Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Tuyên Truyền

Thông tin du học

Website

centralreal.vn - everon - cửa cuốn đài loan - Lắp internet FPT - thiết kế logo - Chuyển nhà trọn gói - Dịch vụ chuyển nhà - Dịch vụ chuyển nhà - danhthucvedeptunhien.comin catalogue - vinhomes - Nội thất UMA - canhovinhomesquan9.com.vn
BeeCostbatdongsanexpress.vn123Muawww.novalandagent.com.vn - xe đạp tập gym - két sắt mini - Hà đô charm villas An Khánh - Vnrep - novaworldvietnam - beat nha dat - chuyển văn phòng trọn gói - dịch vụ chuyển nhà - invert.vn - Bảo hiểm xã hội điện tử - phutungotochinhhang.vn - in card visitvăn phòng luật - Du lịch Sapa - Du thuyền Hạ Long - Tour Hạ Long - nệm dunlopillo - ghế sofa hiện đại - khosim.com - giặt nệm tại nhà Aplite - atvstp.org.vn - vé máy baydịch vụ chuyển nhà trọn gói - két sắt việt tiệp - Blog SEO VietmozDịch vụ chuyển nhà - Chuyển nhà văn phòng trọn gói - https://kythuatdienviet.com/ - Cảm biến nhiệt độ - Ổ cắm công nghiệp - Cảm biến đo ẩm đất - Cảm biến đo ẩmIn tem bao hanh - sim so dep simgiagoc
kientrucnoithatamg.com/amg/thiet-ke-kien-truc/ - HAKAWAChuyển nhà trọn gói Blog thi bằng lái xe -  Đồng hồ đo áp suấtQuạt trần đènDịch vụ chuyển văn phòng trọn góiChuyển nhà trọn góiDịch vụ chuyển nhà trọn góiDịch vụ chuyển nhàISO 9001Quạt trầnLuật sư tư vấn ly hôn - New galaxyNovaworld hồ tràmCảm biến đo áp suấtđại lý vé máy bay -  Đồ phượt giá rẻThiết kế nội thất Chứng chỉ năng lực xây dựng - Đăng ký thương hiệu - Biệt thự west lakes golf & villas -  Thành lập công tyThiết bị cảm biếnVăn phò​ng phẩm​ - ISO 22000​​ ​- Đấu thầu qua mạng​ - Century City

 
Thông Tin Tuyên Truyền
 
Để đáp ứng công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong trạng thái “bình thường mới”, đảm bảo chung sống an toàn với dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu kép, Bộ Y tế xây dựng hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 tại các hộ gia đình, như sau: 
 
I. Mua bán người là gì?Mua bán người (hay buôn bán người) là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bốc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương, hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát nhữn... 
 
1. Quân đội thực hiện nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nướcTham gia lao động sản xuất là một trong những chức năng cơ bản của quân đội ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của bộ đội Cụ Hồ trong các thời kỳ cách mạng; đồng thời, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong giai... 
 
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội. 
 
​I. BỐI CẢNH, HÌNH THỨC TỔ CHỨC KỲ HỌPKỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV diễn ra từ ngày 20/10 đến ngày 17/11/2020 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức từ đại dịch Covid -19, thiên tai và bão lũ xảy ra ở miền Trung để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 n... 
 
Hướng về Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI nhiệm kỳ 2020 - 2025, thành phố Tân An đã hoàn thành nhiều công trình có ý nghĩa thiết thực, góp phần quan trọng vào sự phát triến kinh tế - xã hội của địa phưong. 
 
Tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) là quyền lợi và trách nhiệm của học sinh, sinh viên 
 
Huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An có địa thế chiến lược đặc biệt quan trọng, nằm án ngữ tuyến đường hành lang biên giới Việt Nam – Campuchia, nối miền Đông và miền Tây Nam Bộ, dựa lưng vào nước bạn Campuchia nên rất tiện lợi trong việc phòng thủ, tấn công địch ở khu vực biên giới. Trong đó, khu vực Long Khốt nằm về hướng Đông Bắc thị trấn Vĩnh Hưng, sát biên giới Campuchia, là điểm trọng yếu chiến lược hàng đầu trên tuyến hành lang biên giới của huyện. Chính vì vậy, trong suốt giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, khu vực Long Khốt là chiến trường ác liệt giữa ta và địch. Trong quá trình đó, có 3 trận đánh tiêu biểu nhất là:  
 
Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Tài liệu tuyên truyền về 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2021). Cổng TTĐT tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn tài liệu tuyên truyền. 
 
Giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu là một nhà cách mạng, nhà giáo ưu tú, nhà nghiên cứu khoa học lỗi lạc, người cống hiến cả cuộc đời cho đất nước đến hơi thở cuối cùng. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Số điện thoại đường dây nóng của Long An về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19Số điện thoại đường dây nóng của Long An về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19
Sở Y tế tỉnh Long An thông báo số điện thoại đường dây nóng về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19, như sau:

5-2-2020--duong-day-nong-1.jpg

5-2-2020--duong-day-nong-2.jpg

05/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Giáo sư Trần Văn Giàu (16/12/2010 – 16/12/2020)Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Giáo sư Trần Văn Giàu (16/12/2010 – 16/12/2020)
Giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu là một nhà cách mạng, nhà giáo ưu tú, nhà nghiên cứu khoa học lỗi lạc, người cống hiến cả cuộc đời cho đất nước đến hơi thở cuối cùng.

tran-van-giau-1473952372.jpg

Cố giáo sư Trần Văn Giàu lúc sinh thời tại nhà riêng - Ảnh: Giản Thanh Sơn

Giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu là một nhà cách mạng, nhà giáo ưu tú, nhà nghiên cứu khoa học lỗi lạc, người cống hiến cả cuộc đời cho đất nước đến hơi thở cuối cùng. Ông sinh ngày 11/9/1911, trong một gia đình trung lưu ở xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. 

Năm 1925, ông lên Sài Gòn học trường trung học Chasseloup Laubat. Năm 1928, sau khi lấy bằng Tú tài, ông được gia đình cho sang Pháp du học tại trường Đại học Toulouse. Tháng 3/1929, ông bí mật tham gia Đảng Cộng sản Pháp và hoạt động tích cực trong phong trào đấu tranh của du học sinh và công nhân người Việt ở thành phố Toulouse. Năm 1930, ông tham gia biểu tình trước dinh Tổng thống Pháp ở Paris đòi hủy bỏ án tử hình đối với các thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Trong cuộc biểu tình này, ông bị thực dân Pháp bắt và bị trục xuất về Việt Nam. 

Về nước, ông tiếp tục hoạt động cách mạng tại Sài Gòn – Chợ Lớn, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, được phân công phụ trách Ban học sinh và Ban phản đế của Xứ ủy Nam Kỳ. Năm 1931, ông được tổ chức đưa sang Liên Xô học trường Đại học Đông Phương và tốt nghiệp năm 1933 với đề tài "Vấn đề ruộng đất ở Đông Dương". Về Sài Gòn, ông tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia tổ chức lại Xứ ủy Nam Kỳ. 

Ngày 25/6/1935, ông bị thực dân Pháp kết án 5 năm tù, 10 năm quản thúc vì tội "hoạt động lật đổ chính quyền". Tháng 4/1940, ông mãn hạn tù nhưng mấy ngày sau lại bị Pháp bắt, đưa đi an trí tại Tà Lài – một vùng rừng thiêng nước độc thuộc tỉnh Bình Phước. Tháng 3/1942, ông vượt ngục về Sài Gòn tiếp tục hoạt động cách mạng. Từ ngày 13 đến 15/10/1943, Xứ ủy Nam kỳ họp, bầu ông Dương Quang Đông làm Bí thư Xứ ủy. Ông Dương Quang Đông tuyên bố chỉ tạm nhận chức và sẽ giao lại trọng trách Bí thư Xứ ủy cho đồng chí Trần Văn Giàu.

Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 thành công ở Nam Bộ có công lao to lớn của Bí thư Xứ ủy kiêm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Trần Văn Giàu. Năm 1946 – 1948, ông được Trung ương điều sang giúp bạn xây dựng lực lượng kháng chiến ở Campuchia. Năm 1949, ông về nước, được cử làm Tổng giám đốc Nha thông tin.

Năm 1951, Bộ Giáo dục chủ trương thành lập Trường Dự bị đại học ở vùng kháng chiến Thanh – Nghệ - Tĩnh rộng lớn, từ một cán bộ chính trị, ông Trần Văn Giàu chuyển sang làm giáo sư đại học. Năm 1954, sau khi tiếp quản thủ đô, ông được cử làm khoa Trưởng khoa văn – sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Giữa năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nhưng vẫn tham gia đào tạo ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Những năm 1962 – 1975, ông công tác tại Viện Sử học thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam. Từ năm 1975, ông tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Với những cống hiến, những công trình nghiên cứu và giảng dạy của mình trên lĩnh vực triết học, sử học và văn học, ông Trần Văn Giàu được phong hàm Giáo sư trong lớp giáo sư đầu tiên của nước ta.

Giáo sư từ trần ngày 16/12/2010, được an táng tại xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành – mảnh đất quê hương đã hun đúc nên khí phách của một người Việt Nam chân chính như ông.

Với 100 tuổi đời, 81 tuổi Đảng, hoạt động cách mạng liên tục và sôi nổi trên nhiều cương vị khác nhau, Giáo sư Trần Văn Giàu đã dâng hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Từ một thanh niên trí thức yêu nước, ông đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành một chiến sĩ cộng sản, một nhà cách mạng kiên cường, kinh qua bao phong ba bão táp của cách mạng nước nhà trong những giai đoạn đầu tiên, vượt qua ngục tù, đòn roi của kẻ thù, lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và các tỉnh Nam Bộ thành công; rồi theo sự phân công của Đảng, ông trở thành một trong những người đầu tiên khai sáng ra nền giáo dục đại học của nước nhà, trở thành người thầy của những người thầy, cây đại thụ của khoa học xã hội và nhân văn nước nhà. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng quang vinh của Giáo sư Trần Văn Giàu là biểu tượng cho hào khí quật cường và tinh thần bất khuất của đất và người Nam Bộ nói chung, của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An nói riêng trong sự nghiệp đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc và xây dựng Tổ quốc. Với Đảng bộ và nhân dân Long An, Giáo sư Trần Văn Giàu thực sự là niềm tự hào, là tấm gương sáng để các thế hệ hôm nay và mai sau noi theo, học tập, kế thừa.

Sau ngày Giáo sư Trần Văn Giàu từ trần, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Tỉnh ủy Long An đã chung tay xây dựng khu mộ Giáo sư và gia tộc, trồng cây cảnh quanh khu mộ để tri ân và tôn vinh người đã có đóng góp lớn lao đối với lịch sử và văn hóa của nước nhà. Cùng với Nhà thờ tộc Trần, khu mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu đã trở thành địa điểm lưu niệm về Giáo sư và là nơi tham quan, học tập bổ ích đối với nhân dân trong và ngoài tỉnh. UBND tỉnh Long An cũng đã ký Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 23/8/2012 xếp hạng Khu Lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu là di tích cấp tỉnh. Thành phố Hồ Chí Minh còn tài trợ kinh phí để xây dựng Nhà Lưu niệm Giáo sư tại di tích./.

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch


15/12/2020 9:00 SAĐã ban hành
30 năm ứng phó và cơ hội chấm dứt đại dịch AIDS tại Việt Nam30 năm ứng phó và cơ hội chấm dứt đại dịch AIDS tại Việt Nam
Năm 2020 là dịp kỷ niệm 30 năm phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam (1990-2020).

Tại sao năm 2020 Việt Nam lại chọn chủ đề "30 năm ứng phó và cơ hội chấm dứt đại dịch AIDS tại Việt Nam"?

Kể từ khi người nhiễm HIV được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1990, đến năm 2020 Việt Nam đã có 30 năm chính thức ứng phó với dịch HIV/AIDS.

Ngày 14/8/2020, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS cho giai đoạn tới trong đó có mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 .

Do vậy Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2030 là một dấu mốc quan trọng để Việt Nam cùng các đối tác nhìn lại các thành quả mà chương trình phòng, chống HIV/AIDS đã đạt được trong suốt 30 năm qua, những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam đã đạt được.

Những kết quả đã đạt được trong suốt 30 năm qua trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS, những bài học kinh nghiệm và Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính là những cơ hội chấm dứt dịch bệnh AIDS ở Việt Nam vào năm 2030.

Việt Nam đã làm được những gì trong phòng, chống HIV/AIDS trong 30 năm qua?

Trong 30 năm qua, Việt Nam đã có những ứng phó một cách toàn diện với công tác phòng, chống HIV/AIDS, có thể tóm tắt một số thành tựu cơ bản sau:

Về tổ chức, chúng ta đã có một hệ thống tổ chức phòng, chống HIV/AIDS rất chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương. Tại Trung ương có Ủy ban Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy mại dâm với các thành viên là lãnh đạo của các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể. Việc thành lập một Ủy ban đã thể hiện rõ quan điểm cần phải phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS. Ngành y tế - cơ quan thường trực phòng, chống HIV/AIDS cũng đã có những đáp ứng về tổ chức một cách linh hoạt trong suốt 30 năm qua để có thể tham mưu và tổ chức thực hiện tốt các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Từ hướng dẫn của Trung ương, tại các địa phương cũng đã có một hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tương tự để đảm bảo vận hành việc ứng phó với đại dịch một cách hiệu quả.

Về cam kết chính trị và hành lang pháp lý, có thể nói Việt Nam đã tham dự tất cả các hội nghị thượng đỉnh về HIV/AIDS và luôn là một trong những quốc gia đầu tiên ký các cam kết về phòng, chống HIV/AIDS do Thế giới và khu vực đề xuất, phát động. Việt Nam trong suốt 30 năm qua cũng được Thế giới ghi nhận có hành lang pháp lý cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS khá hoàn chỉnh. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã hai lần ban hành Chỉ thị của Ban Bí thư với công tác Phòng, chống HIV/AIDS. Luật phòng, chống HIV/AIDS ra đời lần đầu tiên vào năm 2006 cũng đánh dấu như là một trong quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành một dự luật về bệnh AIDS. Ngoài ra trong 30 năm, cũng đã ba lần Chính phủ Việt Nam ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống AIDS, hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật bao gồm Chỉ thị, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các Thông tư, hướng dẫn chuyên môn đã được ban hành đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác phòng chống HIV/AIDS; đảm bảo tính thống nhất chỉ đạo, huy động đa ngành và tăng cường thu hút đầu tư quốc tế vào công tác phòng chống HIV/AIDS.

Việc cung cấp các dịch vụ về phòng, chống HIV/AIDS liên tục được cập nhật, đổi mới, áp dụng các sáng kiến và khuyến cáo mới nhất của các tổ chức quốc tế giúp mở rộng về độ bao phủ và tăng cường về chất lượng các dịch vụ. Những năm gần đây, Việt Nam mỗi năm xét nghiệm cho khoảng 3 triệu lượt khách hàng; tổ chức giám sát ca bệnh thường xuyên và giám sát trọng điểm hàng năm; các hoạt động truyền thông triển khai đa dạng hình thức, phong phú về nội dung; triển khai các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm bơm kim tiêm sạch, bao cao su, chất bôi trơn; dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV cho hàng triệu người; triển khai điều trị nghiện bằng thuốc thay thế cho hàng trăm ngàn người nghiện chất dạng thuốc phiện; điều trị cho người nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV cho hơn 150 ngàn người; ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; an toàn truyền máu; dự phòng các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục…

Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong phòng, chống HIV/AIDS cũng đã có bước tiến đáng kể trong suốt 30 năm qua. Ngay từ giai đoạn đầu người nhiễm HIV đã thành lập và tham gia của các nhóm tự lực và sau đó thành lập các mạng lưới, các tổ chức cộng đồng. Hiện nay ngoài các tổ chức phi chính phủ, có hàng trăm các tổ chức cộng đồng, các mạng lưới của người có hành vi nguy cơ cao, người nhiễm HIV tham gia cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS. Nhiều tổ chức xã hội đã đã ký kết các hợp đồng với các dự án để cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS và trở thành các đối tác chính trong cung cấp một số các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS. Báo cáo quốc gia về việc thực hiện tuyên bố cam kết về HIV/AIDS đã ước tính trong 2 năm 2008-2009 các tổ chức xã hội dân sự đã tham gia đóng góp khoảng 25-50% số các dịch vụ đã được cung cấp cho các nhóm MSM, trẻ mồ côi và trẻ dễ tổn thương (OVC), các hoạt động giảm kỳ thị và phân biệt đối xử, và 51-75% các dịch vụ chăm sóc dựa vào cộng đồng/gia đình. Ngoài ra, các tổ chức xã hội cũng đang tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách, quản lý điều hành và giám sát các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS quốc gia. Có thể nói, sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo đã không chỉ góp phần tăng cường cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS cho cộng đồng đích, đưa cộng đồng đích từ người thụ động hưởng lợi của chương trình trở thành đối tác và người chủ động tham gia các hoạt động và góp phần giảm sự phân biệt đối xử của xã hội đối với người nhiễm HIV/AIDS và người có hành vi nguy cơ cao.

Hợp tác quốc tế cũng là điểm sáng trong phòng, chống HIV/AIDS suốt 30 năm qua. Ngay từ đầu vụ dịch, Việt Nam đã tranh thủ và nhận được sự hỗ trợ to lớn của các tổ chức quốc tế. Chương trình phòng, chống HIV/AIDS đã huy động được nhiều nguồn tài chính quốc tế từ các nhà tài trợ song phương và đa phương như Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID); Chính phủ Pháp hỗ trợ thông qua tổ chức ARNS, Quỹ Clinton, Chương trình hỗ trợ khẩn cấp của Tổng thống Mỹ Hoa Kỳ (PEPFAR) hỗ trợ thông qua các cơ quan thực hiện tại Việt Nam như Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và các đối tác thực hiện thuộc CDC và USAID; Quỹ Toàn cầu; Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Các chương trình của Liên hiệp quốc như Chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về phòng, chống HIV/AIDS (UNAIDS), Tổ chức y tế thế giới (WHO); Văn phòng liên hiệp quốc về phòng, chống ma túy và tội pham UNODC…Có những giai đoạn sự hỗ trợ về nguồn lực của các tổ chức quốc tế chiếm tới hơn 70% tổng chi tiêu cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS. Ngoài ra các chương trình, dự án quốc tế đã có những đóng góp quý báu về kĩ thuật để Việt Nam triển khai các sáng kiến mới, các mô hình can thiệp có tính chi phí hiệu quả, giúp Việt Nam thực hiện các mục tiêu đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Nhiều mô hình đã trở thành điểm sáng để các quốc gia trên thế giới học tập.

Với những kết quả đã đạt được trong 30 năm qua, Việt Nam đã kiểm soát tốt đại dịch HIV. Mười ba năm liền, Việt Nam đã chặn đà gia tăng của đại dịch, khống chế dịch trên cả 3 tiêu chí: giảm số người nhiễm mới HIV, giảm số người tử vong do AIDS và giảm số người chuyển sang giai đoạn AIDS; tiến gần đến các mục tiêu 90-90-90 mà chúng ta đã kết tạo cơ hội để kết thúc dịch AIDS tại Việt Nam. 

Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2030 được ban hành - cơ hội chấm dứt đại dịch AIDS tại Việt Nam

Ngày 14/8/2020, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2030 trong đó có mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030. Việc xây dựng Chiến lược mới là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng về công tác phòng, chống HIV/AIDS và phù hợp với tình hình mới. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã đặt ra mục tiêu vào năm 2030 Việt Nam về cơ bản chấm dứt dịch bệnh AIDS. Đây cũng là mục tiêu toàn cầu về phòng, chống HIV/AIDS. Để đạt được mục tiêu này chúng ta phải phấn đấu đưa tỷ lệ người nhiễm HIV xuống dưới 1.000 ca mỗi năm vào năm 2030. Như vậy cần phải đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS để thực hiện mục tiêu to lớn này.

Trong Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 cũng đã đề xuất một số các nhóm giải pháp chủ yếu bao gồm:

Nhóm giải pháp về chính trị xã hội, đây là một trong những nhóm giải pháp quan trọng, trong đó cần phải tăng cường thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS. Nhóm giải pháp này cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chủ động của của địa phương và tham gia của các tổ chức xã hội, tổ chức dựa vào cộng đồng bao gồm cả cộng đồng người nhiễm HIV trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS. 

Nhóm các giải pháp về pháp luật, chế độ chính sách, mặc dù có thể nói Việt Nam đã có một hệ thống pháp lý về phòng, chống HIV/AIDS khá đầy đủ. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn lại có những vấn đề phát sinh nên cần được điều chỉnh bằng văn bản pháp luật và chế độ chính sách phù hợp. Hiện nay, Luật Phòng, chống HIV/AIDS cũng đang được đề xuất sửa đổi, bổ sung để bảo phù hợp với thực tế và đồng bộ với hệ thống pháp luật khác có liên quan. Đồng thời cũng cần tăng cường tổ chức việc phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS cũng như đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.

Các nhóm giải pháp về chuyên môn kỹ thuật như: dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm giảm kỳ thị và phân biệt đối xử; mở rộng và nâng cao chất lượng tư vấn xét nghiệm HIV; tăng cường điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV; đẩy mạnh giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá và nghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng, chống HIV/AIDS là hết sức quan trọng để đảm bảo cho mọi người có khả năng tiếp cận được các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS khi cần thiết. Các nhóm giải pháp này được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với tình hình dịch HIV/AIDS và những tiến bộ khoa học về phòng, chống HIV/AIDS hiện nay.

Các nhóm giải pháp về đảm bảo tài chính; về nguồn nhân lực; về cung ứng thuốc, sinh phẩm thiết yếu và hợp tác quốc tế sẽ là các giải pháp quan trọng cho việc triển khai các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS một cách hiệu quả.

Có thể nói, việc Chính phủ xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia là sự thể hiện sự cam kết rất lớn của Việt Nam với công tác phòng, chống HIV/AIDS và với cộng đồng quốc tế. Nó cũng là sự kế thừa các nội dung của Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS trong các giai đoạn trước đây, đồng thời có sự điều chỉnh, cập nhật và bổ sung những nội dung mới phù hợp với tình hình hiện nay và giai đoạn 2021-2030. Nếu Việt Nam thực hiện tốt 11 nhóm giải pháp được đề ra trong Chiến lược Quốc gia, chúng ta có cơ hội để thực hiện được mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030./.

Theo Sở Y tế Long An


25/11/2020 11:00 SAĐã ban hành
Tài liệu tuyên truyền về 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2021)Tài liệu tuyên truyền về 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2021)
Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Tài liệu tuyên truyền về 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2021). Cổng TTĐT tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn tài liệu tuyên truyền.

I. TỪ QUỐC DÂN ĐẠI HỘI TÂN TRÀO ĐẾN CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN

1. Quốc dân Đại hội Tân Trào - Tiền thân của Quốc hội Việt Nam

Tư tưởng xây dựng một nhà nước kiểu mới mà ở đó nhân dân là người chủ của đất nước đã được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc  - Hồ Chí Minh nhận định trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927): Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc.

Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 10/1944, trước chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới có lợi cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào thông báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân để thành lập một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh thủ ngoại viện của quốc tế nhằm chớp thời cơ thuận lợi thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Vì vậy, giữa tháng 8/1945, khi chủ nghĩa phát xít tuyên bố đầu hàng các nước Đồng minh không điều kiện và lực lượng cách mạng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong cả nước, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 -15/8/1945 để quyết định phát động Tổng khởi nghĩa. 

Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về Nhân dân. Đại hội đại biểu quốc dân đã thông qua ba quyết định lớn:

Thứ nhất, nhất trí tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh;

Thứ hai, thông qua 10 chính sách của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện, trong đó điểm mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập;

Thứ ba, thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Đại hội đã quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa, Quốc ca là bài "Tiến quân ca". Ngày 17/8/1945, Đại hội bế mạc trong không khí sôi nổi của Tổng khởi nghĩa; thay mặt Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ: "Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của Nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước"[1].

Quốc dân Đại hội Tân Trào là mốc son trong lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam, là tiền thân của Quốc hội Việt Nam, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Việt Nam quốc dân đại biểu Đại hội cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập. Đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay. Đó là một điều khiến cho đồng bào ta phấn khởi và riêng tôi hết sức vui mừng"[2].

2. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và những quyết định đi đến ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, nhân dân Việt Nam đã nhất tề nổi dậy. Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày 19/8/1945), Huế (ngày 23/8/1945), Sài Gòn (ngày 25/8/1945). Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để "được làm dân tự do của một nước độc lập".

Ngày 25/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam "một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hoà chính thức".

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 03/9/1945, Chính phủ lâm thời tổ chức phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ "tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…".

Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội và ghi rõ: Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân Đại hội ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945 tại khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên; tiếp theo đó, ban hành Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 02/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử. Công tác chuẩn bị cho Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện thù trong, giặc ngoài; trong bối cảnh nền kinh tế, xã hội hết sức khó khăn. Cuộc Tổng tuyển cử lúc đầu được dự kiến là ngày 23/12/1945, nhưng để thực hiện chủ trương thống nhất và hoà giải, có thêm thời gian cho công tác chuẩn bị và các ứng cử viên có điều kiện nộp đơn, đi vận động tranh cử. Ngày 18/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày chủ nhật, 06/01/1946.

Việc tổ chức Tổng tuyển cử, các ban bầu cử đã được thành lập tới tận làng xã do Uỷ ban nhân dân các cấp trực tiếp đảm nhiệm. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện cho mình, hạn chế những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức.

Ngày 05/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó có đoạn: "Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình"[3].

Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 06/01/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.

3. Một số kết quả của cuộc Tổng tuyển cử 

Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên  cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Hà Nội đã có 91,95% cử tri của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả, có 6 trong số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sôi nổi trên khắp cả nước. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của giặc Pháp.

Tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Trong thành phần của Quốc hội có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái chính trị. 

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Thắng lợi đó là một mốc son đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.

4. Ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có tính chất hợp pháp, dân chủ - nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh cách mạng Việt Nam có nhiều khó khăn chồng chất, nhân dân ta vừa thoát khỏi ách nô lệ nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quyết định tổ chức Tổng tuyển cử và cuộc Tổng tuyển cử thành công là một quyết định sáng suốt, kịp thời, nhạy bén chính trị và khoa học, thực tiễn sâu sắc. Thắng lợi đó là khẳng định đường lối, chủ trương của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta. Đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên, là: "...kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc"[4].

II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

1. Thời kỳ 1946 - 1960

Thời kỳ này, Quốc hội nước ta đã cùng với dân tộc trải qua nhiều khó khăn, gian khó để thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong năm 1946, Quốc hội đã có những hành động quyết liệt để đoàn kết, thống nhất dân tộc, chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.

Kỳ họp thứ nhất, khai mạc vào ngày 02/3/1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Quốc hội đã thực hiện những nhiệm vụ của cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kỳ họp diễn ra trong vòng 04 tiếng đồng hồ, nhưng Quốc hội đã nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Chính phủ khai mạc và báo cáo những công việc đã làm trong thời gian trước đó; biểu quyết thông qua danh sách các thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 người, lập ra Cố vấn đoàn, Kháng chiến ủy viên hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban và quyết định khi Chính phủ muốn tuyên chiến hay đình chiến bắt buộc phải hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội. Đồng thời, tại kỳ họp thứ nhất, để tập hợp các lực lượng đại diện các đảng phái, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị và được toàn thể Quốc hội chấp nhận mở rộng thành phần Quốc hội thêm 70 đại biểu Việt Quốc, Việt Cách không qua bầu cử. Như vậy, tổng số đại biểu Quốc hội khóa I nâng lên thành 403 đại biểu. 

Kỳ họp thứ hai, tổ chức từ ngày 28/10 đến 09/11/1946, vai trò của Quốc hội được thể hiện rõ nét hơn qua việc thực hiện những nhiệm vụ rất quan trọng về đối nội và đối ngoại. Cụ thể là các đại biểu Quốc hội đã chất vấn Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, tài chính, nội vụ, việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, cuộc đàm phán Fontainebleau đi đến Bản Thỏa hiệp tạm thời ngày 14/9/1946.Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hiến pháp 1946 với 240/242 đại biểu biểu quyết tán thành. Đây là bản Hiến pháp đầu tiên phản ánh bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh đang lan rộng, việc chuẩn bị kháng chiến rất khẩn trương; bầu Nghị viện nhân dân theo quy định của Hiến pháp 1946 chưa thể tổ chức được. Quốc hội lập hiến do toàn dân bầu ra ngày 06/01/1946 trở thành Quốc hội lập pháp và kéo dài nhiệm kỳ hoạt động (khóa I) đến năm 1960.

Giai đoạn 1946-1954, Quốc hội đã cùng với Nhân dân thực hiện sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, thực hiện cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, quyết liệt trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Để sự lãnh đạo và điều hành đất nước được tập trung thống nhất, Quốc hội đã giao quyền hạn tập trung vào Chính phủ. Ban Thường trực Quốc hội luôn ở bên cạnh Chính phủ để bàn bạc, tham gia ý kiến về các chủ trương, chính sách lớn và giám sát, phê bình Chính phủ về mọi công việc kháng chiến. Đây là nét rất đặc biệt của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn này - Quốc hội kháng chiến.

Giai đoạn từ 1954-1960, theo Hiệp định Genevơ, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền Bắc - Nam. Trong bối cảnh đó, Quốc hội đã cùng với Nhân dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, như: miền Bắc sau khi giải phóng đã bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, tiến hành đấu tranh giải phóng miền Nam tiến tới hòa bình, thống nhất đất nước.

Quốc hội khóa I diễn ra 14 năm, tổ chức 12 kỳ họp và xem xét, thông qua bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, 16 đạo luật và 50 nghị quyết, trong đó có những đạo luật quan trọng như: Luật Cải cách ruộng đất, Luật quy định quyền tự do hội họp, Luật quy định quyền lập hội, Luật về chế độ báo chí... Đánh giá công lao to lớn của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những đại biểu của nhân dân" tại kỳ họp thứ 12.

2. Thời kỳ 1960 - 1980

Thời kỳ này, Quốc hội hoạt động theo Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960. Đây là thời kỳ Quốc hội hoạt động trong điều kiện miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Hiến pháp 1959 quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của Quốc hội, như: Quốc hội có 17 nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật; giám sát việc thi hành Hiến pháp; bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; theo đề nghị của Chủ tịch nước quyết định cử Thủ tướng Chính phủ; theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ quyết định cử Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; bầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao...

Cơ cấu tổ chức của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1959 bao gồm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban dự án pháp luật, Ủy ban kế hoạch và ngân sách và những ủy ban khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.  Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy viên. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực thi 18 nhiệm vụ, quyền hạn, như: Tuyên bố và chủ trì việc tổng tuyển cử đại biểu Quốc hội; triệu tập Quốc hội; giải thích pháp luật; quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân..Thời kỳ này, Quốc hội đã có 05 khóa hoạt động:

Quốc hội khóa II (1960 - 1964): tổ chức bầu ngày 08/5/1960; tổng số có 453 đại biểu, trong đó có 91 đại biểu miền Nam lưu nhiệm theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I. Đây là nhiệm kỳ đầu tiên nhà nước và nhân dân đi vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân theo đường lối chiến lược do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra. Nhiệm kỳ Quốc hội là 4 năm, có 8 kỳ họp và thông qua 6 đạo luật quan trọng về tổ chức của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 9 pháp lệnh. Quốc hội đã phát huy vai trò quan trọng của mình trong việc động viên sức người, sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Quốc hội đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), thông qua Cương lĩnh hành động của toàn dân nhằm thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; thông qua kế hoạch hằng năm, xét duyệt và phê chuẩn dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước; phê chuẩn việc thành lập các tổ chức và cơ quan nhà nước; bổ nhiệm cán bộ cấp cao của Nhà nước; phê chuẩn việc khen thưởng và đã tích cực giải quyết các đơn thư khiếu tố của Nhân dân, ân xá những phạm nhân cải tạo tốt.

Quốc hội khóa III (1964 - 1971): tổ chức bầu ngày 26/4/1964; tổng số có 453 đại biểu, trong đó có 87 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền Nam được lưu nhiệm. Nhiệm kỳ khóa III của Quốc hội hoạt động trong thời kỳ chiến tranh, nên kéo dài trong 7 năm, với 7 kỳ họp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp 95 phiên, thông qua nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, về tổ chức hành chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc, phục vụ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Lúc này, mọi yêu cầu nhiệm vụ về quân sự, kinh tế, chính trị... đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời. Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thêm một số quyền hạn trong trường hợp Quốc hội không có điều kiện thuận tiện để họp. Theo đó, những chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác lớn về chống Mỹ, cứu nước, về chính sách kinh tế thời chiến, về đối ngoại đều được Chính phủ kịp thời báo cáo với Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn nhanh chóng, là điều kiện quan trọng bảo đảm kịp thời những yêu cầu của chiến tranh. 

Quốc hội khóa IV (1971 - 1975): tổ chức bầu ngày 11/4/1971; tổng số có 420 đại biểu. Quốc hội khóa IV diễn ra trong 4 năm, họp 5 kỳ; Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 53 phiên và đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu của các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế; phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm, góp phần quan trọng vào việc củng cố và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đàm phán và ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973). Hoạt động của Quốc hội đã góp phần quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đánh đổ chế độ thực dân mới ở miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước.

Quốc hội khóa V (1975 - 1976): tổ chức bầu ngày 06/4/1975; tổng số có 424 đại biểu. Quốc hội khóa V ra đời trong bối cảnh miền Nam vừa mới giải phóng (30/4/1975) và hoạt động chưa đầy 2 năm, Quốc hội họp 2 kỳ; Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 10 phiên  đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Đặc biệt, Quốc hội đã góp phần quan trọng trong việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Theo đó, trên cơ sở nhất trí giữa Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các cơ quan có trách nhiệm ở miền Nam, ngày 27/10/1975, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp phiên đặc biệt để thảo luận, thông qua đề án thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, cử đoàn đại biểu miền Bắc tham dự Hội nghị hiệp thương với đoàn đại biểu miền Nam. Tại Hội nghị hiệp thương, các đại biểu của đoàn miền Bắc và đại biểu của đoàn miền Nam đã khẳng định "cần hoàn thành thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thống nhất trọn vẹn vững chắc nhất". Tại kỳ họp thứ hai (tháng 12/1975), Quốc hội đã nhất trí thông qua Nghị quyết phê chuẩn kết quả Hội nghị hiệp thương mở ra thời kỳ phát triển mới của nước Việt Nam thống nhất. 

Quốc hội khóa VI (1976 - 1981): tổ chức bầu ngày 25/4/1976, là Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất; tổng số có 492 đại biểu. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định đưa cách mạng Việt Nam chính thức bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thể hiện tính liên tục của Nhà nước qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Quốc hội đã quy định Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI. Quốc hội quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca; chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh; quy định Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Đồng thời, Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa VI diễn ra trong 5 năm, họp 7 kỳ và quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Kỳ họp thứ 7 (tháng 12/1980), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp 1980. Đây là bản Hiến pháp thứ ba được Quốc hội thông qua để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng. 

3. Thời kỳ 1980 - 1992

Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981. Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. 

Quốc hội được cụ thể hóa thành 15 nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó có những nội dung rất quan trọng, như: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; quyết định kế hoạch nhà nước và phê chuẩn việc thực hiện kế hoạch nhà nước; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước... Ngoài ra, Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết.

Hiến pháp 1980, đã có sự điều chỉnh lớn về cơ cấu tổ chức của Quốc hội. Đó là, việc thiết lập Hội đồng Nhà nước thay cho chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội và lần đầu tiên Hiến pháp quy định chức danh Chủ tịch Quốc hội. Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch Quốc hội có nhiệm vụ chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; bảo đảm việc thi hành nội quy của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội; điều hòa và phối hợp hoạt động của các Ủy ban của Quốc hội; chứng thực những luật và nghị quyết đã được Quốc hội thông qua; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồng Nhà nước.Thời kỳ này, Quốc hội trải qua 02 khóa hoạt động:

Quốc hội khóa VII (1981 - 1987): tổ chức bầu vào ngày 26/4/1981; tổng số có 496 đại biểu. Quốc hội khóa VII với 12 kỳ họp và ban hành 10 đạo luật, 35 nghị quyết (trong đó có Bộ luật Hình sự đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 27/6/1985); Hội đồng Nhà nước ban hành 15 pháp lệnh Quốc hội đã triển khai thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương; thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm; quyết định các vấn đề cử và miễn nhiệm một số thành viên Hội đồng Bộ trưởng... Hoạt động giám sát cũng được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước coi trọng, tập trung vào các vấn đề quản lý kinh tế - xã hội, việc thi hành Hiến pháp, pháp luật nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp đã có bước cải tiến, tại kỳ họp thứ 10, các đại biểu Quốc hội đã tập trung chất vấn vào việc đánh giá những sai lầm, khuyết điểm về việc thực hiện chính sách giá - lương - tiền, đồng thời đề ra những biện pháp khắc phục. Thời kỳ này, hoạt động ngoại giao nghị viện cũng được đẩy mạnh, chú trọng nguyên tắc nhất quán, ủng hộ những sáng kiến hòa bình, bảo đảm an ninh chung của nhân loại.

Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992): tổ chức bầu ngày 19/4/1987; tổng số có 496 đại biểu. Quốc hội khóa VIII,  là Quốc hội của giai đoạn đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra. Nhiệm kỳ này, Quốc hội họp 11 kỳ và thông qua 2 bộ luật, 25 đạo luật; Hội đồng Nhà nước đã ban hành 39 pháp lệnh. Kỳ họp thứ 5 (tháng 6/1989), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1980 một cách cơ bản và đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 11 (năm 1992). Kế thừa và phát triển các bản Hiến pháp trước đây, ngoài việc thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, Hiến pháp 1992 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển trong giai đoạn mới. Quốc hội đã quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng, cấp bách về kinh tế - xã hội và thi hành pháp luật, nhằm nâng cao vai trò và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. 

4. Thời kỳ 1992 đến nay

Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013. Quốc hội đã có những đổi mới cơ bản, khắc phục tính hình thức, hạn chế trong hoạt động ở các khóa trước và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Thời kỳ này, Quốc hội có 6 khóa hoạt động:

Quốc hội khóa IX (1992 - 1997): tổ chức bầu ngày 19/7/1992; tổng số có 395 đại biểu. Quốc hội khóa IX hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1992, trong đó có vai trò quan trọng về việc thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (1996-2000). Hoạt động của Quốc hội đã góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện, phát huy vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nước của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quốc hội khóa IX tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 36 luật, bộ luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 43 pháp lệnh. Quốc hội đã có nhiều quyết sách quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Công tác giám sát của Quốc hội đã có những đổi mới, như: tiến hành nghe các báo cáo hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung ương; cử các đoàn đi kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương. Quốc hội đã chú trọng đến công tác dân nguyện, tiếp dân và giải quyết các đơn thư của Nhân dân; tổ chức nhiều đoàn công tác của Quốc hội về địa phương để đôn đốc việc giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền.   

Quốc hội khóa X (1997 - 2002): tổ chức bầu ngày 20/7/1997; tổng số có 450 đại biểu. Quốc hội khóa X tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 01 bộ luật, 31 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 39 pháp lệnh. Nổi bật của kỳ họp thứ 10,  Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng. Quốc hội ngày càng chú trọng và chủ động hơn trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: Quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia; tổ chức bộ máy và nhân sự của các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; các vấn đề về bảo đảm an ninh, quốc phòng. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa X cũng được triển khai tích cực, có sự đổi mới cả về nội dung và hình thức giám sát. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội được triển khai chủ động trên nhiều địa bàn, với nhiều chủ thể khác nhau nhằm củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị với tất cả các nước; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động trên các diễn đàn nghị viện đa phương.

Quốc hội khóa XI (2002 - 2007): tổ chức bầu ngày 19/5/2002; tổng số có 498 đại biểu. Trong nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đã tăng lên đáng kể. Có 120 đại biểu (chiếm gần 25% tổng số đại biểu Quốc hội) hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và 64 đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Quốc hội đã ban hành 84 luật, bộ luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 31 pháp lệnh. Chất lượng các dự án luật, pháp lệnh được thông qua đã bám sát yêu cầu của cuộc sống, xử lý tốt một số vấn đề nhạy cảm và phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn xã hội. Hoạt động giám sát có bước đổi mới, nội dung giám sát đã tập trung vào các vấn đề bức xúc được dư luận phản ánh và nhân dân quan tâm, như: Đầu tư dàn trải, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; triển khai thực hiện một số công trình quan trọng quốc gia (như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng); về giáo dục, y tế; phòng, chống tham nhũng, lãng phí... Việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng thực chất hơn, từ tổ chức bộ máy nhà nước, nhân sự cấp cao, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước cho đến chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia, phê chuẩn Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới...

Quốc hội khóa XII (2007 - 2011): tổ chức bầu ngày 20/5/2007; tổng số có 493 đại biểu. So với nhiệm kỳ trước, số lượng các ủy ban của Quốc hội khóa XII tăng lên thành 9 ủy ban với việc Quốc hội thành lập mới Ủy ban Tư pháp, tách Ủy ban Kinh tế - Ngân sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính, Ngân sách. Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng được tăng cường với 145 đại biểu, chiếm 29,41% tổng số đại biểu Quốc hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp, bố trí cán bộ, kiện toàn bộ máy của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội. Trong nhiệm kỳ 4 năm, Quốc hội khóa XII đã ban hành 68 luật, 12 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 13 pháp lệnh và 7 nghị quyết. Các văn bản pháp luật đã ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và điều hành kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động giám sát được tăng cường, có nhiều đổi mới về cách thức tiến hành, nhất là chất vấn và giám sát chuyên đề. Nội dung giám sát tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống, bao quát hầu hết các lĩnh vực. Chất vấn và trả lời chất vấn tiếp tục được cải tiến mạnh mẽ theo hướng tập trung hơn, thực chất hơn, phản ánh sát thực tâm tư, nguyện vọng của cử tri; chỉ ra trách nhiệm và giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và nghị quyết của Quốc hội. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn vì lợi ích của quốc gia, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.

Quốc hội khóa XIII (2011 - 2016): tổ chức bầu ngày 22/5/2011, đây là lần đầu tiên cử tri cả nước tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong cùng một ngày với quy mô lớn. Cuộc bầu cử đã thành công tốt đẹp với 99,51% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 500 đại biểu Quốc hội tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thành tựu lớn nhất của Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã biểu quyết thông qua toàn văn Dự thảo Hiến pháp năm 2013 (kỳ họp thứ 6). Hiến pháp 2013 là  thể hiện tinh thần đổi mới sâu sắc, tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội trên nền tảng dân chủ, pháp quyền và tạo động lực mạnh mẽ để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Nhiệm kỳ này, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét, thông qua 100 luật, bộ luật, 10 pháp lệnh và nhiều nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Đặc biệt, sau khi Hiến pháp mới được thông qua, Quốc hội đã tập trung xem xét, thông qua hầu hết các bộ luật lớn, các đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về lĩnh vực tư pháp, về lĩnh vực xã hội trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện nỗ lực to lớn, trách nhiệm trước Nhân dân của Quốc hội, như: số lượng văn bản luật, pháp lệnh được thông qua trong nhiệm kỳ tăng nhiều so với các khóa trước... thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Quốc hội khóa XIII, đánh dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên tiến hành lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Hoạt động giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn cũng có nhiều cải tiến, đổi mới theo hướng rõ vấn đề, rõ địa chỉ. Việc "tái" giám sát được tiến hành thường xuyên, trước hết là xem xét kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn. Theo đó, kỳ họp sau phải báo cáo kết quả thực hiện những điều đã hứa, các giải pháp đã đưa ra trong lần chất vấn trước. Quốc hội khóa XIII cũng ghi dấu ấn với việc lần đầu tiên tất cả các thành viên Chính phủ, từ Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đến các bộ trưởng, trưởng ngành đều đăng đàn trả lời chất vấn trước Quốc hội. Các vấn đề quan trọng của đất nước được Quốc hội thảo luận dân chủ, bám sát thực tiễn, phân tích thấu đáo bảo đảm lợi ích chung, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân trước khi quyết định. Trong đó có nhiều quy định đã góp phần giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của cuộc sống, như: quản lý quy hoạch; đầu tư xây dựng; đấu tranh phòng, chống tội phạm; hỗ trợ ngân sách đóng tàu đánh bắt xa bờ, bảo vệ chủ quyền biển đảo…

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần thực hiện có kết quả đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Việc đăng cai tổ chức Đại hội đồng lần thứ 132 của Liên minh nghị viện thế giới (IPU-132) tại Hà Nội vào tháng 3/2015 là một sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa lịch sử ngoại giao hết sức to lớn, thể hiện tinh thần chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng của Quốc hội nước ta, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta và không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhiệm kỳ này, lần đầu tiên Quốc hội đã ban hành nghị quyết về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội được tăng cường. Việc tăng thời lượng phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên họp của Quốc hội tại Hội trường, các phiên chất vấn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hoạt động báo cáo giải trình của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã tạo điều kiện đưa hoạt động của Quốc hội đến gần hơn với người dân. Cùng với việc đổi mới tổ chức và hoạt động, các điều kiện bảo đảm hoạt động của Quốc hội cũng được tăng cường đáng kể. Nhà Quốc hội mới được hoàn thành và đưa vào vận hành, trở thành trung tâm tổ chức các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Bên cạnh đó, Văn phòng Quốc hội cũng được tổ chức lại theo hướng đổi mới mô hình tổ chức bộ máy giúp việc có tính chuyên nghiệp, hiệu quả, hợp lý để nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. 

Quốc hội khóa XIV (2016 - 2021): tổ chức bầu ngày 22/5/2016 với 99,35% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 494 đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đạt tỷ lệ 34,91%, cao nhất so với các nhiệm kỳ Quốc hội khóa trước. Quốc hội khóa XIV đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Hoạt động giám sát ngày càng thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo, hành động vì lợi ích của Nhân dân, của đất nước. Nội dung giám sát mang tính thiết thực, bao trùm hoạt động kinh tế và đời sống xã hội. Bên cạnh đó, điểm mới trong nhiệm kỳ này là Quốc hội đã trực tiếp thành lập các đoàn giám sát chuyên đề thay vì ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập và triển khai thực hiện như trước đây.Việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước tiếp tục được nâng cao chất lượng và ngày càng thực chất hơn, bảo đảm lợi ích quốc gia, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, tạo ra những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, như: điều chỉnh quy định sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia; dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành; dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020; đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030…

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội phát huy vai trò là kênh đối ngoại quan trọng, vừa mang tính đối ngoại nhà nước, vừa mang tính nhân dân sâu sắc, đóng góp tích cực vào thành công chung trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, như: đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Nghị viện Châu Á -Thái Bình Dương lần thứ 26 (APPF-26) vào năm 2018, Quốc hội Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch AIPA và tổ chức Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á lần thứ 41 (AIPA-41) trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã thể hiện vai trò thành viên chủ động, tích cực, đối tác tin cậy và trách nhiệm của Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần quan trọng duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.

Về đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, nhiệm kỳ này đánh dấu bước tiến vượt bậc của Quốc hội trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội. Lần đầu tiên sử dụng phần mềm hỗ trợ hoạt động của đại biểu Quốc hội trên các thiết bị thông minh được đưa vào sử dụng với nhiều tính năng thông minh, như: cung cấp các tài liệu kỳ họp, tìm kiếm nhanh các tài liệu bằng giọng nói đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Việc đổi mới cách thức thảo luận từ Quốc hội "tham luận" sang Quốc hội "tranh luận" cũng là một điểm nhấn quan trọng của nhiệm kỳ này. Bên cạnh đó, Quốc hội tiếp tục có nhiều đổi mới trong cách thức tổ chức kỳ họp Quốc hội để thích nghi trong mọi hoàn cảnh. Điển hình nhất là tại kỳ họp thứ 9, lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội đã tổ chức kỳ họp theo hình thức kết hợp giữa họp trực tuyến và họp tập trung để đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

III. QUỐC HỘI TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

- Quốc hội luôn luôn là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri, luôn luôn đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.

- Sự phát triển của Quốc hội là một quá trình liên tục kế thừa và không ngừng đổi mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng Việt Nam  Kinh nghiệm thực tiễn của Quốc hội khóa trước luôn là bài học quý cho việc củng cố, nâng cao Quốc hội khóa sau. Việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội cần được tiến hành chặt chẽ, đồng bộ, có định hướng mục tiêu rõ ràng, bước đi chắc chắn và mang lại hiệu quả thiết thực.

- Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng vào các hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và trong hoạt động đối ngoại. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng một cơ cấu tổ chức thống nhất của Quốc hội và là tiền đề để bảo đảm cho Quốc hội phát huy được vai trò của mình, thực hiện tốt các mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.

- Chất lượng và hiệu quả thực hiện các chức năng của Quốc hội phụ thuộc phần lớn vào hoạt động của các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Sự đồng thuận, trách nhiệm của tập thể Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội; sự phối hợp có hiệu quả của Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, tổ chức hữu quan và sự đóng góp tích cực của cử tri và nhân dân cả nước là yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần giúp Quốc hội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao...

- Việc gần gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt đầy đủ, thấu hiểu sâu sắc tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của Nhân dân, trân trọng lắng nghe, phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng của Nhân dân là nhân tố quan trọng bảo đảm cho Quốc hội có những quyết sách đúng đắn, phù hợp thực tiễn, góp phần nâng cao uy tín, vai trò của Quốc hội, thu hút được sự quan tâm, ủng hộ, đóng góp ý kiến xây dựng và củng cố niềm tin của cử tri, của Nhân dân đối với Quốc hội.

- Phát huy dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội là yêu cầu quan trọng tạo thêm sức mạnh và sự năng động, sáng tạo từ hệ thống chính trị của nước ta. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, khai thác tốt tiềm năng sáng tạo và tính chủ động của từng cơ quan của Quốc hội, từng đại biểu Quốc hội. Thực tế hoạt động của Quốc hội cho thấy có những vấn đề được quyết định không dễ dàng mà phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng từ nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, qua đó đã làm cho các quyết định có tính chính xác cao hơn, tạo sự đồng thuận tốt hơn, giúp công tác chỉ đạo điều hành thuận lợi và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và phù hợp với ý nguyện của Nhân dân.

Để tiếp tục phát huy vị trí, vai trò của Quốc hội trong giai đoạn phát triển mới; Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và đại biểu Quốc hội tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, tiến hành thực hiện năm nguyên tắc và năm nhiệm vụ sau:

Nguyên tắc

Một là, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, thực sự là Quốc hội của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hai là, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phù hợp với các nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội.

Ba là, tổ chức và hoạt động của Quốc hội phải tuân theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Bốn là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

2. Nhiệm vụ

Một là, Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động lập pháp; tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng các dự án luật. Tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, bảo đảm tiến độ và chất lượng chuẩn bị dự án luật ngay từ những công đoạn đầu, coi trọng xác định nội dung chính sách luật trước khi tiến hành các bước tiếp theo trong quy trình lập pháp.

Hai là, Nâng cao hiệu quả giám sát, đổi mới mạnh mẽ phương thức tiến hành, khắc phục tình trạng giám sát dàn trải, thiếu chiều sâu; tập trung giám sát những vấn đề bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội. Thông qua giám sát để đánh giá đúng hiệu quả hoạt động và xác định đúng trách nhiệm nhằm thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đề cao trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân; chú trọng nâng cao chất lượng việc quyết định ngân sách nhà nước, các vấn đề về kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước...

Ba là, Nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của Quốc hội, từ đó kiện toàn và tăng cường tổ chức của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đề cao vị trí, vai trò của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, chuyển hình thức làm việc của Quốc hội từ tham luận sang tranh luận. Hoạt động của Quốc hội chủ yếu thông qua hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban và quyết định tại phiên họp toàn thể của Quốc hội.

Bốn là, Chú trọng nâng cao hơn nữa chất lượng đại biểu Quốc hội, coi đây là việc làm có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội; hoàn thiện cơ chế lựa chọn, giới thiệu và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội; tăng cường mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri; tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, phát huy mạnh mẽ vai trò của đại biểu Quốc hội ở cả Trung ương và địa phương. Đồng thời, củng cố, nâng cao năng lực các cơ quan tham mưu giúp việc, tạo thêm các điều kiện và phương tiện làm việc, nhằm hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội.

Năm là, Tiếp tục chủ động và tích cực triển khai hoạt động đối ngoại của Quốc hội, góp phần thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Triển khai mạnh mẽ hơn nữa hoạt động đối ngoại nghị viện trong tình hình mới, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế.

Kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2021) là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại lịch sử hình thành và phát triển; ghi nhận những thành tựu và rút ra những bài học kinh nghiệm mà Quốc hội nước ta đã đạt được trong 75 năm qua; góp phần nâng cao nhận thức của Nhân dân về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội. 

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế; sự ủng hộ và giám sát của Nhân dân, Quốc hội nước ta sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc, luôn là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG  –  VĂN PHÒNG QUỐC HỘI


19/12/2020 9:00 SAĐã ban hành
Khuyến cáo người dân thực hành 7 thói quen phòng, chống dịch bệnh COVID-19Khuyến cáo người dân thực hành 7 thói quen phòng, chống dịch bệnh COVID-19
Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hành 7 thói quen để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong cộng đồng:

9-4-2020-lon.jpg

 


Bộ Y tế

09/04/2020 11:00 SAĐã ban hành
Ban hành hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàngBan hành hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàng
Ngày 28/5/2020, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 ban hành quyết định số 2225/QĐ-BCĐQG về việc hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàng.

​Theo đó, hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàng như sau: 637269429099554566_2225.pdf

28/05/2020 5:00 CHĐã ban hành
Thông tin cần biết về Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viênThông tin cần biết về Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên
Tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) là quyền lợi và trách nhiệm của học sinh, sinh viên

BHYT học sinh, sinh viên (HS,SV) do Nhà nước tổ chức thực hiện để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho HSSV không vì mục đích lợi nhuận.

  • * ĐỐI TƯỢNG THAM GIA: HS,SV đang theo học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo (trừ trường hợp đã tham gia BHYT theo các nhóm đối tượng khác theo quy định của pháp luật; HS,SV thuộc diện hộ gia đình cận nghèo).
  • * MỨC ĐÓNG:

Mức đóng:                         Mức lương cơ sở

Mức đóng hằng tháng =           hiện hành                X 4,5% = 67.050 đồng

                                           (1.490.000 đ/tháng)

Trong đó:

  • - Nhà nước hỗ trợ mức đóng tối thiểu 30%;
  • - HS, SV đóng phần còn lại theo quy định 70%.
  • * MỨC HƯỞNG:

- Khám chữa bệnh (KCB) tại cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB BHYT

+ KCB đúng nơi đăng ký KCB ban đầu và thực hiện đầy đủ thủ tục được hưởng 80% chi phí KCB khi thẻ BHYT có mã quyền lợi 4; KCB không đúng tuyến (không đúng nơi đăng ký KCB ban đầu/ không có giấy chuyển tuyến KCB BHYT hoặc Giấy chuyển tuyến KCB BHYT không đúng quy định/ không trong tình trạng cấp cứu) được hưởng:

Loại hình KCBTuyến chuyên môn kỹ thuậtMức hưởng
Ngoại trúBV tuyến huyện100%
Nội trú
​ ​
BV tuyến huyện100%
BV tuyến tỉnh60%
BV tuyến Trung ương40%


+ Trường hợp KCB BHYT không xuất trình đầy đủ thủ tục KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu:

Được cơ quan BHXH thanh toán trực tiếp chi phí KCB ​
KCB ngoại trú
KCB nội trú
Không quá 0,15 lần mức lương cơ sởKhông quá 0,5 lần mức lương cơ sở


- KCB tại cơ sở không có hợp đồng KCB BHYT được cơ quan BHXH thanh toán trực tiếp chi phí KCB BHYT 

Loại hình KCBTuyến chuyên môn kỹ thuậtMức hưởng tối đa (mức lương cơ sở)
Ngoại trúBV tuyến huyện0,15 lần
Nội trú
​ ​
BV tuyến huyện0,5 lần
BV tuyến tỉnh1,0 lần
BV tuyến Trung ương2,5 lần

  • - Trường hợp cấp cứu: Được KCB tại bất kỳ cơ sở KCB nào và phải xuất trình thẻ BHYT cùng giấy tờ thùy thân có ảnh trước khi ra viện để được hưởng quyền lợi BHYT theo quy định.
  • * QUYỀN LỢI THẺ BHYT HS,SV:
  • - Được cấp thẻ BHYT theo mã số BHXH;
  • - Được lựa chọn và thay đổi nơi đăng ký KCB ban đầu vào tháng đầu mỗi quý;
  • - Được chăm sóc sức khỏe ban đầu theo quy định; 
  • - Được chi trả chi phí KCB trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng;
  • - Được cơ quan BHXH tư vấn, hỗ trợ, giải đáp về BHYT;
  • - Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BHYT.
  • * TRÁCH NHIỆM CỦA HS,SV:
  • - Đóng BHYT đầy đủ, đúng thời hạn; 
  • - Sử dụng thẻ BHYT đúng mục đích;
  • - Thực hiện đầy đủ thủ tục khi đến KCB;
  • - Thanh toán chi phí KCB ngoài phần chi phí do quỹ BHYT chi trả;
  • - Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức BHYT, cơ sở KCB.
  • Vì sức khỏe con em chúng ta: Hãy tham gia BHYT HS,SV để được chăm sóc sức khỏe ngay từ trong trường học!

    Bảo hiểm xã hội tỉnh


21/12/2020 3:00 CHĐã ban hành
Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục quốc phòng an ninh cho các hộ dân biên giới Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục quốc phòng an ninh cho các hộ dân biên giới
Long An là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của cả nước, có vị trí đặc biệt là cửa ngõ từ thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ và ngược lại, có đường biên giới quốc gia giáp Vương quốc Campuchia dài khoảng 132,977 km. Có 1 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu quốc gia và hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch và 20 chợ giáp với tỉnh SvâyRiêng và PreyVeng. Trung bình tại các chợ trên địa bàn tỉnh thu hút từ 500 - 700 lượt khách/ngày (trong đó người Việt Nam khoảng 60%). Trên tuyến biên giới Long An ta và bạn đã xác định 51 vị trí cắm mốc với tổng số 57 mốc, đã thi công được 42 cột mốc, trong đó có 4 mốc đôi.

Do địa hình ruộng liền ruộng, kênh liền kênh với nước bạn Campuchia, nên tình hình trật tự, trị an trên tuyến biên giới Long An vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, tình trạng buôn lậu, xâm canh xâm cự, vượt biên trái phép qua Campuchia đánh bài đánh bạc, diễn ra khá phức tạp. Trước thực tế đó Long An đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để giữ vững trật tự trị an biên giới trong đó đã đẩy mạnh giáo dục quốc phòng an ninh (GDQP-AN) cho các hộ dân biên giới.

 

 

 

LLVT Long An phối hợp tuần tra bảo vệ trị an biên giới

 

 

Trong điều kiện dân cư biên giới sống thưa thớt, điều kiện giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Hội đồng GDQP-AN và cơ quan quân sự các cấp đã làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương huy động cả hệ thống chính trị các địa phương biên giới vào cuộc để tuyên truyền vận động nhân dân tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức QP-AN. Hội đồng GDQP-AN 6 huyện, thị xã biên giới trong tỉnh phối hợp chặt chẽ với Ban CHQS, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị các huyện-thị hàng năm có kế hoạch tổ chức và trực tiếp mở các khoá bồi dưỡng KTQP-AN cho các hộ dân biên giới. Chỉ tính riêng trong năm 2013, các huyện thị biên giới trong tỉnh đã tổ chức 13 lớp cho 1.390 chủ hộ dân biên giới.  Nhìn chung qua bồi dưỡng kiến thức QP -AN  đã nâng cao nhận thức của nhân dân trên tuyến biên giới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phát huy sức mạnh của toàn dân trong đấu tranh phòng chống làm thất bại các âm mưu của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định ở địa phương. 

 

Đại tá Phan Minh Tuấn - Chính trị viên Ban CHQS huyện Tân Hưng cho biết: Lần đầu tiên triển khai công tác giáo dục QP-AN cho các hộ dân biên giới ở địa phương cũng gặp không ít khó khăn, trước hết là vấn đề kinh phí, sau là chọn các chuyên đề giáo dục QP-AN cho đối tượng này sao cho phù hợp….Sau khi nghiên cứu và được sự thống nhất của trên, huyện đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các hộ dân biên giới với 3 chuyên đề chính, và nguồn kinh phí ban đầu lấy từ nguồn kinh phí tuyên truyền phân giới cắm mốc biên giới. Chỉ riêng trong năm 2013, Tân Hưng tổ chức 3 lớp bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho 3 xã biên giới trong huyện với gần 400 chủ hộ tham dự. Nhờ đẩy mạnh thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục QP-AN địa bàn biên giới, cùng với đầu tư xây dựng tuyến đường tuần tra biên giới, xây dựng hệ thống cầu nối các tuyến đường vành đai, đã giúp cho các địa phương biên giới Long An phát triển nhanh về kinh tế và ổn định về trật tự trị an, tình trạng vượt biên đá gà, đánh bạc, buôn lậu địa bàn Long An giảm mạnh. Kinh tế xã hội địa bàn biên giới ngày càng phát triển.

 

Công tác Giáo dục QP-AN đối với lực lượng Dân quân tự vệ, dự bị động viên và lực lượng an ninh ở cơ sở thuộc 20 xã biên giới trong tỉnh cũng được chú trọng thực hiện. Ban CHQS 6 huyện thị xã biên giới trong tỉnh đã thường xuyện triển khai cho LLVT học tập về luật Quốc phòng, Pháp lệnh Dân quân tự vệ, Pháp lệnh dự bị động viên, Luật nghĩa vụ Quân sự, Luật Công an nhân dân, Pháp lệnh Công an xã và các nghị định của Chính phủ, thông tư các bộ, ngành về thực hiện pháp lệnh; thông qua họp mặt, kỷ niệm, mít tinh các ngày lễ lớn của dân tộc. Trong động viên tập huấn, huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên hàng năm quy định của Bộ Quốc phòng có hơn 85% lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đạt 95% trở lên tham gia huấn luyện.

 

Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục QP-AN cho các hộ dân biên giới đã góp phần củng cố xây dựng lòng tin nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội, Phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

 

 

Trung Dũng

  

08/07/2014 2:00 CHĐã ban hành
Khánh thành Đền thờ liệt sĩ, Khu di tích lịch sử quốc gia khu vực Đồn Long Khốt (21/12/2020)Khánh thành Đền thờ liệt sĩ, Khu di tích lịch sử quốc gia khu vực Đồn Long Khốt (21/12/2020)
Huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An có địa thế chiến lược đặc biệt quan trọng, nằm án ngữ tuyến đường hành lang biên giới Việt Nam – Campuchia, nối miền Đông và miền Tây Nam Bộ, dựa lưng vào nước bạn Campuchia nên rất tiện lợi trong việc phòng thủ, tấn công địch ở khu vực biên giới. Trong đó, khu vực Long Khốt nằm về hướng Đông Bắc thị trấn Vĩnh Hưng, sát biên giới Campuchia, là điểm trọng yếu chiến lược hàng đầu trên tuyến hành lang biên giới của huyện. Chính vì vậy, trong suốt giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, khu vực Long Khốt là chiến trường ác liệt giữa ta và địch. Trong quá trình đó, có 3 trận đánh tiêu biểu nhất là:

- Trận tấn công chi khu Long Khốt từ ngày 9/6 đến 16/6/1972: do Trung đoàn 174 (giai đoạn này còn được gọi là Trung đoàn 2) phối hợp với Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 và du kích xã Thái Bình Trung thực hiện. Trong trận này ta loại khỏi vòng chiến 411 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, bắn rơi 2 máy bay của địch.

- Trận tấn công quy mô lớn vào chi khu Long Khốt lần hai từ đêm 28 đến ngày 29/4/1974. Trung đoàn 174 phối hợp Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 5 đã tấn công tiêu diệt chi khu Long Khốt, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, thu 69 súng, bắn rơi 3 máy bay và phá hủy toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch tại Long Khốt.

- Trận chiến đấu anh dũng 43 ngày đêm (từ ngày 14/01 đến 27/02/1978) bảo vệ đồn Long Khốt của lực lượng Công an nhân dân vũ trang tỉnh Long An và quân dân địa phương đã bảo vệ được khu vực phía Tây Bắc tiền đồn Mộc Hóa, làm thất bại hoàn toàn âm mưu của địch muốn đánh chiếm bằng được 2 vị trí tiền tiêu là Mộc Hóa và Đức Huệ để làm bàn đạp tấn công các khu vực khác, nhằm tạo áp lực mạnh mẽ trên toàn tuyến biên giới Tây Nam.

Bên cạnh 3 chiến công trên, từ năm 1972 đến 1975, để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng tuyến hành lang chiến lược quận Tuyên Bình (nay là huyện Vĩnh Hưng và huyện Tân Hưng), tiêu diệt địch ở chiến trường Long Khốt trong lúc thế và lực địch đang mạnh, Sư đoàn 5 và quân dân địa phương đã liên tục tổ chức nhiều trận tấn công các đồn Măng Đa, Thái Trị, Tuyên Bình, chặn viện từ hướng các đồn này… nhằm làm suy yếu binh lực địch khi ta tổ chức tấn công vào chi khu Long Khốt. Cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 5 chịu đựng biết bao gian khổ, mất mát, hy sinh từ trước, trong và sau mỗi trận đánh. Hơn 1.100 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh và mãi mãi nằm lại trong tình cảm thương yêu, lòng biết ơn sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Long An.

21-12-2020-cat bang khanh thanh.jpg

Đại biểu cắt băng khánh thành Đền thờ Liệt sỹ, Khu di tích lịch sử Quốc gia Khu vực Đồn Long Khốt

Di tích lịch sử Khu vực Đồn Long Khốt chứa đựng những giá trị lịch sử, an ninh quốc phòng, văn hóa và nhân văn sâu sắc như đã nêu trên nên đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh vào ngày 27/2/1997. Bên cạnh việc huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện công tác bảo tồn, phát huy tác dụng của di tích này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn lập hồ sơ đề nghị xếp hạng Khu vực Đồn Long Khốt là di tích cấp quốc gia. Căn cứ đề nghị của tỉnh Long An, qua xem xét hồ sơ di tích, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định số 1792/QĐ-BVHTTDL, ngày 17/5/2019, xếp hạng Khu vực đồn Long Khốt thuộc xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng là di tích quốc gia. Đây là bước ngoặt quan trọng làm cơ sở pháp lý, khoa học trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích, phục vụ công tác giáo dục truyền thống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, UBND tỉnh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định dự án tu bổ di tích theo quy định của pháp luật để tiến hành các bước tiếp theo của công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di tích.

Để tưởng nhớ đến những người anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên chiến trường Long Khốt vì quê hương, đất nước, từ năm 2000 đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương cùng các cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ hằng năm đều tụ hội về di tích Khu vực đồn Long Khốt tổ chức dâng hương, cúng giỗ và các hoạt động tưởng niệm, tri ân phong phú, đa dạng. Thông qua sự vận động của Trung tướng Lưu Phước Lượng – nguyên Chính ủy quân khu 9, Đại tá Trần Thế Tuyển -Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 174 cùng nhiều cựu chiến binh khác, Liên hiệp hợp tác xã và dịch vụ nông nghiệp tổng hợp tỉnh Đồng Nai đã phát tâm tài trợ kinh phí hơn 30 tỷ đồng để xây dựng Đền thờ liệt sĩ tại di tích lịch sử quốc gia khu vực Đồn Long Khốt. Có thể nói rằng, đây là nghĩa cử cao đẹp, đầy nhân văn, tình nghĩa, thể hiện rõ đạo lý truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" cao quý hàng ngàn năm của dân tộc ta. Qua đó, khơi gợi tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau, làm động lực tinh thần để rèn luyện, phấn đấu, phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau 4 tháng thi công xây dựng, công trình đền thờ liệt sĩ tại di tích lịch sử quốc gia khu vực Đồn Long Khốt đã hoàn thành tốt đẹp. Ngày 21/12/2020, công trình được khánh thành và đưa vào sử dụng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174, Sư đoàn 5 và cán bộ, chiến sĩ, nhân dân huyện Vĩnh Hưng nói riêng và nhân dân Long An nói chung. Sự kiện này không những phù hợp với đạo lý uống nước nhớ nguồn, thủy chung son sắt của dân tộc mà còn góp phần thiết thực cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng, nâng cao đời sống, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà./.

Sở Văn hóa, thể thao và du lịch


21/12/2020 10:00 SAĐã ban hành
Khai mạc Hội Báo Xuân Giáp Ngọ năm 2014Khai mạc Hội Báo Xuân Giáp Ngọ năm 2014
Ngày 24/01/2014, Hội Nhà báo tỉnh Long An phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức khai mạc Hội Báo Xuân Giáp Ngọ năm 2014 tại Trung tâm Văn hóa tỉnh. Đến dự có đồng chí Đặng Văn Xướng – Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, đồng chí Trần Hữu Phước – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí tỉnh và phóng viên thường trú có đăng ký tác nghiệp trên địa bàn.

Hội báo xuân đã thu hút 15 đơn vị có bản tin, tờ tin trong tỉnh tham gia. Sau thời gian chấm giải, Ban Giám khảo đã chọn ra 01 giải A; 02 giải B, 03 giải C và 05 giải khuyến khích của các tờ tin, bản tin xuất sắc về nội dung và đẹp về hình thức để trao giải thưởng. Bên cạnh đó, ban tổ chức Hội báo xuân cũng tổ chức triển lãm giới thiệu ấn phẩm Xuân của tỉnh nhà và hơn 100 báo, tạp chí Xuân của Trung ương và tỉnh, thành phố trong cả nước, để phục vụ cho độc giả đến tham quan, thưởng thức.

 

 

Biểu diễn văn nghệ 

Hội báo xuân Giáp Ngọ 2014 được tổ chức với tinh thần “Vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và nghĩa tình”. Thông qua Hội báo xuân năm nay, các cơ quan báo chí, các tờ tin, bản tin, đặc san tỉnh nhà giới thiệu đến đông đảo các tầng lớp nhân dân những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, quốc phòng - an ninh năm 2013 cũng như những tiềm năng, triển vọng, thời cơ và cả những thách thức trong năm 2014.

 

 
Lãnh đạo tỉnh tham quan triển lãm

 

Phát biểu khai mạc, ông Trần Hữu Phước – Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: “Đảng và Nhà nước rất coi trọng vai trò báo chí, đã trao cho báo chí nhiệm vụ hết sức nặng nề là cầu nối của Đảng với dân, giữa dân với Đảng. Cùng với việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giới báo chí, giới truyền thông phải luôn đồng hành, kề vai sát cánh với nhân dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Bước sang năm 2014, xuân Giáp Ngọ, tôi tin tưởng giới báo chí tỉnh nhà, các bản tin, tờ tin sẽ tiếp tục thông tin những thành tựu đạt được của tỉnh nhà, của ngành mình đến người dân trong tỉnh và các tỉnh bạn”.

 

 

Lãnh đạo tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể có đóng góp tích cực cho Hội báo Xuân năm 2014


 

 

Hội báo xuân được triển lãm phục vụ nhân dân từ ngày 24/01/2014 đến ngày 03/02/2014(mùng 4 tết) tại Trung tâm Văn hóa tỉnh, đồng thời phối hợp triển lãm ảnh nghệ thuật “Long An quê hương tôi lần thứ 25”, với những bức ảnh nghệ thuật đạt giải, ảnh thời sự kinh tế – xã hội của tỉnh.

Phòng BCXB.

25/01/2014 2:00 CHĐã ban hành
Ứng dụng hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19Ứng dụng hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19
​Theo khuyến nghị của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trước những diễn biến mới của dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam và trên thế giới; Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Bộ y tế triển khai hai ứng dụng NCOVI (dành cho người dân Việt Nam) và Vietnam Health Declaration (dành cho người nhập cảnh vào Việt Nam) để giúp người dân tự khai báo tình trạng sức khỏe, đồng thời nắm bắt được đầy đủ thông tin, các khuyến cáo về phòng, chống dịch bệnh từ Chính phủ, Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 và Bộ Y tế giúp cơ quan quản lý và người dân chủ động phòng, chống dịch hiệu quả.

 

Các thông tin mà người dân cung cấp trên hai ứng dụng sẽ được quản lý chặt chẽ, chỉ phục vụ mục đích duy nhất là giúp nhân dân chống dịch, không sử dụng cho mục đích thương mại, được bảo đảm an toàn thông tin và bí mật riêng tư cá nhân. 

* Để đăng ký thông tin người dân thực hiện như sau:

- Đối với người dân Việt Nam: Truy cập vào địa chỉ Google Play (Play Store, CH Play,...) hoặc App Store tải về và cài đặt ứng dụng NCOVI sau đó điền đầy đủ thông tin khai báo theo hướng dẫn.

- Đối với người nhập cảnh vào Việt Nam: truy cập trang: suckhoetoandan.vn/khaiyte​ hoặc tokhaiyte.vn​ và làm theo hướng dẫn để thực hiện khai báo y tế điện tử./.

Sở TTTT

18/03/2020 11:00 SAĐã ban hành
Công tác quốc phòng 6 tháng đầu năm 2014 Công tác quốc phòng 6 tháng đầu năm 2014
Nhờ kiện toàn Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp, phân công các thành viên chỉ đạo, kiểm tra các địa phương từ đó tỉnh đã hoàn thành công tác tuyển quân đợt I/2014, có 8 huyện, thị, thành phố tổ chức giao quân, kết quả đạt 100% chỉ tiêu 3 cấp, tỷ lệ đảng viên đạt 4,66% , trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đạt 20,4%. Giáo dục quốc phòng, an ninh cho 658 cán bộ; giáo dục quốc phòng cho 38.138 học sinh, sinh viên theo chương trình quy định.

Đối với quân đội, các đơn vị xây dựng doanh trại chính quy, cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ giai đoạn 2011-2015, thực hiện đề án bảo đảm quốc phòng của tỉnh Long An, xây dựng và thực hiện điểm Bộ CHQS tỉnh vững mạnh toàn diện về quốc phòng địa phương ở 3 cấp theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu. Bộ CHQS tỉnh tổ chức 2 cuộc thanh tra thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng đối với Ban CHQS Đức Huệ, thanh tra việc thực hiện các quy định phòng chống tham nhũng đối với Ban CHQS Cần Đước.

6 tháng đầu năm 2014, UBND đã chỉ đạo, triển khai toàn diện các mặt công tác, tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm, nổi bật là nắm chắt tình hình, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng địa phương, sẵn sàng chiến đấu trong lực lượng vũ trang, xử lý có hiệu quả tình huống xảy ra, phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng và hệ thống chính trị trong việc giữ vững an ninh chính trị-xã hội; quản lý bảo vệ chủ quyền biên giới, phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà. Cán bộ, chiến sĩ an tâm công tác, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân được phát huy; thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội và tham gia xây dựng nông thôn mới.

Trong 6 tháng cuối năm, Bộ CHQS tỉnh triển khai thực hiện đồng bộ công tác quốc phòng quân sự địa phương, dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng an ninh, đề án bảo đảm Quốc phòng Tây Nam bộ, đề án xây dựng Ban CHQS xã phường thị trấn, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và xây dựng điểm Bộ CHQS tỉnh vững mạnh toàn diện về quốc phòng địa phương ở 3 cấp, tuyển quân đợt II/2014 đạt 100% chỉ tiêu ở 3 cấp, nâng cao chất lượng về sức khỏe, trình độ. Nâng cao nhận thức về quốc phòng cho cán bộ và nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết và thế trận lòng dân vững chắc, đấu tranh làm thất bại âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

Xây dựng lực lượng, huấn luyện lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đẩy mạnh thực hiện xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện về công tác quốc phòng địa phương ở 3 cấp; tăng cường công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, gắn củng cố hệ thống chính trị với xây dựng chi bộ quân sự xã phường thị trấn. Diễn tập cho các xã thị trấn, huyện theo kế hoạch để nâng cao khả năng sẳn sàng chiến đấu cho các lực lượng…     

 

Bá Thanh

08/07/2014 3:00 CHĐã ban hành
Bộ Y tế khuyến cáo những việc cần làm khi trẻ sốt, ho, khó thở ở trường họcBộ Y tế khuyến cáo những việc cần làm khi trẻ sốt, ho, khó thở ở trường học
Đã nhiều ngày liên tiếp Việt Nam không ghi nhận ca mắc mới COVID-19, trước những diễn biến theo xu hướng tốt của tình hình bệnh, một số địa phương trong cả nước đã cho học sinh đi học trở lại như Cà Mau, Thái Bình học sinh đi học vào ngày 20/4; Thanh Hoá bắt đầu từ21/4 học sinh từ cấp 2 trở lên cũng đến trường. Nhiều địa phương khác cũng đã có kế hoạch cho học sinh đi học trở lại.

Theo đó, để công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại trường học, Bộ Y tế đã đưa ra những khuyến cáo khi những việc cần làm khi học sinh bị sốt, ho khó thở tại trường học, đồng thời hướng dẫn vệ sinh môi trường, khử khuẩn tại trường học.

Những việc cần làm khi học sinh bị sốt, ho, khó thở tại trường học

Ngay sau khi phát hiện học sinh có biểu hiện sốt, ho, khó thở: cần tiến hành các bước sau:

1. Đưa học sinh đến khu cách ly riêng trong phòng y tế hoặc khu vực do nhà trường bố trí. Cung cấp khẩu trang y tế và hướng dẫn đeo đúng cách cho học sinh.

2. Y tế nhà trường phối hợp với cha mẹ khai thác tiền sử tiếp xúc của học sinh (trong vòng 14 ngày trước đó có đi về từ vùng dịch hoặc có tiếp xúc gần với những người đi về từ vùng dịch, người nghi ngờ, người có xét nghiệm dương tính với COVID-19).

3. Tham vấn ý kiến của cán bộ y tế xã, phường hoặc y tế địa phương để khẳng định về tiền sử tiếp xúc dịch tễ.

4. Nếu không có yếu tố tiếp xúc dịch tễ thì điều trị các triệu chứng sốt, ho, khó thở. Phối hợp với cha mẹ đưa học sinh đến cơ sở y tế gần nhất nếu cần.

22-4-2020-tải xuống.jpg

Hướng dẫn của Bộ Y tế về những việc cần làm khi học sinh bị sốt, ho, khó thở tại trường học

5. Nếu có yếu tố tiếp xúc dịch tễ thì phối hợp cơ quan y tế tại địa phương đưa học sinh đến cơ sở y tế theo quy định để cách ly và điều trị.

6. Trường hợp có học sinh biểu hiện sốt, ho, khó thở, nghi ngờ hoặc có xét nghiệm dương tính với COVID-19 thì nhà trường thực hiện khử khuẩn theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương.

Hướng dẫn vệ sinh môi trường, khử khuẩn tại trường học

Khử khuẩn bằng các chất tẩy rửa thông thường như dung dịch tẩy rửa đa năng hoặc các dung dịch khử khuẩn có chứa 0,05% Clo hoạt tính hoặc dung dịch có chứa ít nhất 60% cồn. Ưu tiên khử khuẩn bằng cách lau rửa.

Trước khi học sinh quay trở lại trường

1. Vệ sinh ngoại cảnh (phát quang bụi rậm, không để nước đọng).

2. Khử khuẩn trường học 01 lần: Phun hoặc lau nền nhà, tường nhà, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, tay vịn lan can, bàn ghế, đồ chơi, dụng cụ học tập, đồ vật trong phòng...

Hướng dẫn của Bộ Y tế về việc khử khuẩn tại trường học

Trong thời gian học sinh học tại trường

1. Mỗi ngày 01 lần, sau buổi học: Lau khử khuẩn nền nhà, tường nhà (nếu có thể), bàn ghế, đồ chơi, dụng cụ học tập, đồ vật trong phòng học, phòng chức năng. Dọn vệ sinh, lau rửa, khử khuẩn khu vực rửa tay, nhà vệ sinh.

2. Mỗi ngày 02 lần, sau giờ học buổi sáng và cuối ngày: Lau khử khuẩn tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, tay vịn lan can, nút bấm thang máy.

3. Mỗi ngày 02 lần, sau mỗi chuyến đưa, đón học sinh: Lau khử khuẩn tay nắm cửa xe, tay vịn, ghế ngồi, cửa sổ, sàn xe.

4. Mở cửa ra vào và cửa sổ lớp học, sử dụng quạt, không sử dụng điều hòa.

5. Hạn chế sử dụng đồ chơi, dụng cụ học tập bằng các vật liệu không khử khuẩn được.

6. Bố trí đủ thùng đựng rác, thu gom, xử lý hàng ngày.

7. Trường hợp có học sinh biểu hiện sốt, ho, khó thở, nghi ngờ hoặc có xét nghiệm dương tính với COVID-19 thì thực hiện khử khuẩn theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương.

Theo Bộ Y tế

22/04/2020 10:05 SAĐã ban hành
Đua tài tuyên truyền viên trẻ Đua tài tuyên truyền viên trẻ
Hai mươi đội tuyên truyền viên trẻ với gần 500 tuyên truyền viên, diễn viên đại diện cho các tổ chức Đoàn thuộc các địa phương đơn vị LLVT trong tỉnh đã về tham  dự liên hoan tuyên truyền viên trẻ LLVT Long An năm 2014. Họ là những cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên thuộc lực lượng bộ đội thường trực, DQTV đang ngày đêm vững vàng tay súng bảo vệ tổ quốc. Cũng là những tuyên truyền viên trẻ nhiệt tình hăng say, là chiếc cầu nối đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng ý chí, củng cố niềm tin xây dựng LLVT vững mạnh toàn diện.

 

Bộ CHQS tỉnh Long An khen thưởng cho các đội

tuyên truyền viên trẻ đạt thành tích tại liên hoan

Chấp hành nghiêm kế hoạch hội thi, cùng với chuẩn bị chu đáo về nội dung tuyên truyền. Các địa phương, đơn vị đã mang về hội thi nhiều hình thức tuyên truyền phong phú về hình thức, đa dạng về nội dung. Trong đó có các chủ đề về truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hương, về  LLVT chung sức xây dựng nông thôn mới, về chủ quyền biển đảo, về an toàn giao thông, về quan hệ gắn bó máu thịt quân dân... Các chương trình tham dự đều dược dàn dựng công phu, kết hợp tuyên truyền với cổ động trực quan, cùng với các tiết mục hát múa minh họa khá hoành tráng, nhiều màu sắc đã thực sự hấp dẫn cuốn hút người xem.  

Từ khi mở màn cho đến khi bế mạc hội thi, luôn diễn ra những cuộc đọ sức đua tài khá sôi động giữa các đội tuyên truyền viên trẻ. Những gương mặt tuyên truyền viên còn rất trẻ, nhưng lại rất vững vàng tự tin khi đứng trên sân khấu trước một ban giám khảo khắt khe, dày dạn kinh nghiêm trong thực hành công tác Đảng, công tác chính trị. Làm chủ nội dung tuyên truyền, thoát ly văn bản, với phương pháp, tác phong tuyên truyền phù hợp, ngôn ngữ, chất giọng lôi cuốn. Bằng khả năng của mình các tuyên truyền viên đã đưa nội dung tuyên truyền đi sâu vào lòng người. Với 3 yêu cầu đặt ra trong hội thi lần này là: xây dựng kịch bản tuyên truyền, hình thức tuyên truyền và phần thuyết trình minh họa cho chủ đề. Đòi hỏi các các địa phương, đơn vị phải có sự đầu tư nghiên cứu, tìm tòi cách thể hiện một cách sinh động hấp dẫn, phát huy tính sáng tạo của tuổi trẻ trong dàn dựng chương trình, đã mang đến cho hội thi nhiều chương trình có chất lượng với tỷ lệ chương trình khá đạt trên 60%, nhiều tuyên truyền viên có chất giọng, phong cách thuyết trình tốt thu hút người xem, người nghe như  đội tuyên truyền viên trẻ Phòng Tham Mưu, Hậu Cần, Bến Lức, Thạnh Hóa, V.V.

Đại tá Nguyễn Tuấn Bảo - Phó Chính ủy Bộ CHQS tỉnh - Trưởng Ban Chỉ đạo liên hoan cho biết:  Qua theo dõi, các đơn vị tham gia Liên hoan đã có sự lãnh đạo chỉ đạo chặt chẽ và được đầu tư, quan tâm đúng mức, các chương trình tham dự liên hoan đã sân khấu hóa các hình thức tuyên truyền, kết hợp phát huy hiệu quả sân khấu làm người xem xúc động. Liên hoan đã phản ánh sự tập luyện công phu của các tuyên truyền viên, của anh chị em diễn viên do đó Liên hoan  không dừng lại ở việc mang nhiều thông tin tuyên truyền cho người xem người mà còn thể hiện được màu sắc văn hóa ở các địa phương, địa bàn trong tỉnh.

Các đơn vị đã bám sát chủ đề, nội dung hội thi, phản ánh đầy đủ chân thực công tác tuyên truyền và đời sống tinh thần của người chiến sĩ, phản ánh bản chất truyền thống bộ đội Cụ Hồ, các tấm gương hi sinh cao quý của các thế hệ cha anh, về tình đoàn kết quân dân trong thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước. Nội dung xuyên suốt của Liên hoan  đã phản ánh đầy đủ về hình ảnh người chiến sĩ hôm nay phát huy truyền thống cách mạng quê hương quyết tâm phấn đấu xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ.

Qua hai ngày tổ chức hội thi, với sự nỗ lực cố gắng của các thí sinh, ban giám khảo, hội thi tuyên truyền viên trẻ LLVT Long An đã thành công tốt đẹp. Ban tổ chức đã trao giải nhất cho đội tuyên truyền viên trẻ Phòng Tham Mưu, giải nhì Đội tuyên truyền viên trẻ Phòng Hậu Cần, giải ba LLVT huyện Châu Thành, Đức Hòa, Trung đoàn 738 và 5 giải khuến khích và 1 giải tuyên truyền viên xuất sắc khác. Với tinh thần khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, qua hội thi này, đội ngũ tuyên truyền viên trẻ LLVT Long An đang tiếp tục phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế, tiếp tục đổi mới nội dung phương pháp tuyên truyền, góp phần xây dựng trận địa tư tưởng của bộ đội ngày càng vững chắc, kiên định lập trường, mục tiêu chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Trung Dũng

30/06/2014 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo lịch phát sóng phóng sự quảng bá về tỉnh Long An trên kênh Truyền hình Nhân dânThông báo lịch phát sóng phóng sự quảng bá về tỉnh Long An trên kênh Truyền hình Nhân dân
​Thực hiện Công văn số 5466/UBND-VHXH ngày 01/10/2019 của UBND tỉnh về việc phối hợp thực hiện chương trình "Trang địa phương" trên Truyền hình Nhân Dân; Sở Thông tin và Truyền thông (Sở TTTT) đã ký hợp đồng tuyên truyền quảng bá về tỉnh Long An trên kênh Truyền hình Nhân dân để xây dựng và phát sóng 02 phóng sự tài liệu với thời lượng 15 phút/phóng sự để phát sóng trong chương trình "Trang địa phương" của Truyền hình Nhân Dân. Cụ thể:
​S​ttChủ đề phóng sự​​Thời gian phát sóngKênh phát sóng
1Long An: Vượt nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua 04 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh- Lần 1: Lúc 18 giờ 00 phút, ngày 26/02/2020 (thứ Tư);
- Lần 2: Lúc 16 giờ 30 phút ngày 01/3/2020 (chủ Nhật)

Truyền hình Nhân Dân

 

2Kết quả 10 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Long An- Lần 1: Lúc 18 giờ 00 phút, ngày 11/3/2020 (thứ Tư);
- Lần 2: Lúc 16 giờ 30 phút, ngày 15/3/2020 (chủ Nhật)

Sở Thông tin và Truyền thông thông báo các cơ quan, địa phương nắm lịch phát sóng để thông báo đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân đón xem./.​​​​

Sở TTTT

26/02/2020 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo về Cuộc thi tìm hiểu truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Long AnThông báo về Cuộc thi tìm hiểu truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Long An
Để thiết thực chào mừng kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống lực lượng vũ trang tỉnh Long An (22/8/1945-22/8/2020). Ngày 23/4/2020, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh ban hành Kế hoạch số 1233/KH-BCH về tổ chức Cuộc thi tìm hiểu truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Long An. Cuộc thi với chủ đề “Lực lượng Vũ trang Long An 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành”.

​Nội dung Cuộc thi như sau:

- Đối tượng tham gia cuộc thi: 

+ Cán bộ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan binh sĩ, Dân quân tự vệ, Dự bị động viên trong Lực lượng vũ trang tỉnh.

+ Lực lượng Bộ đội Biên phòng; Công an; Hội viên Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh; đoàn viên thanh niên; học sinh, sinh viên và nhân dân trên địa bàn tỉnh.

- Nội dung: Trả lời 06 câu hỏi như sau:

+ Câu hỏi 1: Ngày truyền thống của Lực lượng vũ trang Long An được xác định là ngày, tháng, năm nào? Do ai chỉ huy (Ủy viên Quân sự tỉnh)?

+ Câu hỏi 2: Quân và dân Long An được tặng 8 ch vàng, 8 chữ vàng đó là gì? Được cấp nào phong tặng? đâu? Vào ngày tháng năm nào?

+ Câu hỏi 3: Đồng chí hãy kế tên Tỉnh đội trưởng, Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Tỉnh đội, Chính ủy (Phó Chỉ huy trưởng Chính trị) Bộ CHQS tỉnh qua các thời kỳ (Chợ Lớn, Tân An trong kháng chiến chống Pháp; Long An, Kiến Tường trong kháng chiến chống Mỹ; Long An từ năm 1976 đến nay)?

+ Câu hỏi 4: Tính đến thời đim tháng 12/2019, Long An có bao nhiêu liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, Bà mẹ Việt Nam anh hùng? Bao nhiêu tập th, cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân?

+ Câu hỏi 5: Đồng chí hãy tóm tắt diễn biến 03 trận đánh tiêu biu của Lực lượng vũ trang tỉnh Long An trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ?

+ Câu hỏi 6: Cảm tưởng của đồng chí về truyền thống Lực lượng vũ trang Long An qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưng thành?

- Thể lệ cuộc thi:

+ Bài dự thi phải trả lời đầy đủ theo thứ tự 06 câu hỏi của Ban T chức cuộc thi, bài viết có th viết tay hoặc đánh máy, riêng câu số 06 phải viết tay, dung lượng không quá 1.000 từ.

+ Nội dung bài dự thi không được sao chép của người khác dưới mọi hình thức; nếu trích dẫn nội dung, hình nh, tư liệu đ minh họa phải có chú thích rõ ràng.

+ Bài dự thi trình bày lề theo quy định, bảo đảm rõ ràng, sạch đẹp, được đánh số trang theo thứ tự và đóng lại thành quyn.

+ Trang bìa bài dự thi phải ghi rõ: Họ tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; số điện thoại; đơn vị (nơi học tập, công tác) của người dự thi (khuyến khích các bài thi có trang bìa trình bày phong phú, đẹp, đặc sắc).

+ Những bài dự thi trùng nhau về nội dung, hình thức trình bày (photo copy), trả lời không đủ câu hỏi, gửi bài dự thi quá thời gian quy định sẽ không được tính.

+ Khuyến khích các bài dự thi hình thức đẹp (in màu, đóng gáy...), có hình ảnh, tư liệu dẫn chng minh họa phong phú. Đối với nội dung trả lời từng câu hỏi khuyến khích các bài thi có phần lời dẫn, phân tích, giải thích, liên hệ, định hướng nhận thức, hành động...

- Cơ cấu giải thưởng:

+ Tập thể: 16 giải 

Ÿ 01 giải Nhất: Tặng Giấy khen, kèm theo tiền thưởng: 2.000.000 đ

Ÿ 02 giải Nhì: Tặng Giấy khen, tiền thưởng mỗi giải: 1.500.000 đ

Ÿ 03 giải Ba: Tặng Giấy khen, tiền thưởng mỗi giải: 1.000.000 đ

Ÿ 10 giải Khuyến khích: Tặng Giấy khen, tiền thưởng mỗi giải:  800.000 đ

(Xét khen thưởng đối với những tập thểnhiều người tham gia dự thi, bài dự thi có chất lượng tốt).

+ Cá nhân: 24 giải

Ÿ 01 giải Xuất sắc: Tặng Giấy khen kèm theo tiền thưởng:  1.200.000 đ

Ÿ 01 giải Nhất: Tặng Giấy khen kèm theo tiền thưởng:  1.000.000 đ

Ÿ 02 giải Nhì: Tặng Giấy khen, tiền thưởng mi giải: 800.000 đ

Ÿ 05 giải Ba: Tặng Giấy khen, tin thưởng mỗi giải:  600.000 đ

Ÿ 15 giải Khuyến khích: Tặng Giấy khen, tiền thưởng mỗi giải:  500.000 đ

Các bài dự thi đạt gii được trưng bày tại Đại hội Đng bộ quân sự tỉnh lần thứ XII và trưng bày tại họp mặt kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống LLVT tỉnh.

- Thời gian nhận bài dự thi: trước ngày 30/6/2020 (*Lưu ý: các bài dự thi nộp về Ban Tổ chức cuộc thi sau ngày 30/6/2020 không được tính kết quả); Bài dự thi gửi về Ban Tổ chức cuộc thi (qua Ban Tuyên huấn/Phòng Chính trị/Bộ CHQS tỉnh; Số 175, Quốc lộ 62, Phường 6, Tp Tân An, Long An).

* Mọi chi tiết liên quan cuộc thi vui lòng liên hệ Ban Tuyên huấn/Phòng Chính trị/Bộ CHQS tỉnh, SĐT: 3.832.422 hoc 0984.795.565 (gặp đ/c Lê Đình Lượng, Trợ lý Tuyên huấn"./.

TH


03/06/2020 4:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong các trường họcHướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong các trường học
Hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong các trường học (file âm thanh do Bộ Y tế cung cấp)

 
11/03/2020 11:00 SAĐã ban hành
Kiến thức chung về phòng, chống dịch Covid-19Kiến thức chung về phòng, chống dịch Covid-19
"Kiến thức chung về phòng, chống dịch Covid-19", Cổng TTĐT giới thiệu toàn văn tài liệu do Sở Thông tin và truyền thông cung cấp để người dân hiểu về cách phòng chống dịch bệnh Covid-19, nâng cao ý thức tự bảo vệ mình, bảo vệ cộng đồng,

1. Người bị bệnh COVID-19 có biểu hiện gì?

​Các biểu hiện của người bệnh như: đau nhức đầu, khó chịu, sốt cao (trên 38 độ), ho hoặc đau họng, chảy nước mũi, khó thở, đau mỏi cơ. Nếu có các triệu chứng như trên, bạn cần thông báo cho các cơ sở y tế tại địa phương và làm theo hướng dẫn.

Các triệu chứng lâm sàng ban đầu hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi, đau cơ. Một số trường hợp có thể có đau họng, ngạt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy. Những trường hợp nặng xuất hiện viêm phổi; khó thở do viêm phổi nặng, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS); suy chức năng các cơ quan. Các triệu chứng của bệnh xuất hiện sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh từ 02 –14 ngày.

2. Có phải cứ ho, sốt là bị bệnh do COVID-19 hay không?

Ho, sốt là biểu hiện của nhiều bệnh lý cấp và mạn tính khác nhau liên quan đến đường hô hấp. Có nhiều nguyên nhân có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính như các loại vi khuẩn, vi rút  gây bệnh có biểu hiện sốt, ho. Do đó khi có một trong các biểu hiện trên không nghĩ đến bệnh do COVID-19.

Người mắc bệnh do COVID-19 xuất hiện 1 trong 4 triệu chứng sau như: Sốt  trên 38 độ, ho, khó thở, viêm phổi và kèm theo yếu tố dịch tể nhập cảnh từ vùng dich về trong 14 ngày hoặc tiền sử đến/ở/về từ ổ dịch tại Việt Nam trong 14 ngày, tiếp xúc gần ca xác định/nghi ngờ tại Việt Nam trong 14 ngày. Nếu có các triệu chứng như trên, bạn cần thông báo cho các cơ sở y tế tại địa phương và làm theo hướng dẫn

Ho, sốt là biểu hiện của nhiều bệnh lý cấp và mạn tính khác nhau liên quan đến đường hô hấp. Bệnh do COVID-19 là một bệnh viêm đường hô hấp cấp. Có nhiều nguyên nhân có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính như các loại vi khuẩn, vi rút  gây bệnh; các loại virus như virus cúm mùa, virus á cúm, virus hô hấp hợp bào… Do đó, không phải cứ có ho, sốt là đều biểu hiện bị bệnh do COVID-19.

Người bệnh bị ho, sốt mà có đến, ở và về từ nơi có dịch hoặc tiếp xúc với người nghi bị nhiễm COVID-19 trong vòng 14 ngày thì cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh có do COVID-19 hay không.

3. Dịch COVID-19 lan truyền bằng cách nào?

Virus lây từ người này sang người kia thông qua tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh. Tùy thuộc vào mức độ lây lan của chủng virus, việc ho, hắt hơi hay bắt tay có thể khiến người xung quanh bị phơi nhiễm. Virus cũng có thể bị lây từ việc ai đó chạm tay vào một vật mà người bệnh chạm vào, sau đó đưa lên miệng, mũi, mắt họ. Những người chăm sóc bệnh nhân cũng có thể bị phơi nhiễm virus khi xử lý các chất thải của người bệnh.

Hiện nay, phương thức lây truyền chính xác từ động vật sang người còn chưa rõ; điều chắc chắn là người (hoặc những người) đầu tiên nhiễm virus từ động vật truyền sang có tiếp xúc với nguồn chứa virus do động vật phát tán (chất thải, dịch tiết, thịt sống…). Từ những nguồn này virus gây bệnh

COVID-19 đã nhiễm vào các tế bào ở đường hô hấp của người nhiễm mầm bệnh. Tại đây, virus nhân lên gây bệnh cho đường hô hấp, đồng thời phát tán ra ngoài qua đường hô hấp trên của người bệnh để rồi lây truyền từ người này sang người khác.

Virus lây truyền từ người sang người qua ba đường chính: Giọt bắn, không khí và tiếp xúc bề mặt có virus. Từ ba đường lây chính này, các biện pháp dự phòng được khuyến cáo là đeo khẩu trang và rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát trùng.

- Đối với người bệnh có triệu chứng hoặc người mang mầm bệnh không triệu chứng (mới bị nhiễm còn đang ở giai đoạn ủ bệnh hoặc người mang mầm bệnh không triệu chứng thực thụ), đeo khẩu trang là cách hiệu quả để ngăn phát tán giọt bắn ra môi trường xung quanh khi ho hoặc hắt hơi.

- Người chưa nhiễm virus đeo khẩu trang y tế thông thường đúng cách đã có thể ngăn ngừa một cách hiệu quả đường lây nhiễm do giọt bắn.

- Lây qua đường không khí thường chỉ gặp trong tình huống chăm sóc y tế có tiến hành các thao tác khí dung hoặc hút đờm dãi, do vậy chỉ nhân viên y tế hoặc người nhà chăm sóc người bệnh mới cần các loại khẩu trang y tế chuyên dụng như N95.

- Rửa tay thường xuyên, nhất là sau khi tiếp xúc với các bề mặt có nguy cơ cao (che miệng khi ho, hắt hơi; chạm tay vào khẩu trang đã sử dụng, ống tay áo che mũi/miệng khi ho, hắt hơi; tay nắm cửa, nút bấm thang máy, điện thoại di động…), đồng thời tập thói quen không cho tay bẩn vào miệng, mũi, mắt là cách hiệu quả nhất để ngăn cản đường lây qua tiếp xúc bề mặt có virus.

4. Tôi vừa đi cùng chuyến máy bay/chuyến ô tô/toa tàu; ở cùng phòng họp/lớp học với một người vừa được xác định là người nhiễm COVID-19 có nghĩa là tôi cũng đã nhiễm COVID-19 phải không?

Không hoàn toàn như vậy. Trường hợp này được coi là tiếp xúc gần với người bệnh. Bạn cần theo dõi và tự cách ly bản thân trong vòng 14 ngày, vừa để bảo vệ mình vừa để bảo vệ những người xung quanh và cộng đồng theo hướng dẫn của Bộ Y tế.  

5. Thế nào là tiếp xúc gần với người bệnh?

Ca nghi ngờ xác định tiếp xúc gần là: Sống cùng gia đình, người cùng làm việc, người cùng nhóm du lịch/chơi, ngồi cùng/trước/sau 2 hàng nghế xe, tàu bay, nhân viên y tế.

Là tiếp xúc với bệnh nhân trong cự ly dưới 2m hoặc ở trong cùng một phòng hay khu vực chăm sóc một ca bệnh được khẳng định có bệnh hoặc khả năng bị bệnh trong thời gian kéo dài.

6. Tại sao khi có dịch COVID-19 lại phải tiến hành cách ly y tế?

Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, COVID-19 là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm nên bắt buộc phải tiến hành các biện pháp cách ly y tế.

7. Thế nào là cách ly y tế tập trung?

Cách ly y tế tập trung là những người nhập cảnh từ vùng dich về trong 14 ngày hoặc tiền sử đến/ở/về từ ổ dịch tại Việt Nam trong 14 ngày, tiếp xúc gần ca xác định/nghi ngờ tại Việt Nam trong 14 ngày.

Cách ly y tế tập trung là khi một nhóm người có nguy cơ mắc bệnh (ví dụ: Nhóm người này vừa từ vùng có dịch trở về) thì được tập trung tại một khu vực (có thể là doanh trại quân đội, bệnh viện dã chiến…) để cách ly theo quy định.

8. Tại sao người đi về từ vùng có dịch dù không có biểu biện bị bệnh hoặc nghi ngờ tiếp xúc với mầm bệnh vẫn phải tiến hành cách ly?

Vì những người này hoàn toàn có thể lây nhiễm virus từ vùng có dịch nhưng chưa có biểu hiện bệnh. Nhóm người này cần cách ly để đảm bảo an toàn cho cộng đồng. Nếu không cách ly nhóm người này mà họ có xuất hiện triệu chứng bệnh thì số người phải cách ly tiếp theo là rất lớn và rất khó kiểm soát triệt để.

9. Tại sao phải hạn chế đi lại với những người đang sống trong vùng có dịch mặc dù họ không có biểu biện bị bệnh hoặc nghi ngờ tiếp xúc với người bệnh?

Việc hạn chế đi lại của những người trong vùng có dịch giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm cho những người khác, đặc biệt là những người không có biểu hiện dấu hiệu lâm sàng (trong thời kỳ ủ bệnh) được chứng minh là vẫn có thể lây lan mạnh.

10. Tại sao lại cần tiến hành giám sát thân nhiệt để kiểm soát dịch bệnh?

Giám sát thân nhiệt chỉ là một biện pháp kiểm soát dịch bước đầu để phát hiện người có sốt khi nhập cảnh, khám bệnh…

Hầu hết các ca bệnh nhiễm COVID-19 đều có sốt nên đây là bước sơ bộ để kiểm soát dịch vì đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, biện pháp quan trọng vẫn là phát hiện sớm, cách ly và phòng ngừa trong lây nhiễm COVID-19.

11. Ngoài giám sát thân nhiệt còn có biện pháp nào để kiểm soát dịch bệnh nữa không?

Ngoài giám sát thân nhiệt còn phải kê khai các yếu tố dịch tễ như đến từ vùng dịch và theo dõi các triệu chứng hô hấp; quản lý và cách ly các người đến từ vùng dịch, tiếp xúc người bệnh và nghi ngờ mắc bệnh. Thực hiện vệ sinh tay thường xuyên với xà phòng, vệ sinh hô hấp, vệ sinh nhà cửa và hạn chế tiếp xúc đông người để giảm nguy cơ lây nhiễm.

12. Tại sao đeo khẩu trang có thể ngăn ngừa được bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp?

Khẩu trang khi sử dụng đúng loại và đúng cách có tác dụng ngăn ngừa được các tác nhân gây bệnh từ đường hô hấp của người mang mầm bệnh phát tán ra không khí và từ không khí vào đường hô hấp của người chưa bị nhiễm bệnh. Hiệu quả phòng ngừa sẽ cao hơn khi cả người mang mầm bệnh và người không mang mầm bệnh cùng sử dụng khẩu trang.

13. Đeo khẩu trang y tế như thế nào là đúng cách?

- Chỉ sử dụng 1 lần rồi vứt vào thùng rác an toàn, có nắp đậy.

- Khi đeo khẩu trang phải để mặt xanh ra ngoài do mặt màu xanh có tính chống nước.

- Mặt màu trắng có tính hút ẩm, nên quay vào trong, để hơi thở thoát ra thấm vào khẩu trang.

- Khẩu trang phải che kín cả mũi lẫn miệng. Khi mang khẩu trang tuyệt đối không sờ tay vào, vì động tác sờ tay sẽ vô tình làm cho bàn tay lây nhiễm vi rút và các tác nhân gây bệnh khác, sau đó truyền bệnh lại cho chính mình và những người xung quanh.

- Tuyệt đối không dùng tay cầm vào khẩu trang để tháo ra, thói quen lấy tay vo khẩu trang lại sẽ gây lây nhiễm vi rút và các tác nhân gây bệnh khác cho bàn tay.

- Khi tháo khẩu trang chỉ được cầm vào dây đeo qua tai, tháo ra cho vào thùng rác an toàn.

- Rửa tay ngay sau khi tháo bỏ khẩu trang

Khi đeo đảm bảo tay sạch, luôn đeo mặt chống thấm ra ngoài, chỉnh thanh kim loại cho ôm sát mũi và quai đeo chắc chắn. Khẩu trang phải chùm kín được mũi, miệng. Không sờ tay vào mặt ngoài trong suốt quá trình sử dụng.

Khi tháo phải vệ sinh tay, dùng tay tháo dây đeo và chỉ cầm dây đeo bỏ vào thùng rác, không sờ vào mặt ngoài khẩu trang. Thời gian đeo khẩu trang dùng một lần khoảng 6 – 8 giờ.

14. Khẩu trang vải có tác dụng dự phòng lây nhiễm Covid-19 không?

Có. Tuy nhiên hiệu quả bảo vệ thấp hơn khẩu trang y tế và có thể khác nhau tùy theo cấu tạo và cách sử dụng (đặc biệt là vấn đề tái sử dụng) của khẩu trang vải. Cần lưu ý thông tin từ nhà sản xuất xem khẩu trang vải định sử dụng có đáp ứng được các yêu cầu chất lượng của Bộ Y tế hay không.

15. Khi nào phải rửa tay để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Bất kỳ khi nào có nguy cơ ô nhiễm tay, nhất là sau khi lấy tay che mũi, miệng khi ho, hắt hơi; sau khi sờ, cầm, nắm vào các vật dụng xung quanh. Ở các vùng nghi ngờ có người mắc hay phải tiếp xúc với người nghi ngờ có triệu chứng như ho, hắt hơi, sốt… thì càng phải thực hiện biện pháp rửa tay thường xuyên hơn. Ngoài ra, nên rửa tay trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi chế biến thực phẩm… Cần tập thói quen rửa tay thường xuyên, kể cả không phải khi đang có dịch COVID-19, để phòng chống nhiều loại bệnh lây truyền khác do tay bị ô nhiễm.

16. Cần vệ sinh môi trường như thế nào để hạn chế lây nhiễm COVID-19?

Môi trường cần sạch sẽ thông thoáng. Nếu có ánh nắng mặt trời chiếu vào sẽ có tác dụng tiêu diệt virus rất hiệu quả. Khi cần thiết, ngoài vệ sinh chung cần phun thuốc khử trùng để tiêu diệt virus COVID-19.

17. Nên vệ sinh cá nhân như thế nào để đề phòng lây nhiễm COVID-19?

Để phòng lây nhiễm COVID-19, cần vệ sinh cá nhân tốt. Đây là biện pháp dự phòng không đặc hiệu. Vệ sinh cá nhân gồm:

- Vệ sinh bàn tay: Luôn giữ bàn tay sạch sẽ; rửa tay thường xuyên.

- Vệ sinh thân thể: Tắm rửa hàng ngày. Dù vào mùa đông, vẫn cần tắm rửa hàng ngày để loại bỏ các tác nhân gây bệnh có thể bám trên da.

- Vệ sinh quần áo: Quần áo là nơi tác nhân có thể bám vào (như nước bọt), vì vậy cần thay quần áo thường xuyên và giặt bằng xà phòng.

- Vệ sinh tóc: Tóc dài, tóc rối… là nơi có thể chứa mầm bệnh (qua nước bọt người bệnh). Vì vậy, nên cắt tóc ngắn, với nữ giới nên cuốn hoặc búi tóc gọn gàng, gội đầu hàng ngày để hạn chế tối đa mầm bệnh có thể bám trên tóc.

- Vệ sinh móng: Không để móng tay, móng chân dài. Móng tay, móng chân là nơi có thể chứa mầm bệnh COVID-19, do đó luôn cắt ngắn móng tay, chân và vệ sinh tay sạch sẽ để hạn chế mầm bệnh.

18. Nên duy trì chế độ ăn như thế nào để tăng sức đề kháng phòng chống COVID-19?

Không có chế độ ăn đặc hiệu để tăng sức đề kháng riêng với COVID-19.

Nên duy trì chế độ ăn hợp lý, đủ chất đinh dưỡng, có thể bổ sung vitamin để tăng sức đề kháng chung. Do chưa loại trừ khả năng lây qua thức ăn nên thực hiện "ăn chín uống sôi". Tuyệt đối không ăn đồ ăn sống như tiết canh, thịt sống, đặc biệt là tiết canh, thịt sống của động vật hoang dã./.

Theo Sở TTTT

13/04/2020 11:15 SAĐã ban hành
Người chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học để phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu PhiNgười chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học để phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Trong thời gian qua, tình hình dịch bệnh Dịch tả heo Châu Phi diễn biến phức tạp, hiện nay dịch bệnh đã xuất hiện và gây thiệt hại ở tỉnh Đồng Nai. Do tỉnh Long An là nơi tập trung nhiều cơ sở giết mổ, tiếp nhận nguồn heo từ các tỉnh khác nhập về với số lượng lớn (trong đó có Đồng Nai), chính vì vậy nguy cơ dịch bệnh xâm nhập và lây lan là rất cao.

​​Bệnh Dịch tả heo Châu Phi hay còn gọi là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra; bệnh lây lan nhanh, xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi loại heo. Bệnh không lây lan trên người nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế với tỉ lệ heo chết cao (lên đến 100%). Thời gian ủ bệnh từ 4 - 19 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3 - 4 ngày. Vi rút gây bệnh Dịch tả heo Châu Phi có sức đề kháng cao với môi  trường, tồn tại thời gian dài trong thịt đông lạnh (1.000 ngày), giăm bông (140 ngày). Bệnh truyền lây qua máu, chất tiết, dịch tiết, chất thải, xác động vật, thịt heo và các chế phẩm từ thịt heo như: xúc xích, giăm bông, … 02 yếu tố quan trọng làm lây lan dịch bệnh đó là con người và phương tiện vận chuyển. Heo mắc bệnh sốt cao (hơn 40oC), không ăn, nôn mửa, ủ rũ, lười vận động, nằm chồng đống, đau vùng bụng; có thể hôn mê. Vành tai, chân, đuôi và da bụng có màu đỏ sẫm, xanh tím. Heo chết đột ngột; phủ tạng (tim, phổi, ruột, thận, …) xuất huyết.

Hiện nay chưa có vắc-xin và thuốc điều trị bệnh Dịch tả heo Châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh duy nhất là "Người chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học" như: tắm sát trùng trước khi vào trại; sử dụng quần áo, ủng, đồ bảo hộ riêng khi vào trại; vệ sinh sát trùng và cách ly các dụng cụ, vật dụng phục vụ cho chăn nuôi; tiêm vắc-xin phòng các bệnh truyền nhiễm bắt buộc theo khuyến cáo của cơ quan thú y; vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi thường xuyên; xử lý chất thải chăn nuôi bằng biogas; hạn chế người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, nhất là các phương tiện chở thức ăn và mua bán động vật; không để vật nuôi khác vào khu vực chăn nuôi heo, định kỳ diệt chuột; không sử dụng thức ăn dư thừa (có sản phẩm từ thịt heo) để nuôi heo mà không qua xử lý nhiệt.

Lưu ý: Bệnh Dịch tả heo không lây lan trên người và vi rút gây bệnh có thể bị tiêu diệt sau khi xử lý bằng nhiệt (60oC trong 20 phút).

Để thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi, người chăn nuôi phải nghiêm túc thực hiện "5 không":

Thứ nhất - KHÔNG GIẤU DỊCH.

Thứ hai - KHÔNG MUA BÁN, VẬN CHUYỂN HEO BỆNH, HEO CHẾT.

Thứ ba - KHÔNG GIẾT MỔ, TIÊU THỤ THỊT HEO BỆNH, THỊT HEO CHẾT.

Thứ tư - KHÔNG VỨT HEO CHẾT RA MÔI TRƯỜNG.

Thứ năm - KHÔNG SỬ DỤNG THỨC ĂN DƯ THỪA NUÔI HEO MÀ KHÔNG QUA XỬ LÝ NHIỆT.

Khi phát hiện có heo bệnh, chết phải cách ly và báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan thú y. Không bán chạy heo bệnh hoặc vứt xác ra môi trường làm lây lan dịch bệnh.

Đường dây nóng báo cáo dịch bệnh: Phòng Kỹ thuật – Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản: 02723.838.146 hoặc 0918.700.595.

TV

13/05/2019 9:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 tại các hộ gia đìnhHướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 tại các hộ gia đình
Để đáp ứng công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong trạng thái “bình thường mới”, đảm bảo chung sống an toàn với dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu kép, Bộ Y tế xây dựng hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 tại các hộ gia đình, như sau:


8-1-2020-anh-dai-dien.jpg3501323836507_HD-tuyen-truyen-trong-ho-gia-dinh.jpg


Theo Bộ Y tế


07/01/2021 10:00 SAĐã ban hành
Chấn chỉnh tình trạng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trong giai đoạn cao điểm phòng, chống dịch Covid-19Chấn chỉnh tình trạng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trong giai đoạn cao điểm phòng, chống dịch Covid-19
Thời gian qua, Chính phủ và địa phương đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, đặc biệt là Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ và Công điện số 1665 của UBND tỉnh về việc quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, đại đa số người dân chấp hành nghiêm các quy định, hướng dẫn, khuyến các của cơ quan chức năng; từ đó tình hình dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát tốt.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người dân chấp hành chưa nghiêm, còn chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, cụ thể như: Còn ra ngoài trong trường hợp không thật sự cần thiết, không đeo khẩu trang khi ra ngoài, tập trung đông người tại các điểm mua bán, tập trung đông người tại nơi công cộng và chưa đảm bảo khoảng cách tối thiểu 02 mét, tổ chức ăn uống đông người, đăng tải thông tin chưa chính xác trên mạng xã hội, chưa thực hiện khai báo ý tế toàn dân,… Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm còn lớn; để thực hiện tốt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh, đề nghị bà con, nhân dân thực hiện tốt một số nội dung sau:

1. Thực hiện nghiêm việc cách ly toàn xã hội theo nguyên tắc gia đình cách ly với gia đình, ấp, khu phố cách ly với ấp, khu phố, xã cách ly với xã, huyện cách ly với huyện, tỉnh cách ly với tỉnh; đảm bảo giãn cách xã hội, giữ khoảng cách giữa người với người, cộng đồng với cộng đồng. Để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm, yêu cầu người dân ở nhà, hạn chế ra ngoài trừ khi thật sự cần thiết như: Mua lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu khác và các trường hợp khẩn cấp. Khi ra khỏi nhà phải đeo khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, không tập trung quá 02 người trở lên tại nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện và phải giữ khoảng khách tối thiểu 02 mét.

2. Dừng các hoạt động dịch vụ, vui chơi, giải trí tập trung đông người.

3. Hạn chế tối đa việc tập trung đông người khi đến các điểm mua bán để thực hiện tốt việc phòng, chống dịch bệnh.

4. Tuân thủ các khuyến cáo của Bộ Y tế để chủ động phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, như: Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; vệ sinh và để thông thoáng nhà cửa; lau rửa thường xuyên các bề mặt, các điểm hay tiếp xúc; sinh hoạt lành mạnh, sử dụng và đeo khẩu trang đúng quy định. Thực hiện khai báo y tế trên ứng dụng khai báo y tế toàn dân NCOVI; cập nhật tình hình sức khỏe hàng ngày, giữ liên hệ với cơ quan y tế gần nhất để được tư vấn, hỗ trợ.

5. Chấp hành nghiêm việc khai báo đúng, đầy đủ và việc thực hiện cách ly theo yêu cầu của cơ quan chức năng.

6. Tuyệt đối không thông tin sai sự thật, tin giả, bịa đặt về dịch bệnh gây hoang mang trong xã hội.

7. Khi có nhu cầu thực hiện thủ tục hành chính thì thực hiện thông qua dịch vụ công trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính công ích do Bưu điện cung cấp.

Đề nghị bà con, nhân dân thực hiện nghiêm quy định, hướng dẫn, khuyến các của cơ quan chức năng; các trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm đúng theo quy định của pháp luật./.

TH

13/04/2020 11:05 SAĐã ban hành
Hội sách trực tuyến quốc gia hấp hẫn với hàng nghìn đầu sách và lan toả văn hoá đọc sách tới độc giả mọi miềnHội sách trực tuyến quốc gia hấp hẫn với hàng nghìn đầu sách và lan toả văn hoá đọc sách tới độc giả mọi miền
Khai mạc từ ngày 19/4 "Hội sách trực tuyến quốc gia 4.0" lần đầu tiên được tổ chức với chủ đề 'Đọc sách, nâng cao trí tuệ, vượt qua nỗi lo dịch bệnh' đem lại nhiều ý nghĩa cho cộng đồng.


Ngày Sách, những sự kiện sách hàng năm đã trở thành những sinh hoạt văn hóa thường niên, được cộng đồng đón nhận và tôn vinh. Năm nay hội sách thường kỳ chuyển sang hình thức tổ chức trực tuyến 4.0 qua sàn giao dịch book365.vn với mong muốn mang lại sân chơi tri thức trực tuyến, trí tuệ bổ ích và vui vẻ cho tất cả bạn đọc, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn khi đất nước đối mặt với đại dịch cần giãn cách và cách ly với nhiều lo lắng trong cộng đồng.

Sự kiện bước đầu đã thu hút hơn 50 đơn vị xuất bản và đơn vị phát hành sách tham gia giới thiệu khoảng 10.000 đầu sách phong phú tới độc giả. Những cuốn sách được chính các nhà xuất bản giới thiệu Hội sách là các sách chính thống, đảm bảo về chất lượng mẫu in đẹp và hỗ trợ chiết khấu giảm 25% so với giá bìa và hoàn toàn miễn phí vận chuyển.

Ban tổ chức hy vọng phương thức tổ chức mới này sẽ giúp bạn đọc tăng cơ hội tiếp cận sách, khơi dậỵ thói quen đọc sách và tạo dựng được dân chơi bổ ích cho cộng đồng nhân dịp cả nước chung tay chống đại dịch với nhiều khó khăn, thử thách.

Để đồng hành cùng độc giả trong suốt thời gian diễn ra hội sách trực tuyến, Hội sách có mời các khách mời là nhà lãnh đạo, doanh nhân, nghệ sỹ,...... tới giao lưu trực tuyến độc giả nhằm chia sẻ các chủ đề văn hóa đọc và lan truyền cảm hứng đọc sách tới đông đảo mọi người. Đây cũng là một nét mới trong chương trình năm nay, các độc giả có thể đăng ký tham gia toạ đàm để gặp gỡ vị khách mời mà mình yêu thích ngay tại trang giới thiệu của khách mời./.

TH


19/05/2020 10:00 SAĐã ban hành
Triển khai IPv6 tại Việt NamTriển khai IPv6 tại Việt Nam
Địa chỉ IPv6 (Internet Protocol version 6) là thế hệ địa chỉ Internet phiên bản mới được thiết kế để thay thế cho phiên bản địa chỉ IPv4 trong hoạt động Internet.

​Nội dung xem tại đây: http://mic.gov.vn/ipv6/Pages/trangchu.aspx​​

13/11/2018 8:00 SAĐã ban hành
Tài liệu hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 do Bộ Y tế cung cấpTài liệu hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 do Bộ Y tế cung cấp
Sở Thông tin và Truyền thông cung cấp đường link tải bộ tài liệu hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 do Bộ Y tế và WHO đặt hàng (Công ty Cổ phần Đầu tư IGV Group sản xuất):

Xem nội dung: tại đây.

Bộ tài liệu gồm: Videoclip, Infographic đầy đủ nhất (tính đến thời điểm hiện tại) về phòng, chống dịch COVID-19 cho các nhóm nội dung truyền thông gồm: Nhóm cách ly, nhóm dịch vụ công cộng, nhóm giao thông công cộng, nhóm trường học và các khuyến cáo chung về COVID-19 giúp bạn an toàn. Cụ thể: (i) Videoclip gồm: 02 định dạng (17 videoclip ngang và 16 videoclip dọc) để có thể xem và chia sẻ linh hoạt trên màn hình TV, OOH, điện thoại, máy tính,…; (ii) 05 Infographic (đồ họa thông tin) với chất lượng cao, có thể sử dụng để in ấn hoặc đăng lên các mạng nội bộ, group hoặc tài khoản cá nhân.

Sở Thông tin và Truyền thông đề nghị quý cơ quan, địa phương, báo chí, truyền thông khai thác, sử dụng để tuyên truyền công tác phòng, chống dịch COVID-19 đạt hiệu quả./.

TH

31/03/2020 5:00 CHĐã ban hành
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 130 năm ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực quốc hội (5/6/1889 – 5/6/2019)Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 130 năm ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực quốc hội (5/6/1889 – 5/6/2019)
Cụ Nguyễn Văn Tố (bút hiệu Ứng Hòe) sinh ngày 5/6/1889 trong một gia đình nhà nho, thuộc làng Đông Thành nay là phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Thân phụ là cụ Nguyễn Văn Thịnh một nhà nho yêu nước, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Kim, quê gốc ở Hà Đông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Tố đã thể hiện tư chất thông minh và học giỏi. Năm mới lên 4 - 5 tuổi, tự học chữ nho tại nhà, Nguyễn Văn Tố đã đạt ở trình độ Tam tự kinh - bậc khởi đầu của Nho học; rồi sau đó, lần lượt đạt qua các bậc “Nhất trường”, “Nhị trường” và “Tam trường”.

​I. TÓM TẮT TIỂU SỬ - QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CỤ NGUYỄN VĂN TỐ
Cụ Nguyễn Văn Tố (bút hiệu Ứng Hòe) sinh ngày 5/6/1889 trong một gia đình nhà nho, thuộc làng Đông Thành nay là phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Thân phụ là cụ Nguyễn Văn Thịnh một nhà nho yêu nước, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Kim, quê gốc ở Hà Đông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Tố đã thể hiện tư chất thông minh và học giỏi. Năm mới lên 4 - 5 tuổi, tự học chữ nho tại nhà, Nguyễn Văn Tố đã đạt ở trình độ Tam tự kinh - bậc khởi đầu của Nho học; rồi sau đó, lần lượt đạt qua các bậc "Nhất trường", "Nhị trường" và "Tam trường".

Lớn lên giữa lúc đất nước đang trải qua nhiều chuyển biến sâu sắc dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân ta trên khắp cả nước như: phong trào Duy Tân (1906-1908) do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo; vụ "Hà Thành đầu độc" (1908)... đã ảnh hưởng đến tình cảm và ý chí của Nguyễn Văn Tố.

Năm 16 tuổi (1905), Nguyễn Văn Tố đỗ đầu cuộc thi ngạch Phán sự - Thông dịch do Tòa Thống sứ Bắc Kỳ tổ chức. Năm 17 tuổi (1906), Nguyễn Văn Tố được chính thức vào làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) của Pháp tại Hà Nội và từng bước thăng tiến, giữ chức Chủ sự dưới quyền giám đốc EFEO cho đến ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.

Từ tháng 3 năm 1907, Nguyễn Văn Tố tham gia giảng sách tại Hội Trí Tri bằng tiếng Pháp, tiếng Việt về các đề tài lịch sử, địa lý, văn học, y khoa, khoa học thủy nông. Vào những năm 1910, Nguyễn Văn Tố đã trở thành một học giả nổi tiếng, có nhiều sáng tạo kết hợp văn hóa phương Đông và phương Tây; tham gia giảng dạy tại Hội Trí Tri và được cử là Trưởng ban biên tập Tập san Trí Tri.    

Ngày 16/3/1930, Nguyễn Văn Tố được Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Mỹ thuật Pháp bổ nhiệm là Viên chức Hàn lâm của EFEO.

Năm 1933-1936, Nguyễn Văn Tố được Giám đốc EFEO bổ nhiệm trợ lý hạng 3 và được bầu làm Hội trưởng Hội Trí Tri. Năm 1938, Nguyễn Văn Tố được cử là Hội trưởng Hội truyền bá học chữ Quốc ngữ Bắc Kỳ. Năm 1940, Nguyễn Văn Tố được Triều đình nhà Nguyễn sắc phong là "Trung nghĩa đại phu Quang Lộc Tự Khanh" tương ứng với Tòng Tam phẩm và đến năm 1941, Ông tham gia sáng lập Tạp chí Tri Tân.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Nguyễn Văn Tố làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội của Chính phủ lâm thời trong bối cảnh cấp thiết chống đói, chống dốt cho nhân dân.

Ngày 6/1/1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), cụ Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội, là đại biểu của tỉnh Nam Định. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu là Trưởng ban Thường trực của Quốc hội (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội hiện nay). Từ tháng 11/1946, cụ Nguyễn Văn Tố được cử là Bộ trưởng không bộ.

Ngày 19/12/1946, cụ Nguyễn Văn Tố cùng Chính phủ cách mạng rút lên Việt Bắc tiếp tục kháng chiến chống Pháp.

Ngày 25/10/1947, trong đợt tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc, Cụ bị chúng bắt tại Bắc Kạn khi chưa kịp di chuyển về nơi an toàn. Mặc dù bị tra tấn dã man, nhưng Cụ vẫn thể hiện tinh thần kiên trung, bất khuất trước kẻ thù và anh dũng hy sinh.

Ghi nhận và tri ân sâu sắc công lao, cống hiến to lớn của cụ Nguyễn Văn Tố đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể truy tặng cụ Nguyễn Văn Tố Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất và cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

II. CÔNG LAO VÀ CỐNG HIẾN TO LỚN CỦA CỤ NGUYỄN VĂN TỐ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC

1. Nguyễn Văn Tố - Nhà trí thức yêu nước, có nhiều công lao, đóng góp to lớn trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của Việt Nam; đi đầu trong sự nghiệp truyền bá chữ quốc ngữ.

Nguyễn Văn Tố có một vốn kiến thức phong phú về Hán Nôm, về lịch sử, văn hóa Việt Nam và phương Đông. Ở Nguyễn Văn Tố có sự kết hợp giữa hai nền văn hóa Việt Nam và Pháp, kết hợp hai nền văn minh Đông và Tây trên nền tảng bền vững của truyền thống văn hóa dân tộc, cốt cách tâm hồn Việt Nam, và biểu hiện sâu sắc nhất là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

Cụ Nguyễn Văn Tố để lại nhiều công trình nghiên cứu liên ngành và chuyên sâu, bao quát nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, như sử học, văn học, văn bản học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tôn giáo học, văn hóa học, văn hóa dân gian, kiến trúc nổi bật. Các tác phẩm: Sự tích Ôn Như hầu, Hoa tiên, Nguyễn Du và Truyện Kiều, Thơ xuân đời Hồng Ðức, Thơ Hồng Ðức bổ chính, Thơ vịnh sử đời Hồng Ðức, Hạnh thục ca... được Nguyễn Văn Tố nghiên cứu và viết lại bằng tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, giáo dục lòng yêu nước trong nhân dân. Thống kê từ năm 1941-1945, trên tạp chí Tri Tân, Nguyễn Văn Tố đã có tới 114 mục bài mang tính chuyên sâu trên các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Cụ Nguyễn Văn Tố là người Việt Nam duy nhất được phép sửa văn Pháp cho mọi bài viết đăng trên Tập san Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), kể cả bài viết của Giám đốc người Pháp George Coedès.

Từ năm 1934 cho đến năm 1946, trên cương vị là Hội trưởng Hội Trí Tri, cụ Nguyễn Văn Tố đã có những đóng góp mang ý nghĩa tạo tiền đề cho công cuộc chấn hưng đất nước ở những giai đoạn sau.

Năm 1938, cụ Nguyễn Văn Tố được cử làm Hội trưởng Hội truyền bá chữ quốc ngữ Bắc Kỳ. Trong suốt 7 năm (từ 1938-1945), Hội truyền bá chữ quốc ngữ đã mở 17 chi nhánh ở Bắc Kỳ với 820 lớp học, có 2.903 giáo viên đã dạy cho 41.118 người biết đọc, biết viết và ở khu vực Trung Kỳ thành lập 11 chi nhánh; đồng thời thu hút nhiều nhà trí thức tên tuổi tham gia như: Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xiển, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, … Hoạt động dưới danh nghĩa là Hội hoạt động văn hóa giáo dục, nhưng thực chất Hội truyền bá chữ quốc ngữ là một tổ chức có sự tham gia của nhiều nhà chính trị và đã có những đóng góp to lớn đối với việc tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc cho quần chúng nhân dân. Nhiều hội viên Hội truyền bá chữ quốc ngữ trở thành những chiến sĩ cách mạng, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng tháng Tám thành công, phong trào truyền bá chữ quốc ngữ trở thành nòng cốt của cuộc vận động diệt "giặc dốt" và "phong trào bình dân học vụ" là chủ trương của chính quyền cách mạng. Phong trào này đã lan rộng khắp nơi, trở thành hoạt động quần chúng sâu rộng và tiến bộ của trí thức yêu nước. Cụ Nguyễn Văn Tố có công lao, đóng góp quan trọng trong thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí.

Năm 1941, cụ Nguyễn Văn Tố tham gia sáng lập Tạp chí Tri Tân với mục đích "ôn cố nhi tân, khả dịch vi sư hĩ" là "để xem xét việc đời xưa mà hiểu biết việc đời nay thì có thể làm thầy thiên hạ". Cụ Nguyễn Văn Tố đã soạn thảo hai bộ sử học đồ sộ "Đại Nam dật sử" và "Sử ta so với sử Tàu" để làm sâu sắc thêm lịch sử nước nhà và góp phần tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

2. Nguyễn Văn Tố - Bộ Trưởng đầu tiên của Bộ Cứu tế xã hội, người có công lớn trong việc diệt "giặc đói", diệt "giặc dốt" và huy động vật lực chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước độc lập, người dân tự do, làm chủ vận mệnh của mình, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập; cụ Nguyễn Văn Tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội. Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp và đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó diệt "giặc đói" và "giặc dốt" là nhiệm vụ quan trọng ngang hàng với diệt "giặc ngoại xâm".

Trên cương vị là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Cứu tế xã hội, tuy thời gian không dài (25/8/1945 - 2/3/1946), nhưng vào thời điểm khó khăn nhất của lịch sử dân tộc, khi chính quyền cách mạng trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã có những đóng góp to lớn vào việc giải quyết nạn đói, nạn dốt, hai trong ba loại giặc nguy cấp của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.

Ngày 2/11/1945, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã quyết định thành lập Hội cứu đói. Hội này được tổ chức xuống tận các làng ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, sau đó lan rộng ra khắp cả nước. Hoạt động của Hội nhằm tìm nguồn lương thực, tiền và vải do các nhà hảo tâm giúp đỡ, phát triển sản xuất, khuyến khích công việc đồng áng, trông nom đê điều, giúp người dân khai hoang đất để gia tăng sản xuất. Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã trực tiếp đến các địa phương chỉ đạo thành lập Hội cứu đói; kêu gọi các địa phương hưởng ứng lời kêu gọi tương thân, tương ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện "Hũ gạo cứu đói", "những ngày đồng tâm nhịn ăn". Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố phát động nhiều cuộc vận động quyên góp ủng hộ người lao động nghèo và tổ chức nhiều triển lãm về chủ đề "nạn đói" cuối năm 1944 đầu năm 1945 do thực dân Pháp, phát xít Nhật gây ra. Nhờ đó, đã tạo được phong trào thi đua cứu đói rầm rộ trên cả nước từ các làng, xã cho đến các xí nghiệp sản xuất; làm cho các nhà tư sản, địa chủ bỏ tiền của, thóc gạo cứu đói, thậm chí cả một số đơn vị quân đội quốc dân Đảng Trung Quốc ở Nam Định tham gia. Trong khoảng thời gian 2 tháng (tháng 9 đến tháng 11 năm 1945), Bộ Cứu tế xã hội đã quyên góp ở 3 miền với số tiền 160.000.000 đồng và tải gạo từ Nam ra Bắc giao cho Hội cứu đói, có đóng góp to lớn vào việc giải quyết nạn đói đang có nguy cơ tái diễn.

Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ đã lập Ủy ban Trung ương phụ trách sản xuất. Ngày 15/11/1945, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc dân kinh tế ký Nghị định số 41-BKT đưa ra các biện pháp khuyến khích tận dụng nguồn đất đai trồng màu cứu đói và phối hợp Bộ Canh nông tổ chức thêm những cơ sở gia tăng tập thể, dùng nguồn đất công cộng gia tăng sản xuất, chỗ nào có đất trống đều trồng trọt rau màu… Do vậy, kết quả sản lượng màu đã tăng gấp 4 lần so với thời kỳ Pháp thuộc, trong 6 tháng (tháng 11/1945 - tháng 5/1946) đã đạt 614.000 tấn quy ra thóc là 506.000 tấn và nạn đói đã bị đánh lùi. Đúng kỷ niệm       một năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/1946), đồng chí Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Nội vụ tuyên bố: "Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là kỳ công của chế độ dân chủ".

Không chỉ có đóng góp to lớn đối với việc giải quyết nạn đói, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố cùng với thành viên Chính phủ từng bước thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt "giặc dốt". Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố chủ trương kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa cơ quan học vụ của nhà nước với các đoàn thể cứu quốc để nâng cao dân trí cho hàng triệu đồng bào như: phối hợp với Nha Bình dân học vụ đào tạo cấp tốc những đoàn cán bộ chuyên trách và đưa về các địa phương gây dựng cơ sở. Trong một thời gian ngắn, Bộ Cứu tế xã hội và Nha Bình dân học vụ đã tổ chức được 3 lớp huấn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ bình dân học vụ cho cấp tỉnh mang tên "khóa học Hồ Chí Minh", "Phan Thanh" và "Đoàn kết". Sau khi tham gia huấn luyện, học viên tản về các địa phương trong cả nước tích cực tuyên truyền vận động và trực tiếp dạy chữ cho hàng triệu đồng bào. Nhờ đó, tỷ lệ người không biết chữ giảm xuống, dân trí được nâng lên, có hàng triệu đồng bào tham gia học tập và học tập trở thành nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân. Phong trào toàn dân tham gia bình dân học vụ sôi nổi trên khắp cả nước và làm thay đổi cả bộ mặt xã hội vui tươi, khỏe mạnh, tự tin trong bầu không khí độc lập.

Cùng với việc diệt "giặc dốt", Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố đã đi đầu trong cuộc vận động xây dựng "đời sống mới" và tiến hành tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần yêu lao động, căm ghét bọn áp bức bóc lột và xây dựng đạo đức cách mạng "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Với tác phong nhanh nhẹn, dứt khoát, gần gũi với người lao động, cụ Nguyễn Văn Tố đã nhạy bén, chủ động, khôn khéo đưa ra những quyết sách đúng đắn, hợp lý, sát cánh cùng Chính phủ chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi hiểm nghèo.

3. Nguyễn Văn Tố - Vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người đại biểu của nhân dân lao động, có nhiều quyết sách quan trọng trong những ngày đầu mới giành độc lập.

Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Việc ban hành Hiến pháp, thành lập Chính phủ chính thức là đòi hỏi cấp bách, quan trọng hàng đầu để củng cố, tăng cường chính quyền với nhân dân. Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành, cả nước bầu được 333 đại biểu. Cụ Nguyễn Văn Tố được cử tri Nam Định bầu và trở thành đại biểu Quốc hội khóa I. 

Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I, các đại biểu đã nhất trí bầu cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội ngày nay). Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố đã cùng các thành viên trong Ban Thường trực nhanh chóng bắt tay vào củng cố nhà nước, xây dựng nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng chiến toàn quốc.

Ngày 6/3/1946, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố tham dự cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ chủ trì. Hội đồng đã bàn bạc và nhất trí ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận. Biên bản cuộc họp đặc biệt sáng ngày 6/3/1946, có chữ ký của Trưởng ban Thường trực Quốc hội cùng các thành viên Chính phủ và Ủy ban kháng chiến, tán thành ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Việc ký hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam trong bối cảnh đặc thù lúc đó. Đây là Hiệp ước tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ nền độc lập dân tộc trong giai đoạn đầu của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trên cương vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội đầu tiên trong thời gian chỉ hơn 8 tháng (2/3/1946 - 9/11/1946), cụ Nguyễn Văn Tố đã có những đóng góp to lớn với dân tộc và cách mạng Việt Nam, góp phần vào việc củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng đường lối đối nội, đối ngoại, đưa đất nước thoát khỏi tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Ban Thường trực Quốc hội dưới sự chỉ đạo của Trưởng ban Nguyễn Văn Tố luôn góp sức cùng Chính phủ giải quyết những khó khăn của đất nước, đã lên tiếng phản kháng và tố cáo những hành vi trái tín nghĩa của thực dân Pháp trước dư luận thế giới và kêu gọi quốc dân đồng bào đoàn kết chặt chẽ để sẵn sàng đối phó. Nguyễn Văn Tố đã chỉ đạo Quốc hội phải luôn chú trọng đến quyền lợi của quốc gia và nhân dân. Bởi vậy, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I, Ban Thường trực Quốc hội đã xem xét 98 dự án Sắc lệnh của Chính phủ, tập trung vào các vấn đề như: pháp chính, kinh tế, tài chính, xã hội. Ngoài ra, Ban Thường trực Quốc hội còn nhận nhiều kiến nghị cải tạo đời sống ở nông thôn và biểu quyết tán thành danh sách Chính phủ mới; thảo luận và thông qua dự án Luật Lao động. Đặc biệt ngày 9/11/1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phản ánh rõ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, khẳng định quyền dân tộc độc lập, thống nhất lãnh thổ và quyết tâm bảo vệ đất nước của toàn dân, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa, chế độ bảo đảm quyền dân chủ, tự do của mọi công dân, không phân biệt nam nữ, quan tâm đối với đồng bào dân tộc thiểu số....

Ngày 3/11/1946, Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập gồm 12 bộ. Cụ Nguyễn Văn Tố được cử là Bộ trưởng không bộ.

Sau gần một năm tạm hòa hoãn, chính quyền cách mạng đã được củng cố và phát triển lực lượng để xây dựng và bảo vệ đất nước. Lúc này, thực dân Pháp đã phản bội Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và gây hấn ở nhiều nơi (đặc biệt là Thủ đô Hà Nội). Trước tình hình đó, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và thành lập Ủy ban Trung ương tản cư và di cư. Ngày 22/01/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 8-SL thành lập Ủy ban tản cư và di cư, gồm có cụ  Bùi Bằng Đoàn làm Chủ tịch, cụ Nguyễn Văn Tố làm Phó Chủ tịch Ủy ban tản cư và di cư, cùng với 8 ủy viên khác đại diện cho các Bộ. Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã tích cực động viên nhân dân các vùng nhanh chóng chuẩn bị tản cư đến vùng an toàn và nhân dân các vùng có chiến sự triệt để thi hành chính sách "vườn không nhà trống", tản cư ra vùng tự do. Hàng triệu đồng bào hưởng ứng theo tiếng gọi của Ủy ban tản cư và di cư, rời bỏ nhà cửa, tài sản, chịu gian khổ để thực hiện quyết tâm không đội trời chung với giặc và khẩu hiệu tản cư cũng là kháng chiến.

Ngày 7/10/1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của nhân dân ta. Trong cuộc tiến công vào thị xã Bắc Kạn, thực dân Pháp đã bắt được Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố. Chúng tìm mọi cách mua chuộc, dụ dỗ, thậm chí tra tấn dã man, tàn độc để buộc Cụ kêu gọi các chiến sĩ cách mạng ra hàng; nhưng chúng đã bị thất bại trước tấm lòng kiên trung của Cụ.

Cụ Nguyễn Văn Tố đã đi vào lịch sử dân tộc với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp khoa học, nhất là khoa học xã hội nhân văn; chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Tên tuổi của cụ Nguyễn Văn Tố gắn liền với sự nghiệp Hội Truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Trí Tri. Cụ là một điển hình về tự học, là tấm gương mở đường cho đội ngũ nhân sĩ, trí thức đem tài năng, trí tuệ, sức lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ở cụ Nguyễn Văn Tố bộc lộ rõ phẩm chất của một nhà lãnh đạo cần mẫn, mẫu mực. Trên cương vị công tác nào Cụ cũng mang hết tài năng, tâm huyết và kinh nghiệm để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng và kháng chiến kiến quốc. Cụ Nguyễn Văn Tố là tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, kiên trung bất khuất trước kẻ thù, hết lòng vì nước, vì dân. Cụ Nguyễn Văn Tố là một nhân cách lớn, là người hiền tài có đủ nhân - trí - dũng - liêm.

Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố - người cộng sự, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh những cống hiến to lớn của Cụ đối với cách mạng Việt Nam; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực thi đua hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát triển đất nước.

Noi gương cụ Nguyễn Văn Tố, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. 

Ban tuyên giáo Trung ương

01/06/2019 10:00 SAĐã ban hành
Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2019Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2019
Ngày Quyền của Người tiêu dùng Việt Nam 15/3 bắt đầu từ năm 1991 khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Quốc tế Người tiêu dùng thế giới.

Chủ đề cho các hoạt động Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2019: Kinh doanh lành mạnh - Tiêu dùng bền vững.

Các hoạt động hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2019 nhằm kêu gọi, động viên, khuyến khích sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người tiêu dùng vào các hoạt động đưa Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam thành nội dung quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng môi trường Kinh doanh lành mạnh - Tiêu dùng bền vững.

Các hoạt động hưởng ứng được tổ chức thực hiện một cách thiết thực, hiệu quả, sáng tạo, tiết kiệm và đảm bảo mục đích yêu cầu tại Quyết định số 1035/QĐ-TTg ngày 10/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam, Kế hoạch số 9266/KH-BCT ngày 14/11/2018 của Bộ Công Thương tổ chức Ngày Quyền người tiêu dùng Việt Nam năm 2019.

Các hoạt động vì quyền lợi của người tiêu dùng được khuyến khích tổ chức và thực hiện suốt cả năm 2019, trong đó tập trung vào thời gian cao điểm về kinh doanh và tiêu dùng như các ngày Lễ, Tết, mùa mua sắm và trong tháng 3/2019 (tháng cao điểm) và kéo dài đến hết tháng 5/2019./.

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Điều 8. Quyền của người tiêu dùng

1. Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

2. Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.

3. Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

4. Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

5. Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

6. Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

8. Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.

Điều 10. Các hành vi bị cấm

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung sau đây:

a) Hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;

b) Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;

c) Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.

3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ép buộc người tiêu dùng thông qua việc thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu dùng;

b) Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch.

4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự.

5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùng thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng.

6. Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

7. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng.

8. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng. 


06/03/2019 3:00 CHĐã ban hành
Kế hoạch và thể lệ Cuộc thi viết theo thể loại chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của ĐảngKế hoạch và thể lệ Cuộc thi viết theo thể loại chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khoá XII) và góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận cũng như năng lực nhận diện, đấu tranh, phản bác đối với các quan điểm sai trái, thù địch của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, học viên và sinh viên; Học viện Chính trị khu vực IV tổ chức "Cuộc thi viết theo thể loại chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới".

Cổng Thông tin điện tử tỉnh đăng tải toàn văn Kế hoạch và thể lệ Cuộc thiđể cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân biết và tích cực hưởng ứng cuộc thi./.

BBT

20/02/2020 4:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn vệ sinh môi trường chuẩn bị cho học sinh vào họcHướng dẫn vệ sinh môi trường chuẩn bị cho học sinh vào học
Chuẩn bị các điều kiện cho học sinh đi học trở lại sau thời gian tạm nghỉ phòng chống dịch COVID-19, Cổng thông tin điện tử tỉnh giới thiệu tài liệu do Sở Y tế cung cấp "Hướng dẫn vệ sinh môi trường chuẩn bị cho học sinh vào học" nhằm đảm bảo an toàn cho giáo viên, học sinh, học viên khi đi học trở lại.

I. Hướng dẫn vệ sinh môi trường, khử khuẩn tại trường học

Khử khuẩn bằng các chất tẩy rửa thông thường như dung dịch tẩy rửa đa năng hoặc các dung dịch khử khuẩn có chứa 0,05% Clo hoạt tính hoặc dung dịch có chứa ít nhất 60% cồn. Ưu tiên khử khuẩn bằng cách lau rửa.

Trước khi học sinh quay trở lại trường

1. Vệ sinh ngoại cảnh (phát quang bụi rậm, không để nước đọng).

2. Khử khuẩn trường học 01 lần: Phun hoặc lau nền nhà, tường nhà, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, tay vịn lan can, bàn ghế, đồ chơi, dụng cụ học tập, đồ vật trong phòng...

Trong thời gian học sinh học tại trường

1. Mỗi ngày 01 lần, sau buổi học: Lau khử khuẩn nền nhà, tường nhà (nếu có thể), bàn ghế, đồ chơi, dụng cụ học tập, đồ vật trong phòng học, phòng chức năng. Dọn vệ sinh, lau rửa, khử khuẩn khu vực rửa tay, nhà vệ sinh.

2. Mỗi ngày 02 lần, sau giờ học buổi sáng và cuối ngày: Lau khử khuẩn tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, tay vịn lan can, nút bấm thang máy.

3. Mỗi ngày 02 lần, sau mỗi chuyến đưa, đón học sinh: Lau khử khuẩn tay nắm cửa xe, tay vịn, ghế ngồi, cửa sổ, sàn xe.

4. Mở cửa ra vào và cửa sổ lớp học, sử dụng quạt, không sử dụng điều hòa.

5. Hạn chế sử dụng đồ chơi, dụng cụ học tập bằng các vật liệu không khử khuẩn được.

6. Bố trí đủ thùng đựng rác, thu gom, xử lý hàng ngày.

7. Trường hợp có học sinh biểu hiện sốt, ho, khó thở, nghi ngờ hoặc có xét nghiệm dương tính với COVID-19 thì thực hiện khử khuẩn theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương.

II. Những việc cần làm khi học sinh bị sốt, ho, khó thở tại trường học

Ngay sau khi phát hiện học sinh có biểu hiện sốt, ho, khó thở: cần tiến hành các bước sau:

1. Đưa học sinh đến khu cách ly riêng trong phòng y tế hoặc khu vực do nhà trường bố trí. Cung cấp khẩu trang y tế và hướng dẫn đeo đúng cách cho học sinh.

2. Y tế nhà trường phối hợp với cha mẹ khai thác tiền sử tiếp xúc của học sinh (trong vòng 14 ngày trước đó có đi về từ vùng dịch hoặc có tiếp xúc gần với những người đi về từ vùng dịch, người nghi ngờ, người có xét nghiệm dương tính với COVID-19).

3. Tham vấn ý kiến của cán bộ y tế xã, phường hoặc y tế địa phương để khẳng định về tiền sử tiếp xúc dịch tễ.

4. Nếu không có yếu tố tiếp xúc dịch tễ thì điều trị các triệu chứng sốt, ho, khó thở. Phối hợp với cha mẹ đưa học sinh đến cơ sở y tế gần nhất nếu cần.

5. Nếu có yếu tố tiếp xúc dịch tễ thì phối hợp cơ quan y tế tại địa phương đưa học sinh đến cơ sở y tế theo quy định để cách ly và điều trị.

6. Trường hợp có học sinh biểu hiện sốt, ho, khó thở, nghi ngờ hoặc có xét nghiệm dương tính với COVID-19 thì nhà trường thực hiện khử khuẩn theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương.

h11111tren.jpgh11111duoi.jpg

h222222tren.jpgh222222duoi.jpg

h333333tren.jpgh333333duoi.jpg

h444444tren.jpgh444444duoi.jpg

h555555tren.jpgh555555duoi.jpg

Theo Bộ Y tế


24/04/2020 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo hỗ trợ công tác rà soát, cập nhật dữ liệu địa chỉ của Bưu điện Việt NamThông báo hỗ trợ công tác rà soát, cập nhật dữ liệu địa chỉ của Bưu điện Việt Nam
Hiện nay, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam là đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng nền tảng Bản đồ số Việt Nam (Vmap) và hệ thống mã địa chỉ (Vpostcode - gắn với bản đồ số Vmap).

​Để dữ liệu địa chỉ đảm bảo chính xác, luôn được cập nhật, đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý nhà nước, đồng thời tạo ra các ứng dụng góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, Bưu điện Việt Nam đang tiến hành rà soát, cập nhật dữ liệu địa chỉ trên phạm vi toàn quốc. Bưu điện Việt Nam thông tin đến các cơ quan, tổ chức, người dân được biết về nhiệm vụ của Ngành được giao để phối hợp và hỗ trợ nhân viên Bưu điện cập nhật, hoàn thiện dữ liệu địa chỉ trên địa bàn tỉnh./.

Sở TTTT

06/11/2020 10:00 SAĐã ban hành
Bộ Y tế hướng dẫn cách ly y tế tại hộ gia đình để phòng, chống dịch bệnh Covid-19Bộ Y tế hướng dẫn cách ly y tế tại hộ gia đình để phòng, chống dịch bệnh Covid-19
Để phòn​​​g, chống dịch bệnh Covid-19 (nCoV), Bộ Y tế hướng dẫn cách ly y tế tại hộ gia đình nơi cư trú.

Đối tượng cách ly tại nhà, nơi lưu trú là những người không có các triệu chứng nghi nhiễm nCoV (ho, sốt, khó thở) và có một trong những yếu tố sau đây:

- Sống trong cùng nhà, nơi lưu trú với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong thời gian mắc bệnh;

- Cùng làm việc với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong thời gian mắc bệnh;

- Cùng nhóm du lịch, đoàn công tác, nhóm vui chơi với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong thời gian mắc bệnh;

- Có tiếp xúc gần trong vòng 2 mét với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong trong thời gian mắc bệnh ở bất kỳ tình huống nào;

- Ngồi cùng hàng hoặc trước sau 2 hàng ghế trên cùng một chuyến xe/toa tàu/máy bay với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ;

- Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam từ Trung Quốc hoặc từng đi qua Trung Quốc (trừ tỉnh Hồ Bắc) trong vòng 14 ngày kể từ ngày đầu tiên nhập cảnh vào Việt Nam.

Thời gian cách ly tối đa 14 ngày, số ngày cách ly cụ thể được tính từ ngày tiếp xúc lần cuối với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc từ ngày nhập cảnh vào Việt Nam. Khi người nghi ngờ mắc bệnh được chẩn đoán loại trừ không mắc bệnh thì những người được cách ly có liên quan sẽ kết thúc việc cách ly.

Người được cách ly chấp hành việc tự cách ly tại nhà, nơi lưu trú đúng thời gian quy định, tốt nhất cách ly ở một phòng riêng. Trong trường hợp gia đình, nơi lưu trú không có phòng riêng, giường ngủ của người được cách ly nên cách xa giường ngủ của các thành viên khác trong gia đình ít nhất 2 m và tự đo nhiệt độ cơ thể ít nhất 2 lần (sáng, chiều) một ngày; ghi chép kết quả đo và tình trạng sức khỏe chung vào phiếu theo dõi sức khoẻ hàng ngày.

Phòng cách ly nên đảm bảo thông thoáng khí, thường xuyên được vệ sinh, hạn chế các đồ đạc vật dụng trong phòng, nơi cách ly.

Người được cách ly hàng ngày hạn chế ra khỏi phòng riêng, hạn chế tiếp xúc trực tiếp người trong gia đình, nơi lưu trú cũng như những người khác; tự theo dõi sức khỏe; thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, đeo khẩu trang, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn khác.

Hàng ngày thông báo cho cán bộ y tế xã, phường, thị trấn được phân công phụ trách theo dõi 2 lần sáng, chiều về kết quả đo nhiệt độ và tình hình sức khỏe của bản thân. Thông báo ngay cho cán bộ y tế xã, phường, thị trấn được phân công phụ trách theo dõi ngay khi có một trong các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh: sốt, ho, khó thở.

Người được cách ly phải thu gom khẩu trang, khăn, giấy lau mũi, miệng đã qua sử dụng vào túi đựng rác thải riêng và để gọn vào góc phòng của người được cách ly; không ăn chung cùng những thành viên trong gia đình, nơi lưu trú; không được tự động rời khỏi nhà, nơi lưu trú.

Đối với thành viên trong hộ gia đình, người làm việc, quản lý nơi lưu trú của người được cách ly nên hạn chế tiếp xúc với người được cách ly, đeo khẩu trang và giữ khoảng cách tối thiểu 2 mét khi cần tiếp xúc; hàng ngày lau nền nhà, bề mặt dụng cụ, tay nắm cửa ở gia đình, nơi lưu trú bằng xà phòng hoặc các chất khử trùng hoặc chất tẩy rửa thông thường; giúp đỡ, động viên, chia sẻ với người được cách ly trong suốt thời gian cách ly.

Thông báo ngay cho cán bộ y tế xã, phường, thị trấn được phân công phụ trách theo dõi khi người được cách ly có một trong các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh: sốt, ho, khó thở; hỗ trợ phương tiện vệ sinh, xà phòng, dung dịch sát khuẩn, khẩu trang cho người được cách ly, nếu có yêu cầu; không tổ chức hoạt động đông người tại gia đình, nơi lưu trú.

 


Theo ​​Bộ Y tế

25/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

​​ ​