Thắng Lợi

6. Lê Thị Cẩm Tú, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện Đức Hòa

7. Nguyễn Văn Út, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Long An

8. Hồ Văn Xuân (Hồ Minh Xuân), Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh Long An

Đơn vị bầu cử số 4: Gồm thị trấn Bến Lức và các xã: Long Hiệp, Phước Lợi, Mỹ Yên, Tân Bửu, Thanh Phú thuộc huyện Bến Lức.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Mai Thu Diễm, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện đoàn Bến Lức

2. Trần Thị Thúy Hằng (Sư cô Thích nữ An Hương), Tu sĩ, trụ trì chùa Phước Long

3. Phạm Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện Bến Lức

4. Dương Văn Út, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Bến Lức

5. Huỳnh Quốc Việt, Phó Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách, HĐND tỉnh Long An

Đơn vị bầu cử số 5: Gồm các xã: An Thạnh, Tân Hòa, Lương Hòa, Lương Bình, Thạnh Lợi, Thạnh Hòa, Bình Đức, Thạnh Đức, Nhựt Chánh thuộc huyện Bến Lức.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Đặng Thanh Bình, Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh; Phó trưởng Ban Văn hóa Xã hội, HĐND tỉnh Long An

2. Nguyễn Văn Được, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Long An

3. Đinh Thị Trúc Linh, Kế toán Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Bến Lức

4. Võ Thanh Tú, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hòa Thành Long An

5. Trần Thị Hồng Yến, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Liên đoàn Lao động huyện Bến Lức

Đơn vị bầu cử số 6: Huyện Thủ Thừa.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Lê Hoàng Hùng, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Thủ Thừa

2. Đặng Thị Ngọc Mai, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Long An

3. Huỳnh Thị Thu Năm, Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Long An

4. Mai Hữu Phước, Bí thư Huyện đoàn Thủ Thừa

5. Đinh Thị Thanh Trang, Phó Trưởng Phòng Tư pháp huyện Thủ Thừa

Đơn vị bầu cử số 7: TP.Tân An.

Số người ứng cử: 8 người

Số đại biểu được bầu: 5 đại biểu

1. Nguyễn Phước Đạt, Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP.Tân An

2. Lê Công Đỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Tân An

3. Phạm Tấn Hòa, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An

4. Nguyễn Minh Hùng, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Xây dựng Long An

5. Vũ Thị Bích Hường, Phó Viện trưởng, Viện Kiểm sát nhân dân TP.Tân An

6. Huỳnh Thị Diễm Lệ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam TP.Tân An

7. Lê Thị Ngọc Thuận, Phó Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin TP.Tân An

8. Trương Ngọc Toàn (Hòa thượng Thích Minh Thiện), Tu sĩ, Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó ban Ban Hoằng pháp Trung ương, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An

Đơn vị bầu cử số 8: Huyện Châu Thành.

Tổng số người ứng cử: 7 người

Số đại biểu được bầu: 4 đại biểu

1. Huỳnh Thị Anh Đào, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Châu Thành

2. Lê Sơn Hà, Tỉnh ủy viên, Chánh Thanh tra tỉnh Long An

3. Nguyễn Dương Phong Linh, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Châu Thành

4. Trương Văn Nam, Trưởng ban Văn hóa Xã hội, HĐND tỉnh Long An

5. Diệp Song Tiền, Phó Chánh án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

6. Nguyễn Quốc Trịnh, Giáo viên, Chủ tịch Hiệp Hội Thanh Long tỉnh Long An

7. Nguyễn Thị Bích Tuyền, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện Châu Thành

Đơn vị bầu cử số 9: Huyện Tân Trụ.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Tô Văn Cư, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Tân Trụ

2. Nguyễn Thị Kiều Diễm, Viên chức, Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Truyền thanh huyện Tân Trụ

3. Lê Quốc Dũng, Tỉnh ủy viên,  Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Long An

4. Võ Thị Điệp, Công chức, Thanh tra huyện Tân Trụ

5. Nguyễn Minh Hùng, Phó Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh Long An

Đơn vị bầu cử số 10: Gồm thị trấn Cần Đước và các xã: Tân Lân, Tân Chánh, Tân Ân, Phước Đông, Phước Tuy, Long Hựu Đông, Long Hựu Tây thuộc huyện Cần Đước.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Huỳnh Văn Quang Hùng, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cần Đước

2. Trương Thành Phương (Mười), Phó Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cần Đước

3. Nguyễn Thị Bích Phượng, Trưởng phòng Dân số, Trung tâm Y tế huyện Cần Đước

4. Huỳnh Văn Sơn, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Long An

5. Nguyễn Minh Tấn, Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Long An

Đơn vị bầu cử số 11: Gồm các xã: Long Định, Long Cang, Phước Vân, Long Sơn, Tân Trạch, Long Khê, Long Trạch, Long Hòa, Mỹ Lệ thuộc huyện Cần Đước.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Hồ Tấn Đức, Phó Trưởng Ban Pháp chế, HĐND tỉnh

2. Nguyễn Văn Minh, Phó Chánh Thanh tra huyện Cần Đước

3. Trương Văn Nghị, Tỉnh ủy viên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

4. Võ Minh Quang, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện Cần Đước

5. Nguyễn Thị Ngọc Quyên, Công chức Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Cần Đước

Đơn vị bầu cử số 12: Gồm các xã: Phước Lý, Long Thượng, Phước Hậu, Phước Lâm, Mỹ Lộc, Long An, Thuận Thành thuộc huyện Cần Giuộc.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Huỳnh Thị Tuyết Hồng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện Cần Giuộc

2. Nguyễn Phước Hùng, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Cần Giuộc

3. Nguyễn Hồng Mai, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

4. Đỗ Thị Thảo Phương, Phó Bí thư Huyện đoàn Cần Giuộc

5. Hồ Minh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Khu công nghiệp Long An - Cảng Long An

Đơn vị bầu cử số 13: Gồm thị trấn Cần Giuộc và các xã: Long Phụng, Đông Thạnh, Tân Tập, Phước Vĩnh Đông, Phước Vĩnh Tây, Phước Lại, Long Hậu thuộc huyện Cần Giuộc.

Số người ứng cử: 7 người

Số đại biểu được bầu: 4 đại biểu

1. Phạm Văn Bốn, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc

2. Nguyễn Thị Ngọc Hiền, Giáo viên, Tổ trưởng chuyên môn, Trường THCS - THPT Nguyễn Thị Một huyện Cần Giuộc

3. Đỗ Thanh Hùng, Phó Chủ tịch Thường trực UBMTTQ Việt Nam tỉnh

4. Đặng Thị Ngọc Lượng, Công chức, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Cần Giuộc

5. Võ Hữu Phước, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Cần Giuộc

6. Phạm Thanh Tâm, Phó Giám đốc Công an tỉnh Long An

7. Võ Trần Tuấn Thanh, Tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh đoàn

Đơn vị bầu cử số 14: Huyện Thạnh Hóa.

Số người ứng cử: 3 người

Số đại biểu được bầu: 2 đại biểu

1. Nguyễn Thị Hai, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Thạnh Hóa

2. Hồ Thị Ngọc Lan, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Thạnh Hóa

3. Trần Quốc Việt, Phó Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách, Phó Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh

Đơn vị bầu cử số 15: Huyện Tân Thạnh.

Số người ứng cử: 5 người

Số đại biểu được bầu: 3 đại biểu

1. Bùi Quốc Bảo, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tân Thạnh

2. Lê Thanh Đông, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Tân Thạnh

3. Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

4. Hồ Thị Thùy Linh, Công chức, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Thạnh

5. Dương Thị Bích Tuyền, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Thạnh

Đơn vị bầu cử số 16: Huyện Vĩnh Hưng.

Số người ứng cử: 3 người

Số đại biểu được bầu: 2 đại biểu

1. Lê Quốc Bổn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Vĩnh Hưng

2. Trần Văn Cường, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Hưng

3. Võ Thành Trí, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Vĩnh Hưng

Đơn vị bầu cử số 17: Huyện Tân Hưng.

Số người ứng cử: 3 người

Số đại biểu được bầu: 2 đại biểu

1. Nguyễn Cao Đẳng, Bí thư Huyện đoàn Tân Hưng

2. Huỳnh Thanh Hiền, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Tân Hưng

3. Nguyễn Thành Vững, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy

Đơn vị bầu cử số 18: Huyện Mộc Hóa.

Số người ứng cử: 3 người

Số đại biểu được bầu: 2 đại biểu

1. Nguyễn Văn Minh (6 Mình), Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Mộc Hóa

2. Đào Anh Thơ, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mộc Hóa

3. Nguyễn Tuấn, Đại tá, Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh

Đơn vị bầu cử số 19: Thị xã Kiến Tường.

Số người ứng cử: 3 người

Số đại biểu được bầu: 2 đại biểu

1. Nguyễn Thị Thúy Kiều, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội thị xã Kiến Tường

2. Nguyễn Minh Lâm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh

3. Nguyễn Văn Vũ, Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch UBND thị xã Kiến Tường./.

Theo Báo Long An Online

Công bố danh sách những người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh Long An khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026 - Báo Long An Online (baolongan.vn)


29/04/2021 9:00 SAĐã ban hành
Long An: thông báo khẩn về việc tổ chức thực hiện hoạt động vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh từ 12 giờ 00 phút ngày 20/7/2021Long An: thông báo khẩn về việc tổ chức thực hiện hoạt động vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh từ 12 giờ 00 phút ngày 20/7/2021
Ngày 19/7/2021, Sở Giao thông vận tải Long An có văn bản khẩn số 3696/TB-SGTVT thông báo về việc tổ chức hoạt động vận tải đường bộ nội tỉnh trên địa bàn tỉnh Long An.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 969/TTg-KGVX ngày 17/7/2021 về việc thực hiện giãn cách xã hội phòng chống dịch tại một số địa phương; văn bản số 7030/UBND-VHXH ngày 18/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh; văn bản số 5753/BYT-MT ngày 19/7/2021 của Bộ Y tế về việc xét nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho người vận chuyển hàng hoá; văn bản số 5017/TCĐBVN-VT ngày 19/7/2021 của Tổng cục Đường bộ Việt Nam về việc tạo thuận lợi cho các phương tiện vận chuyển các loại hàng hoá thiết yếu và hàng hoá phục vụ sản xuất kinh doanh tại các địa phương áp dụng Chỉ thị 16, Sở Giao thông vận tải Long An thông báo về việc tổ chức hoạt động vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:

1. Tạm dừng hoạt động vận tải hành khách bằng xe ô tô trên địa bàn tỉnh Long An.

2. Các trường hợp được phép hoạt động vận tải, cụ thể:

2.1 Phương tiện hoạt động lý do công vụ.

2.2 Phương tiện hoạt động cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm
 cần thiết, xe chở nguyên vật liệu sản xuất….

2.3 Phương tiện hoạt động theo kế hoạch phối hợp hoặc thông báo của UBND các tỉnh, thành phố.

2.4 Phương tiện hoạt động của: các cơ sở sản xuất, công trường, công trình giao thông, xây dựng; cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu; ngân hàng, kho bạc, các cơ sở kinh doanh dịch vụ trực tiếp liên quan đến hoạt động ngân hàng và bổ trợ doanh nghiệp, chứng khoán, bưu chính, viễn thông, dịch vụ hỗ trợ vận chuyển, xuất nhập khẩu hàng hóa, khám bệnh, chữa bệnh, tang lễ... Trong đó:

- Đối với cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên các cơ quan, đơn vị đi làm hàng ngày trong nội tỉnh: phải có các giấy tờ liên quan để chứng minh đang làm việc tại địa phương nơi đến (cụ thể: thẻ công chức, viên chức; giấy xác nhận công tác của cơ quan, đơn vị nơi làm việc…).

- Đối với người thực hiện trong hệ thống chuỗi giao hàng online, các hình thức phân phối trực tiếp đến tay người dân (đã được cấp phép) phải có giấy xác nhận của cơ quan chủ quản hoặc chính quyền địa phương cấp xã nơi hệ thống hoạt động.

- Đối với người thu mua hàng nông sản, thủy sản, gia súc, gia cầm trong dân, người giao hàng nông sản, thủy sản, gia súc, gia cầm đến đơn vị thu mua trong ngày, phải có giấy xác nhận chính quyền địa phương cấp xã nơi đi.

2.5 Xe taxi phục vụ người dân đi, đến các Bệnh viện, Trung tâm y tế trên địa bàn tỉnh trong trường hợp cấp thiết (đã được cấp phù hiệu "Xe phục vụ chuyển viện").

2.6 Phương tiện đưa, rước người lao động thuộc doanh nghiệp hoạt động theo phương châm "03 tại chỗ" đã được thẩm định.

3. Các phương tiện hoạt động theo Mục 2, không thực hiện kiểm tra giấy chứng nhận xét nghiệm SARS-CoV-2 đối với lái xe và người trên phương tiện khi hoạt động nội tỉnh trên địa bàn tỉnh Long An. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp chịu trách nhiệm trong công tác đảm bảo phòng, chống Covid-19 đối với phương tiện, lái xe và người trên phương tiện.

4. Đối với phương tiện được phép hoạt động vận tải của các địa phương khác khi vào địa phận tỉnh Long An, đảm bảo các giấy tờ sau:

4.1 Giấy chứng nhận kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 (RT-PCR hoặc Test nhanh) được thực hiện trong vòng 72 giờ (kể từ khi lấy mẫu) đối với lái xe và người đi cùng.

4.2 Giấy vận tải (giấy vận chuyển) cần có các nội dung: địa chỉ đi; địa chỉ đến; hành trình vận chuyển; địa chỉ dừng nghỉ dọc đường (nếu có) hoặc Thẻ nhận diện phương tiện dán trên kính chắn gió phía trước.

4.3 Các giấy tờ theo quy định Luật Giao thông đường bộ.

Người đứng đầu đơn vị vận tải, chủ nơi xuất hàng có trách nhiệm kiểm tra nội dung quy định tại mục này trước khi cho phương tiện khởi hành. Trường hợp không đáp ứng các điều kiện trên sẽ bị xử lý theo quy định và yêu cầu phương tiện quay trở về.

5. Thực hiện theo mục 7 và mục 10 văn bản số 6434/UBND-VHXH ngày 07/7/2021 của UBND tỉnh về việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh trong tình hình mới, đề nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ thiết lập các trạm, chốt có kết nối giao thông với địa bàn giáp ranh của các tỉnh lân cận để kiểm soát phương tiện và người từ các tỉnh, thành phố vào địa bàn tỉnh Long An.

6. Giao Thanh tra Sở Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp phòng, ban và đơn vị có liên quan thực hiện kiểm tra, giám sát các nội dung nêu trên; đồng thời chủ động, phối hợp với lực lượng chức năng xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định; báo cáo Sở Giao thông vận tải các trường hợp vướng mắc hoặc ngoài thẩm quyền xử lý để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh kịp thời chỉ đạo.

7. Thời gian thực hiện từ 12 giờ 00 phút, ngày 20/7/2021 cho đến khi có Thông báo mới.

8. Thông báo này thay thế Thông báo số 3435/TB-SGTVT ngày 08/7/2021; Thông báo số 3512/TB-SGTVT ngày 08/7/2021; văn bản số 3574/SGTVT-VT ngày 14/7/2021 của Sở Giao thông vận tải Long An.

Sở Giao thông vận tải Long An thông báo đến các cá nhân, đơn vị có liên quan biết, thực hiện./.

637623510570670581_3696_SGTVT-QLVTPTNL_19-07-2021_Thông báo hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Long An 20-7-2021.signed.pdf

TH


20/07/2021 9:00 SAĐã ban hành
Long An: Từ 00 giờ ngày 19/7/2021, thực hiện giãn cách xã hội toàn tỉnh theo Chỉ thị số 16Long An: Từ 00 giờ ngày 19/7/2021, thực hiện giãn cách xã hội toàn tỉnh theo Chỉ thị số 16
Ngày 18/7/2021, UBND tỉnh Long An có văn bản số 7030/UBND-VHXH về việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh.

Theo đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 969/TTg-KGVX ngày 17/7/2021 của về việc thực hiện giãn cách xã hội phòng, chống dịch tại một số địa phương, UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện như sau:

1. Kể từ 00 giờ ngày 19/7/2021, tất cả các huyện, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An thực hiện giãn cách xã hội toàn tỉnh theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Thời gian thực hiện giãn cách xã hội là 14 ngày.

2. Trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo tinh thần của Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, các biện pháp hạn chế sau đây được áp dụng:

a) Thực hiện nguyên tắc gia đình cách ly với gia đình, ấp, khu phố cách ly với ấp, khu phố, xã - phường - thị trấn cách ly với xã - phường - thị trấn, huyện - thị xã - thành phố cách ly với huyện - thị xã - thành phố.

b) Tạm dừng tất cả các hoạt động, dịch vụ trên địa bàn, kể cả các chợ truyền thống.

c) Tạm dừng hoạt động vận chuyển hành khách công cộng, trừ trường hợp đặc biệt vì lý do công vụ, các trường hợp cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm cần thiết, xe chuyên chở nguyên vật liệu sản xuất… và các hoạt động khác theo kế hoạch phối hợp hoặc thông báo của UBND các tỉnh, thành phố. Hạn chế tối đa hoạt động của các phương tiện cá nhân.

d) Tạm dừng việc tiếp nhận hồ sơ trực tiếp tại Trung tâm hành chính công thành phố Tân An và các huyện, Trung tâm phục vụ hành chính tỉnh. Trường hợp có nhu cầu cần giải quyết, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ thông qua hình thức dịch vụ công trực tuyến và dịch vụ bưu chính công ích.

3. Các cơ sở sản xuất, công trường, công trình giao thông, xây dựng; cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu; ngân hàng, kho bạc, các cơ sở kinh doanh dịch vụ trực tiếp liên quan đến hoạt động ngân hàng và bổ trợ doanh nghiệp, chứng khoán, bưu chính, viễn thông, dịch vụ hỗ trợ vận chuyển, xuất nhập khẩu hàng hóa, khám bệnh, chữa bệnh, tang lễ... được tiếp tục hoạt động. Người đứng đầu các cơ sở nêu trên chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tuyệt đối và thực hiện đầy đủ các biện pháp chống dịch, trong đó có các biện pháp sau:

a) Thực hiện nghiêm 5K, đặc biệt là đeo khẩu trang, khử khuẩn, đo thân nhiệt, bố trí đầy đủ phương tiện, vật tư phòng, chống dịch theo quy định, khuyến cáo của cơ quan y tế;

b) Yêu cầu người lao động khai báo y tế, tuân thủ các biện pháp tiếp xúc, giao tiếp;

c) Tạm dừng các hoạt động không cấp bách, giảm mức độ tập trung người lao động;

d) Tổ chức, quản lý chặt chẽ việc đưa đón người lao động (nếu có) đến nơi làm việc bảo đảm ngăn ngừa rủi ro lây nhiễm dịch bệnh.

Trường hợp không bảo đảm các yêu cầu nêu trên thì phải tạm dừng hoạt động.

Riêng đối với các cơ sở sản xuất: thực hiện theo Công văn số 6619/UBND-VHXH ngày 11/7/2021 về việc đảm bảo an toàn phòng, chống dịch trong hoạt động sản xuất tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An.

4. Nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh trong cộng đồng, yêu cầu mọi người dân ở nhà, chỉ ra ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết:

- Mua lương thực, thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa, dịch vụ thiết yếu khác.

- Các trường hợp khẩn cấp như: cấp cứu, khám chữa bệnh; thiên tai, hỏa hoạn, tang lễ.

- Làm việc tại các cơ quan, đơn vị nhà nước, lực lượng vũ trang, cơ quan ngoại giao và tại các cơ sở nêu tại mục 5 của Văn bản này.

Trường hợp khi ra khỏi nhà phải đeo khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; không tập trung quá 02 người tại nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, bệnh viện và phải giữ khoảng cách tối thiểu 02 mét.

Yêu cầu toàn thể nhân dân tự giác chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch; tích cực tham gia khai báo y tế tự nguyện; thực hiện đầy đủ các biện pháp tự bảo vệ bản thân, gia đình và tham gia có trách nhiệm các hoạt động phòng, chống dịch của các cơ quan chức năng và cộng đồng.

Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn tổ chức các đội tuần tra, giám sát, hoạt động 24/24, không để xảy ra các trường hợp tập trung đông người và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm công tác phòng, chống dịch; đặc biệt tăng cường xử phạt vi phạm hành chính đối với những trường hợp người dân ra khỏi nhà không thuộc các trường hợp quy định trên và không có lý do chính đáng.

5. Các cơ quan, đơn vị nhà nước tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức người lao động sử dụng công nghệ thông tin làm việc tại nhà; chỉ những trường hợp thật sự cần thiết như trực chiến đấu, trực chống dịch, trực cơ quan, cung ứng hàng hóa dịch vụ thiết yếu, xử lý tài liệu mật và các nhiệm vụ cần thiết khác theo yêu cầu mới đến làm việc tại công sở.

Dừng toàn bộ các cuộc họp tại cơ quan công sở (ngoại trừ các cuộc họp chống dịch, các cuộc họp để xử lý các vấn đề cấp bách của đơn vị). Khi tổ chức các cuộc họp phải được người đứng đầu phê duyệt và tuân thủ tuyệt đối quy tắc 5K của Bộ Y tế.

Số lượng người làm việc cụ thể tại công sở do Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị quyết định và không quá 1/2 tổng số người lao động để đảm bảo duy trì các nhiệm vụ của đơn vị và chỉ đạo của tỉnh; riêng lực lượng vũ trang, ngành y tế đảm bảo 100% quân số.

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị căn cứ chương trình công tác, tổ chức giao việc cụ thể để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trong năm 2021; đồng thời chỉ đạo rà soát, kiểm soát chặt chẽ việc phòng chống dịch đối với người ra vào trụ sở, vận hành hiệu quả Tổ COVID-19 của cơ quan mình.

6. Giao Sở Giao thông vận tải chủ động phối hợp với Sở Giao thông vận tải các tỉnh, thành phố lân cận, tổ chức giao thông tạo điều kiện cho các phương tiện được phép lưu thông theo quy định tại điểm c mục 2 của của Văn bản này, đảm bảo thuận lợi, thông suốt.

7. Giao Sở Công Thương phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan có phương án đảm bảo tổ chức tốt việc cung cấp lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cho người dân trong khu vực phong tỏa, cách ly y tế và địa phương thực hiện giãn cách xã hội; trong đó lưu ý phối hợp hệ thống giao hàng online, các hình thức phân phối trực tiếp đến tận tay người dân khi có yêu cầu.

8. UBND các huyện, thị xã, thành phố:

- Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm nguyên tắc và các biện pháp hạn chế nêu trên trong việc giãn cách xã hội trên địa bàn, đảm bảo thực hiện triệt để đối với từng địa bàn, khu vực quản lý. Tận dụng thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ để triển khai quyết liệt, siết chặt các giải pháp phòng, chống dịch để đạt kết quả cao nhất.

- Phối hợp với Sở Công Thương, các đoàn thể chính trị - xã hội và các cơ quan, đơn vị liên quan:

+ Hướng dẫn người dân có thể đến mua thực phẩm chế biến sẵn tại các siêu thị, cửa hàng tiện lợi hiện đang hoạt động hoặc đặt hàng thông qua các ứng dụng công nghệ;

+ Hỗ trợ cung cấp hàng hóa, nhu yếu phẩm, lương thực, thực phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày bằng các hình thức phù hợp: Tổ chức lực lượng tình nguyện viên của Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên hỗ trợ "đi chợ thay"; trực tiếp đặt hàng qua điện thoại tình nguyện viên và giao trực tiếp đến các đối tượng nêu trên;

+ Chủ động cung cấp các suất ăn miễn phí cho người già neo đơn, người bệnh và các đối tượng khác.

Căn cứ kết quả thực hiện Chỉ thị 16 trên địa bàn, Chủ tịch UBND cấp huyện kịp thời báo cáo UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh xem xét, điều chỉnh các giải pháp thực hiện cho hiệu quả, phù hợp với tình hình.

9. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An, UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thông tin nhanh, thường xuyên, liên tục chỉ đạo trên để người dân biết, thực hiện đúng, đầy đủ.

10. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể tỉnh tập trung, tăng cường tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên thực hiện đúng các quy định, biện pháp phòng, chống dịch của tỉnh; đồng thời tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân đồng tình, ủng hộ và thực hiện tốt các quy định trên.

11. Các thành viên Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm đối với người của tỉnh, huyện, thị xã, thành phố theo nhiệm vụ, địa bàn được phân công tiếp tục phối hợp với cấp ủy, địa phương chủ động thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh nêu trên, đảm bảo nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả.

Văn bản này thay thế Công văn số 6798/UBND-VHXH ngày 13/7/2021 của UBND tỉnh. Các văn bản trước đây liên quan đến công tác phòng, chống dịch có nội dung trái với Văn bản này thì thực hiện theo Văn bản này.

Căn cứ chỉ đạo trên, yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan khẩn trương, nghiêm túc triển khai thực hiện./.

7030-phong chong dich.pdf

TH


18/07/2021 7:00 SAĐã ban hành
Chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19Chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19
Thực hiện Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của TTCP quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (SDLĐ) gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Theo đó, ngày 08/7/2021, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã ban hành Công văn số 1988/BHXH-TST về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể:

1. Hỗ trợ NLĐ và người SDLĐ tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất

1.1. Đối tượng: Người lao động và người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật BHXH.

1.2. Điều kiện hỗ trợ:

a. Người SDLĐ đã đóng đủ BHXH hoặc đang tạm dừng đóng và Quỹ hưu trí, tử tuất đến hết tháng 4/2021 mà bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến phải giảm từ 15% số lao động tham gia BHXH trở lên tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị so với tháng 4/2021.

b. Số lao động tham gia BHXH tính giảm tại điểm a nêu trên chỉ bao gồm người làm việc theo hợp đồng làm việc (HĐLV), hợp đồng lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; không bao gồm NLĐ nghỉ việc hưởng lương hưu từ ngày 01/5/2021.

1.3. Thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất:

Người LĐ và người SDLĐ đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1.2 này được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất 06 tháng tính từ tháng người SDLĐ nộp hồ sơ đề nghị.

Đối với trường hợp đã được giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, nếu đủ điều kiện và được giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất theo quy định tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg thì tổng thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất do bị ánh hưởng bởi đại dịch Covid-19 không quá 12 tháng.

1.4. Đóng bù vào quỹ hưu trí, tử tuất:

Hết thời gian tạm dừng đóng theo quy định nêu trên, NLĐ và người SDLĐ tiếp tục đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất và đóng bù cho thời gian tạm dừng đóng, số tiền đóng bù không phải tính lãi chậm đóng theo quy định tại khoản 3 Điều 122 Luật BHXH.

Kể từ thời điểm kết thúc thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất, nếu người SDLĐ không thực hiện việc đóng bù cho thời gian tạm dừng đóng thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 122 Luật BHXH.

Trong thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất, NLĐ đủ điều kiện hương chế độ hưu trí, chế độ tử tuất hoặc chấm dứt HĐLĐ thì người SDLĐ và NLĐ thực hiện đóng bù cho thời gian tạm dừng đóng để giải quyết chế độ cho NLĐ.

1.5. Thủ tục thực hiện:

Đơn vị SDLĐ lập Mẫu số 01 ban hành kem theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, gửi cơ quan BHXH nơi quản lý thu BHXH qua giao dịch điện tử hoặc Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam, Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Trường hợp chưa giao dịch điện tử thì gửi hồ sơ giấy.

2. Hỗ trợ NSDLĐ đào tạo, bồi duỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ

Cơ quan BHXH xác nhận Danh sách NLD tham gia đào tạo theo Chương III Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Đơn vị SDLĐ lập Phụ lục I của Mẫu số 2 ban hành kèm theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg gửi cơ quan BHXH nơi quản lý thu BHXH qua giao dịch điện tử hoặc Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam, Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Trường hợp chưa giao dịch điện tử thì gửi hồ sơ giấv.

3. Hỗ trợ NLĐ tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương

Cơ quan BHXH xác nhận Danh sách NLĐ tạm hoãn thực hiện HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương; Danh sách NLĐ ngừng việc; Danh sách lao động theo Chương IV, Chương V, Chương X Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

4. Giải quyết giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

4.1. Đối tượng hỗ trợ:

Người SDLĐ đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho NLĐ thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao dộng, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về BHXH và pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động (trừ cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, NLĐ trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách nhà nước).

4.2. Mức đóng và thời gian áp dụng mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao dộng, bệnh nghề nghiệp

a. Mức đóng: Bằng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.

b. Thời gian áp dụng: 12 tháng, từ ngày 01/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022.

Trên đây là một số nội dung liên quan đến chính sách hỗ trợ cho NLĐ và đơn vị SDLĐ gặp khó khăn do đại dịch Covid-19./.

Theo Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An


16/07/2021 10:00 SAĐã ban hành
Người dân có tiếp xúc hoặc đến khu vực của các ca nhiễm Covid-19 kể từ ngày 10/7/2021 trở về sau phải khẩn trương khai báo y tếNgười dân có tiếp xúc hoặc đến khu vực của các ca nhiễm Covid-19 kể từ ngày 10/7/2021 trở về sau phải khẩn trương khai báo y tế

Hãy đến cơ sở y tế gần nhất để thực hiện khai báo y tế nếu người dân có tiếp xúc hoặc đến khu vực có ca nhiễm Covid-19 kể từ ngày 10/7/2021 trở về sau.

Yêu cầu mọi người dân chấp hành tốt các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 của UBND tỉnh, các hướng dẫn của địa phương và cơ quan y tế; thực hiện khai báo y tế đầy đủ, chính xác./.

Theo Sở TTTT Long An 


16/07/2021 8:00 SAĐã ban hành
Ngân hàng CSXH tỉnh thông tin về chính sách cho vay người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, phục hồi sản xuất theo Nghị quyết số 68Ngân hàng CSXH tỉnh thông tin về chính sách cho vay người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, phục hồi sản xuất theo Nghị quyết số 68

I. ĐIỀU KIỆN VAY VỐN

1. Đối với khách hàng vay vốn trả lương ngừng việc

a) Có người lao động làm việc theo hợp đồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đến tháng liền kề trước thời điểm người lao động ngừng việc, phải ngừng việc từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ 01/5/2021 đến hết 31/3/2022.

b) Không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn.

2. Đối với khách hàng vay vốn trả lương cho người lao động khi phục hồi sản xuất, kinh doanh

a) Đối với khách hàng phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian từ 01/5/2021 đến hết 31/3/2022.

- Phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian từ 01/5/2021 đến hết 31/3/2022.

- Có người lao động làm việc theo hợp đồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đến thời điểm đề nghị vay vốn.

- Có phương án hoặc kế hoạch phục hồi sản xuất, kinh doanh.

- Không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn.

b) Đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để phục hồi sản xuất, kinh doanh

- Có người lao động làm việc theo hợp đồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đến thời điểm đề nghị vay vốn.

- Có phương án hoặc kế hoạch phục hồi sản xuất, kinh doanh.

- Không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đã hoàn thành quyết toán thuế năm 2020 tại thời điểm đề nghị vay vốn.

II. MỨC CHO VAY

Khách hàng được vay vốn một hoặc nhiều lần để trả lương ngừng việc, trả lương cho người lao động khi phục hồi sản xuất với thời gian tối đa 03 tháng/người lao động.

III. LÃI SUẤT CHO VAY

* 0%/năm

* Lãi suất nợ quá hạn: 12%/năm

IV. THỜI HẠN CHO VAY

Thời hạn cho vay do NHCSXH và khách hàng thỏa thuận dưới 12 tháng, kể từ ngày giải ngân món vay đầu tiên.

V. BẢO ĐẢM TIỀN VAY

Khách hàng không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay.

VI. PHƯƠNG THỨC CHO VAY

Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay thực hiện cho vay trực tiếp đến khách hàng.

VII. QUY TRÌNH CHO VAY

1. Trong vòng 04 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ vay vốn, NHCSXH thực hiện phê duyệt cho vay và thông báo cho khách hàng. Trường hợp không đủ điều kiện cho vay thì thông báo bằng văn bản đến khách hàng, nêu rõ lý do từ chối.

2. NHCSXH cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng/ Phụ lục hợp đồng tín dụng.

VIII. TỔ CHỨC GIẢI NGÂN

1. NHCSXH giải ngân cho khách hàng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của khách hàng.

2. Thực hiện giải ngân tới khách hàng trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo vốn.

3. Trường hợp đề nghị vay vốn để trả lương cho người lao động đối với các tháng 5, 6, 7 năm 2021, khách hàng lập hồ sơ vay vốn từng tháng và được NHCSXH giải ngân 1 lần.

4. NHCSXH được thực hiện đến hết 05/4/2022 hoặc khi giải ngân hết 7.500 tỷ đồng được NHNN cho vay tái cấp vốn.

IX. HỒ SO VAY VỐN

1. Khách hàng tự kê khai, lập danh sách, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực đối với số lao động ngừng việc, số lao động làm việc theo hợp đồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và các thông tin, hồ sơ, tài liệu cung cấp cho NHCSXH nơi cho vay.

2. Đối với khách hàng vay vốn trả lương ngừng việc

2.1 Hồ sơ vay vốn lần đầu gồm: a) Giấy đề nghị vay vốn, b) Danh sách người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội, c) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu các giấy tờ phù họp với loại hình hoạt động; d) Bản gốc/Bản chính/Bản sao có chứng thực Giấy ủy quyền (nếu có), đ) Văn bản thỏa thuận ngừng việc giữa người sử dụng lao động với người lao động.

2.2 Hồ sơ vay vốn các lần tiếp theo gồm: Các hồ sơ nêu tại tiết a, b, đ điểm 2.1 nêu trên; Bổ sung hồ sơ nêu tại tiết c, d điểm 2.1 nêu trên nếu có thay đổi so với hồ sơ vay vốn lần đầu.

3. Đối với khách hàng vay vốn trả lương cho người lao động khi phục hồi sản xuất, kinh doanh:

3.1 Hồ sơ vay vốn lần đầu gồm: a) Giấy đề nghị vay vốn, b) Danh sách người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội, c) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu các giấy tờ phù hợp với loại hình hoạt động, d) Bản gốc/Bản chính/Bản sao có chứng thực Giấy ủy quyền (nếu có), đ) Bản sao văn bản về việc người sử dụng lao động phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2022 (đối với khách hàng phải tạm dừng hoạt động), e) Phương án hoặc kế hoạch phục hồi sản xuất, kinh doanh, g) Bản sao thông báo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 của cơ quan thuế đối với người sử dụng lao động (đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

3.2 Hồ sơ vay vốn các lần tiếp theo gồm: Các hồ sơ nêu tại tiết a, b điểm 3.1 nêu trên; Bổ sung hồ sơ nêu tại tiết c, d, đ, e điểm 3.1 nêu trên nếu có thay đổi so với hồ sơ vay vốn lần đầu.

4. Thời gian nhận hồ sơ đề nghị vay vốn của khách hàng chậm nhất đến hết ngày 25 tháng 3 năm 2022.

DANH MỤC SỐ ĐIỆN THOẠI LIÊN HỆ

1. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Long An

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Truởng phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ tín dụng,

Điện thoại cơ quan: 0272 3838603         - Di động 0834 570 946

Ông Trần Thế Vinh - Phó truởng phòng Kế hoạch — Nghiệp vụ tín dụng,

Điện thoại cơ quan: 0272 3838609         - Di động 0937 762 010

Bà Lê Ngọc Phượng - Phó trưởng phòng Kế hoạch — Nghiệp vụ tín dụng,

Điện thoại cơ quan: 0272 3838609         - Di động 0934 065 909

2. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Thủ Thừa

Ông Hồ Hoàng Triệu - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3612 988        - Di động 0949 299 378

Bà Trần Thị Luyến - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3613 689        - Di động 0905 919 391

3. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tân Trụ

Ông Trần Văn Trực - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3868 468        - Di động 0909 125 002

Ông Trần Bá Lộc - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3681 468        - Di động 0982 298 787

4. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Bến Lức

Ông Trương Trần Tuấn - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3635 055        - Di động 0903 071 660

Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3631 538        - Di động 0332 549 548

5. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Cần Giuộc

Ông Nguyễn Thế Thắng - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3893 739        - Di động 0918 976 336

Ông Phan Ngọc Mẫn - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3893 500        - Di động 0902 413 113

6. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Cần Đước

Ông Châu Ngọc Vũ - Phó Giám đốc phụ trách,

Điện thoại cơ quan: 0272 3713 943        - Di động 0944 662 727

Bà Phạm Thị Ngọc Phương Diễm - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3714 515         -Di động 0907 014 789

7. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đức Hòa

Ông Lê Tấn Thành - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3851 854        - Di động 0919 399 747

Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3812 097        - Di động 0909 817 259

8. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đức Huệ

Ông Thành Duy Vũ - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3855 878        - Di động 0908 246 137

Ông Võ Duy Tiền - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3855 650        - Di động 0919 936 074

9. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tân Thạnh

Ông Huỳnh Trọng Tín - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3844 890        - Di động 0946 789 565

Bà Phạm Thị Thúy Hằng - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3844 947        - Di động 0948 700 881

10. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mộc Hóa

Ông Lê Hoài Nhân - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3968 678        -Di động 0917910615

Ông Nguyễn Danh Toại - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3968 989        - Di động 0982 729 936

11. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Vĩnh Hưng

Ông Võ Văn An - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3848 335        - Di động 0979 808 547

Ông Phan Trọng Trinh - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3848 007        - Di động 0983 801 456

12. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Thạnh Hóa

Ông Trần Sỹ Hoài - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3858 599        - Di động 0903 161 277

Ông Nguyễn Thành Kết - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3911 788        - Di động 0986 796 677

13. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Châu Thành

Ông Nguyễn Văn Lừng - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3887 217        - Di động 0913 818 578

Ông Lữ Thanh Hòa - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3887 218        - Di động 0948 859 777

14. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tân Hưng

Ông Lê Văn Tân - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3861 580        - Di động 0918 430 025

Ông Vũ Minh Thư - Phó Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3862 662        - Di động 0919 821 407

15. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Thị xã Kiến Tường

Ông Phạm Văn Kiệt - Giám đốc,

Điện thoại cơ quan: 0272 3843 444        - Di động 0918 701 979

Ông Phan Xuân Vinh - Phó Giám đốc,

Ngân hàng CSXH tỉnh Long An


29/07/2021 1:00 CHĐã ban hành
Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV: Qui định mới về chi trả thu nhập tăng thêm Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV: Qui định mới về chi trả thu nhập tăng thêm
        Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV ngày 30/5/2014 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước.

 Thông tư  này quy định nguồn kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiện chế độ tự chủ, trong đó  đảm bảo từ nguồn ngân sách Nhà nước, các khoản phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định và các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; quy định nội dung chi kinh phí giao thực hiện chế độ tự chủ.

Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao, trong phạm vi kinh phí được giao tự chủ, Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự  chủ có quyền quyết định bố trí  số kinh phí được giao vào các mục chi cho phù  hợp, được quyền điều chỉnh giữa các mục chi nếu xét thấy cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ, bảo  đảm tiết kiệm và có hiệu quả; được quyết  định mức chi cho từng nội dung công việc phù hợp với đặc thù của cơ quan nhưng không được vượt quá chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định và được quyết định sử dụng toàn bộ kinh phí tiết kiệm được để bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức, người lao động; và các khoản chi khác như khen thưởng, phúc lợi ... và trích lập quỹ dự phòng để  ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức (trong đó hướng dẫn cách tính mới, chi trả thu nhập tăng thêm dựa trên kinh phí tiết kiệm được).

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định chi tiết các trường hợp điều chỉnh kinh phí quản lý hành chính được giao thực hiện chế độ tự chủ; xây dựng và thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế  quản lý sử dụng tài sản công; đồng thời hướng dẫn về cách lập dự toán, phân bổ, giao dự  toán, hạch toán và quyết toán kinh phí (trong đó có quy định về tạm chi thu nhập tăng thêm).

     Đối tượng và phạm vi điều chỉnh:

      Theo đó, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Thông tư này là các cơ quan nhà nước trực tiếp sử dụng kinh phí quản lý hành chính do ngân sách nhà nước cấp, có tài khoản và con dấu riêng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao biên chế và kinh phí quản lý hành chính bao gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp; Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ quan hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

        Nguyên tắc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan thực hiện chế độ tự chủ

         Thông tư cũng quy định 03 nguyên tắc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan thực hiện chế độ tự chủ, bao gồm: Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Không tăng kinh phí quản lý hành chính được giao, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư này; Quản lý, sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả; thực hiện công khai, dân chủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ, công chức và người lao động.

Các cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã  hội được cơ quan có thẩm quyền giao biên chế và kinh phí quản lý hành chính căn cứ vào chế độ tự chủ quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và  Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 7/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số  điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và  hướng dẫn tại thông tư này để xem xét tự  quyết định việc thực hiện chế độ tự  chủ. 

Riêng các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài được ngân sách nhà nước cấp kinh phí  quản lý hành chính không thuộc đối tượng áp dụng Thông tư này.

 

* Khoán quỹ tiền lương và chi hoạt động thường xuyên:  

- Khoán quỹ  tiền lương: Thông tư 71 quy định rõ: Số biên chế được giao làm căn cứ thực hiện khoán quỹ tiền lương và chi thường xuyên theo định mức là số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; Trường hợp cơ quan chưa được phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức thì thực hiện khoán quỹ tiền lương trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao năm 2013; trường hợp lập thêm tổ chức hoặc được giao nhiệm vụ mới thì số biên chế để làm căn cứ thực hiện khoán quỹ lương và chi hoạt động thường xuyên được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- Số lao động hợp đồng làm căn cứ thực hiện khoán quỹ lương là số  lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm. Trường hợp cơ quan chưa được phê duyệt vị  trí việc làm thì thực hiện khoán quỹ tiền lương trên cơ sở số lao động hợp đồng không xác định thời hạn đối với một số  chức danh theo quy định của pháp luật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Chi hoạt  động thường xuyên:  Thông tư 71 bổ sung  ngoài việc quản lý và sử dụng kinh phí khoán bảo đảm đúng quy trình kiểm soát chi và chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật thì một số khoản chi thực hiện khoán không cần hóa đơn theo quy định của Bộ Tài chính, gồm:

+ Chi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Thanh toán khoán theo định mức phân bổ kinh phí  xây dựng văn bản tính trên văn bản hoàn thành quy định tại Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 2/12/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính,

+Chi công tác phí: Thanh toán theo mức khoán tiền phụ cấp lưu trú, tiền thuê phòng nghỉ, phương tiện đi lại; thủ tục chứng từ quy định tại Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 6/7/2010 của Bộ Tài chính

+Chi tiền điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động đối với các chức danh lãnh đạo

+ Chi văn phòng phẩm: Đơn vị căn cứ vào mức kinh phí thực hiện của năm trước liền kề, xây dựng mức khoán kinh phí văn phòng phẩm (bút, giấy, sổ, bìa tài liệu...) theo đơn vị (Cục, Vụ, Phòng, Ban...chuyên môn), theo từng cá nhân, theo tháng, quý hoặc năm để thực hiện khoán. 

Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức và người lao động:

         Theo đó, Thông tư 71/2014/TTLT-BTC-BNV qui đinh: trong phạm vi nguồn kinh phí tiết kiệm được, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được áp dụng hệ số tăng thêm quỹ tiền lương tối đa không quá 1, 0 (một) lần so với tiền lương ngạch, bậc, chức vụ do nhà nước quy định để trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ công chức và người lao động.

          Trên cơ sở tổng nguồn kinh phí được phép chi, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyết định phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho từng cán bộ, công chức và người lao động (hoặc cho từng bộ phận trực thuộc) theo nguyên tắc phải gắn với hiệu quả, kết quả công việc của từng người (hoặc từng bộ phận trực thuộc). Người nào, bộ phận nào có thành tích đóng góp để tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được trả thu nhập tăng thêm cao hơn; không thực hiện việc chia thu nhập tăng thêm cào bằng bình quân hoặc chia theo hệ số lương. Mức chi trả cụ thể do Thủ trưởng cơ quan quyết định sau khi thống nhất ý kiến với tổ chức công đoàn cơ quan.

Quỹ tiền lương để trả thu nhập tăng thêm một năm được xác định theo công thức:

QTL = Lmin x K1 x K2 x L x 12 tháng, Trong đó:

-QTL: Là Quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ của cơ quan được phép trả  tăng thêm tối đa trong năm;

-Lmin: Là mức lương cơ sở  (đồng/tháng) hiện hành do nhà nước quy định;

-K1: Là hệ số điều chỉnh tăng thêm thu nhập (tối đa không quá 1, 0 lần);

-K2: Là hệ số lương ngạch, bậc, chức vụ bình quân của cơ quan;

-L: Là số biên chế được giao và số lao động hợp đồng không xác định thời hạn đối với một số chức danh theo quy định của pháp luật và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

                                 THUỲ DƯƠNG

08/07/2014 2:00 CHĐã ban hành
Lợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tửLợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tử
Ngày 13/6/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020. Quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2022; khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này trước ngày 01/7/2022.

Lợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tử

Đối với tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ:

Giúp người mua dễ dàng tra cứu và đối chiếu được hóa đơn điện tử do người bán cung cấp.

Sử dụng hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí hơn so với sử dụng hóa đơn giấy (giảm chi phí in, mực in, vận chuyển, lưu trữ hóa đơn, không cần không gian lưu trữ hóa đơn, …).

Giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuần thủ thủ tục hành chính thuế.

Khắc phục rủi ro làm mất, hỏng, cháy khi sử dụng hóa đơn giấy.

Sử dụng hóa đơn điện tử tạo sự yên tâm cho người mua hàng hóa, dịch vụ: sau khi nhận hóa đơn điện tử, người mua hàng hóa, dịch vụ có thể kiểm tra ngay trên hệ thống của cơ quan thuế để biết chính xác thông tin về hóa đơn người bán gửi cơ quan thuế.

Đối với tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ:

Việc thực hiện đúng các quy định về hóa đơn, chứng từ của các tổ chức, cá nhân giúp tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân nộp thuế, từ đó giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi.

Giảm thủ tục hành chính liên quan tới hóa đơn; giảm chi phí liên quan tới việc gửi, bảo quản, lưu trữ hóa đơn và giảm rủi ro về việc mất hóa đơn.

Đối với xã hội:

Góp phần chuyển đổi cách thức phục vụ người dân, phương thức quản lý, tổ chức thực hiện của cơ quan thuế theo hướng tự động nhằm cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi, giảm chi phí, tăng năng xuất hoạt động của doanh nghiệp.

Việc thực hiện đúng các quy định về hóa đơn, chứng từ của các tổ chức, cá nhân giúp tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân nộp thuế, từ đó giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi.

Đẩy mạnh sự phát triển thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới.

Triển khai hóa đơn điện tử là một trong các nội dung quan trọng nhằm thúc đẩy trong chuyển đổi số tại các doanh nghiệp, chuyển đổi số đối với cơ quan tài chính cũng như trong các cơ quan nhà nước khác.

Mang nhiều lợi ích chung cho xã hội, như: tiết kiệm chi phí, tài nguyên, nguồn lực và bảo vệ môi trường.

Đối với cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan:

Sử dụng hóa đơn điện tử giúp cơ quan thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn; kết hợp với các thông tin quản lý thuế khác để xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về người nộp thuế đáp ứng yêu cầu phân tích thông tin phục vụ điều hành, dự báo, hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ luật về thuế và quản lý rủi ro trong quản lý thuế.

Góp phần thay đổi phương thức quản lý trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến các quy trình nghiệp vụ theo hướng xử lý, kiểm soát dữ liệu tự động giúp cơ quan thuế sử dụng hiệu quả nguồn lực, chi phí, ...

Góp phần ngăn chặn kịp thời hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích; góp phần ngăn chặn tình trạng gian lận thuế, trốn thuế.

Lợi ích của việc sử dụng hóa đơn có mã của cơ quan thuế:

Hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế có độ chính xác và tính bảo mật cao. Giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và nhân lực.

Tổ chức, doanh nghiệp không cần phải nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn khi đăng ký sử dụng hóa đơn có mã của cơ quan thuế. Tránh được việc nộp chậm, không nộp báo cáo dẫn đến bị xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn.

Mã số xác thực có trên mỗi hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế giúp doanh nghiệp tăng độ uy tín khi giao dịch với khách hàng. Bằng cách tra mã xác thực trên hóa đơn tại website của cơ quan thuế, doanh nghiệp và khách hàng có thể biết nguồn gốc hóa đơn. Hơn nữa, sử dụng hóa đơn điện tử xác thực giúp ngăn chặn gian lận hóa đơn trong công tác quản lý thuế./.

TH


15/03/2022 6:00 SAĐã ban hành
Tăng cường phòng bệnh Dịch tả heo Châu PhiTăng cường phòng bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Bệnh Dịch tả heo Châu Phi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh và xảy ra ở mọi loài heo (cả heo nhà và heo hoang dã); lây nhiễm ở mọi lứa tuổi. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút gây bệnh dịch tả heo Châu Phi có sức đề kháng cao với môi trường. Heo khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài. Bệnh Dịch tả heo không lây lan trên người.

Bệnh chủ yếu truyền lây qua con người và phương tiên vận chuyển là 02 yếu tố quan trọng làm lây lan bệnh trên diện rộng. Triệu chứng bệnh heo sốt, thân nhiệt cao hơn 40oC, không ăn, nôn mửa, ủ rũ, lười vận động, nằm chồng đống; có thể hôn mê, có biểu hiện đau vùng bụng, vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới ngực và bụng, … có thể có màu đỏ sẫm, xanh tím.

Từ đầu năm đến nay dịch bệnh Dịch tả heo Châu Phi xảy ra tại 44 hộ thuộc 24 xã, thị trấn thuộc 10 huyện/thành phố: Tân Hưng, Thủ Thừa, thành phố Tân An, Tân Trụ, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Vĩnh Hưng, Đức Hòa và Cần Đước với tổng số heo tiêu hủy là 1.118 con. Dịch bệnh diễn biến phức tạp và có chiều hướng lây lan nhanh trên địa bàn tỉnh, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh, bảo vệ sản xuất, tiêu thụ thịt heo... Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản khuyến cáo các hộ chăn nuôi heo cần thực hiện ngay một số nội dung sau:

Thứ nhất: Hiện nay chưa có vắc-xin và thuốc điều trị bệnh Dịch tả heo Châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh bằng các biện pháp an toàn sinh học là chính.

Thứ hai: Người tiêu dùng chỉ mua thịt heo có nguồn gốc rõ ràng, không chế biến thịt gần khu vực chuồng nuôi.

Thứ ba: Thực hiện 5 "KHÔNG"

+ KHÔNG GIẤU DỊCH

+ KHÔNG MUA BÁN, VẬN CHUYỂN HEO BỆNH, HEO CHẾT

+ KHÔNG GIẾT MỔ, TIÊU THỤ THỊT HEO BỆNH, THỊT HEO CHẾT

+ KHÔNG VỨT HEO CHẾT RA MÔI TRƯỜNG

+ KHÔNG SỬ DỤNG THỨC ĂN DƯ THỪA NUÔI HEO MÀ KHÔNG QUA XỬ LÝ NHIỆT

Thứ tư: Khi phát hiện có heo bệnh, chết phải cách ly và báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan thú y. Không bán chạy heo bệnh hoặc vứt xác ra môi trường làm lây lan dịch bệnh.

Trên đây là một số biện pháp về phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi, đề nghị các hộ chăn nuôi cần lưu ý thực hiện ngay.

Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, thị xã, thành phố hoặc Chi cục Chăn nuôi Thú y và Thủy sản Long An, số 60 Quốc lộ 1, Phường 2, thành phố Tân An; điện thoại: (0272) 3838146./.

TH


28/10/2021 11:00 SAĐã ban hành
Hỗ trợ tiền thuê nhà đối với người lao động đang làm việc trong doanh nghiệpHỗ trợ tiền thuê nhà đối với người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp
Nhằm góp phần hỗ trợ Người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, thiếu hụt lao động và hỗ trợ Người sử dụng lao động giảm chi phí, từng bước thích ứng với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất, kinh doanh, ổn định việc làm cho người lao động; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1131/KH-UBND ngày 14/4/2022 về triển khai thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho Người lao động, cụ thể như sau:

1. Nội dung chính sách: Hỗ trợ tiền thuê nhà đối với người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp.

2. Đối tượng được hưởng

Người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau:

- Ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2022 đến ngày 30/6/2022.

- Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 01 tháng trở lên được giao kết và bắt đầu thực hiện trước ngày 01/4/2022.

- Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì phải có tên trong danh sách trả lương của doanh nghiệp của tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

3. Mức, thời gian hỗ trợ và phương thức chi trả

- Mức hỗ trợ: 500.000 đồng/người/tháng.

- Thời gian hỗ trợ: Tối đa 3 tháng.

- Phương thức chi trả: Hàng tháng.

Theo Kế hoạch số 1131/KH-UBND tỉnh, để nhận được chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà theo quy định của Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, Người lao động phải chủ động đề nghị, kê khai, cung cấp thông tin theo Mẫu do Người sử dụng lao động cung cấp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của nội dung kê khai./.

TH


19/04/2022 7:00 SAĐã ban hành
Long An: Tiếp tục áp dụng biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16 thêm 14 ngày kể từ 00 giờ ngày 02/8/2021Long An: Tiếp tục áp dụng biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16 thêm 14 ngày kể từ 00 giờ ngày 02/8/2021
Ngày 01/8/2021, UBND tỉnh có văn bản số 7658/UBND-VHXH về việc tiếp tục áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐ-TTg  ngày 31/7/2021 về phòng, chống Covid-19 và Công văn số 5255/VPCP-KGVX ngày 31/7/2021 của Văn phòng Chính phủ về việc bổ sung nội dung Công điện số 1063/CĐ-TTg, UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện như sau:

1. Tiếp tục áp dụng biện pháp giãn cách xã hội trên phạm vi toàn tỉnh theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ và các biện pháp phòng, chống dịch theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 7030/UBND-VHXH ngày 18/7/2021 và Công văn số 7427/UBND-VHXH ngày 27/7/2021 thêm 14 ngày kể từ 00 giờ ngày 02/8/2021.

2. Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố phải thực hiện nghiêm, nhất quán theo phương châm chỉ có thể thực hiện cao hơn, sớm hơn phù hợp theo tình hình thực tiễn tại địa phương, đơn vị. Các địa phương thuộc "vùng xanh" chủ động phối hợp, hỗ trợ, chi viện phù hợp cho các địa phương thuộc "vùng đỏ", quyết tâm giữ vững thành quả chống dịch, không để dịch bệnh lây lan trên địa bàn tỉnh.

Tuyên truyền rộng rãi, kiểm soát nghiêm ngặt và thực hiện ngay các biện pháp hỗ trợ cần thiết về đời sống, y tế để người dân an tâm "ai ở đâu ở đấy". Tuyệt đối không để người dân di chuyển khỏi tỉnh từ sau ngày 31/7/2021 tới khi hết giãn cách (trừ những người được chính quyền cho phép).

3. Sở Y tế, UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ động phối hợp với nhau và với các cơ quan, đơn vị liên quan tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ sau:

- Tổ chức tốt hệ thống, mạng lưới chăm sóc, điều trị người bị nhiễm vi rút SARS-CoV-2 theo các tầng điều trị; tập trung và ưu tiên năng lực, nâng cao chất lượng điều trị, đặc biệt là đối với các bệnh nhân diễn tiến nặng, hạn chế tối đa các trường hợp tử vong.

Tổ chức hỗ trợ y tế cần thiết cho mọi người dân, đảm bảo kịp thời, an toàn, hiệu quả.

- Tổ chức tiêm vắc-xin nhanh, đúng đối tượng, an toàn, hiệu quả, không để vắc-xin hết hạn; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng xin cho, lựa chọn vắc-xin, lợi dụng chức trách để tiêm cho người không đúng đối tượng và các tiêu cực khác trong việc tiêm vắc-xin. Xử lý nghiêm, kịp thời theo pháp luật các trường hợp vi phạm. Người đứng đầu các địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác phòng chống dịch bệnh, trong đó có việc tiêm vắc-xin.

- Tăng cường huy động đội ngũ cán bộ y tế (nhất là lực lượng hồi sức cấp cứu) không phân biệt công, tư, các cán bộ, nhiên viên y tế đã về hưu, các lực lượng thanh niên tình nguyện... tham gia công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Có biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng, số lượng bác sỹ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên. Có kế hoạch và kịp thời chi viện cho các địa phương có tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, có số lượng ca mắc cao.

- Chú trọng chăm lo động viên tinh thần, đảm bảo phương tiện phòng hộ, hỗ trợ vật chất đối với lực lượng y tế và các lực lượng trực tiếp chống dịch. Có phương án sử dụng hợp lý lực lượng y tế, những nơi không nhất thiết cần nhân viên y tế thì hướng dẫn các lực lượng khác và nhân dân thực hiện.

- Xây dựng kế hoạch và thực hiện mua sắm vật tư, thiết bị y tế theo quy định tại Nghị quyết số 79/NQ-CP ngày 22/7/2021 của Chính phủ về việc mua sắm thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị, phương tiện phục vụ phòng, chống dich Covid-19, Công văn số 4841/BTC-HCSN ngày 12/5/2021 của Bộ Tài chính về việc nguồn kinh phí, cơ chế mua sắm trong điều kiện có dịch Covid-19 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đảm bảo kịp thời, đúng quy định, tuyệt đối không để tiêu cực trong mua sắm.

4. Sở Công Thương phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức hỗ trợ cung cấp ngay, đủ lương thực, thực phẩm cho tất cả những người lao động nghèo, mất thu nhập, không còn dự trữ. Không để người dân nào thiếu ăn, thiếu mặc.

5. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Giao thông vận tải, các ngành chức năng và các địa phương triển khai thực hiện Kế hoạch số 2450/KH-UBND ngày 30/7/2021 của UBND tỉnh về hỗ trợ tiếp nhận người dân bị ảnh hưởng của dịch Covid 19 trở về từ Thành phố Hồ Chí Minh, đảm bảo đúng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐ-TTg  ngày 31/7/2021.

6. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương có phương án đảm bảo sản xuất đời sống, an sinh xã hội, trật tự xã hội theo các kịch bản dịch bệnh; sẵn sàng cho tình huống dịch diễn biến xấu.

7. Sở Y tế, Sở Thông tin và Truyền thông hướng dẫn, chỉ đạo công khai, minh bạch, kịp thời mọi thông tin về phòng, chống dịch để nhân dân biết, ủng hộ và tích cực tham gia, thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.

8. Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An tiếp tục tăng cường, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền các quy định, biện pháp phòng, chống dịch và diễn biến tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh để mọi người dân đều nắm biết và tự giác thực hiện nghiêm túc, đầy đủ.

9. Công an tỉnh chỉ đạo xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định về phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là hành vi không chấp hành đúng các quy định về giãn cách xã hội và đưa thông tin sai sự thật ảnh hưởng tiêu cực tới công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh.

Yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung chỉ đạo trên; kịp thời báo cáo các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu để xảy ra các trường hợp không chấp hành nghiêm quy định trên địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách./.

7658_Tiep tuc CT 16.pdf

TH


01/08/2021 5:00 CHĐã ban hành
Sổ tay sức khỏe Covid-19Sổ tay sức khỏe Covid-19
Sổ tay sức khoẻ phòng chống dịch Covid-19 do đội ngũ bác sĩ, giảng viên và đoàn viên thanh niên Trường Đại học Y Dược TP. HCM biên soạn, thiết kế nhằm góp phần tuyên truyền, hướng dẫn mọi người cách bảo vệ sức khoẻ mùa dịch để cùng chung tay đẩy lùi dịch Covid-19 đang hết sức căng thẳng hiện nay.


29/07/2021 10:00 CHĐã ban hành
Long An: các địa phương “Vùng xanh” thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg kể từ 00 giờ 00 ngày 07/9/2021Long An: các địa phương “Vùng xanh” thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg kể từ 00 giờ 00 ngày 07/9/2021
Sau 50 ngày thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát. Trước tình hình trên, UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện như sau:

1. Tiếp tục thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành, Thủ Thừa và thành phố Tân An đến hết ngày 13/9/2021.

Các biện pháp phòng, chống dịch được áp dụng: thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 8603/UBND-VHXH ngày 30/8/2021; trong đó lưu ý:

- Duy trì các trạm, chốt kiểm soát phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn đã được thành lập theo Kế hoạch số 2727/KH-SCH ngày 19/8/2021 của Sở Chỉ huy phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh, đặc biệt là các trạm, chốt bố trí tại các điểm kết nối giữa các địa phương thuộc "vùng đỏ" với các địa phương còn lại.

- Tất cả các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của tỉnh, của Trung ương đóng trên địa bàn tiếp tục tổ chức làm việc trực tuyến tại nhà (tối thiểu 50% tổng số cán bộ công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị). Đối với số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được phân công làm việc trực tiếp tại cơ quan, đơn vị thì được đi, về hàng ngày nhưng phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

2. Áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn thị xã Kiến Tường và các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ, Tân Trụ kể từ 00 giờ 00 ngày 07/9/2021 cho đến khi có thông báo mới.

Các biện pháp phòng, chống dịch được áp dụng:

a) Không tập trung trên 10 người ngoài phạm vi công sở và trường học, bệnh viện; thực hiện nghiêm việc giữ khoảng cách tối thiểu 2m khi giao tiếp.

b) Tiếp tục tạm dừng các hoạt động hội họp, sự kiện không thật sự cần thiết tập trung trên 20 người trong 01 phòng.

c) Tiếp tục dừng các nghi lễ tôn giáo, hoạt động tập trung trên 10 người tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, thờ tự.

d) Tiếp tục tạm dừng hoạt động của chợ truyền thống.

đ) Các cơ sở dịch vụ nhà hàng; cơ sở dịch vụ ăn, uống, giải khát được hoạt động nhưng chỉ phục vụ mang về, không phục vụ tại chỗ và phải đảm bảo các quy định phòng, chống dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế.

e) Nhà máy, cơ sở sản xuất; công trình giao thông, xây dựng; cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu (lương thực, thực phẩm, dược phẩm; xăng, dầu; điện; nước; nhiên liệu,...); cơ sở giáo dục, ngân hàng, kho bạc, các cơ sở kinh doanh dịch vụ trực tiếp liên quan đến hoạt động ngân hàng và bổ trợ doanh nghiệp (công chứng, luật sư, đăng kiểm, đăng ký giao dịch bảo đảm...), chứng khoán, bưu chính, viễn thông, dịch vụ hỗ trợ vận chuyển, xuất, nhập khẩu hàng hóa, khám bệnh, chữa bệnh, tang lễ... được hoạt động. Người đứng đầu các cơ sở nêu trên chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tuyệt đối và thực hiện đầy đủ các biện pháp chống dịch theo quy định và hướng dẫn của cơ quan y tế; trong đó lưu ý đảm bảo yêu cầu 5K của Bộ Y tế và khoảng cách tối thiểu 2m khi tiếp xúc.

g) Tiếp tục tạm dừng hoạt động vận chuyển hành khách công cộng.

h) Tiếp tục tạm dừng việc tiếp nhận hồ sơ trực tiếp tại Trung tâm hành chính công huyện, thị xã. Trường hợp có nhu cầu cần giải quyết, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ thông qua hình thức dịch vụ công trực tuyến và dịch vụ bưu chính công ích.

k) Tiếp tục duy trì hoạt động các trạm, chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid-19 tại các vị trí ra, vào giữa các địa phương, đặc biệt tại vị trí kết nối giữa các địa phương đang thực hiện Chỉ thị 15 với các địa phương thực hiện Chỉ thị 16 và giữa các địa phương đang thực hiện Chỉ thị 15 với nhau.

Ngoài các biện pháp trên, giao Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định áp dụng bổ sung các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp với tình hình dịch bệnh trên địa bàn, báo cáo Ban Chỉ đạo tỉnh và UBND tỉnh.

3. Giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Giao thông vận tải, UBND các huyện, thị xã, thành phố rà soát, duy trì các trạm, chốt cần thiết theo Kế hoạch số 2727/KH-SCH ngày 19/8/2021 của Sở Chỉ huy phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh để bảo vệ "vùng xanh" và hạn chế tối đa việc ra, vào "vùng đỏ".

4. Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao chủ động phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện từng nội dung, nhiệm vụ, biện pháp phòng, chống dịch được quy định tại mục 1, mục 2 của Văn bản này, đảm bảo nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả.

5. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền để tất cả người dân, các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định nêu trên theo chỉ đạo của UBND tỉnh.

6. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể tỉnh tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo trong hệ thống đẩy mạnh việc vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tự giác thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống dịch được quy định tại Văn bản này và các văn bản khác có liên quan của chính quyền địa phương các cấp.

Theo nội dung trên, yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện./.

8812_BP PC dich 6-9-2021.pdf

TH


06/09/2021 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​