Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Tuyên Truyền

Liên kết

Website

 
Thông Tin Tuyên Truyền
 
Công ước về các vùng Đất ngập nước (Công ước Ramsar, Iran, 1971) là hiệp ước quốc tế với sứ mệnh “bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước thông qua các hành động của địa phương, khu vực, quốc gia và hợp tác quốc tế nhằm góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên toàn thế giới” với sự tham gia của 172 quốc gia thành viên. Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên trở thành thành viên của Công ước Ramsar từ năm 1989. 
 
Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Văn phòng Quốc hội soạn thảo “Đề cương tuyên truyền kết quả Kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV”. Cổng thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn Đề cương này. 
 
Thời gian vừa qua, tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đã điều trị cho một bệnh nhân nữ nhập viện trong tình trạng lơ mơ, đồng tử giãn hai bên sau khi ăn nhầm bỏng ngô nghi có tẩm cần sa.  
 
Đề cương tuyên truyền kết quả kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV, như sau: 
 
Cục Thuế tỉnh Long An vừa có văn bản hướng dẫn các tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử cung cấp thông tin, theo quy định tại Nghị định số 91/2022/ND-CP. 
 
Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 – 2027. Cổng thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương. 
 
Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành (BCH) Đảng bộ tỉnh, khóa XI họp ngày 01/12/2022 với các nội dung: 1. Thảo luận và thông qua: (1) Dự thảo Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết (NQ) Tỉnh ủy năm 2022; (2) Dự thảo NQ Tỉnh ủy về phương hướng, nhiệm vụ năm 2023; (3) Dự thảo Chương trình làm việc của Tỉnh ủy năm 2023; (4) Dự thảo Chương trình của Tỉnh ủy thực hiện các NQ Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII); (5) Dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TU, ngày 04/11/2021 của Tỉnh ủy về nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. 2. Cho ý kiến về Dự toán ngân sách nhà nước (NSNN), Kế hoạch vay trả nợ công năm 2023; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 và một số nội dung theo thẩm quyền. Đồng chí Nguyễn Văn Được - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cùng các đồng chí trong Thường trực Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.  
 
Hội chợ Công Thương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - Long An năm 2022 là sự kiện xúc tiến thương mại cấp quốc gia năm 2022 được tổ chức tại Công viên thành phố Tân An, tỉnh Long An từ ngày 02/12 đến hết ngày 08/12/2022. 
 
Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng Ấp Bắc (02/01/1963 - 02/01//2023). Cổng thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương. 
 
Cuộc thi “Chung tay vì an toàn giao thông” năm 2022 do Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2021)Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2021)

I-  NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG

Lịch sử Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng gắn liền với quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng cứu nước của các sĩ phu yêu nước và các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, mà sự kiện tạo ra bước ngoặt căn bản trong việc hình thành con đường cứu nước của dân tộc là khi Người đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin vào tháng 7/1920.

Những nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và các chiến sĩ cách mạng tiền bối trong việc truyền bá hệ tư tưởng Mác xít và tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng…  đã góp phần tích cực làm nên sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, đó là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.

Sau Hội nghị thành lập Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã thành lập Ban Cổ động và Tuyên truyền - cơ quan tham mưu, chỉ đạo công tác tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ trước mắt là tuyên truyền, giác ngộ quần chúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, về Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và đường lối cách mạng của Đảng; cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân giác ngộ cách mạng, hiểu Đảng, ủng hộ Đảng, tin và đi theo Đảng làm cách mạng.

Đặc biệt, ngày 1/8/1930, nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, Ban Cổ động và Tuyên truyền đã xuất bản tài liệu mang tên "Ngày quốc tế đỏ 1/8". Đây là Tài liệu duy nhất và sớm nhất còn lưu giữ đến nay đề rõ "Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành". Ngay sau khi phát hành, Tài liệu đã tạo được tiếng vang lớn, có sức cổ vũ mạnh mẽ quần chúng cách mạng nước ta đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức, bóc lột, phản đối chiến tranh xâm lược, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Từ đó, ngày 1/8 trở thành một mốc son lịch sử, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa đối với công tác tuyên giáo của Đảng.

Đánh giá cao sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt này, năm 2000, Bộ Chính trị (Khoá VIII) quyết định lấy ngày 1/8 hàng năm làm Ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng. Năm 2007, sau khi hợp nhất Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) quyết định lấy ngày 1/8 hằng năm làm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng.

Ngày 1/8/1930 được chọn là Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng nhưng trên thực tế, công tác tuyên giáo đã có từ trước khi thành lập Đảng, từ khi Nguyễn Ái Quốc bắt đầu các hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam.

II- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VẺ VANG CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUA 91 NĂM (1930 - 2021)

1. Công tác tuyên giáo đã góp phần xây dựng, phát triển phong trào cách mạng, khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám 1945, giành chính quyền về tay nhân dân (giai đoạn 1930 - 1945)

a. Cao trào cách mạng (1930 - 1931) và Xô Viết Nghệ Tĩnh

Ngay sau khi thành lập, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về việc thành lập Đảng và đường lối cách mạng của Đảng; phổ biến rộng rãi Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; đề ra nhiều khẩu hiệu phản ánh nguyện vọng bức thiết của quần chúng lao động…; qua đó đã làm dấy lên phong trào cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong cả nước. Hàng trăm cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, binh lính đã nổ ra quyết liệt trên nhiều tỉnh, thành phố, đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Công tác tuyên truyền trong nhân dân được tiến hành công khai, sâu rộng, mà trọng tâm là tuyên truyền các chính sách của cách mạng: xoá nợ, giảm tô, chia lại công điền cho nông dân, thủ tiêu mọi thứ thuế, ban bố các quyền dân chủ, xét xử bọn phản động, bài trừ hủ tục, tổ chức học văn hoá... Nhiều tờ báo của Đảng và các địa phương ra đời. Thơ ca cách mạng được lưu truyền. Sách, báo, tài liệu cách mạng được phổ biến rộng rãi.

Trọng tâm của công tác tư tưởng thời kỳ này là công tác tuyên truyền và đào tạo cán bộ tuyên huấn. Công tác tư tưởng tập trung giác ngộ chính trị cho đảng viên và quần chúng, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, chuyển tư tưởng yêu nước của nhân dân ta theo lập trường của giai cấp công nhân. Công tác tuyên truyền thường xuyên tố cáo tội ác của đế quốc và tay sai, chống lại các thủ đoạn lừa bịp của chúng, chống chủ nghĩa quốc gia cải lương; gắn chặt với cuộc đấu tranh hàng ngày của quần chúng đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, kết hợp các khẩu hiệu kinh tế với khẩu hiệu chính trị, thông qua đấu tranh mà nâng cao trình độ chính trị, rèn luyện đảng viên và quần chúng. Đối với cán bộ, đảng viên, công tác tư tưởng đã coi trọng việc giáo dục tính chất giai cấp của Đảng, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và phẩm chất đạo đức cách mạng, phân rõ ranh giới tư tưởng vô sản với các tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, giữ vững đường lối chính trị đúng đắn, quan điểm tư tưởng vô sản, chống các tư tưởng phi vô sản, đào tạo một đội ngũ cán bộ kiên cường, trung thành, tận tụy với cách mạng.

 

b. Đấu tranh chống khủng bố, khôi phục và phát triển phong trào cách mạng (giai đoạn 1932 - 1935)

Thời gian này, công tác tư tưởng đã được tiến hành kịp thời, sắc bén, bám sát thực tiễn, góp phần quan trọng ổn định tư tưởng cán bộ, đảng viên, nâng cao lòng tin vào lý tưởng và thắng lợi của cách mạng, đẩy lùi các hiện tượng bi quan, dao động; nêu gương sáng về tinh thần hy sinh, bất khuất vì lợi ích cách mạng của những người cộng sản; góp phần quan trọng vào việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng trước sự khủng bố tàn bạo của địch, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh rộng lớn hơn về sau.

c. Cuộc vận động dân chủ chống phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (giai đoạn 1936 - 1939)

Trong thời kỳ này, Trung ương Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ công tác báo chí, xuất bản, phát hành, huấn luyện, đào tạo cán bộ thông qua việc phát triển xuất bản sách báo công khai và chọn đảng viên có trình độ viết sách, viết bài; mỗi chi bộ lập"bình dân thư xã" mua và đọc sách, báo cách mạng; khuyến khích quần chúng mua và đọc sách, báo. Các cấp đảng bộ tái bản những tài liệu tuyên truyền của Trung ương, lập ra Ban huấn luyện chăm lo đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chính trị cho đảng viên và quần chúng. Nhiều tác phẩm văn hóa hiện thực phê phán ra đời. Phong trào Truyền bá quốc ngữ phát triển sâu rộng. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, ta đã giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử Viện dân biểu Bắc kỳ và Viện dân biểu Trung kỳ (1937 - 1938).

Công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng tạo ra một cao trào cách mạng sôi nổi, đây được coi là cuộc tổng diễn tập thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945; bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, đó là: đấu tranh cho tự do dân chủ, cải thiện đời sống và hoà bình, chống phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh; tạo điều kiện cho đường lối, chủ trương của Đảng đi sâu vào quần chúng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hoá dân tộc, cổ vũ mạnh mẽ khí thế của phong trào cách mạng, tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tiến bộ tham gia vận động cách mạng.

d. Cao trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám (giai đoạn 1939 - 1945)

Công tác tuyên giáo trong thời kỳ 1939 - 1945 đã gắn chặt và phục vụ thiết thực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ, khó khăn nhưng rất oanh liệt, vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Thông qua công tác tuyên giáo góp phần phát huy cao độ lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết, anh hùng, bất khuất của dân tộc, nổi dậy tự giải phóng mình khỏi ách nô lệ của đế quốc và tay sai. Đó là kịp thời truyền đạt các nhận định và chủ trương của Đảng, đưa ra những khẩu hiệu sát hợp hướng dẫn tư tưởng và hành động của quần chúng; đấu tranh sắc bén với các tư tưởng tự ti, nô lệ, các khuynh hướng sai lầm, rụt rè, do dự hoặc nóng vội, manh động… với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, thậm chí táo bạo như: tuyên truyền xung phong, tuyên truyền vũ trang, biểu tình vũ trang; cổ vũ nhân dân nổi dậy với khí thế mạnh mẽ áp đảo quân thù. Đó là góp phần bồi dưỡng, đào tạo hàng loạt cán bộ về chính trị, về kinh nghiệm tổ chức, phát động quần chúng, giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong cách mạng, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, quyết tâm đấu tranh cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đ­ường lối độc lập tự chủ và đầy sáng tạo của cách mạng Việt Nam; đồng thời cũng là thành tựu to lớn của công tác tuyên giáo trong việc tuyên truyền, vận động cách mạng, biến chủ nghĩa Mác - Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng thành phong trào cách mạng của quần chúng trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, phong kiến.

2. Công tác tuyên giáo tham gia huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (giai đoạn 1945 - 1954)

a. Tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng xã hội mới (giai đoạn 1945 - 1946)

Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám, chính quyền cách mạng mới ra đời gặp muôn vàn khó khăn. Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có ngành tuyên giáo, là đoàn kết toàn dân bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chống thù trong, giặc ngoài, góp phần đưa cách mạng tiến lên. Công tác tuyên giáo lúc này tập trung giáo dục ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, tự do; cổ vũ nhân dân thực hiện ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngay sau khởi nghĩa, Bộ Tuyên truyền được thành lập, tiếp quản các cơ sở tuyên truyền, báo chí của chế độ cũ. Các binh chủng chủ lực của công tác tuyên giáo lần lượt ra đời như Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã. Báo của Đảng, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chức đoàn thể đã được phát hành công khai, rộng rãi. Công tác tuyên truyền tập trung tố cáo âm mưu và tội ác của thực dân Pháp ở miền Nam, khơi dậy ý chí quyết tâm chống xâm lược, ủng hộ đồng bào miền Nam kháng chiến. Nhiều tỉnh thành trên cả nước diễn ra các cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược. Đặc biệt, các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ có nhiều hình thức động viên phong phú để quyên góp thuốc men, quần áo, vũ khí chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Hàng vạn thanh niên nô nức tham gia tòng quân, xung phong "Nam tiến". Tại Nam Bộ, công tác tuyên truyền được tiến hành sâu rộng nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng.

Tháng 11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc, xác định tính chất cách mạng nước ta và hai nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chế độ mới. Công tác tuyên truyền tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân, chống nạn mù chữ. Khắp nơi có khẩu hiệu "Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt", nhiều ca dao, hò vè được sáng tác để cổ vũ phong trào... Kết quả sau một năm, đã có 2 triệu người thoát nạn mù chữ.

Cuộc vận động xây dựng đời sống mới, giáo dục tinh thần yêu nước, đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính", chống các hủ tục, lạc hậu cũng được tuyên truyền sâu rộng. Nạn trộm cắp, cờ bạc, các hủ tục trong ma chay, cưới xin được xoá bỏ ở nhiều nơi, công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng, nhất là ca hát, thể dục thể thao phát triển rộng rãi.

Tháng l/1946, Chính phủ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức. Công tác tuyên truyền, vận động bầu cử thực sự là một cuộc đấu tranh gay gắt chống lại sự phá hoại của quân đội Tưởng và bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách ở miền Bắc, thực dân Pháp ở miền Nam. Với khẩu hiệu phổ biến mọi nơi là: "Tất cả cử tri tới thùng phiếu"; "Mỗi lá phiếu là một viên đạn diệt thù", công tác tuyên giáo đã góp phần giúp cuộc Tổng tuyển cử thành công, thu hút đại đa số cử tri đi bỏ phiếu bầu cho các ứng cử viên của Mặt trận Việt Minh, kể cả ở miền Nam dưới bom đạn của thực dân Pháp.

b. Động viên toàn dân kháng chiến, toàn quốc kháng chiến, thi đua yêu nước, giết giặc, lập công; đẩy mạnh cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới và đi tới thắng lợi quyết định (giai đoạn 1946 - 1954)

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ... đã có mặt trên các chiến trường nóng bỏng, phản ánh, động viên chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu, sản xuất của chiến sĩ, đồng bào cả nước. Thời gian này, công tác khoa giáo tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, vận động trí thức. Công tác tuyên huấn đã động viên phong trào thi đua yêu nước, diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Công tác tuyên truyền, cổ động tập trung nêu cao ý nghĩa chiến thắng Việt Bắc, phổ biến Lời kêu gọi ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống tư tưởng chủ quan, khinh địch, vạch trần âm mưu lập chính quyền bù nhìn Bảo Đại của thực dân Pháp, cổ vũ cho phong trào thi đua yêu nước trên mọi lĩnh vực kháng chiến, kiến quốc.

Năm 1954, quân ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Công tác tuyên giáo tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ và chiến sĩ ngoài mặt trận, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tích cực tiến công, ý chí quyết thắng, quyết tâm chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, khắc phục tư tưởng tiêu cực, ngại gian khổ hy sinh, uốn nắn tư tưởng chủ quan, khinh địch khi có thắng lợi, biểu dương các gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh. Qua đó góp phần quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng miền Bắc, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Điểm nổi bật của công tác tuyên truyền thời kỳ này là đã đi vào từng nhà, từng người; gắn tuyên truyền đường lối kháng chiến với cổ động hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể của kháng chiến từng thời kỳ, ở mọi lúc, mọi nơi…; thường xuyên biểu dương gương điển hình tiên tiến; mọi hoạt động văn học, nghệ thuật, giáo dục, báo chí… đều hướng vào phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ quần chúng đã phát triển mạnh mẽ; lĩnh vực khoa giáo được quan tâm và đẩy mạnh. Nhìn chung, trong kháng chiến chống Pháp, công tác tuyên giáo đã được triển khai mạnh mẽ, toàn diện, góp phần huy động sức mạnh của toàn dân tộc tham gia vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thắng lợi.

3. Công tác tuyên giáo đồng hành cùng nhân dân cả nước tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (giai đoạn 1954 - 1975)

a. Quán triệt và thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở miền Nam (giai đoạn 1954 - 1960)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7/1954) và Nghị quyết Bộ Chính trị về khôi phục kinh tế, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, công tác tuyên huấn đã giúp cấp ủy tổ chức lực lượng tuyên truyền sâu rộng các chính sách của Chính phủ đối với vùng mới giải phóng; vạch trần luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của địch, vận động đồng bào tham gia đấu tranh thực hiện tốt công tác tiếp quản. Biểu dương các phong trào "Nhường cơm sẻ áo", "Một miếng khi đói bằng một gói khi no"… tác động tích cực đến quần chúng. Tập trung quán triệt và giúp cấp ủy đảng triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, kế hoạch của Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường tổ chức học tập lý luận Mác - Lênin cho cán bộ, đảng viên; giáo dục giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho đảng viên; về hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội…

Giai đoạn này, công tác tuyên giáo đóng vai trò trọng yếu trong việc khơi dậy ý chí, tri thức và sức mạnh trong quần chúng, cổ vũ mạnh mẽ các phong trào thi đua như Gió Đại PhongSóng Duyên Hải, Tiếng trống Bắc LýCờ Ba nhất… Đây cũng là giai đoạn công tác tuyên giáo đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trên lĩnh vực khoa giáo, như: giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân…

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, công tác tuyên giáo đã động viên phong trào quần chúng ủng hộ, cổ vũ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, phản đối Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp khủng bố đồng bào miền Nam, phá hoại hiệp thương, tổng tuyển cử, động viên phong trào đấu tranh chính trị, tiến tới Đồng khởi ở miền Nam.

b. Đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (giai đoạn 1961 - 1965)

Công tác tuyên giáo tập trung tuyên truyền, vận động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Nhiều điển hình xuất sắc xuất hiện trong phong trào quần chúng đã trở thành ngọn cờ cổ vũ phong trào thi đua như: Gió Đại PhongSóng Duyên Hải, Tiếng trống Bắc LýCờ Ba nhất …

Trong những năm 1960 - 1964, nhân dân miền Nam đã đồng khởi nổi dậy và đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, công tác tư tưởng đã luôn chú trọng tới việc quán triệt phương hướng, nhiệm vụ, phương châm đấu tranh trong tình hình mới; coi trọng việc phổ biến những kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời tích cực tham mưu, đề xuất Đảng, Nhà nước phát động phong trào thi đua "Dũng sĩ diệt Mỹ", nâng cao quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

c. Miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu, chi viện cho miền Nam, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà (giai đoạn 1965 - 1975)

Với mục tiêu đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng trong việc động viên quân dân miền Bắc chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và tích cực chi viện cho miền Nam. Các phong trào văn hóa - văn nghệ phát triển mạnh; công tác xây dựng Đảng về tư tưởng kịp thời chuyển hướng để bảo đảm yêu cầu lãnh đạo quân dân ta thực hiện tốt những nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc: tăng cường hơn nữa công tác giáo dục đảng viên, học tập kết hợp chặt chẽ với phê bình và tự phê bình, phát huy tính tiền phong, gương mẫu; công tác tuyên truyền đối ngoại được tăng cường, tích cực tranh thủ các diễn đàn quốc tế, thông qua các hoạt động ngoại giao, nêu cao tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Thành công của công tác tuyên giáo giai đoạn này là tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái lao động, sản xuất, chiến đấu. Miền Bắc, công tác tuyên giáo tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, như "Vì miền Nam ruột thịt", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", chi viện đắc lực sức ng­ười, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, động viên lớp lớp thanh niên hăng hái lên đường đánh giặc với tinh thần "Xẻ dọc Tr­ường Sơn đi cứu n­ước". Với miền Trung, tập trung tuyên truyền, khơi dậy lòng yêu nước và truyền thống cách mạng, tất cả một lòng "Xe cho qua, nhà không tiếc; Đư­ờng ch­o thông, không tiếc máu x­ương".  Ở miền Nam, công tác tuyên giáo đã cổ vũ quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang ở khắp mọi nơi, trên cả ba vùng: vùng núi, đồng bằng và đô thị; khơi dậy lòng căm thù giặc, bồi dưỡng lòng yêu nư­ớc, tinh thần dũng cảm, không quản ngại hy sinh, tạo nên nhiều phong trào thi đua giết giặc, lập công: "Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công", "Xuống đường đòi tự do, dân chủ", "Hát cho đồng bào tôi nghe"… Sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đã được chuyển hóa bằng thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã lãnh đạo công tác tuyên giáo thực hiện cuộc vận động chính trị nhằm quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Với ý chí "không có gì quý hơn độc lập tự do", thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước của toàn dân tộc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Công tác tuyên giáo đã thành công trong việc bồi dưỡng ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

4. Công tác tuyên giáo trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (giai đoạn 1975 - 2021)

a. Thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế (giai đoạn 1975 - 1985)

Đất n­ước vừa trải qua 30 năm chiến tranh, phải đối phó với các cuộc chiến tranh biên giới, bị đế quốc Mỹ và các thế lực đế quốc bao vây cấm vận, kinh tế - xã hội nư­ớc ta lâm vào khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, công tác tuyên giáo đã tập trung động viên các tầng lớp nhân dân nêu cao ý chí khắc phục khó khăn, quyết tâm vư­ợt qua thử thách, nhanh chóng thực hiện thống nhất đất nư­ớc; cổ vũ khí thế phấn đấu nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc, từng bư­ớc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu quan trọng của đất nư­ớc, tạo điều kiện cho các b­ước phát triển tiếp theo. Đặc biệt là qua thực tiễn, đã từng b­ước chuẩn bị lý luận cho công cuộc đổi mới đất n­ước.

b. Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (giai đoạn 1986 - 2021)

Tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta khởi xư­ớng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất n­ước. Kể từ đó đến nay đã 35 năm, nhiệm vụ, chức năng là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, tham mưu giúp các cấp ủy đảng trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, về chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, lý luận chính trị, lịch sử Đảng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, thông tin đối ngoại, khoa giáo; công tác tuyên giáo đã đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện sự nghiệp đổi mới và đã đạt được những thắng lợi bước đầu. Sự đóng góp của công tác tuyên giáo được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nổi bật, đó là:

+ Tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.

+ Củng cố niềm tin, niềm tự hào về Đảng, về đất nước và con người Việt Nam; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

+ Góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng chăm lo và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

+ Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội an toàn, lành mạnh, xây dựng con người mới Việt Nam.

Đặc biệt là trong 5 năm trở lại đây, công tác tuyên giáo từ Trung ương đến địa phương đã có sự chuyển biến sâu sắc và đạt được những kết quả nổi bật, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Cụ thể:

- Công tác tham mưu giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các lĩnh vực công tác tuyên giáo ngày càng chủ động, nhạy bén, sáng tạo, sát với yêu cầu của thực tiễn. Toàn Ngành đã chủ động tham mưu tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương ban hành trong nhiệm kỳ; nghiên cứu, tham mưu có chất lượng nhiều vấn đề quan trọng trên lĩnh vực tuyên giáo, đồng thời phục vụ tích cực cho việc xây dựng, ban hành, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy địa phương để tháo gỡ khó khăn, bất cập cũng như những định hướng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tuyên giáo trong tình hình mới.

Việc tham mưu, đề xuất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đặc biệt là việc biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương "người tốt, việc tốt" trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục, với nhiều nội dung và cách làm mới, đã tạo sức lan toả sâu rộng trong xã hội, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị.

+ Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống, đạo đức, lối sống trong các trường phổ thông; công tác lý luận, giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề được chú trọng, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được chủ động triển khai, ngày càng nền nếp, bài bản hơn. Công tác triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức. Việc tổ chức học tập, quán triệt triển khai thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 khóa XII được đổi mới từ chỗ học tập, quán triệt bằng hình thức trực tiếp thì nay được kết hợp phương pháp trực tuyến với nội dung ngắn gọn, súc tích, giúp cho cán bộ, đảng viên nắm vững, hiểu rõ những nội dung cơ bản, cốt lõi của các nghị quyết; thời gian tổ chức sớm hơn, nội dung thảo luận, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết khả thi hơn, sát hợp hơn với thực tế địa phương, đơn vị.

Toàn Ngành đã chú trọng tìm tòi, đổi mới nội dung và phương thức tham mưu về công tác lý luận chính trị; tập trung chỉ đạo, định hướng các cơ quan, đơn vị chức năng nghiên cứu một số vấn đề về đường lối, chính sách, phương thức lãnh đạo, thực hiện dân chủ trong Đảng; khẳng định và làm rõ một số giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thống yêu nước tiếp tục được coi trọng và tăng cường, từng bước được đổi mới, đa dạng về nội dung và phương thức. Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống và nghiên cứu, biên soạn và xuất bản sách lịch sử Đảng được cấp ủy các cấp quan tâm triển khai.

+ Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội có nhiều đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của thực tiễn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng tuyên truyền được coi trọng, tập trung chỉ đạo sâu sát, kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt, triển khai các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không ngừng đổi mới theo hướng chủ động, sáng tạo, hiệu quả; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử quan trọng; tuyên truyền kinh tế - xã hội; tuyên truyền quốc phòng, an ninh có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức tạo sức lan tỏa trong xã hội. Công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên cũng đã được ban tuyên giáo các cấp chú trọng và thực hiện có hiệu quả. Công tác chỉ đạo, định hướng tuyên truyền trên internet, mạng xã hội được quan tâm. Việc chỉ đạo, định hướng thông tin tuyên truyền trên báo chí được đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt, từng bước tạo lập môi trường thông tin trong sạch, lành mạnh trên báo chí và trên không gian mạng. Công tác sắp xếp, quy hoạch báo chí được thực hiện đồng bộ với nhiều phương pháp hiệu quả. Công tác nắm bắt, điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội từng bước được đổi mới theo hướng chủ động, sớm và sát thực tiễn hơn; nhất là trước các vấn đề phức tạp, nhạy cảm mà đông đảo nhân dân quan tâm.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa - văn nghệ bám sát nhiệm vụ chính trị, đúng định hướng, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước và từng địa phương.

Công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực, ngày càng đi vào chiều sâu; thông tin về thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đường lối đối ngoại; quảng bá văn hóa, hình ảnh Việt Nam ra thế giới; về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam; các vấn đề chủ quyền biên giới lãnh thổ, vấn đề Biển Đông, tôn giáo, dân tộc, dân chủ nhân quyền... được tăng cường.

+ Công tác tham mưu trên các lĩnh vực khoa giáo ngày càng chủ động, có nhiều chuyển biến quan trọng. Ngành Tuyên giáo đã tập trung chỉ đạo, định hướng chính trị trong triển khai các nội dung, nhiệm vụ công tác khoa giáo như: đổi mới giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường; phòng chống thiên tai, dịch bệnh; phát triển y tế, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, bình đẳng giới. Chủ động tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nghị quyết chỉ thị, nghị quyết này trong tình hình mới.

+ Công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng hiệu quả. Chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống âm mưu "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa có chuyển biến tích cực, rõ nét hơn so với trước; nhất là việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc, phản bác quan điểm sai trái thù địch, xuyên tạc trên Internet, mạng xã hội và tăng cường cung cấp thông tin chính thống, tổ chức đối thoại, định hướng thông tin trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm.

III- SỰ TRƯỞNG THÀNH, LỚN MẠNH CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUA 91 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

1. Hệ thống tuyên giáo các cấp ngày càng được củng cố, kiện toàn; đội ngũ cán bộ tuyên giáo không ngừng phát triển về số lượng, lớn mạnh về chất lượng

Trải qua 91 năm, công tác tuyên giáo của Đảng ngày càng khẳng định sự trưởng thành, phát triển và lớn mạnh không ngừng.

Tổ chức bộ máy hệ thống tuyên giáo cấp ủy đảng các cấp từng bước được đổi mới, kiện toàn chất lượng hoạt động ngày một được nâng lên. Đến nay, đã có 659 Ban Tuyên giáo quận, huyện, thị uỷ; 42 tỉnh, thành phố thành lập được hệ thống tuyên giáo cơ sở xã, phường, thị trấn (65%), một số tỉnh, thành ủy đang tiến hành xây dựng, nhiều nơi đang triển khai thực hiện thí điểm thành lập hệ thống tuyên giáo xã, phường, thị trấn.

Đội ngũ cán bộ tuyên giáo giai đoạn đầu còn ít, lực lượng cán bộ "mỏng", qua mỗi thời kỳ cách mạng, lực lượng ấy ngày càng đông về số lượng, mạnh về chất lượng. Hiện nay, tổng số cán bộ tuyên giáo chuyên trách của cấp ủy đảng từ Trung ương đến cấp huyện và tương đương trên cả nước là khoảng trên 3.800 người (cấp Trung ương: 319 người; cấp tỉnh, thành ủy: khoảng 1.200 người; cấp quận huyện, thị: 2.300 người). Lực lượng cán bộ tuyên giáo ngày càng đông đảo, không chỉ có đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo của cấp ủy, mà còn có đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, các phóng viên, biên tập viên báo chí, các chuyên gia, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, trí thức, cùng đông đảo đội ngũ cộng tác viên. Tính đến cuối năm 2019, chỉ tính riêng đội ngũ Báo cáo viên Trung ương đã có 490 người. Số lượng Báo cáo viên cấp tỉnh và tương đương là 3.945 người, Báo cáo viên cấp huyện và tương đương là 39.107 người; tuyên truyền viên ở cơ sở là 179.094 người (số liệu năm đến tháng 10/2017). Số cộng tác viên dư luận xã hội trên cả nước là 17.398 người (trong đó cấp Trung ương: 60 người; cấp tỉnh: 1.953 người; cấp huyện: 15.445 người).

Nhìn chung, các lực lượng, binh chủng làm công tác tuyên giáo ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên giáo đều là những đồng chí có năng lực, đạo đức, tâm huyết, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, có năng lực, kiến thức chuyên môn, hiểu biết nghiệp vụ, trách nhiệm với công việc; nhiều đồng chí có bề dày kinh nghiệm, đã trải qua nhiều chức vụ lãnh đạo, công tác ở nhiều lĩnh vực (cấp ủy, chính quyền, đoàn thể).

Trong bối cảnh hiện nay, xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng mới, xu thế thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch không ngừng chống phá quyết liệt bằng mọi thủ đoạn, phương thức nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta; đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo ngày càng khẳng định bản lĩnh tư tưởng, năng lực tham mưu mới, sáng tạo, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Thành công của cách mạng Việt Nam luôn có sự đóng góp thiết thực, hiệu quả của đội ngũ cán bộ tuyên giáo chuyên trách và bán chuyên trách các cấp qua mọi giai đoạn cách mạng.

2. Ngành Tuyên giáo ngày càng thể hiện tính chủ động, tính chiến đấu, vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp đổi mới xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế

Công tác tham mưu của ngành Tuyên giáo với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy Đảng mang tầm chiến lược và ngày càng thực hiện tốt vai trò đi trước mở đường, đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trở thành hiện thực trong đời sống xã hội.

Nội dung, phương thức công tác tuyên giáo đổi mới, sát với yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn; chất lượng, hiệu quả ngày càng được nâng lên; tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cán bộ tuyên giáo các cấp ngày càng được phát huy. Công tác tư tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử đã có bước đổi mới tích cực, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong xã hội với tinh thần "lấy cái đẹp, dẹp cái xấu". Công tác tư tưởng, tuyên giáo ngày càng nhanh nhạy đi trước mở đường, khắc phục căn bản tình trạng "chạy theo, nói lại", "tầm chương trích cú". Đặc biệt, đã sớm phát hiện và chủ động chỉ đạo, định hướng tuyên truyền những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, như vấn đề xây dựng Luật Đặc khu, vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, vấn đề Formosa, vụ việc cá chết ở Hồ Tây…

Công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được chú trọng đẩy mạnh, đạt hiệu quả thiết thực; việc đấu tranh, phản bác các quan điểm, sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dần đi vào nền nếp và hoạt động ngày càng hiệu quả. Từ chỗ mới chỉ có một số bài viết đấu tranh nhỏ lẻ, rải rác trên báo chí; đến nay, ngành Tuyên giáo đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn, phản bác quan điểm sai trái, thù địch; bước đầu kết hợp hài hòa các biện pháp kỹ thuật, pháp lý, kinh tế và tuyên truyền, giáo dục để ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, quan điểm xấu độc nhất là trên không gian mạng, làm lành mạnh hóa môi trường thông tin truyền thông, internet và mạng xã hội.

Qua mỗi giai đoạn cách mạng, ngành Tuyên giáo không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, nhạy bén, đổi mới công tác tham mưu, không ngừng sáng tạo, tự làm mới mình, bắt kịp sự phát triển thời đại công nghệ 4.0, tổ chức triển khai các nhiệm vụ đồng bộ, bài bản có trọng tâm, trọng điểm, góp phần quan trọng trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước, lao động, sáng tạo, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, giữ vững ổn định kinh tế chính trị, trật tự an toàn xã hội.

IV- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy để chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch trọng tâm hàng năm; nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, tăng cường công tác dự báo để chủ động tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy giải quyết tốt, đúng và trúng các vấn đề, các sự việc diễn ra, nhất là các vấn đề, sự việc có tính chất phức tạp, nhạy cảm.

Hai là, luôn xác định tinh thần trực chiến trên mặt trận tư tưởng của Đảng; đối diện, không né tránh những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động công tác tuyên giáo; nâng cao tính chủ động, sáng tạo và nhạy bén chính trị, để tham mưu đúng và trúng những giải pháp xử lý các vấn đề mới, khó, phức tạp, cũng như những vấn đề thường xuyên thuộc lĩnh vực công tác tuyên giáo ở mỗi thời điểm, địa bàn cụ thể.

Ba là, quan tâm đầu tư, tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh vững vàng, nhạy bén chính trị, có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết, có khả năng tập hợp, đoàn kết, thuyết phục quần chúng. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo cần được xây dựng theo hướng chuyên sâu, có cơ cấu hợp lý, có tính ổn định tương đối, bộ máy tinh gọn để nâng cao hiệu quả công việc. Ưu tiên chuẩn hóa nghiệp vụ và hiện đại hóa phương tiện tác nghiệp của đội ngũ cán bộ tuyên giáo để luôn đáp ứng yêu cầu mới.

Bốn là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị làm công tác tuyên giáo; tăng cường phối hợp giữa ngành Tuyên giáo với các ban, bộ, ngành, địa phương.

Năm là, chủ động, kiên quyết phản bác có cơ sở khoa học và sức thuyết phục các quan điểm sai trái, thù địch nhất là đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội; vừa tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông mới phục vụ cho công tác tuyên giáo.         

2. Nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tuyên giáo trong thời gian tới

(1). Chủ động bám sát, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, thực hiện tốt chức năng định hướng chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, quan tâm phát hiện những điểm mới trong đời sống xã hội, nâng cao chất lượng tham mưu các cấp ủy đảng trong từng lĩnh vực công tác tuyên giáo. Triển khai và thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

(2). Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; nâng cao chất lượng việc tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả, khả thi. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc tổ chức học tập, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng.

(3). Thể hiện rõ vai trò tiên phong, chủ lực trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; gắn nhiệm vụ xây dựng Đảng với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

(4). Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tuyên giáo; lấy cơ sở lý luận và thực tiễn để tăng khoa học, tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác tuyên giáo. Bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo theo kế hoạch chung của toàn Ngành, phát huy hơn nữa tính chủ động, sáng tạo của tuyên giáo các cấp, các lĩnh vực, các địa phương. Tăng cường sự phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề nổi cộm, Nhân dân quan tâm".

(5). Nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Từ đó, chủ động dự báo tình hình, lên các phương án kế hoạch công tác tư tưởng, không để bùng phát thành "điểm nóng".

(6). Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường tính chiến đấu, tính hiệu quả và tính thuyết phục, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn đất nước. Tiếp tục chỉ đạo và tổ chức tốt công tác tuyên truyền thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các sự kiện trọng đại của đất nước năm 2020, đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng; tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, đồng thuận trong xã hội, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

(7). Đổi mới sâu sắc, quyết liệt hơn nữa công tác định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại; chú trọng công tác tham mưu thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo,dạy nghề, khoa học, công nghệ, y tế, thể dục, thể thao, dân số, gia đình, trẻ em..; góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người và tiềm lực khoa học, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

(8). Chỉ đạo quyết liệt công tác đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới".

(9). Động viên, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt, các nhân tố tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội gắn với thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Xây dựng ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, tạo đà quan trọng thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng.

(10). Tổ chức đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tuyên giáo từ Trung ương đến cơ sở, dự kiến nhu cầu, chủ động tạo nguồn và triển khai kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ, tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị "về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức" và Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".

                                                         ***                                                        

91 năm qua, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, công tác tuyên giáo đã có những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, là niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và nhất là thế hệ những cán bộ đã và đang công tác trong ngành Tuyên giáo. Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống của ngành Tuyên giáo là dịp để chúng ta cùng ôn lại và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của ngành Tuyên giáo; bồi đắp thêm niềm tự hào về những đóng góp to lớn, có ý nghĩa lịch sử của ngành Tuyên giáo trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; củng cố và tăng cường niềm tin vào mục tiêu lý tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, đây cũng là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động ngành Tuyên giáo ra sức phấn đấu, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị, biểu thị quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An


26/07/2021 10:00 SAĐã ban hành
Không có lăng quăng, không có sốt xuất huyếtKhông có lăng quăng, không có sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút Dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Đến nay, bệnh sốt xuất huyết chưa có vắc xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, biện pháp phòng bệnh chủ yếu và hiệu quả nhất là diệt muỗi, diệt lăng quăng và phòng muỗi đốt.

Để bảo vệ sức khỏe gia đình, bản thân và mọi người xung quanh, Bộ Y tế kêu gọi người dân mỗi tuần hãy dành ra 10 phút diệt lăng quăng và thực hiện các biện pháp phòng bệnh như sau:

Kiểm tra, phát hiện và diệt lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt bằng cách thường xuyên xúc rửa, đậy nắp kín hồ và các vật dụng chứa nước, thả cá để tiêu diệt lăng quăng.

Thường xuyên thay nước ở các bình bông, thả muối hoặc hóa chất diệt lăng quăng vào chén nước kê chân tủ chứa thức ăn, tủ chén, hồ cảnh, hòn non bộ, khay nước thải tủ lạnh....

Loại bỏ các vật liệu phế thải, hốc nước tự nhiên, lật úp các vật dụng có thể chứa nước không sử dụng để không cho muỗi đẻ trứng.

Ngủ mùng phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày, mặc quần áo dài tay, dùng bình xịt muỗi, nhang muỗi, kem xua muỗi, vợt điện muỗi để diệt muỗi và phòng muỗi đốt. 

Tích cực phối hợp với ngành y tế trong các chiến dịch diệt lăng quăng và các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.

Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị, không tự ý điều trị tại nhà./.

TH


29/06/2022 8:00 SAĐã ban hành
Cuộc thi làm video ngắn “1 phút xanh: Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với Biến đổi khí hậu”Cuộc thi làm video ngắn “1 phút xanh: Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với Biến đổi khí hậu”
Thử thách làm video do Tổng cục Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam - UNICEF tổ chức.

Nhằm góp phần tuyên truyền, giáo dục trẻ em nâng cao nhận thức, trong công tác  phòng chống  thiên  tai đồng thời tạo điều kiện cho trẻ  có cơ hội phát huy tính sáng tạo, bày tỏ suy nghĩ, ước mơ của mình về phòng chống thiên tai và  biến đổi khí hậu. Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo Quốc gia về  Phòng chống thiên tai, Tổng cục phòng chống thiên tai đã phối hợp cùng Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam  - UNICEF tổ chức cuộc thi làm video ngắn "1 phút xanh: Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với Biến đổi khí hậu".

638034975243187519_638028034947048025_Anh-Cuoc-thi-1-phut-xanh.jpg

Tìm hiểu thông tin cuộc thi tạị https://www.unicef.org/vietnam/vi/1phutxanhpctt

Đối tượng tham dự là thanh thiếu niên từ 13-18 tuổi trên cả nước. Thời gian từ ngày 01/11 đến ngày 30/11/2022. Sản phẩm dự thi là video có thời lượng 01 phút về chủ đề phòng, chống thiên tai và biến đổi khí hậu. Giải thưởng được trao hàng tuần và giải chung cuộc. Tất cả các thí sinh dự thi đều nhận được quà lưu niệm từ Ban tổ chức./.

TH


09/11/2022 12:00 CHĐã ban hành
Ngày Nước thế giới (22-3) năm 2020: “Nước và Biến đổi khí hậu”Ngày Nước thế giới (22-3) năm 2020: “Nước và Biến đổi khí hậu”
Tài nguyên nước và khí hậu luôn có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau. Chế độ khí tượng thủy văn dẫn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra ngày càng thường xuyên và khó dự đoán, làm ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm.

​Theo số liệu của UNICEF (năm 2019) thì hiện nay có khoảng gần 1/3 tổng dân số thế giới không có nước uống hợp vệ sinh và an toàn. Vì vậy, Liên hợp quốc chọn chủ đề Ngày Nước thế giới (22-3) ​năm 2020 là "Nước và Biến đổi khí hậu" và chủ đề Ngày Khí tượng thế giới (23-3) năm 2020 cũng là "Khí hậu và Nước" với khẩu hiệu "Đo đếm từng hạt mưa - Chắt chiu từng giọt nước". Thông điệp để cộng đồng hướng đến:​

  • - Cấp thiết phải đo đạc giám sát lượng mưa trên phạm vi toàn cầu để xây dựng một cơ sở dữ liệu chung, chia sẻ cho các mục đích khác nhau, từ nghiên cứu khoa học đến quản lý tài nguyên nước để sử dụng tối ưu nguồn nước cho phát triển kinh tế - xã hội và phòng chống thiên tai.
  • - Sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, bền vững chính là thích ứng với biến đối khí hậu. Hãy góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu thông qua việc thay đổi các thói quen sử dụng nước hằng ngày.
    Biến đối khí hậu đang diễn ra từng ngày, từng giờ gây ra những hậu quả nghiêm trọng như tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước trên phần lớn các khu vực ở nước ta như hiện nay. Điều đó chứng minh trên thực tế, tài nguyên nước bị tác động mạnh nhất và trực tiếp nhất trước diễn biến của biến đổi khí hậu, kéo theo các vấn đề về dân sinh, kinh tế và môi trường. Chính vì vậy, các giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước đóng vai trò quan trọng, đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững. Công tác quản lý tài nguyên nước cần tập trung:
  • pano-2.jpg
  • - Xây dựng và triển khai quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông làm cơ sở triến khai các giải pháp phân bố, bảo vệ tài nguyên nước.
  • - Tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước. Vận hành các hồ chứa tuân thủ đúng quy trình vận hành liên hồ chứa đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm đảm bảo các nhu cầu sử dụng nước thiết yếu và giảm thiểu các tác hại do lũ lụt, hạn hán, thiếu nước trên các lưu vực sông.
  • - Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm thiếu tình trạng ô nhiễm trên các lưu vực sông; tăng cường giám sát việc tuân thủ pháp luật của các hoạt động xả nước thải; thu gom xử lý ô nhiễm từ nguồn; khuyến khích đầu tư vào công nghiệp xử lý nước thải. Đồng thời, tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ công bằng và hợp lý các nguồn nước liên quốc gia.
    Việt Nam được biết đến là một đất nước có rất nhiều bão, lũ hàng năm, đặc biệt có nhiều dòng sông xuyên biên giới. Song song với nỗ lực quản lý nhà nước và tạo điều kiện cho việc thu thập và chia sẻ dữ liệu về mưa, về nước là cơ sở cho các hoạt động giám sát và dự báo thủy văn, cũng như cảnh báo sớm về lũ lụt và hạn hán. Tuy nhiên, công tác quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn luôn là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh biến đối khí hậu đang diễn ra và tác động đến các điều kiện tự nhiên làm cho các loại thiên tai ngày càng "dị thường hơn, cực đoan hơn" cả về tần suất lẫn cường độ, nhất là các thiên tai liên quan đến mưa, nước.
    Ngành tài nguyên và môi trường mong muốn nhận được sự chia sẻ và tham gia tích cực chủ động của các cấp chính quyền và nhân dân trong việc giảm thiểu rủi ro thiên tai về nước và khí hậu để không ai bị bất ngờ bởi lũ lụt và có đủ thời gian để ứng phó với hạn hán. Với vai trò giám sát, theo dõi và dự báo cảnh báo diễn biến của nguồn nước nói chung, cụ thể là dự báo thời tiết, thủy văn đón đầu những vận động của thiên nhiên phục vụ cho đời sống cộng đồng cần có những hành động thay đối mạnh mẽ, cụ thể:
  • - Hoàn thiện hệ thống thể chế, hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phục vụ cho hoạt động khí tượng thủy văn phát triển. Khuyến khích, đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động khí tượng thủy văn, tạo cơ sở phát triển thị trường dịch vụ khí tượng thủy văn, tiến tới xây dựng nền công nghiệp khí tượng thủy văn ở nước ta.
  • Tăng cường giám sát, quản lý thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn, số hóa và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia tập trung, đồng bộ, hiện đại, sử dụng các công nghệ dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các kiến trúc của khoa học công nghệ 4.0 đế quản lý, khai thác, chia sẻ và thực hiện các dịch vụ khí tượng thủy văn.
  • - Tăng cường nguồn lực cho các hoạt động khí tượng thủy văn quan trọng, ưu tiên đẩy nhanh tiến độ tự động hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn, quan trắc nguồn nước, xâm nhập mặn; tăng mật độ trạm đo ở vùng thượng nguồn các con sông, tăng hệ thống ra đa thời tiết để nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai khí tượng thủy văn, nguồn nước, trong đó gồm cả dự báo tác động, rủi ro thiên tai, cảnh báo sớm. Đầu tư xây dựng các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, phát triến công nghệ dự báo số, tiên tiến, bao gồm dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, các mô hình, các số liệu thời gian thực sử dụng tối ưu số liệu vệ tinh, radar, số liệu hồ chứa... 
  • - Triển khai các Chương trình của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai, cập nhật phân vùng rủi ro thiên tai.
  • - Triển khai xây dựng Đề án cấp quốc gia về khoa học công nghệ, tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về khí tượng thủy văn, tranh thủ sự phối hợp, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Khí tượng thế giới, ủy ban Bão quốc tế và các nước tiên tiến nhằm tăng cường công tác đào tạo, phát triến nguồn nhân lực.
  • - Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của cộng đồng qua đó nâng cao năng lực cho ngành khí tượng thủy văn đáp ứng tốt hơn yêu cầu phòng chống thiên tai, phát triển bền vững.
    Giải quyết các vấn đề về tài nguyên nước chính là chìa khóa giúp thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu, đồng thời có thể giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Để đạt được mục tiêu sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước cần sự chung tay của tất cả các ban, ngành trung ương, địa phương, tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học. Các ngành sử dụng nước như nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, thủy điện, giao thông thủy... cần có các giải pháp chiến lược, căn cơ để ứng phó với diễn biến bất thường của tài nguyên nước trong bối cảnh biến đối khí hậu; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, cùng với các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước. 
  • Mỗi người dân sử dụng nước tiết kiệm hàng ngày, tăng cường ý thức bảo vệ nguồn nước là những đóng góp thiết thực, hiệu quả cho công tác quản lý tài nguyên nước và ứng phó với biến đối khí hậu.
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường
20/03/2020 8:00 SAĐã ban hành
Ứng dụng hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19Ứng dụng hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19
​Theo khuyến nghị của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trước những diễn biến mới của dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam và trên thế giới; Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Bộ y tế triển khai hai ứng dụng NCOVI (dành cho người dân Việt Nam) và Vietnam Health Declaration (dành cho người nhập cảnh vào Việt Nam) để giúp người dân tự khai báo tình trạng sức khỏe, đồng thời nắm bắt được đầy đủ thông tin, các khuyến cáo về phòng, chống dịch bệnh từ Chính phủ, Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 và Bộ Y tế giúp cơ quan quản lý và người dân chủ động phòng, chống dịch hiệu quả.

 

Các thông tin mà người dân cung cấp trên hai ứng dụng sẽ được quản lý chặt chẽ, chỉ phục vụ mục đích duy nhất là giúp nhân dân chống dịch, không sử dụng cho mục đích thương mại, được bảo đảm an toàn thông tin và bí mật riêng tư cá nhân. 

* Để đăng ký thông tin người dân thực hiện như sau:

- Đối với người dân Việt Nam: Truy cập vào địa chỉ Google Play (Play Store, CH Play,...) hoặc App Store tải về và cài đặt ứng dụng NCOVI sau đó điền đầy đủ thông tin khai báo theo hướng dẫn.

- Đối với người nhập cảnh vào Việt Nam: truy cập trang: suckhoetoandan.vn/khaiyte​ hoặc tokhaiyte.vn​ và làm theo hướng dẫn để thực hiện khai báo y tế điện tử./.

Sở TTTT

18/03/2020 11:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19Hướng dẫn người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19
File âm thanh hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 do Cục Thông tin cơ sở cung cấp:


 


01/04/2020 7:00 SAĐã ban hành
Hội nhập kinh tế quốc tếHội nhập kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội.

1. Thực trạng tham gia FTA của Việt Nam

Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới có hơn 200 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực. Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Chi Lê hoặc Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc.

Số lượng các hiệp định thương mại tự do đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua. Từ năm 1948 đến 1994, Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã nhận được 124 thư thông báo. Kể từ năm 1995 trên 300 hiệp định thương mại đã được ban hành.

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), số hiệp định thương mại tự do (FTA) ký kết giữa các quốc gia châu Á đã tăng từ 3 hiệp định năm 2000 lên 56 hiệp định vào cuối tháng 8 năm 2009. Mười chín trong tổng số 56 hiệp định thương mại tự do đó được ký giữa 16 nền kinh tế châu Á, một xu hướng có thể giúp cho khu vực này trở thành khối mậu dịch hùng mạnh.

Việc hình thành các Hiệp định FTA hiện đang là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập, phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc. Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua Việt Nam rất tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp FTA song phương và đa phương. Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết thực hiện. Tính đến tháng 9/2020, Việt Nam đã có 13 FTA có hiệu lực và hiện đang đàm phán 03 FTA. Trong số 13 FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA). 

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA ​ ​ ​
STTTên viết tắtTên đầy đủNăm có hiệu lực
1
AFTAKhu vực Mậu dịch Tự do ASEAN1993
2ACFTAHiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc2003
3AKFTAHiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Hàn Quốc2007
4AJCEPHiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản2008
5VJEPAHiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản2009
6AIFTAHiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ2010
7AANZFTAHiệp định Thương mại Tự do ASEAN -Australia-New Zealand2010
8VCFTAHiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Chi Lê2014
9VKFTAHiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc2015
10VN-EAEU FTAHiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu2016
11CPTPPHiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương2018
12AHKFTAHiệp định Thương mại tự do ASEAN và Hồng Kông (Trung Quốc)2019
13EVFTAHiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu2020
14VN-EFTA FTAHiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA

 

Đang đàm phán

15RCEPHiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
16VIFTAHiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Isarel 

* Các FTA đã tham gia của Việt Nam bao gồm:

- Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) là một FTA đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. AFTA được ký năm 1992 tại Singapore. Ban đầu có 6 nước là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6). Các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (gọi chung là CLMV) tham gia AFTA khi được kết nạp vào ASEAN.

- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA): ASEAN và Trung Quốc ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện tháng 11/2002. Hai bên tiếp tục đàm phán và ký kết các Hiệp định về Thương mại Hàng hóa (có hiệu lực từ tháng 7/2005), Hiệp định về Đầu tư (có hiệu lực từ tháng 02/2010). Tháng 11/2015, ASEAN và Trung Quốc ký Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung và các Hiệp định liên quan, trong đó có nhiều nội dung cam kết mới về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Nghị định này có hiệu lực từ tháng 5/2016.

- Hiệp đinh Thương mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA): ASEAN và Hàn Quốc ký kết Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện năm 2005. Trên cơ sở Hiệp định khung, hai bên tiếp tục ký kết 04 Hiệp định khác về Thương mại Hàng hóa (có hiệu lực từ tháng 6/2007), Hiệp định về Thương mại Dịch vụ có hiệu lực từ tháng 5/2009, Hiệp định về Đầu tư có hiệu lực từ tháng 6/2009) nhằm hình thành Khu vực thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc.

- Hiệp định Đối tác kinh tế toàn iện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP): ký ngày 03/4/2008, có hiệu lực từ ngày 15/8/2008. Tính đến ngày 01/4/2015, Nhật Bản đã xóa bỏ thuế quan đối với 923 dòng các sản phẩm nông nghiệp từ Việt Nam. Đến năm 2019, sẽ có thêm 338 dòng thuế nông nghiệp khác sẽ được xóa bỏ thuế. Đến cuối lộ trình vào năm 2026, Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 96,45% tổng số các dòng thuế đối với hàng Việt Nam (chủ yếu nông sản, thủy sản, hàng dệt may, giầy dép, đồ gỗ, linh kiện điện tử…)

- Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA): Đây là FTA song phương đầu tiên của Việt Nam, ký kết ngày 25/12/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2009. Việt Nam và Nhật Bản dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP). VJEPA không thay thế AJCEP mà cả hai FTA cùng có hiệu lực, doanh nghiệp có thể tùy chọn sử dụng FTA nào có lợi hơn.

- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA): được ký kết ngày 08/10/2003. Trên cơ sở Hiệp định khung, hai bên tiếp tục ký kết các Hiệp định về Hàng hóa (có hiệu lực 01/01/20), Hiệp định về Dịch vụ (có hiệu lực 01/7/2015) và Hiệp định về Đầu tư (có hiệu lực 01/7/2015) nhằm hình thành Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ.

- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia và New Zealand (AANZFTA): ký kết ngày 27/02/2009, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Đây là thỏa thuận thương mại tương đối toàn diện, bao gồm rất nhiều cam kết về hàng hóa, dịch vụ (gồm cả dịch vụ tài chính và viễn thông), đầu tư, thương mại điện tử, di chuyển thể nhân, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và hợp tác
 kinh tế…

- Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Chi Lê (VCFTA): được ký kết ngày 11/11/2011 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. FTA này chỉ bao gồm các cam kết về hàng hóa và các vấn đề liên quan đến hàng hóa, không bao gồm các cam kết về dịch vụ, đầu tư… Đây là FTA đầu tiên của Việt Nam với một quốc gia châu Mỹ.

- Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA): được ký kết ngày 05/5/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 20/12/2015. So với FTA ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA), trong VKFTA Việt Nam và Hàn Quốc dành thêm nhiều thời gian ưu đãi cho nhau trong cả lĩnh vực hang hóa, dịch vụ và đầu tư. VKFTA không thay thế AKFTA mà cả hai FTA này đều cùng có hiệu lực và doanh nghiệp có thể tùy chọn sử dụng FTA nào có lợi hơn.

- Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu (VN-EAEU FTA): hiện tại bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan) ký kết ngày 29/5/2015, có hiệu lực từ ngày 05/10/2016. Đây là FTA đầu tiên của EAEU nên các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế khi xuất khẩu
 vào đây.

- Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP): có tiền than là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), chính thức ký kết vào tháng 3/2018 bởi 11 nước thành viên TPP (không bao gồm Mỹ). CPTPP đã được 7 nước thành viên phê chuẩn, gồm Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, Singapore, New Zealand, Việt Nam và đã chính thức có hiệu lực vào ngày 30/12/2018. CPTPP có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019.

- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN và Hồng Kông (Trung Quốc) (AHKFTA): được ký kết ngày 12/11/2017, AHKFTA chính thức có hiệu lực với Hồng Kông (Trung Quốc) và 5 nước thành viên ASEAN (bao gồm Lào, Myanmar, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) kể từ ngày 11/6/2019.

- Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA):  là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và các nước thành viên EU. Bắt đầu đàm phán từ tháng 6/2012; kết thúc đàm phán tháng 12/2015; đến tháng 6/2018, EVFTA được tách làm hai; Hiệp định Thương mại (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) được thông qua tháng 6/2020.

* Các FTA Việt Nam đang đàm phán bao gồm:

- Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA (VN-EFTA FTA) (bao gồm 4 nước Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein) bắt đầu khởi động đàm phán từ tháng 5/2012. Hiện tại FTA này vẫn đang trong quá trình đàm phán.

- Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP – còn được gọi là ASEAN+6), được ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand bắt đầu đàm phán từ ngày 09/5/2013. Hiện tại Hiệp định này vẫn đang trong quá trình đàm phán.

- Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Isarel (VIFTA): được bắt đầu khởi động đàm phán từ ngày 02/12/2015, hiện tại FTA này vẫn đang trong quá trình đàm phán.

Nhìn lại các Hiệp định đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác cho thấy, Việt Nam luôn chủ động, tích cực, tham gia đàm phán. Cụ thể là:

- Hiệp định FTA Việt Nam - EU được khởi động từ tháng 6/2012 tại Brussels (Bỉ), đã trải qua 10 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ. Ngày 13/10/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban Châu Âu (EC) Manuel Barroso đã có buổi thảo luận về kết thúc đàm phán FTA này. Hai bên tập trung giải quyết một số vấn đề then chốt để hướng tới việc thực hiện các cam kết đạt yêu cầu chất lượng cao và cân bằng trong tất cả các lĩnh vực đàm phán mở cửa thị trường (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm công) cũng như các quy định và quy tắc quản lý (đặc biệt là sở hữu trí tuệ, bao gồm chỉ dẫn địa lý của hai bên; doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ
 đầu tư…).

- Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) được khởi động từ tháng 8/2012, sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, hai bên đã đi đến thống nhất Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích. Nhân dịp Hội nghị cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối thoại ASEAN - Hàn Quốc, ngày 10/12/2014 tại Busan (Hàn Quốc), hai nước đã ký Biên bản thỏa thuận về Kết thúc đàm phán Hiệp định FTA - Hàn Quốc. Trong Hiệp định này, phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông nghiệp, thủy hải sản chủ lực, công nghiệp dệt may, sản phẩm cơ khí và tạo cơ hội cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực. Phía Việt Nam cũng dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công nghiệp, nguyên phụ liệu dệt, may, nhựa, linh kiện điện tử, xe tải và xe con, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sắt thép, dây cáp điện, góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài nước.

- Hiệp định FTA Việt Nam - Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazacstan (VCYFTA), được khởi động vào tháng 3/2013. Sau 8 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên họp giữa kỳ ở cấp kỹ thuật, hai bên đã thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích, có tính đến điều kiện cụ thể của mỗi bên. Ngày 15/12/2014, hai bên đã ký kết Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định. Theo đó, phía Liên minh Hải quan đã dành cho Việt Nam ưu đãi về các mặt hàng như: nông sản, bao gồm tất cả các mặt hàng thủy sản và hàng công nghiệp như dệt, may, da giầy, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến. Đồng thời Việt Nam cũng mở cửa thị trường theo lộ trình cho Liên minh Hải quan đối với một số sản phẩm chăn nuôi, hàng công nghiệp, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải góp phần làm đa dạng hóa thêm thị trường tiêu dùng trong nước.

2. Thời cơ và thách thức khi Việt Nam tham gia các Hiệp định Thương mại (FTA)

Việc tích cực tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định FTA đã mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam, tuy nhiên, đi liền với đó là không ít thách thức đòi hỏi nền kinh tế nước ta phải có nỗ lực vượt bậc để đạt được thành công.

Từ 01/1/2015, Việt Nam cắt giảm 1.720 dòng thuế từ mức thuế suất 5% về 0% theo Hiệp định FTA Việt Nam - ASEAN. Năm 2015 chỉ còn 7% dòng thuế, tương đương với khoảng trên 600 mặt hàng được coi là nhạy cảm chưa cắt giảm về 0%. EU là một trong những thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn của Việt Nam, đặc biệt là nhóm hàng da giầy, dệt may và nông nghiệp, thủy sản. Theo thống kê năm 2014, EU là thị trường nhập khẩu da giầy lớn nhất với trị giá trên 2 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm đến trên 35% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam. Tiếp sau là các mặt hàng dệt may, thủy sản với kim ngạch xuất khẩu lần lượt đạt 1,98 tỷ USD và trên 950 triệu USD. Hiện tại, EU là bạn hàng lớn thứ 2 về xuất khẩu, thứ 5 về nhập khẩu của Việt Nam. Sau khi ký Hiệp định, sẽ có 90% hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU được hưởng mức thuế suất 0%. Nhằm tận dụng cơ hội từ thị trường EU, hiện Việt Nam đang điều chỉnh chiến lược thu hút vốn đầu tư với khả năng chuyển giao công nghệ mới…Tuy nhiên, EU là một thị trường khó tính, cạnh tranh đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật, khả năng quản trị, công nghệ cao nếu doanh nghiệp Việt Nam không thay đổi để thích ứng thì khó có thể tham gia sâu vào thị trường này.

Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ có ý nghĩa tăng cường hợp tác thương mại song phương hướng tới mục tiêu 70 tỷ USD vào năm 2020 mà còn góp phần thúc đẩy toàn diện quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc. Theo dự báo, khi thực hiện Hiệp định song phương FTA này, các doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ có một "cuộc đổ bộ" lớn vào Việt Nam. Tính đến nay, Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam cả về quy mô tổng vốn đầu tư và cả số dự án, với tổng vốn đăng ký đạt 36,71 tỷ USD và 4.063 dự án đầu tư còn hiệu lực. Các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc là thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, sử dụng trên 50 vạn lao động và đóng góp trên 25% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam cũng là đối tác đầu tư nước ngoài lớn thứ 3 của Hàn Quốc sau Mỹ, Trung Quốc. Khoảng 95% các dự án đầu tư của Hàn Quốc được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa (quy mô dưới 500 người, doanh thu dưới 150 triệu USD) chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ như ngành may mặc, sản xuất giày, dép… Quan hệ thương mại giữa hai nước trong những năm qua cũng phát triển mạnh từ mức 500 triệu USD năm 1992 lên 2,1 tỷ USD năm 2000; 278,3 tỷ USD năm 2013, con số này tính đến hết tháng 10/2014 đã tăng trên 4,5% so với cùng kỳ năm 2013. Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 70 tỷ USD vào năm 2020, dự kiến sẽ chiếm 30% tổng kim ngạch thương mại ASEAN - Hàn Quốc (200 tỷ USD). Tuy nhiên, trong những năm qua, Hàn Quốc là một trong những đối tác mà Việt Nam có thâm hụt thương mại cao nhất (năm 2013 là 14,067 tỷ USD) do Việt Nam phải nhập khẩu thiết bị, máy móc, tư liệu sản xuất. Các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu với Hàn Quốc tính đến hết tháng 11/2014 là 13,1 nghìn doanh nghiệp, năm 2013 con số này là 10,9 nghìn doanh nghiệp.

Liên minh Hải quan (gồm Nga - Belarus - Kazacstan) là thị trường rộng lớn, mới mở cửa, có mức tăng trưởng GDP khá và tương đối ổn định. Tổng GPD của khối hiện nay đạt 2.500 tỷ USD, đối với hàng tiêu dùng, đây là thị trường không quá khó tính, nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu đang ngày càng được đa dạng hóa, nhất là trong bối cảnh phương Tây đang tăng cường trừng phạt kinh tế Nga. Dự báo, sau khi FTA Việt Nam – Liên minh Hải quan có hiệu lực, kim ngạch hai chiều của hai bên sẽ tăng bình quân 18-20%/năm, từ mức khoảng 4 tỷ USD năm 2014 lên 10-12 tỷ USD năm 2020. Lĩnh vực đầu tư, dịch vụ tài chính - ngân hàng, logistics, hợp tác về hải quan cũng được hai bên ưu tiên tự do hóa. FTA sẽ giúp cho doanh nghiệp hai bên học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Việt Nam tranh thủ tiếp thu công nghệ tiên tiến của Liên minh này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bên cạnh những cơ hội lớn, cũng có không ít các thách thức đang đặt ra đối với Việt Nam yêu cầu phải thay đổi để khắc phục các hạn chế, yếu kém để tận dụng thời cơ phát triển. Cụ thể:

Thứ nhất, về năng lực quản lý. Thách thức đặt ra đối với cơ quan quản lý nhà nước cần phải hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách về phát triển các ngành công nghiệp nội địa trong khi năng lực cạnh tranh vẫn yếu kém. Thực tế, hệ thống pháp luật và năng lực quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực liên quan đến hội nhập quốc tế nói chung và tham gia các FTA nói riêng hiện còn nhiều bất cấp. Kết cấu hạ tầng yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ chuyên gia còn hạn chế, kể cả trong khâu đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết. Ngoài ra, thách thức từ việc giảm thuế nhập khẩu dẫn đến giảm thu ngân sách; Cơ cấu xuất nhập khẩu thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với các đối tác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành; giữa Trung ương và địa phương chưa thực sự hiệu quả, từ đó dẫn đến những lúng túng khi đưa ra chính sách và xử lý các vấn đề phát sinh trong khi sức ép từ các ràng buộc, cam kết trong các  Hiệp định FTA ngày càng tăng.

Thứ hai, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu. Mặc dù được tạo điều kiện, các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phát triển công nghệ. Khu vực tư nhân đã phát triển nhưng quy mô còn nhỏ và hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ; các ngành sản xuất trong nước phải đối mặt với sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng của hàng nhập khẩu. Đặc biệt, trong nông nghiệp, Việt Nam còn thiếu sự gắn kết giữa các ngành, địa phương; quá trình triển khai chưa có sự chuẩn bị đúng mức về nội lực cho cả doanh nghiệp và nông dân. Do đó, nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng nông sản đã gặp tình trạng giảm sút lợi nhuận, nợ tăng cao, dẫn đến phá sản hoặc chuyển hướng sang nhập khẩu. Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển, nhập khẩu bị phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Tỷ lệ cung ứng nguyên liệu trong nước của một số ngành công nghiệp như ô tô chỉ khoảng 20-30% và dệt may là gần 50%... Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đã ký FTA chưa có chuyển biến mạnh, vẫn tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nông sản, các mặt hàng công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu… Đặc biệt, có một số mặt hàng như cao su, dừa, rau quả, than đá… chúng ta đã tập trung quá lớn vào thị trường Trung Quốc (chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này) mà không đa dạng hàng hóa thị trường. Tình hình trên đã dẫn đến việc phụ thuộc lớn vào một thị trường và khi đối tác giảm nhập khẩu thì chúng ta phải gánh chịu những hậu quả không nhỏ… Do vậy, dẫn đến giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao.

Thứ ba, mặc dù đã chủ động tham gia các Hiệp định FTA nhưng Việt Nam đôi khi còn bị lôi kéo theo tình thế, thiếu nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, chưa có chiến lược bài bản rõ ràng khi tham gia các Hiệp định FTA, đặc biệt là mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị chưa tốt. Có thể nói, hiện Việt Nam chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản trong nước khi tham gia các Hiệp định FTA và chưa tận dụng tốt các ưu đãi trong các Hiệp định FTA đã ký kết để cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán vãng lai và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả, phát triển bền vững.

3. Giải pháp cho Việt Nam khi tham gia các FTA

Trong thời gian tới, việc đàm phán, tham gia một số Hiệp định FTA sẽ làm tăng thêm nhiều nghĩa vụ của Việt Nam về cải cách thể chế kinh tế (nhất là các vấn đề liên quan đến lao động và công đoàn, mua sắm Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, môi trường, chính sách cạnh tranh…). Đồng thời, để thực hiện tiếp các cam kết trong các FTA đã ký chúng ta sẽ phải tiếp tục giảm thuế, tham gia các FTA trong thế hệ mới đòi hỏi chúng ta phải cạnh tranh ở mức độ cao hơn. Do vậy, cần tập trung vào một số giải pháp như sau:

Một là, sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển, đầu tư đáp ứng, phù hợp trong bối cảnh hội nhập; Sửa đổi chính sách đầu tư nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ để phục vụ cho nhu cầu trong nước, giảm nhập khẩu đầu vào trung tâm, tăng hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu. Điều chỉnh dòng vốn FDI theo hướng thu hút có chọn lọc, chấm dứt tình trạng ưu đãi tràn lan, hạn chế dòng vốn FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên, khoáng sản, lĩnh vực kinh doanh bất động sản, một số lĩnh vực dịch vụ giải trí…Xây dựng và triển khai thực hiện tốt chương trình tái cấu trúc cơ cấu đầu tư, trong đó trọng tâm là đầu tư công; Chính sách ưu đãi đầu tư cần tập trung khuyến khích cao hơn cho lĩnh vực có khả năng tăng năng lực và tạo sự lan tỏa như: công nghiệp chế tạo, chế biến có sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ bảo vệ môi trường.

Hai là, hoàn thiện các chính sách thương mại cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và không gây xung đột với các Hiệp định FTA đã hoặc sẽ tham gia. Trong đó, cần tập trung hoàn thành Chương trình thực thi hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011-2015; xây dựng tiêu chuẩn đối với hàng xuất khẩu; xây dựng lộ trình hạn chế xuất khẩu đối với các sản phẩm thô; ban hành quy định tiêu chuẩn doanh nghiệp được xuất khẩu một số mặt hàng gắn việc tạo ra liên kết lâu dài và ổn định giữa nhà xuất khẩu và nhà sản xuất chế biến…

Ba là, cần chủ động điều chỉnh cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu và thị trường trong nước theo định hướng, Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ) và các Chiến lược phát triển khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt./.

TH



04/01/2021 3:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn khai báo y tế điện tử toàn dân phục vụ phòng, chống dịch Covid-19Hướng dẫn khai báo y tế điện tử toàn dân phục vụ phòng, chống dịch Covid-19

I. Cách 1: Khai báo trực tuyến trên trang web 0-code.jpg

Bước 1: Truy cập vào Hệ thống quản lý tờ khai y tế theo địa chỉ website: https://tokhaiyte.vn hoặc quét mã QR bên cạnh để vào khai báo y tế.

Bước 2: Nhập số điện thoại di động (hoặc số điện thoại cố định và email) để nhận mã xác thực (mã OPT), nhập mã xác thực để vào biểu mẫu khai báo y tế.

1-1-khai-bao-y-te.jpg1-2-khai-bao-y-te.jpg1-3-khai-bao-y-te.jpg 

Bước 3: Đọc kỹ và điền chính xác thông tin vào các ô trong biểu mẫu khai báo y tế (ô có dấu sao "*" biểu thị việc bắt buộc phải điền).

2-1-khai-bao-y-te.jpg2-2-khai-bao-y-te.jpg2-3-khai-bao-y-te.jpg

Bước 4: Nhấn nút "Gửi tờ khai", sau khi hoàn thành điền thông tin, hệ thống sẽ tự động trả lại một mã QR cá nhân để sử dụng "Check-in/Check-out y tế" tại các địa điểm có yêu cầu.

II. Cách 2: Khai báo trực tuyến trên ứng dụng điện thoại thông minh

Có thể thực hiện "Khai báo y tế" trên điện thoại thông minh bằng cách tải các ứng dụng về máy cá nhân.

Bước 1: Truy cập vào chợ ứng dụng GooglePlay (Android)/AppStore (IOS) để tìm và tải các ứng dụng với tên"Bluezone", "Vietnam Health Declaration", cài đặt ứng dụng trên điện thoại thông minh.

3-khai-bao-y-te.jpg

Bước 2: Thực hiện cập nhật chính xác thông tin Số điện thoại di động để nhận Mã xác thực (OTP) và truy cập hệ thống.

Bước 3: Chọn chức năng "Khai báo y tế" để điền các thông tin cần thiết có yêu cầu dấu (*) theo mẫu của Bộ y tế ban hành.

4-khai-bao-y-te.jpg

5-1-khai-bao-y-te.jpg5-2-khai-bao-y-te.jpg5-3-khai-bao-y-te.jpg6-1-khai-bao-y-te.jpg6-2-khai-bao-y-te.jpg6-3-khai-bao-y-te.jpg

Bước 4: Nhấn nút "Gửi tờ khai", sau khi hoàn thành điền thông tin, hệ thống sẽ tự động trả lại một mã QR cá nhân để sử dụng "Check-in/Check-out y tế" tại các địa điểm có yêu cầu./.



28/05/2021 7:00 SAĐã ban hành
Triển khai ứng dụng "VSSID - Bảo hiểm xã hội số"Triển khai ứng dụng "VSSID - Bảo hiểm xã hội số"
“VssID - Bảo hiểm xã hội số” là một sản phẩm thuộc hệ sinh thái chuyển đổi số phục vụ người dân của ngành Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, được cung cấp trên 02 kho ứng dụng App Store (hệ điều hành IOS) và Google Play (hệ điều hành Android) với mục đích thiết lập kênh giao tiếp, tạo điều kiện cho người dân tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) tiếp cận thông tin, thực hiện dịch vụ công tiện lợi, nhanh chóng.

Ứng dụng VssID hiện cung cấp các tiện ích, thông tin thiết yếu như:

- Cung cấp các thông tin về: Thẻ BHYT; Quá trình tham gia BHXH, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, BHYT; Thông tin hưởng (các chế độ một lần: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp); Sổ khám chữa bệnh.

- Tra cứu các thông tin: Mã số BHXH, cơ quan BHXH, cơ sở khám chữa bệnh BHYT và các điểm thu, đại lý thu BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình, hỗ trợ trực tuyến 24/7,...

- Cung cấp các tin tức hoạt động Ngành BHXH; các video về chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN... để giúp người dân hiểu rõ hơn về lợi ích, quyền lợi được hưởng, cũng như cách thức khi tham gia BHXH, BHYT.

- VssID - BHXH số hướng tới tích hợp tiện ích sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử thay thế sổ và thẻ giấy; dịch vụ công; thanh toán trực tuyến,... trong thời gian tới.

- Sử dụng VssID, người dùng còn có thể thực hiện vai trò giám sát nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động của người sử dụng lao động, góp phần công khai, minh bạch thông tin và hạn chế tình trạng nợ đóng, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động của các đơn vị, doanh nghiệp.

- Sử dụng VssID người dùng yên tâm vì được bảo mật thông tin. Tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng Bảo hiểm xã hội số - VssID được đăng tải trên Website của BHXH tỉnh Long An tại địa chỉ https://longan.baohiemxahoi.gov.vn./.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An


15/03/2021 11:00 SAĐã ban hành
Khuyến cáo các biện pháp phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình mớiKhuyến cáo các biện pháp phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình mới
Theo diễn biến của dịch bệnh hiện nay, Bộ Y tế xây dựng khuyến cáo phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình hình mới.

THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19 TRONG TÌNH HÌNH MỚI

1. Thường xuyên rửa tay đúng cách bằng xà phòng dưới vòi nước sạch, hoặc bằng dung dịch sát khuẩn có cồn (ít nhất 60% cồn).

2. Đeo khẩu trang nơi công cộng, trên phương tiện giao thông công cộng và đến cơ sở y tế.

3. Tránh đưa tay lên mắt, mũi, miệng. Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi bằng khăn giấy, khăn vải, khuỷu tay áo.

4. Tăng cường vận động, rèn luyện thể lực, dinh dưỡng hợp lý xây dựng lối sống lành mạnh.

5. Vệ sinh thông thoáng nhà cửa, lau rửa các bề mặt hay tiếp xúc.

6. Nếu bạn có dấu hiệu sốt, ho, hắt hơi, và khó thở, hãy tự cách ly tại nhà, đeo khẩu trang và gọi cho cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và điều trị.

7. Nếu bạn từ vùng có dịch bệnh trở về cần tự cách ly, theo dõi sức khỏe, khai báo y tế đầy đủ.

8. Thực hiện khai báo y tế trực tuyến tại https://tokhaiyte.vn hoặc tải ứng dụng NCOVI từ địa chỉ https://ncovi.vn và thường xuyên cập nhật tình trạng sức khoẻ của bản thân.

9. Cài đặt ứng dụng Bluezone để được cảnh báo nguy cơ lây nhiễm COVID-19, giúp bảo vệ bản thân và gia đình: https://www.bluezone.gov.vn/.

31.7.2020 Khuyến cáo 9 biên pháp.jpg


Theo Cổng thông tin Bộ Y tế


31/07/2020 6:00 SAĐã ban hành
Long An: Phương án chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 7, tháng 8 năm 2021Long An: Phương án chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 7, tháng 8 năm 2021
Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh và các tỉnh, thành phố trong khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Để công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) hằng tháng cho người hưởng trên địa bàn tỉnh Long An được đầy đủ, kịp thời, an toàn và đảm bảo công tác phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh và BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh Long An phối hợp với Bưu điện tỉnh Long An thống nhất triển khai công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH tháng 7 và tháng 8 năm 2021 như sau:

1. Đối với người hưởng nhận lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng qua tài khoản ATM

Thực hiện chuyển đầy đủ lương hưu và trợ cấp BHXH tháng 7/2021 và tháng 8/2021 cùng một đợt vào tài khoản cá nhân của người hưởng, hoàn thành trước ngày 06/7/2021.

2. Đối với người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng nhận bằng tiền mặt

Bưu điện trực tiếp chi trả cho người hưởng tại các điểm chi trả, hoàn thành công tác chi trả cho người hưởng trước ngày 20/7/2021. Căn cứ số lượng người hưởng trên từng địa bàn từng xã, phường, thị trấn cơ quan Bưu điện thực hiện:

- Xây dựng lịch chi trả tháng 7 và tháng 8 năm 2021 vào cùng kỳ chi trả tháng 7/2021 phù hợp với từng địa bàn. Thông báo đến từng người hưởng biết về thời gian, địa điểm chi trả, các biện pháp phòng chống dịch tại điểm chi trả để người hưởng bố trí thời gian đến nhận tiền phù hợp, đảm bảo thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh Long An.

- Tăng cường nhân viên chi trả, bố trí thêm bàn chi trả để giảm thời gian chờ đợi của người hưởng, tránh tụ tập đông người, đảm bảo an toàn tiền mặt theo quy định. Yêu cầu nhân viên chi trả, nguời hưởng phải thực hiện nghiêm yêu cầu 5K của Bộ Y tế, đặc biệt phải tuân thủ đeo khẩu trang, sát khuẩn, giữ khoảng cách,... theo đúng quy định. Bưu điện chuẩn bị sẵn sàng khẩu trang, sát khuẩn miễn phí tại điểm chi trả để phục vụ người hưởng trong trường hợp người hưởng không có khẩu trang.

- Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch theo Công điện số 541/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Thông báo số 81/TB-VPCP ngày 26/4/2021 của Văn phòng Chính phủ và Công văn số 5679/UBND-VHXH ngày 18/6/2021 của UBND tỉnh Long An. Bưu điện tỉnh chịu trách nhiệm khi để xảy ra trường hợp lây nhiễm dịch trong quá trình chi trả do cơ quan bưu điện không thực hiện các yêu cầu, điều kiện quy định về bảo đảm phòng, chống dịch.

- Đối với người hưởng đang thực hiện cách ly tại nhà hoặc thuộc các địa bàn bị cách ly (nếu có) do ảnh hưởng của dịch Covid-19: Bưu điện phối hợp với chính quyền địa phương, Ban chỉ đạo công tác phòng chống dịch Covid-19, cơ quan BHXH để có phương án chi trả kịp thời, an toàn cho người hưởng sau khi hết thời hạn cách ly./.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An


02/07/2021 6:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng Ngày Đất ngập nước Thế giới năm 2023Hưởng ứng Ngày Đất ngập nước Thế giới năm 2023
Công ước về các vùng Đất ngập nước (Công ước Ramsar, Iran, 1971) là hiệp ước quốc tế với sứ mệnh “bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước thông qua các hành động của địa phương, khu vực, quốc gia và hợp tác quốc tế nhằm góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên toàn thế giới” với sự tham gia của 172 quốc gia thành viên. Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên trở thành thành viên của Công ước Ramsar từ năm 1989.

Các vùng đất ngập nước có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho con người, từ lọc nguồn nước và cung cấp nước, đến bảo vệ chúng ta khỏi bão và lũ lụt, duy trì đa dạng sinh học và lưu trữ carbon. Ngày Đất ngập nước Thế giới nhằm mục đích nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác động của các vùng đất ngập nước đối với nhân loại và hành tinh, để thúc đẩy các hành động dẫn đến việc bảo tồn, sử dụng hợp lý và phục hồi chúng.

20230107_133126.jpg

Ảnh minh họa

Xu hướng biến mất và suy thoái của đất ngập nước đang ngày càng nghiêm trọng. Các vùng đất ngập nước đang biến mất nhanh gấp ba lần so với rừng và hơn 35% diện tích đất ngập nước đã bị suy thoái hoặc biến mất tính từ năm 1970. Trước thực trạng trên, Ban thư ký Công ước Ramsar đã đề nghị các quốc gia hưởng ứng, tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Đất ngập nước Thế giới vào ngày 02 tháng 02 năm 2023 với chủ đề "Hãy phục hồi đất ngập nước ngay từ hôm nay - Hơn 35% diện tích đất ngập nước tự nhiên đã bị mất trong 50 năm qua. Lựa chọn, tiếng nói và hành động của bạn thúc đẩy xu hướng phục hồi đất ngập nước" (It's time for wetland restoration - More than 35% of natural wetlands have been lost in the last 50 years. Your choices, your voice and your actions can trigger a restoration  trend) nhằm nêu bật nhu cầu cấp thiết phải ưu tiên phục hồi các vùng đất ngập nước và kêu gọi tất cả mọi người thực hiện các hành động để phục hồi đất ngập nước bị suy thoái.

Để hưởng ứng đề nghị của Ban thư ký Công ước Ramsar và lời kêu gọi của Đại Hội đồng Liên hợp quốc về Thập kỷ "Phục hồi Hệ sinh thái", Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có công văn đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến về giá trị và tầm quan trọng của các vùng đất ngập nước đối với sự sống của con người và thiên nhiên, tăng cường nhận thức về các mối đe dọa chính đối với hệ sinh thái đất ngập nước, đồng thời kêu gọi mọi người dân cùng cam kết bảo vệ, sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước, tăng cường quản lý, phục hồi đất ngập nước. 

Cùng với đó, tiến hành các hoạt động truyền thông phù hợp, tổ chức lễ kỷ niệm, các cuộc thi, triển lãm hoặc phát động các phong trào gắn với chủ đề Ngày Đất ngập nước Thế giới năm 2023. Tích hợp nội dung về bảo vệ giá trị đất ngập nước, quản lý, phục hồi và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước vào các chương trình, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển của Bộ, ngành và địa phương.

Đẩy mạnh các giải pháp đầu tư vào bảo tồn, quản lý và phục hồi các vùng đất ngập nước để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng khí hậu và đa dạng sinh học. Các tài liệu về chủ đề Ngày Đất ngập nước Thế giới năm 2023, các hoạt động kỷ niệm Ngày Đất ngập nước Thế giới trong năm 2023 của các địa phương được đăng ký và đăng tải tại trang thông tin điện tử của Công ước Ramsar: https://www.worldwetlandsday.org/./.

TH


01/02/2023 10:00 SAĐã ban hành
Tăng cường phòng chống dịch do nCoV gây ra tại nhà chung cưTăng cường phòng chống dịch do nCoV gây ra tại nhà chung cư
Vừa qua, Bộ Xây dựng đã ban hành công văn 418/BXD-QLN gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường phòng chống dịch do nCoV gây ra tại nhà chung cư.

Theo đó, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCoV) gây ra đang lây nhiễm rất nhanh, nghiêm trọng và đã ở mức rất cao tại Trung Quốc. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Việt Nam có nguy cơ rất cao bùng phát dịch lớn. Ngày 31/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 06/CT-TTg về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp mới của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra.

Hiện nay, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt và đang kiểm soát tốt tình hình. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, tinh thần và nhận thức phòng, chống dịch bệnh này chưa cao, chưa có kế hoạch, phương án, biện pháp cụ thể, chủ động ứng phó với dịch bệnh. Trong đó, tại các khu nhà chung cư có nguy cơ rất cao bùng phát dịch lớn do là nơi tập trung đông người. Trước diễn phức tạp ngày càng gia tăng của dịch bệnh, nhằm góp phần hạn chế sự lây lan do nCoV gây ra, Bộ Xây dựng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà chung cư khẩn trương thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Tuyên truyền, chỉ đạo các tổ chức, cá nhân có liên quan trong nhà chung cư thực hiện nghiêm, quyết liệt các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 31/01/2020, công điện số 156/CĐ-TTg ngày 02/02/2020, công văn số 164/TTg-KGVX ngày 03/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ cũng như theo dõi, bám sát các chỉ đạo tiếp theo của Thủ tướng Chính phủ, các khuyến cáo của ngành Y tế; bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe người dân trong các khu nhà chung cư; phải chủ động, bình tĩnh, xử lý kiên quyết, có phương án, kế hoạch cụ thể để kiểm soát tốt nhất dịch bệnh này không để lan rộng.

Chỉ đạo cơ quan y tế của địa phương phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện tiêu độc, khử trùng phòng dịch cho các tòa nhà chung cư trên địa bàn; thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.

Yêu cầu Ban quản lý tòa nhà/ Ban quản trị dán thông báo tuyên truyền, hướng dẫn người dân đeo khẩu trang, rửa tay đúng cách với xà phòng, nước sạch hoặc dung dịch rửa tay có chứa cồn tại các điểm trong nhà chung cư như sảnh lễ tân hoặc thang máy. Hạn chế tổ chức các cuộc họp, hội nghị, tránh tập trung đông người tham gia trừ trường hợp thực sự cần thiết và để phục vụ phòng, chống dịch. Khuyến cáo người dân trong các khu nhà chung cư có ý thức đeo khẩu trang, hạn chế nói chuyện, ho, khạc nhổ trong thang máy, thường xuyên sử dụng nước rửa tay kháng khuẩn và sử dụng các biện pháp phòng bệnh theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

Yêu cầu các Ban quản lý tòa nhà/ Ban Quản trị phải nắm bắt tình hình đi lại của cư dân, đặc biệt là đối với các tòa nhà, chung cư có người nước ngoài; kịp thời phát hiện, theo dõi các trường hợp đi qua vùng dịch hay nghi ngờ mắc bệnh. Thực hiện việc cách ly phòng chống dịch đối với các trường hợp cư dân đến từ hoặc đi qua các tỉnh, thành phố của Trung Quốc theo khuyến cáo của Bộ Y tế. Trường hợp nghi ngờ có người nhiễm bệnh trong nhà chung cư thì phải khẩn trương thông báo ngay với cơ quan y tế địa phương để cách ly, theo dõi, điều trị kịp thời các trường hợp nhiễm bệnh; thực hiện việc khử trùng các điểm nghi ngờ dịch bệnh trong nhà chung cư theo quy định.

Đề nghị nhân dân trong nhà chung cư chủ động thực hiện các khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn về y tế, phối hợp tốt với các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Nghiêm cấm công bố thông tin sai lệch, không chính xác, gây hoang mang về diễn biến dịch do nCoV trong nhà chung cư./.

TH

13/02/2020 11:00 SAĐã ban hành
Người chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học để phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu PhiNgười chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học để phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Trong thời gian qua, tình hình dịch bệnh Dịch tả heo Châu Phi diễn biến phức tạp, hiện nay dịch bệnh đã xuất hiện và gây thiệt hại ở tỉnh Đồng Nai. Do tỉnh Long An là nơi tập trung nhiều cơ sở giết mổ, tiếp nhận nguồn heo từ các tỉnh khác nhập về với số lượng lớn (trong đó có Đồng Nai), chính vì vậy nguy cơ dịch bệnh xâm nhập và lây lan là rất cao.

​​Bệnh Dịch tả heo Châu Phi hay còn gọi là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra; bệnh lây lan nhanh, xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi loại heo. Bệnh không lây lan trên người nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế với tỉ lệ heo chết cao (lên đến 100%). Thời gian ủ bệnh từ 4 - 19 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3 - 4 ngày. Vi rút gây bệnh Dịch tả heo Châu Phi có sức đề kháng cao với môi  trường, tồn tại thời gian dài trong thịt đông lạnh (1.000 ngày), giăm bông (140 ngày). Bệnh truyền lây qua máu, chất tiết, dịch tiết, chất thải, xác động vật, thịt heo và các chế phẩm từ thịt heo như: xúc xích, giăm bông, … 02 yếu tố quan trọng làm lây lan dịch bệnh đó là con người và phương tiện vận chuyển. Heo mắc bệnh sốt cao (hơn 40oC), không ăn, nôn mửa, ủ rũ, lười vận động, nằm chồng đống, đau vùng bụng; có thể hôn mê. Vành tai, chân, đuôi và da bụng có màu đỏ sẫm, xanh tím. Heo chết đột ngột; phủ tạng (tim, phổi, ruột, thận, …) xuất huyết.

Hiện nay chưa có vắc-xin và thuốc điều trị bệnh Dịch tả heo Châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh duy nhất là "Người chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học" như: tắm sát trùng trước khi vào trại; sử dụng quần áo, ủng, đồ bảo hộ riêng khi vào trại; vệ sinh sát trùng và cách ly các dụng cụ, vật dụng phục vụ cho chăn nuôi; tiêm vắc-xin phòng các bệnh truyền nhiễm bắt buộc theo khuyến cáo của cơ quan thú y; vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi thường xuyên; xử lý chất thải chăn nuôi bằng biogas; hạn chế người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, nhất là các phương tiện chở thức ăn và mua bán động vật; không để vật nuôi khác vào khu vực chăn nuôi heo, định kỳ diệt chuột; không sử dụng thức ăn dư thừa (có sản phẩm từ thịt heo) để nuôi heo mà không qua xử lý nhiệt.

Lưu ý: Bệnh Dịch tả heo không lây lan trên người và vi rút gây bệnh có thể bị tiêu diệt sau khi xử lý bằng nhiệt (60oC trong 20 phút).

Để thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh Dịch tả heo Châu Phi, người chăn nuôi phải nghiêm túc thực hiện "5 không":

Thứ nhất - KHÔNG GIẤU DỊCH.

Thứ hai - KHÔNG MUA BÁN, VẬN CHUYỂN HEO BỆNH, HEO CHẾT.

Thứ ba - KHÔNG GIẾT MỔ, TIÊU THỤ THỊT HEO BỆNH, THỊT HEO CHẾT.

Thứ tư - KHÔNG VỨT HEO CHẾT RA MÔI TRƯỜNG.

Thứ năm - KHÔNG SỬ DỤNG THỨC ĂN DƯ THỪA NUÔI HEO MÀ KHÔNG QUA XỬ LÝ NHIỆT.

Khi phát hiện có heo bệnh, chết phải cách ly và báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan thú y. Không bán chạy heo bệnh hoặc vứt xác ra môi trường làm lây lan dịch bệnh.

Đường dây nóng báo cáo dịch bệnh: Phòng Kỹ thuật – Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản: 02723.838.146 hoặc 0918.700.595.

TV

13/05/2019 9:00 SAĐã ban hành
Tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 tại các cơ sở, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnhTăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 tại các cơ sở, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 28/01/2021 và Công văn số 26/TB-VPCP ngày 08/02/2021;

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình dịch Covid-19 hiện nay, ngày 11/02/2021, UBND tỉnh có văn bản số 1287/UBND-VHXH yêu cầu Thủ trưởng Sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và thủ trưởng cơ quan, đơn vị có liên quan tập trung triển khai thực hiện các nội dung sau:

1. Tiếp tục khuyến cáo, vận động người dân thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; đeo khẩu trang khi đi ra ngoài; hạn chế tập trung đông người tại nơi công cộng; người có biểu hiện sốt, ho, khó thở nên ở nhà và phải liên hệ ngay với cơ sở y tế, bác sĩ để được tư vấn và thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ.

2. Yêu cầu các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh (nhất là các điểm ăn, uống, karaoke, quán bar, vũ trường, massage, trò chơi điện tử...) thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế, nhất là việc bố trí nước rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn và đảm bảo khoảng cách an toàn.

3. Sở Y tế, Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch, Công an tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị liên quan Các sở, ngành, địa phương tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định phòng, chống dịch theo quy định./.

TH


11/02/2021 10:00 SAĐã ban hành
Trạm KTTTX 61 Long An sau 30 ngày hoạt động. Trạm KTTTX 61 Long An sau 30 ngày hoạt động.
Kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2014, Trạm kiểm tra tải trọng xe lưu động số 61  (do Bộ Giao thông vận tải cung cấp toàn bộ trang thiết bị cho tỉnh Long An, gọi tắt là Trạm KTTTX số 61) đi vào hoạt động cho đến nay đã hơn 30 ngày hoạt động. Sáng ngày 19 tháng 5 năm 2014, lãnh đạo Sở GTVT, lãnh đạo Trạm KTTTX số 61 đã tiến hành họp sơ kết, rút kinh nghiệm, bàn biện pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thời gian thực hiện vừa qua. Ông Võ Văn Ngọt – Phó chánh Thanh tra GTVT, Trưởng trạm, báo cáo tình hình hoạt động của Trạm KTTTX số 61 trong hơn 30 ngày hoạt động: Tổng số xe vào kiểm tra 1.845 xe, số xe vi phạm 269 xe (Trong 10 ngày đầu hoạt động có 157 xe vi phạm), số tiền xử phạt 1.334.600.000 đồng


                      Lãnh đạo Sở GTVT, Lãnh đạo Trạm cân dự họp sơ kết
                         sau 30 ngày Trạm KTTTX số 61 đi vào hoạt động

 


Trạm KTTTX số 61 hoạt động đúng theo kế hoạch đã được phê duyệt. Lãnh đạo, nhân viên trạm và lực lượng phối hợp tích cực tham gia điều hành hoạt động trạm cân đúng quy chế, quy định, xửlý nghiêm các trường hợp vi phạm; không để xảy ra tình trạng ùn tắt giao thông.

Qua nắm bắt tình hình chung và thông tin từ các đơn vị kinh doanh vận tải, chủ phương tiện và lái xe đã đồng tình với chủ trương của Nhà nước trong chỉ đạo đặt Trạm cân kiểm soát tải trọng xe trên các tuyến quốc lộ. Số lượng xe vi phạm tiếp tục giảm sau các ngày thực hiện.

Các khó khăn của Trạm KTTTX số 61 gặp phải trong thời gian vừa qua: Tuyến QL1 đi qua địa bàn tỉnh Long An không phải là tuyến đường độc đạo do đó còn nhiều phương tiện đi vào đường cao tốc, đường nhánh để tránh né trạm cân. Mặt đường tuyến QL1 hẹp, có dãi phân cách cứng gây khó khăn khi dừng phương tiện ngược chiều. Một số lái xe không đồng ý với kết quả cân, yêu cầu cân lại, đồng thời có sự so sánh kết quả cân giữa các trạm cân của các tỉnh, . . . 

Lãnh đạo Sở Giao thông vận tải, ông Nguyễn Văn Chỉnh – Phó Giám đốc Sở kiến nghị UBND tỉnh, Ban An toàn giao thông tỉnh trang bị thêm 02 cân kiểm tra tải trọng xách tay để kiểm tra xử lý các phương tiện tránh né trạm. Công an tỉnh chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông (Thành phố Tân An và các huyện) nơi đặt trạm cân, tăng cường phối hợp xử lý các phương tiện tránh né trạm đi vào các tuyến đường do địa phương quản lý. Tổng cục Đường bộ Việt Nam hướng dẫn thống nhất cách nhập số liệu vào phần mềm cân (nhất là loại xe đầu kéo kéo sơmirơmoóc) để kết quả cân của các tỉnh không còn sai lệch, tránh tình trạng khiếu nại của lái xe.
 

Tại cuộc họp sơ kết, ông Phùng Văn On – Phó Trưởng ban An toàn giao thông tỉnh đã chia sẽ các khó khăn, vướng mắc ban đầu của các sở, ngành, cán bộ và nhân viên Trạm cân, ghi nhận các ý kiến đóng góp của các sở, ngành và đánh giá hoạt động của Trạm cân hiện nay là biện pháp tạm thời, cấp thiết (vì loại cân tải trọng hiện nay các trạm đang sử dụng không hoạt động được dưới thời tiết có mưa lớn), về lâu dài Ban An toàn giao thông tỉnh sẽ đề nghị Bộ Giao thông vận tải bố trí trạm cân cố định trên địa bàn tỉnh Long An để hoạt động hiệu quả hơn./.

                                                         Minh Trí

14/07/2014 2:00 CHĐã ban hành
Ban hành hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàngBan hành hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàng
Ngày 28/5/2020, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 ban hành quyết định số 2225/QĐ-BCĐQG về việc hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàng.

​Theo đó, hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, nhà hàng như sau: 637269429099554566_2225.pdf

28/05/2020 5:00 CHĐã ban hành
Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 – “Chuyển đổi số - Thách đố sáng tạo” từ Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí MinhCuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 – “Chuyển đổi số - Thách đố sáng tạo” từ Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 là sân chơi đổi mới sáng tạo thường niên dành cho học sinh, sinh viên khắp cả nước do Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh triển khai thực hiện. Cuộc thi chính thức phát động và nhận đơn đăng ký từ ngày 19/3/2022 đến ngày 05/6/2022.

Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp - CiC 2022 - mùa thứ 7, với chủ đề "Chuyển đổi số - Thách đố sáng tạo", gồm bảng thi sinh viên và bảng thi học sinh từ lớp 8 đến lớp 12. Chương trình được tổ chức nhằm thúc đẩy, ươm mầm tinh thần, tư duy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho thế hệ trẻ. Cuộc thi góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ và hình thành nên các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo cho quốc gia.

Đồng thời, cuộc thi còn góp phần tích cực hưởng ứng thực hiện chủ trương từ các Bộ, ngành, Đề án liên quan của Chính phủ về khởi nghiệp (Đề án 844 "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" và Đề án 1665 "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" của Chính phủ), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030", Thông báo số 331/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về chuyển đổi số…

Thông tin nội dung Cuộc thi: xem tại đây.

TH


29/04/2022 11:00 SAĐã ban hành
Dấu hiệu nhận biết heo mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi, giải pháp phòng bệnh Dịch tả heo Châu PhiDấu hiệu nhận biết heo mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi, giải pháp phòng bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Heo mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi có dấu hiệu: sốt cao (hơn 40oC), không ăn, nôn mửa, ủ rũ, lười vận động, nằm chồng đống, đau vùng bụng; có thể hôn mê. Vành tai, chân, đuôi và da bụng có màu đỏ sẫm, xanh tím. Heo chết đột ngột; phủ tạng (tim, phổi, ruột, thận, …) xuất huyết.

​Đây là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra; bệnh lây lan nhanh, xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi loại heo. Bệnh không lây lan trên người nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế với tỉ lệ heo chết cao (lên đến 100%). Thời gian ủ bệnh từ 4 - 19 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3 - 4 ngày. Vi rút gây bệnh Dịch tả heo Châu Phi có sức đề kháng cao với môi trường, tồn tại thời gian dài trong thịt đông lạnh (1.000 ngày), giăm bông (140 ngày).

Bệnh truyền lây qua máu, chất tiết, dịch tiết, chất thải, xác động vật, thịt heo và các chế phẩm từ thịt heo như: xúc xích, giăm bông,… 02 yếu tố quan trọng làm lây lan dịch bệnh đó là con người và phương tiện vận chuyển.

Hiện nay, chưa có vắc-xin và thuốc điều trị bệnh Dịch tả heo Châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh duy nhất là: "Người chăn nuôi phải chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học"

1. Tắm sát trùng trước khi vào trại.

2. Sử dụng quần áo, ủng, đồ bảo hộ riêng khi vào trại.

3. Vệ sinh sát trùng và cách ly các dụng cụ, vật dụng phục vụ cho chăn nuôi.

4. Tiêm vắc-xin phòng các bệnh truyền nhiễm bắt buộc theo khuyến cáo của cơ quan thú y.

5. Vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi thường xuyên.

6. Xử lý chất thải chăn nuôi bằng biogas.

7. Hạn chế người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, nhất là các phương tiện chở thức ăn và mua bán động vật.

8. Không để vật nuôi khác vào khu vực chăn nuôi heo, định kỳ diệt chuột.

9. Không sử dụng thức ăn dư thừa (có sản phẩm từ thịt heo) để nuôi heo mà không qua xử lý nhiệt

 Lưu ý: Bệnh Dịch tả heo không lây lan trên người và vi rút gây bệnh có thể bị tiêu diệt sau khi xử lý bằng nhiệt (60oC trong 20 phút)".

19/06/2019 9:00 SAĐã ban hành
Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Long An kêu gọi toàn dân tình nguyện tham gia vào các lực lượng phòng, chống dịch và tự giác thực hiện các hoạt động phòng chống dịch Covid-19Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Long An kêu gọi toàn dân tình nguyện tham gia vào các lực lượng phòng, chống dịch và tự giác thực hiện các hoạt động phòng chống dịch Covid-19
Ngày 02/8/2021, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Long An có lời kêu gọi các cơ quan ban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh khóa IX, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh hưởng ứng Lời kêu gọi của Bí thư Tỉnh ủy Long An – Nguyễn Văn Được về việc vận động toàn dân tình nguyện tham gia vào các lực lượng phòng, chống dịch và tự giác thực hiện các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Long An.

3-8-2021-loi-keugoi.jpg

Theo đó, để huy động tối đa nguồn nhân lực, trí lực, vật lực cùng hệ thống chính trị của tỉnh quyết tâm kiểm soát, đẩy lùi dịch Covid-19, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng, chống dịch Covid-19 với những hành động thiết thực sau:

1. Ngay từ lúc này hãy tình nguyện đăng ký tham gia vào các đội hình thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Long An, bao gồm: Khám, điều trị, chăm sóc bệnh nhân Covid-19 tại bệnh viện dã chiến; lấy mẫu xét nghiệm; truy vết ca bệnh; phun khử khuẩn; vận chuyển hàng hóa, chở các ca nghi nhiễm đi cách ly, điều trị; phụ giúp công tác hậu cần tại bệnh viện dã chiến, khu cách ly; hỗ trợ các điểm kiểm soát phòng dịch; nhập dữ liệu, xử lý thông tin.

Đầu mối đăng ký: Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Long An. Thông qua:

- Bà Lê Thị Cẩm Tú - Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An, Số điện thoại: 02723.552.228 hoặc 0914.025.938.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Cẩm - Trưởng ban Dân tộc - Tôn giáo - Phong trào, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An, Số điện thoại: 02723.834.195 hoặc 0942.678.503.

2. Vận động toàn dân tiếp tục thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh về tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 và sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương về phòng chống dịch, tuyệt đối không ra đường khi không có việc thật sự cần thiết.

3. Phát huy tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, trách nhiệm xã hội tiếp tục chung tay góp sức, ủng hộ kinh phí, vật chất cho công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Mọi tấm lòng, sự ủng hộ xin vui lòng gửi về tài khoản:

* Chuyển khoản:

Tên tài khoản: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Long An

- Tài khoản: 6601201001757, tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, chi nhánh Tân An.

- Tài khoản: 68010007773939, tại Ngân hàng BIDV- Chi nhánh Long An.

- Tài khoản: 112618078888, tại Ngân hàng Viettinbank - Chi nhánh Long An.

- Tài khoản: 070117778888, tại Ngân hàng Sacombank - Chi nhánh Long An.

 * Tiền mặt: Cơ quan Uỷ ban MTTQ tỉnh Long An. Địa chỉ: số 02, đường Song Hành, phường 6, thành phố Tân An. ĐT: 02723.826.283.

* Khi cần thiết liên hệ Ông Đặng Công Danh, Ủy viên Thường trực, Chánh Văn phòng Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, điện thoại 094.886.9997 hoặc 0272.3839.161.

4. Cán bộ MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp trong tỉnh theo dõi diễn biến tình dịch bệnh tại địa phương mình để cung cấp thông tin kịp thời cho các lực lượng chức năng; trực tiếp tham gia vào các đội hình phòng, chống dịch tại địa phương; làm đầu mối tiếp nhận và tham mưu phân phối các nguồn lực ủng hộ phòng, chống dịch; thực hiện chức năng giám sát việc thực hiện các chính sách phòng, chống dịch, nhất là thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ.

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tiếp nhận phản ánh của tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 thông qua đường dây nóng sau:

- Bà Hồ Mộng Thu, Ủy viên Thường trực, Trưởng ban Tuyên giáo - Dân chủ - Pháp luật Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, điện thoại 0944.955.919 hoặc 02723.835.755.

- Bà Nguyễn Như Uyên, Chuyên viên Ban Tuyên giáo - Dân chủ - Pháp luật Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, điện thoại 0916599190.

Phát huy truyền thống quê hương Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc", bằng tình cảm và trách nhiệm Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh kêu gọi các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hệ thống MTTQ Việt Nam tỉnh và toàn thể đồng bào hãy chung tay góp sức quyết tâm kiểm soát, đẩy lùi dịch bệnh trong thời gian sớm nhất.

Trân trọng kính chào!

TH


03/08/2021 12:00 CHĐã ban hành
Khuyến cáo người dân thực hành 7 thói quen phòng, chống dịch bệnh COVID-19Khuyến cáo người dân thực hành 7 thói quen phòng, chống dịch bệnh COVID-19
Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hành 7 thói quen để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong cộng đồng:

9-4-2020-lon.jpg

 


Bộ Y tế

09/04/2020 11:00 SAĐã ban hành
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 (Tổng điều tra) nhằm thu thập thông tin cơ bản về dân số và nhà ở phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đáp ứng nhu cầu thông tin đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030; phục vụ công tác giám sát thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; giám sát các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết; cung cấp thông tin phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu tổng hợp về dân số.

Nội dung điều tra, bao gồm: Thông tin chung về dân số; tình trạng di cư; trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật; tình trạng khuyết tật; tình trạng hôn nhân; mức độ sinh, chết và phát triển dân số; tình hình đăng ký khai sinh của trẻ em; tình hình lao động - việc làm; thực trạng về nhà ở; điều kiện sinh hoạt cơ bản của hộ dân cư.

Thời gian thu thập thông tin của cuộc Tổng điều tra là 25 ngày, bắt đầu từ ngày 01/4/2019. Kết quả sơ bộ được công bố vào tháng 7 năm 2019, kết quả điều tra mẫu được công bố vào quý IV năm 2019, kết quả điều tra toàn bộ được công bố vào quý II năm 2020. Các báo cáo phân tích chuyên đề công bố vào quý IV năm 2020.

Video giới thiệu về Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019​​

28/03/2019 11:00 SAĐã ban hành
Một số lưu ý khi mua/bán hàng onlineMột số lưu ý khi mua/bán hàng online
Ngày nay, cùng với xu hướng phát triển chung, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của các nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, các loại hình thương mại điện tử (mua/bán hàng online) cũng phát triển mạnh và ngày càng được ưa chuộng.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm dễ nhận thấy như: (1) Tiện lợi, dễ dàng tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm; (2) Thủ tục mua bán nhanh, không bị giới hạn thời gian; (3) Chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng tốt;… việc mua/bán hàng online cũng tìm ẩn nhiều hạn chế. Chẳng hạn như (1) Do không xem hàng trực tiếp nên dễ mua nhầm các sản phẩm không phù hợp về kích thước, chất lượng hoặc mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng không đảm bảo chất lượng; (2) Thường gặp các lỗi kỹ thuật khi sử dụng các ứng dụng mua/bán hàng online; (3) Sự bảo mật và sự riêng tư khi giao dịch trực tuyến không được đảm bảo;...

Để hoạt động thương mại điện tử thực chất là một hoạt động kinh doanh lành mạnh, hiệu quả, khuyến nghị các tổ chức, cá nhân tham gia mua/bán hàng online thực hiện tốt các nội dung sau:

Đối với người bán hàng

Phải tìm hiểu, thực hiện đúng, đầy đủ các quy định pháp luật về thương mại điện tử như: Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử; Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 quy định về quản lý website thương mại điện tử và các quy định pháp luật về thương mại, quảng cáo,…

Lựa chọn mặt hàng kinh doanh phù hợp, nguồn hàng có xuất xứ rõ ràng, đảm bảo chất lượng. Ưu tiên kinh doanh những sản phẩm do mình sản xuất hoặc từ cửa hàng đã được xác nhận chính hãng.

Đối với người mua

Chỉ nên mua hàng tại những nhà cung cấp/website uy tín, có chứng nhận đã đăng ký/thông báo với Bộ Công Thương. Dấu hiệu để nhận biết website có chứng nhận đã đăng ký hoặc đã thông báo với Bộ Công Thương là có logo "Đã thông báo/đăng ký với Bộ Công Thương" đặt trên website, khi nhấp vào logo sẽ dẫn đến website của Bộ Công Thương chứa thông tin chi tiết về doanh nghiệp, cá nhân đã đăng ký.

Xem kỹ thông tin chi tiết, chế độ bảo hành, đổi trả của sản phẩm; tham khảo giá bán, lưu ý cảnh giác khi giá quá rẻ so với với sản phẩm tương tự; lưu ý thông tin chi phí vận chuyển và đánh giá của khách hàng khác về sản phẩm, dịch vụ trước khi mua hàng. 

Lưu lại thông tin, mã xác nhận đơn hàng; yêu cầu biên lai khi nhận hàng; kiểm tra kỹ hàng hóa khi nhận và thanh toán; cảnh giác với thông báo về việc trúng thưởng vì sản phẩm thưởng thường có giá trị thấp hơn so với khoản tiền người tiêu dùng đã bỏ ra để nhận. 

Thận trọng khi thanh toán trực tuyến, không nên chuyển số tiền quá lớn khi chưa nhận hàng; đăng xuất ngay sau khi thực hiện giao dịch xong.

Cảnh giác với những yêu cầu cung cấp thông tin từ những trang web lạ yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân và chia sẻ chương trình.

Khi phát hiện có trường hợp lợi dụng việc mua/bán hàng online để lừa đảo thì thông báo ngay đến số điện thoại Tổng đài tư vấn và hỗ trợ người tiêu dùng trên toàn quốc 1800 6838 hoặc cơ quan Công an gần nhất để được hỗ trợ./.

TH


28/07/2020 11:00 SAĐã ban hành
Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023 – 2028Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023 – 2028
Với mục tiêu là truyền thông về quyền con người nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết của toàn xã hội về các quyền con người; thông tin đầy đủ giúp người dân trong nước, đồng bào ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ về quan điểm, chủ trương, nỗ lực và kết quả đạt được trong công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam; nâng cao uy tín của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người ở phạm vi trong nước, khu vực và trên thế giới.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ - Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số 1079/QĐ-TTg phê duyệt Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023 – 2028, trong đó khẳng định: Công tác tuyên truyền về quyền con người là nhiệm vụ chính trị và là trách nhiệm thường xuyên của cả hệ thống chính trị, trước mắt và lâu dài.

31-10-2022-de-an-truyen-thong.jpg

 Toàn cảnh phiên họp bầu ra 14 thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025 ngày 11.10 tại Trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York, Mỹ. Ảnh: UN 

Đề án thực hiện tại 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Ở ngoài nước, Đề án lựa chọn tổ chức truyền thông trực tiếp và trực tuyến hướng tới một số địa bàn có đông người Việt Nam sinh sống; một số địa bàn ưu tiên phát triển quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước; trụ sở của các cơ quan quyền con người quốc tế như: New York (Mỹ), Geneva (Thụy Sĩ), Bangkok (Thái Lan)...

Đề án đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2028, có 100% cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế phát ngôn và cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về công tác quyền con người theo quy định hiện hành để thông tin về tình hình và kết quả công tác quyền con người kịp thời và tương xứng với các nỗ lực và thành tựu đảm bảo quyền con người của các cơ quan chức năng nói riêng và cả nước nói chung.

100% cán bộ làm công tác quyền con người; 100% cán bộ làm công tác quản lý thông tin, truyền thông; 100% nhân sự tham gia công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan báo chí; 70% cán bộ chủ chốt của các tổ chức chính trị-xã hội ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được cập nhật thông tin tình hình công tác quyền con người ở Việt Nam, tập huấn kiến thức, kỹ năng truyền thông về quyền con người.

Bên cạnh đó, Đề án cũng đặt ra các mục tiêu: tổ chức chuỗi triển lãm ảnh, tài liệu lưu trữ về quyền con người ở Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài tại 63 tỉnh, thành phố và một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài; biên soạn, xuất bản và tái bản 1.000 đầu sách về quyền con người; đa dạng hóa hình thức các sản phẩm truyền thông đại chúng, nâng tỉ trọng các sản phẩm truyền thông bằng tiếng dân tộc, tiếng nước ngoài và sản phẩm truyền thông trên nền tảng số chiếm từ 15% đến 20% tổng số sản phẩm truyền thông về quyền con người.

Đề án yêu cầu 100% nguồn dữ liệu và sản phẩm truyền thông của Đề án được số hóa, kết nối, sử dụng chung và phổ biến trên không gian mạng để lan tỏa thông tin tích cực, nhân văn; giảm thông tin sai lệch, tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người trên không gian mạng xuống còn dưới 10% tổng số thông tin về quyền con người ở Việt Nam; phát hiện, xử lý 90% tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người trên không gian mạng.

Về đối ngoại, Đề án phấn đấu hoàn thành việc thực hiện khuyến nghị của quốc tế về tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức về quyền con người đã được Chính phủ Việt Nam chấp thuận.

Đề án tuyên truyền về luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó đặc biệt quan tâm tới 7 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Việt Nam là thành viên gồm Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về quyền của người khuyết tật; Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; kinh nghiệm quốc tế về đảm bảo và thúc đẩy quyền con người.

Tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quyền con người; kết quả nội luật hóa và triển khai thực thi các cam kết quốc tế về quyền con người, các cam kết quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên hoặc có kế hoạch gia nhập; tình hình, nỗ lực và thành tựu bảo đảm quyền con người trên các lĩnh vực, trong đó có công tác xóa đói, giảm nghèo, chăm lo đời sống của người dân, các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương để không ai bị bỏ lại phía sau; những đánh giá, nhận định tích cực của dư luận, truyền thông quốc tế về kết quả công tác bảo đảm và phát triển quyền con người của Việt Nam.

Bên cạnh đó, Đề án cũng hướng đến tuyên truyền các thông tin tích cực, đề cao các giá trị đạo đức, hướng thiện, lối sống nhân văn, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lòng yêu nước, tự hào dân tộc; các vụ việc, các đối tượng trong nước và nước ngoài, các hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, quyền con người để vi phạm pháp luật, phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, hình ảnh, uy tín quốc tế của Việt Nam.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông là đơn vị chủ trì hướng dẫn kế hoạch thực hiện Đề án; chủ động truyền thông về quyền con người trong Chính phủ số, xã hội số, kinh tế số; chú trọng bảo vệ quyền trẻ em trên không gian mạng. Chủ trì hoàn thiện khung nội dung triển lãm thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; điều phối các bộ, ngành, địa phương đóng góp ảnh, tài liệu về kết quả đảm bảo quyền con người theo phạm vi, lĩnh vực quản lý; chủ trì tổ chức triển lãm trực tiếp và trực tuyến ở cấp quốc gia, cấp vùng, địa phương trong nước và một số địa bàn ngoài nước; chuyển giao và hướng dẫn các địa phương tổ chức triển lãm ở cấp tỉnh và cơ sở. Đồng thời, giao UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện Đề án ở địa phương; chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trên địa bàn, căn cứ các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án, triển khai thực hiện công tác truyền thông phù hợp với yêu cầu, tình hình thực tế tại địa phương; cân đối và bố trí ngân sách địa phương để triển khai thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước./.

Tấn Phát

 


31/10/2022 7:00 SAĐã ban hành
Cuộc thi “Chung tay vì an toàn giao thông” năm 2022Cuộc thi “Chung tay vì an toàn giao thông” năm 2022
Cuộc thi “Chung tay vì an toàn giao thông” năm 2022 do Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức.

Cuộc thi nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự an toàn giao thông; nâng cao kiến thức và ý thức chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông cho mọi người dân; góp phần xây dựng văn hóa ứng xử khi tham gia giao thông.

Cuộc thi dự kiến diễn ra trong thời gian 8 tuần từ ngày 17/10/2022 đến ngày 12/12/2022. Ban Tổ chức hướng dẫn cách thức tham gia Cuộc thi như sau:

- Cách 1: Truy cập vào phần mềm Cuộc thi "Chung tay vì an toàn giao thông" tại địa chỉ atgt.dangcongsan.vn; sau đó bấm vào ô "Tham gia thi", điền thông tin người tham gia và trả lời các câu hỏi.

- Cách 2: Truy cập vào phần mềm Cuộc thi từ banner Cuộc thi "Chung tay vì an toàn giao thông" trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (dangcongsan.vn), mạng xã hội VCNet (vcnet.vn) hoặc các báo/tạp chí điện tử, trang/cổng thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, địa phương dẫn đường link liên kết với Cuộc thi; sau đó bấm vào ô "Tham gia thi", điền thông tin người tham gia và trả lời các câu hỏi.

Mỗi tuần, Ban Tổ chức Cuộc thi đưa ra 05 câu hỏi thi với các phương án trả lời có sẵn, trong đó có phương án đúng. Người dự thi lựa chọn phương án đúng, sau đó điền vào ô "Dự đoán số người trả lời đúng", nhập thông tin định danh cá nhân, nhập mã xác thực và bấm vào ô "Gửi bài thi".

Người dự thi cần cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin định danh cá nhân, số điện thoại, địa chỉ lên hệ thống Cuộc thi để Ban Tổ chức liên hệ khi đoạt giải.

Trong một tuần thi, các bài thi được xếp hạng theo các tiêu chí với thứ tự như sau:

- Thứ nhất: Bài thi có nhiều câu trả lời đúng hơn.

- Thứ hai: Bài thi dự đoán chính xác hoặc gần đúng số người trả lời đúng hơn.

- Thứ ba: Bài thi có thời gian gửi sớm hơn (thời gian gửi bài thi là thời điểm phần mềm chấm thi nhận được bài thi trong khoảng thời gian thi trắc nghiệm của tuần thi).

Ban Tổ chức không hạn chế số lần tham gia của người dự thi,tuy nhiên chỉ lấy 01 kết quả tốt nhất (bài thi có số câu trả lời đúng nhiều nhất, dự đoán chính xác hoặc dự đoán gần đúng số người trả lời đúng nhất và thời gian gửi bài thi sớm nhất) để tham gia xếp hạng.

Người dự thi có bài thi xếp hạng 1 được trao giải Nhất; hai người dự thi có bài thi xếp hạng 2 và 3 được trao giải Nhì; ba người dự thi có bài thi xếp hạng 4, 5 và 6 được trao giải Ba.

Thời gian thi trắc nghiệm hằng tuần: Bắt đầu từ 10h00 ngày thứ Hai hằng tuần, kết thúc vào 9h00 ngày thứ Hai của tuần tiếp theo.

*Lưu ý:

Người dự thi phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cá nhân trùng khớp với giấy tờ tùy thân và số điện thoại cá nhân lên hệ thống Cuộc thi để Ban Tổ chức liên hệ, xác minh và trao giải thưởng. Trong trường hợp Ban Tổ chức không liên lạc được với người đoạt giải theo số điện thoại cá nhân đã cung cấp lên hệ thống Cuộc thi hoặc không xác minh được người đoạt giải, giải thưởng sẽ bị huỷ bỏ trong vòng 7 ngày sau khi kết thúc tuần thi cuối cùng.

Nghiêm cấm việc người dự thi nhờ người khác thi hộ, sử dụng thông tin của người khác để tham gia thi hoặc xâm nhập trái phép vào hệ thống Cuộc thi; nếu bị phát hiện, người dự thi sẽ bị hủy kết quả thi.

Người dự thi có thể làm bài thi vào bất cứ thời gian nào trong khung giờ Ban Tổ chức thông báo. Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm đối với lỗi kết nối do đường truyền mạng hoặc lỗi do thiết bị của người dự thi.

Trong quá trình tham gia Cuộc thi, nếu có vướng mắc, các địa phương, đơn vị và người dự thi liên hệ với Ban Tổ chức qua các số điện thoại: 080.48159 - 0867.062968, email: atgt@dangcongsan.vn, hoặc mục Liên hệ trên website của Cuộc thi tại địa chỉ atgt.dangcongsan.vn để được giải đáp./.

TH


22/11/2022 3:00 CHĐã ban hành
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng Ấp BắcĐề cương tuyên truyền kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng Ấp Bắc
Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương kỷ niệm 60 năm ngày Chiến thắng Ấp Bắc (02/01/1963 - 02/01//2023). Cổng thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương.

I. BỐI CẢNH, DIỄN BIẾN VÀ KẾT QUẢ TRẬN ĐÁNH

1. Bối cảnh lịch sử

Thắng lợi của cao trào Đồng Khởi những năm 1959 - 1960 của quân và dân miền Nam đã "giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức chính trị điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu Mỹ"[1], đánh bại cuộc chiến tranh "một phía" của Mỹ, đưa phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển mạnh mẽ, đồng thời đánh sập chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn Nam Bộ. Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ đã triển khai chiến lược quân sự toàn cầu mới do M. Taylo đề xướng mang tên "phản ứng linh hoạt", trong đó có việc phát triển lực lượng thông thường, tiến hành "chiến tranh hạn chế".

Cuối năm 1960, do tình hình cách mạng miền Nam phát triển mạnh, có nguy cơ uy hiếp chính phủ Ngô Đình Diệm, chính quyền tổng thống Mỹ Kennơđi chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" để đối phó. Cuối tháng 7 năm 1961, "phái đoàn kinh tế đặc biệt" thuộc Viện nghiên cứu Stanphót do E. Stalây đệ trình kế hoạch Stalây - Taylo "bình định" miền Nam trong vòng 18 tháng với ba giai đoạn, nhằm tiêu diệt cách mạng miền Nam. Để thực hiện kế hoạch trên, Mỹ đã tăng viện trợ quân sự, cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ[2]; tổ chức miền Nam thành các quân khu, vùng chiến thuật, khu chiến thuật; đồng thời đẩy mạnh dồn dân, lập "ấp chiến lược" nhằm triệt phá các cơ sở du kích, triển khai các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, bủa lưới phóng lao... Chúng tăng cường mở các cuộc hành quân càn quét, dùng bom đạn, chất độc khai quang đánh vào các vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến của ta.

Tháng 01/1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị Về phương hướng, nhiệm vụ, công tác trước mắt của cách mạng miền Nam; chủ trương "đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự"[3]; phát động chiến tranh du kích, phá ấp chiến lược, xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh binh vận, địch vận, tiến tới tổng khởi nghĩa lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, chấp hành chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, ngày 15/02/1961, các lực lượng vũ trang miền Nam được thống nhất, lấy tên là Quân giải phóng miền Nam. Tiếp đó, Trung ương cục thành lập các trung đoàn chủ lực; phát triển lực lượng du kích, bộ đội địa phương; tổ chức hệ thống chỉ huy từ Miền xuống tỉnh, huyện, xã; xây dựng và mở rộng vùng giải phóng, vùng căn cứ nhằm tạo thế đứng chân vững chắc cho lực lượng cách mạng miền Nam, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp phương châm "hai chân", "ba mũi"; đồng thời, thực hiện chuyển từ khởi nghĩa vũ trang sang chiến tranh cách mạng, đẩy mạnh tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị, làm thất bại các chiến lược chiến tranh của địch, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 2. Đặc điểm tình hình và sự chuẩn bị của ta

a) Đặc điểm tình hình

Địa bàn Ấp Bắc gồm hai ấp nhỏ là Tân Bình và Tân Thới, thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), cách thị xã Mỹ Tho khoảng 16km; được bao bọc bởi đồng lúa, sình lầy và kinh (kênh) rạch. Phía Nam cách Lộ 4 (nay là Quốc lộ 1) khoảng 5km, phía Tây cách 6km là Lộ 12, cách 2-3km về phía Bắc và phía Đông là kinh Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Tấn Thành. Ấp Tân Bình và Tân Thới nối liền, tạo thành vòng cung với chiều dài khoảng 4km, rộng khoảng 400m, phía trước là cánh đồng rộng 550m, thuận tiện cho việc đổ quân và xe cơ giới cơ động. Trong ấp là nhà dân xen kẽ các vườn cây ăn trái, có các gò đất nhô ra, tạo điều kiện cho bộ đội, du kích bố trí các cụm hỏa lực. Ấp Bắc cũng là mảnh đất có truyền thống cách mạng, nhân dân tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ từ những năm 1940. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi này là căn cứ địa, một trong những lá cờ đầu của phong trào đấu tranh. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ấp Bắc là địa bàn thuộc vùng giải phóng liên hoàn, nơi đóng quân của lực lượng vũ trang cách mạng.

Sau khi đánh thắng các trận càn của địch ở Vĩnh Kim (ngày 23/9/1962), Mỹ Hạnh Trung (ngày 5/10/1962), Tiểu đoàn 514 của Mỹ Tho và Tiểu đoàn 261 của Quân khu 8 hành quân về khu vực Ấp Bắc để huấn luyện cách đánh máy bay trực thăng, xe bọc thép, cách bố trí trận địa, xây dựng hệ thống công sự, trận địa trong làng, xã chiến đấu. Phối hợp với bộ đội địa phương và nhân dân huyện Châu Thành nghiên cứu, tổ chức phá ấp chiến lược Giồng Dứa, xã Long Định; chuẩn bị kế hoạch đánh địch phản kích và nhử địch càn vào cầu Kinh Năng để tiêu diệt.

Về tình hình địch, khi nhận được tin qua mạng lưới trinh sát, điệp báo, chúng phát hiện lực lượng của ta đang bố trí tại Ấp Bắc, Bộ Tư lệnh Viện trợ Mỹ tại Sài Gòn đứng đầu là tướng P.Háckin cùng Bộ Tư lệnh hành quân của quân lực Việt Nam Cộng hòa (MACV) cấp tốc vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng, phương tiện chiến tranh, tổ chức cuộc hành quân càn quét mang mật danh "Đức Thắng 1 - 63" nhằm tiêu diệt và bắt Việt cộng trong khu vực Ấp Bắc.

Để tạo ưu thế tuyệt đối về sức mạnh, chúng huy động 3 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 bộ binh, 1 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn dù Sài Gòn, 2 đại đội biệt động quân, 3 đại đội bảo an, 3 đại đội dân vệ biệt kích, 13 xe thiết giáp M113, 13 tàu chiến trên sông, 6 máy bay khu trục B26, 15 máy bay trực thăng (10 CH21, 5 UH1A), 4 máy bay trinh sát L19, 7 máy bay vận tải C47, với sự chi viện của các trận địa pháo binh thuộc Sư đoàn 7 bố trí trên Lộ 4, Long Định, Phước Mỹ Tây.

b) Sự chuẩn bị của ta

Nhận được tin địch sẽ tổ chức cuộc càn quét vùng giải phóng thuộc 2 huyện Cai Lậy và Châu Thành, Khu ủy Khu 8 đã điều động Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 261 và Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 514, 1 khẩu đội cối 60 ly, trung đội bộ đội huyện Châu Thành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh thắng cuộc càn quét của địch vào Ấp Bắc. Tổ chức củng cố, cải tạo hệ thống công sự, trận địa sẵn có, dự kiến các phương án đánh máy bay, xe bọc thép; chuẩn bị nơi trú ẩn cho người già, phụ nữ, trẻ em trong ấp. Đến 20 giờ ngày 01/01/1963, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành.

3. Diễn biến và kết quả trận Ấp Bắc

a) Diễn biến chính

Trận Ấp Bắc kéo dài khoảng 20 giờ. Rạng sáng ngày 02/01/1963, máy bay trinh sát L19 của địch bay lượn trên bầu trời Ấp Bắc dẫn đường cho bộ binh và cơ giới. Các lực lực lượng bộ binh, thiết giáp, tàu chiến chia làm 3 mũi bao vây, thực hành càn quét vào Ấp Bắc.

Một mũi gồm 2 đại đội bảo an từ Điền Hy theo Lộ 4, bắt đầu xung phong vào xóm Hội Đồng Vàng, xã Tân Phú. Nắm chắc thời cơ, bộ đội và du kích bất ngờ nổ súng, tiêu diệt tên sĩ quan đại đội cùng hàng chục lính bảo an. Số khác bị sa xuống hố chông, vướng bẫy, vướng mìn nổ làm cho địch hoảng loạn; lực lượng còn lại vội vã co cụm bắn loạn xạ hoặc tháo chạy.

Cùng thời gian trên, mũi khác từ Cầu Sao bí mật cơ động tiếp cận khu vực miếu Thầy Lơ, thực hiện đánh xuyên sườn phòng ngự của ta. Lực lượng ém sẵn của ta đã kịp thời tổ chức đánh chặn, tiêu diệt bộ phận đi đầu, sau đó bí mật vận động, xung phong tiêu diệt bộ phận lớn sinh lực địch vừa tháo chạy ra cánh đồng trống. Bị đánh bất ngờ, lực lượng địch còn lại tháo chạy về miếu Thầy Lơ cố thủ. Trước tình hình đó, sở chỉ huy hành quân của địch ra lệnh cho pháo binh yểm trợ lực lượng rút chạy nhưng lại bắn trúng đội hình bộ binh, gây thêm thương vong cho chúng.

Cùng hai mũi trên bộ, mũi đường thủy theo kênh Nguyễn Tấn Thành gồm 13 tàu chiến chở 2 đại đội biệt động quân đánh vu hồi vào sau đội hình của ta ở Ấp Bắc. Ta sử dụng trung đội du kích và 2 đội công binh chặn đánh quyết liệt, đánh chìm 1 tàu và đánh hỏng một số chiếc khác. Được tin 2 mũi trên bộ gặp nguy, đoàn tàu chững lại rồi tìm đường tháo lui.

Sau đợt tiến công đường bộ và đường thủy không thành, chỉ huy cuộc hành quân của địch quyết định sử dụng chiến thuật trực thăng vận, dùng 5 trực thăng vũ trang UH1A yểm trợ cho 10 trực thăng chở quân CH21 đổ 2 tiểu đoàn bộ binh xuống sau ấp, hình thành hai gọng kìm bao vây lực lượng của ta.

Dự đoán trước âm mưu, thủ đoạn của địch, nắm chắc thời cơ, quân ta bất ngờ nổ súng bắn rơi tại chỗ 1 chiếc CH21; chiếc khác trúng đạn, cố bay ra khỏi vùng trời Ấp Bắc thì bị rơi. Để cứu nguy cho bộ binh, địch dùng 5 chiếc trực thăng vũ trang UH1A và pháo binh điên cuồng bắn phá vào trận địa. Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 đã anh dũng chiến đấu bắn rơi tại chỗ 2 chiếc UH1A, bắn hỏng 1 chiếc CH21 đang đổ quân và rơi cách đó khoảng 400 mét.

Bị thất bại nặng nề trong chiến thuật trực thăng vận và qua hai đợt tiến công không thành khiến tâm lý binh lính địch hoang mang cực độ, buộc địch phải rút quân về thị xã Mỹ Tho để củng cố lực lượng và phương tiện.

Vào lúc 12 giờ 15 phút, sau khi tập kết đủ 3 tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 11, 12 của Sư đoàn 7, địch hình thành hai mũi tiến quân vào ấp Tân Thới, được hỏa lực pháo binh và trực thăng vũ trang yểm trợ tối đa, tiến vào khu vực trận địa của Đại đội 1, Tiểu đoàn 514 Mỹ Tho. Đợi cho quân địch lọt hẳn vào trận địa mai phục, bộ đội và du kích bất ngờ nổ súng, tiêu diệt và làm bị thương khoảng 1 trung đội địch, số còn lại cố chạy thoát thân.

Để phối hợp với quân và dân Ấp Bắc, Thường vụ Tỉnh ủy và Ban quân sự Mỹ Tho sử dụng Đại đội 2, Tiểu đoàn 514 tiến công trường bắn Tân Hiệp, kìm chân địch trên Lộ 4, dùng trinh sát khống chế sân bay Thân Cửu Nghĩa. Đại đội 211B chốt giữ Ngã ba chùa Phật Đá, sẵn sàng chi viện cho Ấp Bắc.

Sau thất bại liên tiếp của 3 đợt tấn công, chỉ huy quân địch quyết định sử dụng không quân dội bom napan, xăng đặc, bắn đạn cháy, rốckét... nhằm thiêu trụi các mục tiêu ở Ấp Bắc; sử dụng pháo binh bắn cấp tập vào các trận địa dọc hai bên lộ dẫn vào ấp. Vừa dứt hỏa lực dọn đường, 13 xe thiết giáp M113 và 1 tiểu đoàn bộ binh tổ chức đột kích chính diện Ấp Bắc. Với tinh thần "Kiên quyết bám trụ, bám trụ đến cùng", 75 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 đã anh dũng chiến đấu, diệt 1 xe M113, bắn hỏng một số chiếc khác. Do súng đại liên bị hỏng, quân địch đã đột phá vào trận địa. Trước tình thế nguy nan, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 3 cùng 2 chiến sĩ đã bật khỏi công sự, dùng thủ pháo tiêu diệt 1 xe M113 và anh dũng hy sinh. Bị thương vong nhiều, địch hoang mang cực độ, buộc chỉ huy cuộc hành quân phải ra lệnh giãn đội hình, xốc lại lực lượng, phương tiện.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 02/01/1963, địch tiếp tục mở đợt tiến công mới. Chúng sử dụng 7 máy bay vận tải CH47 chở Tiểu đoàn dù số 8 thả xuống ấp Tân Thới nhưng rơi vào trận địa phục kích của ta. Đại đội 1, Tiểu đoàn 514 nắm chắc thời cơ, bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân dù ngay từ khi chúng chưa kịp xuống đất; số quân dù còn sống sót co cụm chờ ứng cứu. Cùng thời gian trên, trên hướng Đại đội 1, Tiểu đoàn 216, địch sử dụng xe M113 đột kích. Ta dùng súng phóng lựu bắn cháy 01 xe M113 và toàn bộ lính trên xe, buộc các xe khác phải dừng lại. Nhận thấy 2/3 lực lượng quân dù đổ xuống ấp Tân Thới bị thương vong nặng, lực lượng thiết giáp và bộ binh tấn công vào Ấp Bắc bị tổn thất lớn, mất sức chiến đấu; chỉ huy cuộc hành quân của địch đã cho lực lượng quân dù đổ bộ xuống khu vực Miếu Hội và lệnh cho các lực lượng rút lui.

b) Kết quả trận Ấp Bắc

Sau một ngày chiến đấu kiên cường, căng thẳng, quyết liệt, quân ta đã đánh bại 5 đợt tiến công của Mỹ - ngụy, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao. Ban Chỉ huy trận đánh đã quyết định rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Ấp Bắc, về căn cứ tỉnh ở Hưng Thạnh để bảo toàn lực lượng. Trong trận chiến đấu ác liệt này, quân và dân Ấp Bắc đã mưu trí, anh dũng, tiêu diệt và làm bị thương 450 tên địch (trong đó có 11 cố vấn và nhân viên kỹ thuật Mỹ), bắn rơi 5 máy bay trực thăng, bắn hư hỏng nhiều chiếc khác; phá hủy 3 xe bọc thép M113, đánh chìm 01 tàu chiến trên sông. Bộ đội và du kích chỉ sử dụng khoảng 5.000 viên đạn các loại.

II. NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

1. Nguyên nhân thắng lợi

Chiến thắng Ấp Bắc 1963 đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như một trong những chiến công oanh liệt, có ý nghĩa to lớn, cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng và mở ra khả năng mới cho cách mạng miền Nam tiến lên đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ xâm lược. Chiến thắng đó được xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, Chiến thắng Ấp Bắc - Thành công về sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Trung ương Cục miền Nam, mà trực tiếp là Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 8, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Mỹ Tho

Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Trung ương Cục miền Nam được thể hiện trước hết là định ra chủ trương, đường lối lãnh đạo kháng chiến đúng đắn. Đó là chủ trương: "Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc giải phóng, phát động phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta..."[4], "Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự"[5]; tổ chức giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang miền Nam trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh vũ trang cách mạng ở miền Nam[6]; chuyển Ban Quân sự Miền thành Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam; thành lập các ủy ban mặt trận ở các vùng giải phóng trong phong trào Đồng khởi; tổ chức các hội nghị xác định chủ trương, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, tạo sự chuyển biến, phát triển nhảy vọt về chất, tạo thế và lực mới và điều kiện thuận lợi cho kháng chiến giành thắng lợi.

Thực hiện chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, Quân ủy Trung ương nhằm đối phó với các kiểu chiến thuật mới của địch, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân Ấp Bắc chủ động làm tốt công tác chuẩn bị cho trận chống địch càn quét cả về tư tưởng, kỹ thuật, chiến thuật, lực lượng và vũ khí. Các đơn vị quân đội đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm xuống các địa phương, cơ sở để phổ biến, huấn luyện về chiến thuật chống càn quét, cách bố trí trận địa phòng ngự và kỹ thuật bắn máy bay, đánh xe bọc thép bằng hỏa lực sẵn có. Cùng với đó, Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy quân sự tỉnh Mỹ Tho đã kịp thời làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp giữa các lực lượng đẩy mạnh tác chiến, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và binh vận của quần chúng nhằm căng kéo quân địch ở các hướng khác, tạo thuận lợi cho Ấp Bắc đánh bại cuộc hành quân càn quét của quân đội Sài Gòn. Đây là yếu tố cơ bản giúp quân và dân Ấp Bắc giành thắng lợi giòn giã, góp phần đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của địch.

Thứ hai, quân và dân Ấp Bắc có truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng, có ý chí quyết tâm chiến đấu và tinh thần anh dũng, đoàn kết, khắc phục khó khăn, bảo đảm cho chiến đấu thắng lợi

Ấp Bắc là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, quân và dân Ấp Bắc được học tập, trau dồi ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, đã trải qua các lớp huấn luyện, tổ chức xây dựng công sự, trận địa hiểm hóc, nắm chắc các kỹ thuật đánh địch bằng các kiểu chiến thuật mới của địch như "trực thăng vận", "thiết xa vận".

Trong suốt quá trình chiến đấu, quân và dân Ấp Bắc luôn thể hiện tinh thần anh dũng, bất khuất, ngoan cường. Với số lượng vũ khí có hạn, phải chiến đấu dưới mưa bom, bão đạn, chất độc dày đặc, chống lại lực lượng quân địch đông hơn gấp nhiều lần, lại được trang bị vũ khí hiện đại, có không quân, pháo binh chi viện nhưng du kích và nhân dân Ấp Bắc vẫn anh dũng, ngoan cường, phối kết hợp chặt chẽ với các đơn vị bộ đội, lần lượt bẻ gãy 5 đợt tiến công, đánh bại các chiến thuật "thọc sâu, bao vây thẳng đứng", "trực thăng vận", "thiết xa vận" của địch và giành thắng lợi.

Thứ ba, quá trình chiến đấu của quân và dân Ấp Bắc luôn nhận được sự chi viện, chia lửa của các đơn vị, địa phương lân cận góp phần căng kéo, không cho địch tập trung đối phó, tiến công Ấp Bắc

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân khu ủy, trong 2 ngày 02 và 03/01/1963, Bộ Tư lệnh Quân khu 8, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy quân tỉnh Mỹ Tho đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân Ấp Bắc. 31 đội du kích, hơn 20.000 quần chúng hai bên Lộ 4 và các thị trấn Tân Hiệp, Cai Lậy, Cái Bè đã đồng loạt nổi dậy, bao vây các đồn bốt, tiến công tiêu diệt, làm bị thương hơn 150 tên địch, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, bắn cháy và phá hỏng 16 xe quân sự; tổ chức hơn 700 đồng bào của các xã Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Phước Tây kéo lên khu trù mật, bao vây các trận địa pháo, không cho chúng bắn vào xóm làng. Hơn 200 gia đình có chồng, con, anh em là binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa tham gia cuộc càn quét vào Ấp Bắc đã kéo lên bệnh viện đòi thăm người bị thương, đòi bồi thường tính mạng, đòi chấm dứt cuộc hành quân. Điều đó tác động mạnh mẽ đến cuộc càn quét của địch, góp phần tạo nên Chiến thắng Ấp Bắc oanh liệt.

Thứ tư, sự chỉ huy quyết đoán, mưu trí, linh hoạt và sáng tạo của Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Mỹ Tho, trực tiếp là Ban Chỉ huy trận đánh

Trên cơ sở nhận định, phân tích đánh giá đúng tình hình, âm mưu, thủ đoạn của địch, Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Mỹ Tho đã kịp thời điều động lực lượng, khẩn trương triển khai mọi công tác chuẩn bị chống địch càn quét vào Ấp Bắc; chuẩn bị các phương án đánh máy bay, xe bọc thép, bộ binh địch; hiệp đồng chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng để chuẩn bị nơi trú ẩn an toàn cho người già, phụ nữ, trẻ em; vận động nhân dân cùng với bộ đội, du kích xây dựng công sự, trận địa... Ban Chỉ huy trận đánh, đặc biệt là chỉ huy trên các hướng, các đơn vị đã nắm chắc thời cơ, bám trận địa, bám công sự, có cách đánh táo bạo, bất ngờ, kiên quyết và chắc thắng; kết thúc trận đánh và chỉ huy rút lui đúng thời điểm, bảo đảm an toàn và giữ gìn lực lượng.

2. Ý nghĩa lịch sử

Thứ nhất, Chiến thắng Ấp Bắc gây tiếng vang lớn, giáng một đòn mạnh mẽ vào chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận" của Mỹ - ngụy, góp phần làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"; cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh cách mạng miền Nam, mở ra phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công"

Chiến thắng Ấp Bắc đã gây một tiếng vang lớn trong phong trào đấu tranh cách mạng Khu 8 nói riêng và toàn chiến trường miền Nam nói chung; là trận đầu chúng ta đánh bại chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận" của quân đội ngụy quyền và cố vấn Mỹ, mở đường cho cao trào tiêu diệt sinh lực địch trong càn quét, bắn máy bay, đánh thiết giáp và đưa phong trào phá ấp chiến lược lên đỉnh cao. "Theo gương thực tế của các chiến sĩ Ấp Bắc; tinh thần không sợ và kỹ thuật diệt địch đã được giải quyết trong hàng ngũ quân giải phóng miền Nam"[7]. Sau chiến thắng vang dội này, cao trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" được quân và dân miền Nam hưởng ứng tích cực, góp phần đẩy mạnh thế tiến công, giành được những thắng lợi ngày càng to lớn trên chiến trường.

Chiến thắng Ấp Bắc đã giáng đòn chí mạng vào tinh thần và ý chí của Mỹ - ngụy, làm sụp đổ lòng tin của quân ngụy vào vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại do Mỹ cung cấp; từ đó, sức chiến đấu của địch bị giảm sút nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng sâu sắc; hai bên công khai nói xấu, đổ lỗi thất bại cho nhau. Trước tình hình đó, Tổng thống Mỹ Kennơđi đã buộc phải mở cuộc điều tra thực trạng để nắm tình hình, tìm biện pháp giải quyết khủng hoảng ở Sài Gòn. Cuộc đảo chính, giết chết anh em Diệm - Nhu vào tháng 11/1963 là mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của ngụy quyền.

Thứ hai, Chiến thắng Ấp Bắc khẳng định bước phát triển mới của nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự Việt Nam, đánh dấu sự chuyển biến về chất của chiến tranh cách mạng và sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam

Chiến thắng Ấp Bắc trở thành điển hình của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến công địch trên cả hai mặt chính trị và quân sự; kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công để đánh thắng kế hoạch bình định, dồn dân, lập ấp chiến lược của địch. Đây còn là điển hình của phương thức tác chiến chiến tranh nhân dân, xây dựng vùng căn cứ, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng làng, xã chiến đấu; kết hợp chặt chẽ "hai chân", "ba mũi" trong phong trào đấu tranh chống địch càn quét, bình định, dồn dân, lập ấp chiến lược.

Chiến thắng Ấp Bắc đã khẳng định sự phát triển về chất, sự giác ngộ chính trị, tinh thần quyết tâm, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, sáng tạo và trình độ kỹ thuật, chiến thuật ngày càng hoàn thiện của lực lượng vũ trang cách mạng nói chung, bộ đội miền Nam nói riêng.

Thứ ba, Chiến thắng Ấp Bắc góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng, vào đường lối kháng chiến của Đảng; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm tiến lên để giành thắng lợi

Chiến thắng Ấp Bắc làm cho đồng bào cả nước thêm phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kháng chiến của Đảng; tin tưởng vào sự chỉ đạo, chỉ huy của cấp ủy, ban chỉ huy quân sự, mở đường cho việc đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy, tạo nên bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến thắng Ấp Bắc là một điển hình sống động về bài học quý giá "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chống mạnh", "dĩ đoản chế trường", lấy "chính nhân để thay cường bạo"; khẳng định đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta là đúng đắn, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính nghĩa của quân và dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng Ấp Bắc trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Mỹ Tho, là một sự kiện lịch sử to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.

III. PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG ẤP BẮC TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi nhanh, phức tạp, khó lường; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Khu vực Đông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các thách thức an ninh phi truyền thống khác tác động, đe dọa đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và nước ta. Đất nước dù đạt được những thành tựu rất quan trọng, đáng tự hào nhưng vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình trên, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất; tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả những bài học, kinh nghiệm quý báu của Chiến thắng Ấp Bắc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Ấp Bắc là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc, đặc biệt là những chiến thắng vĩ đại; qua đó, tiếp thêm sức mạnh, bồi đắp niềm tin và lòng tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại; tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của dân tộc ta; về ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước mọi kẻ thù xâm lược; quyết tâm cao, nỗ lực lớn vượt qua mọi khó khăn, thách thức, xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ban Tuyên giáo Trung ương – Tổng Cục chính trị QĐND Việt Nam

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2002, t.34, tr.214.

[2] Tính riêng lực lượng cố vấn, năm 1960 có 1.077 người, đến năm 1962 đã tăng lên 10.640 người, bao gồm 2.360 cố vấn và 8.280 quân yểm trợ. Lực lượng ngụy quân tăng từ 7 sư đoàn lên 9 sư đoàn bộ binh và các đơn vị chiến đấu khác với quân số 206.000 người vào năm 1963.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22, tr.158. 

[4] Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22, tr.159.

[5] Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.22, tr.158.

[6] Hội đồng Chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2010, t.2, tr. 242.

[7] Nhận định của Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam,   người được Quân ủy Trung ương phân công tham gia phụ trách về xây dựng lực lượng, tổ chức chiến đấu ở miền Nam.


24/11/2022 8:00 SAĐã ban hành
Thông cáo báo chí Hội chợ Công Thương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - Long An năm 2022Thông cáo báo chí Hội chợ Công Thương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - Long An năm 2022
Hội chợ Công Thương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - Long An năm 2022 là sự kiện xúc tiến thương mại cấp quốc gia năm 2022 được tổ chức tại Công viên thành phố Tân An, tỉnh Long An từ ngày 02/12 đến hết ngày 08/12/2022.

Cơ quan chỉ đạo: Bộ Công Thương và UBND tỉnh Long An.

Cơ quan tổ chức: Cục Xúc tiến thương mại và Sở Công Thương tỉnh Long An.

Cơ quan thực hiện: Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh Long An; Công ty Cổ phần Xúc tiến thương mại và Quảng cáo quốc tế.

Hội chợ là cơ hội để doanh nghiệp trong khu vực giao lưu, kết nối và tìm kiếm cơ hội xúc tiến thương mại nhằm liên kết đầu tư, sản xuất kinh doanh và phát triển giao thương giữa các địa phương, doanh nghiệp trong nước, nhất là các tỉnh, thành phố. Đồng thời, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh của các địa phương; đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước; triển khai có hiệu quả Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", phát triển thương hiệu hàng Việt Nam.

Hội chợ được tổ chức với quy mô cấp khu vực, được nhiều đơn vị, doanh từ nhiều tỉnh, thành phố tham gia. Sản phẩm tham gia Hội chợ phong phú, đa dạng, đảm bảo các quy định về hàng hóa, lưu thông hàng hóa, ưu tiên các sản phẩm OCOP; sản phẩm đặc trưng, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu,....

Hội chợ dự kiến thu hút sự tham gia của gần 30 tỉnh, thành phố trong cả nước với trên 200 doanh nghiệp, 500 gian hàng tiêu chuẩn, nhiều sự kiện kết nối giao thương bên lề, nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn hưởng ứng Tháng khuyến mãi tập trung năm 2022, hứa hẹn trãi nghiệm mua sắm thú vị./.

TH


25/11/2022 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo kết quả Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An, khóa XI, nhiệm kỳ 2020-2025Thông báo kết quả Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An, khóa XI, nhiệm kỳ 2020-2025
Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành (BCH) Đảng bộ tỉnh, khóa XI họp ngày 01/12/2022 với các nội dung: 1. Thảo luận và thông qua: (1) Dự thảo Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết (NQ) Tỉnh ủy năm 2022; (2) Dự thảo NQ Tỉnh ủy về phương hướng, nhiệm vụ năm 2023; (3) Dự thảo Chương trình làm việc của Tỉnh ủy năm 2023; (4) Dự thảo Chương trình của Tỉnh ủy thực hiện các NQ Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII); (5) Dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TU, ngày 04/11/2021 của Tỉnh ủy về nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. 2. Cho ý kiến về Dự toán ngân sách nhà nước (NSNN), Kế hoạch vay trả nợ công năm 2023; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 và một số nội dung theo thẩm quyền. Đồng chí Nguyễn Văn Được - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cùng các đồng chí trong Thường trực Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.

Sau 1 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị Tỉnh ủy đã thống nhất thông qua các nội dung sau:

tinhuy-bithu-1-12-22.jpg

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh - Nguyễn Văn Được phát biểu tại hội nghị

1. Về kết quả thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy năm 2022

Mặc dù còn nhiều khó khăn trong quá trình phục hồi sau đại dịch Covid-19 cũng như tác động của tình hình thế giới nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực, phấn đấu thực hiện NQ Tỉnh ủy năm 2022 đạt được kết quả tích cực, toàn diện trên các lĩnh vực, 19/19 chỉ tiêu NQ ước đạt và vượt, cụ thể như sau:

*Về phát triển kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2022 ước đạt 8,46%; trong đó, khu vực I (nông, lâm, thủy sản) ước tăng 0,71%; khu vực II (công nghiệp, xây dựng) ước tăng 10,86%; khu vực III (thương mại, dịch vụ) ước tăng 9,95%. Đây là mức tăng trưởng tốt trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản; cơ cấu kinh tế khu vực I - II - III ước đạt 14,6% - 52,3% - 33,1%. 

- Sản xuất nông nghiệp được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, trong đó Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 được tập trung triển khai, thực hiện. Các cây trồng chủ lực của tỉnh phát triển ổn định. Tình hình chăn nuôi tiếp tục trên đà hồi phục; một số doanh nghiệp (DN) chăn nuôi, khai thác, nuôi trồng thủy sản có nhiều chuyển biến tích cực. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, công tác quản lý rừng được quan tâm, kiểm soát chặt chẽ, kịp thời. Chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM) tiếp tục được triển khai, thực hiện. Từ đầu năm đến nay đã công nhận thêm 9 xã NTM và 9 xã NTM nâng cao; ước đến cuối năm sẽ công nhận thêm 2 xã NTM (lũy kế đến hết năm 2022, toàn tỉnh có 118/161 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 73,29% tổng số xã; 28 xã đạt NTM nâng cao, chiếm 23,73% tổng số xã NTM; 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ XDNTM). 

- Công nghiệp - xây dựng phục hồi nhanh sau đại dịch và có bước khởi sắc, ước tăng 11,87%. Công tác xúc tiến, thu hút, hỗ trợ đầu tư tiếp tục được quan tâm thực hiện quyết liệt, nhất là triển khai các giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc nhằm hỗ trợ DN tiếp tục phục hồi, phát triển sản xuất, kinh doanh đã mang lại hiệu quả tích cực; số DN, số vốn dự án (DA) đầu tư trong nước tăng so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2022 ước tăng 10% (Đầu tư trong nước: Thành lập mới 1.432 DN, tăng 32% với tổng số vốn đăng ký 19.384 tỉ đồng, đến nay, trên địa bàn tỉnh có 15.045 DN đăng ký hoạt động với tổng vốn đăng ký 361.080 tỉ đồng. Cấp mới 81 DA đầu tư trong nước, tổng vốn đăng ký mới 22.578,4 tỉ đồng; hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2.178 DA với số vốn đăng ký 223.497 tỉ đồng. Đầu tư nước ngoài: Cấp mới 48 DA, vốn đầu tư cấp mới 321,4 triệu USD; hiện nay, toàn tỉnh có 1.155 DA, vốn 9.976,2 triệu USD, trong đó, có 588 DA đi vào hoạt động, tổng vốn đầu tư 3.624 triệu USD). Công tác giải ngân vốn đầu tư công được tập trung đẩy mạnh (khối lượng thực hiện đến ngày 23/11/2022 là 7.484,51 tỉ đồng, đạt 85,25% kế hoạch). Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng được tập trung kiểm tra, đôn đốc thực hiện. Chương trình Huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ phục vụ phát triển công nghiệp, đô thị vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh và kế hoạch thực hiện 3 công trình trọng điểm theo NQ Đại hội XI Đảng bộ tỉnh được tập trung thực hiện và đạt kết quả nhất định. Công tác lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Hội đồng thẩm định đánh giá cao và đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 

- Thương mại - dịch vụ khôi phục mạnh mẽ, có nhiều tín hiệu tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt khoảng 104.000 tỉ đồng, đạt 107,8% kế hoạch, tăng 22,9%. Hoạt động xuất, nhập khẩu duy trì tốc độ phát triển khá, ước năm 2022 tăng so cùng kỳ (kim ngạch xuất khẩu đạt 6,5 tỉ USD, đạt 100,5% kế hoạch, tăng 5,69%. Kim ngạch nhập khẩu đạt 5,0 tỉ USD, đạt 100% kế hoạch, tăng 1,01%). Tỉnh đang đẩy mạnh xúc tiến thương mại tìm đầu ra cho các sản phẩm nông sản của tỉnh, hỗ trợ các DN tham gia các hội chợ, sàn thương mại điện tử, mở rộng thị trường kết nối, nhất là với các DN của TP.HCM.

- Tài chính - tín dụng, công tác quản lý, điều hành NSNN được tập trung lãnh, chỉ đạo, đạt kết quả rất tích cực. Tổng thu NSNN năm 2022 ước đạt 21.070 tỉ đồng, đạt 122,7% so với dự toán Trung ương, đạt 121,4% so với dự toán HĐND tỉnh giao; chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ, thực hiện hiệu quả. Hoạt động của các tổ chức tín dụng cơ bản ổn định, số dư huy động vốn và cho vay đều tăng trưởng; tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát.

*Lĩnh vực văn hóa - xã hội

Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được lãnh, chỉ đạo tập trung; tình hình dịch Covid-19, dịch sốt xuất huyết và các dịch bệnh khác được kiểm soát tốt; an toàn vệ sinh thực phẩm được đảm bảo và tập trung chỉ đạo tháo gỡ công tác đấu thầu nhằm hạn chế tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị y tế để người dân yên tâm khám, chữa bệnh; bảo hiểm y tế toàn dân đạt 91,85%. Ngành Giáo dục tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu dạy và học theo phương pháp mới. Các lễ, hội, hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức phù hợp, an toàn, đảm bảo quy định; thực hiện tốt các giải pháp kích cầu du lịch gắn với xây dựng, quảng bá hình ảnh của tỉnh; đặc biệt, tổ chức thành công Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An 2022, Liên hoan Cải lương toàn quốc 2021, thu hút đông đảo khách đến tham quan, góp phần phục hồi và phát triển ngành Du lịch của tỉnh. Hoạt động của các cơ quan báo chí, thông tin - truyền thông có tiến bộ; công tác an toàn thông tin, an ninh mạng được quản lý chặt chẽ; tập trung triển khai các nhiệm vụ phát triển Chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số, xã hội số, thúc đẩy công tác chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. Quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, người có công. Công tác đào tạo lao động, việc làm, giảm nghèo, giáo dục nghề nghiệp được triển khai, thực hiện tốt.

*Lĩnh vực quốc phòng - an ninh, nội chính và đối ngoại

Các cấp ủy Đảng, chính quyền tập trung lãnh, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất công tác quốc phòng - an ninh, nội chính. Lãnh đạo, tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh và cấp huyện năm 2022; thực hiện đồng bộ, hiệu quả giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Duy trì tốt công tác tiếp công dân, hòa giải cơ sở, tập trung giải quyết và xử lý tốt đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Công tác tuần tra, kiểm soát an toàn giao thông, trật tự đô thị, cửa khẩu, quản lý xuất, nhập cảnh thực hiện chặt chẽ, phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế; nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại được thực hiện quyết liệt; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cải cách tư pháp được đẩy mạnh. Hoạt đông đối ngoại Đảng, Nhà nước, Nhân dân được duy trì và mở rộng; chủ quyền, an ninh biên giới được giữ vững.

*Hoạt động của hệ thống chính trị

Các cấp ủy Đảng tập trung lãnh đạo việc quán triệt, triển khai, thực hiện NQ của cấp ủy năm 2022 gắn với thực hiện NQ đại hội đảng bộ các cấp. Trong năm, tổ chức học tập, quán triệt, triển khai, thực hiện các NQ Hội nghị lần thứ 4, lần thứ 5, lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) và các quy định, hướng dẫn của Trung ương; hầu hết các cấp ủy đã lãnh đạo thực hiện nghiêm Kế hoạch số 55-KH/TU, ngày 10/3/2022 của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", Kế hoạch số 66-KH/TU, ngày 19/5/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2022. Hoàn thành rà soát, bổ sung quy hoạch giai đoạn 2020-2025 và quy hoạch giai đoạn 2025-2030 đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý. Lãnh đạo tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh, Đại hội Hội Cựu chiến binh tỉnh nhiệm kỳ 2022-2027 và đại hội chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở nhiệm kỳ 2022-2025. Công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được tăng cường. Công tác tạo nguồn, kết nạp đảng viên được quan tâm; đến ngày 25/11/2022 đã kết nạp 1.479 đảng viên, đạt 109,56% kế hoạch.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh triển khai, thực hiện chương trình công tác năm 2022; trong đó, tập trung công tác giám sát, tham gia các kỳ họp, phiên chất vấn, tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp Quốc hội. HĐND các cấp tiếp tục có sự đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động; triển khai, thực hiện hiệu quả các hoạt động giám sát theo nội dung, chương trình đề ra; hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân có nhiều đổi mới. HĐND tỉnh tổ chức tốt các kỳ họp lệ, phiên giải trình và Chương trình đối thoại của Thường trực HĐND tỉnh; kịp thời ban hành các NQ sau kỳ họp.

Công tác quản lý, điều hành của UBND các cấp được tăng cường; việc triển khai, cụ thể hóa NQ cấp ủy, HĐND kịp thời, hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực, đồng bộ trên các lĩnh vực. Nhất là trong triển khai, thực hiện các chương trình đột phá, công trình trọng điểm của NQ đại hội đảng bộ các cấp. Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển trên các lĩnh vực; đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, góp phần cải cách hành chính, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh.

MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã chủ động, tập trung cụ thể hóa NQ của Tỉnh ủy năm 2022 phù hợp với nhiệm vụ chính trị được giao; tập trung củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tổ chức thực hiện hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội năm 2022 theo đúng kế hoạch đề ra. Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đại hội Hội Cựu chiến binh các cấp nhiệm kỳ 2022-2027 được tập trung lãnh đạo, thực hiện chặt chẽ, đảm bảo nội dung, yêu cầu.

bemac-quangcanh-1-12-22.jpg

Đại biểu dự Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 10

*Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện NQ Tỉnh ủy năm 2022 còn một số khó khăn, hạn chế:

Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu nông sản vẫn còn khó khăn. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng chưa đạt yêu cầu đề ra. Việc rà soát, xử lý các DA chậm tiến độ chưa kiên quyết. Tình hình y, bác sĩ, nhân viên y tế xin nghỉ việc gia tăng; công tác định hướng, phân luồng học sinh sau THCS, đào tạo nghề còn nhiều vướng mắc, hạn chế; tình trạng DN cắt giảm lao động đang có xu hướng tăng cao. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội có mặt chưa bảo đảm; việc giải quyết một số vụ việc khiếu kiện còn chậm. Công tác xây dựng Đảng ở một số nơi đôi lúc chưa được quan tâm tương xứng với lĩnh vực kinh tế.

Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế: Bên cạnh nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng của hậu đại dịch Covid-19 và tình hình an ninh chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động,... còn có những nguyên nhân chủ quan như người đứng đầu một số cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, điều hành chưa chủ động, năng động, sáng tạo, quyết liệt; vai trò tham mưu, phối hợp của một số sở, ngành, địa phương còn hạn chế, còn bị động; tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, thái độ và trình độ của một số cán bộ, công chức, viên chức và người đứng đầu có mặt còn hạn chế;...

2. Về phương hướng, nhiệm vụ năm 2023

Năm 2023 là năm bản lề, có ý nghĩa quan trọng làm chuyển biến căn bản, tạo đà, tạo lực cho những năm tiếp theo hoàn thành thắng lợi trong triển khai, thực hiện NQ Đại hội XI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng. Tỉnh ủy xác định nhiệm vụ trọng tâm năm 2023 là: "Tập trung lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế bền vững; huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực để triển khai hiệu quả các chương trình đột phá, công trình trọng điểm. Kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 và các dịch bệnh mới phát sinh. Đẩy mạnh cải cách hành chính; tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tăng cường xã hội hóa trên các lĩnh vực; thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững quốc phòng - an ninh, đảm bảo các hoạt động đối ngoại. Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ và khối đại đoàn kết toàn dân tộc".

*Các chỉ tiêu chủ yếu: Tăng trưởng kinh tế (GRDP) từ 8,0-8,5%; sản lượng lúa bình quân 2,7 triệu tấn, trong đó, tỷ lệ sản lượng lúa chất lượng cao 65%; GRDP bình quân đầu người 95-100 triệu đồng/năm; tỷ lệ vốn đầu tư xã hội trên GRDP 31-33%; tỷ lệ tăng thu ngân sách nhà nước 12%; tỷ lệ chi đầu tư phát triển hàng năm tăng cao hơn so với năm 2022; tỷ lệ xã đạt tiêu chí văn hóa, NTM trên 77,1%; tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM nâng cao 31,49% (2 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu); tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia (theo tiêu chí mới) 55,5%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế 93%; số bác sĩ/vạn dân là 9 bác sĩ; tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi 17,3% (chiều cao theo tuổi); tỷ lệ lao động qua đào tạo 74%, trong đó, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ 33%; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (theo tiêu chí mới) giảm 15%; tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch 60%; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải khu vực đô thị 100%; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải khu vực nông thôn 75%; kết nạp 1.550 đảng viên; tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hàng năm 90%.

*Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

- Về lĩnh vực kinh tế

Tập trung lãnh, chỉ đạo tổ chức triển khai, thực hiện Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đảm bảo hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh. Chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, gắn với nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy nhanh tiến độ triển khai, thực hiện Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật. Tăng cường huy động các nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm, đúng thực chất; trong đó, phấn đấu hoàn thành các tiêu chí để trình Trung ương thẩm định công nhận thêm 1 huyện đạt chuẩn NTM và 1 huyện đạt chuẩn NTM nâng cao. Tập trung thực hiện Đề án Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh.

Tiếp tục triển khai, thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả Chương trình Huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ phục vụ phát triển công nghiệp, đô thị vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh và 3 công trình trọng điểm NQ Đại hội XI Đảng bộ tỉnh; thực hiện hiệu quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư theo NQ số 25-NQ/TU của Tỉnh ủy. Thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện Chỉ số cải cách hành chính, nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2023; phấn đấu xếp loại trong nhóm từ Tốt đến Rất tốt; tiếp tục cải thiện hiệu quả môi trường đầu tư; tiếp tục liên kết, hợp tác phát triển KT-XH với các địa phương trong vùng, đặc biệt thúc đẩy hợp tác phát triển toàn diện với TP.HCM. Tăng cường quản lý đầu tư công theo kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021-2025, trong đó, tập trung xây dựng và triển khai, thực hiện Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Long An giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2045. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm gắn với xây dựng thương hiệu, hàng hóa của tỉnh; tập trung thực hiện có hiệu quả liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; quan tâm hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động Cảng Quốc tế Long An, Khu kinh tế Cửa khẩu Long An, thúc đẩy phát triển hoạt động logistics trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện hiệu quả, thiết thực cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Thu hút, liên kết khai thác phát triển các hình thức du lịch đặc thù, sản phẩm du lịch thế mạnh, đặc trưng của tỉnh.

Tập trung lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ thu - chi ngân sách ngay từ đầu năm, đảm bảo đạt và vượt kế hoạch đề ra. Thực hành tiết kiệm chi ngân sách, chi theo khả năng cân đối; tăng cường các biện pháp kiểm soát, giám sát các hoạt động tín dụng; tiếp tục triển khai, thực hiện hiệu quả các giải pháp bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; giải quyết căn cơ tình trạng ô nhiễm ở các cụm công nghiệp và khu dân cư.

- Lĩnh vực văn hóa - xã hội

Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình dịch Covid-19; đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống các dịch bệnh nguy hiểm khác. Tăng cường công tác y tế dự phòng gắn với đổi mới y tế cơ sở, sẵn sàng ứng phó kịp thời với các tình huống khẩn cấp. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Triển khai các giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học. Tập trung cụ thể hóa, triển khai hiệu quả NQ Tỉnh ủy thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030; quan tâm phát triển đội ngũ trí thức - văn nghệ sĩ; khuyến khích sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Tiếp tục quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, người có công; phát huy hiệu quả phong trào "Đền ơn, đáp nghĩa", chăm lo cho trẻ em, người già, người neo đơn; giải quyết tốt các vấn đề về lao động, việc làm, giảm nghèo, các chế độ bảo hiểm (xã hội, y tế, thất nghiệp). Đổi mới giáo dục nghề nghiệp gắn với thực hiện hiệu quả Chương trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và nông nghiệp của tỉnh.

Tiếp tục triển khai xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển dịch vụ đô thị thông minh, trong đó, nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Điều hành thông minh (IOC). Khai thác hiệu quả các kết cấu hạ tầng khoa học và công nghệ hiện có. Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường bền vững.

- Lĩnh vực quốc phòng - an ninh, nội chính, đối ngoại

Tập trung lãnh, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương năm 2023; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân vững mạnh; hoàn thành công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2023 đạt chỉ tiêu 3 cấp, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ; triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, chủ động phòng, chống tội phạm công nghệ cao, an ninh mạng; thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước; giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề phức tạp nảy sinh về an ninh, trật tự ngay từ đầu và tại cơ sở. Tăng cường công tác hòa giải cơ sở, tiếp dân, đối thoại trực tiếp với nhân dân, DN; tập trung rà soát, giải quyết dứt điểm, theo quy định các vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài; thực hiện quyết liệt các giải pháp, biện pháp tích cực trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Nâng cao hiệu quả công tác cải cách tư pháp; tăng cường các hoạt động đối ngoại, ngoại giao một cách thiết thực, hiệu quả.

- Hoạt động của hệ thống chính trị

Các cấp ủy Đảng tập trung lãnh đạo chặt chẽ việc sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện NQ đại hội đảng bộ các cấp, nhất là tiến độ, kết quả triển khai, thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu, các chương trình đột phá, công trình trọng điểm của đại hội nhiệm kỳ 2020-2025; xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, hiệu quả để tập trung lãnh đạo, thực hiện, phấn đấu hoàn thành đạt và vượt chỉ tiêu NQ đã đề ra.

Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị theo Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) gắn với thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Lãnh đạo tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội theo quy định. Tập trung xây dựng, củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; đổi mới tư duy, phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình chế độ kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ và đảm bảo các chế độ, chính sách cán bộ; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thực hiện tốt quy chế bí thư cấp ủy đối thoại với nhân dân; đổi mới, nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy; kịp thời lãnh đạo, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân; nâng cao chất lượng công tác tham gia xây dựng pháp luật và công tác giám sát tại địa phương. Tiếp tục đổi mới hoạt động của HĐND các cấp theo hướng chủ động, chất lượng, hiệu quả, thực hiện tốt chức năng theo luật định; quyết định những cơ chế, chính sách khả thi đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển KT-XH, xây dựng chính quyền và thực thi pháp luật; thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát và những phản ánh, kiến nghị của cử tri. Tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức các kỳ họp, các phiên chất vấn, tiếp xúc cử tri và tiếp công dân theo quy định.

UBND các cấp tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, điều hành. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, trách nhiệm với DN, nhân dân để tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn lực, thu hút đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Tập trung triển khai, thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH, dự toán ngân sách nhà nước và đầu tư công năm 2023; thực hiện tốt công tác cải cách và hiện đại hóa nền hành chính; thực hiện quyết liệt chuyển đổi số; quan tâm chấn chỉnh, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và cấp huyện. Tiếp tục tập trung triển khai các giải pháp nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) của tỉnh.

MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu, đề xuất, tuyên truyền, vận động; theo dõi, chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc việc sơ kết, tổng kết, triển khai, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, NQ, kết luận của Trung ương và của tỉnh. Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ các cấp; đánh giá, sơ kết, tổng kết, nhân rộng các mô hình, điển hình "Dân vận khéo" trên các lĩnh vực; thực hiện hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền. Lãnh đạo tổ chức thành công đại hội Công đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2023-2028 và đại hội Hội Nông dân các cấp và Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2023-2028.

3. Về dự thảo Chương trình làm việc của Tỉnh ủy năm 2023; các dự thảo Chương trình của Tỉnh ủy thực hiện NQ số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và NQ số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới và dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TU, ngày 04/11/2021 của Tỉnh ủy về nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Tỉnh ủy cơ bản thống nhất với nội dung các văn bản dự thảo nêu trên do Ban Thường vụ Tỉnh ủy trình. Tỉnh ủy giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan liên quan tiếp thu các ý kiến đóng góp của Hội nghị, chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh, trình Thường trực Tỉnh ủy ký ban hành thực hiện.

4. Về dự toán NSNN, Kế hoạch vay trả nợ công năm 2023; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025

Tỉnh ủy cơ bản thống nhất với các nội dung dự toán NSNN, Kế hoạch vay trả nợ công năm 2023 và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 theo đề nghị của Ban cán sự đảng UBND tỉnh. Tỉnh ủy giao Ban cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh tiếp thu ý kiến đóng góp của Hội nghị, bổ sung hoàn chỉnh các văn bản trình HĐND tỉnh theo quy định.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh kêu gọi toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong tỉnh tăng cường đoàn kết, thống nhất, nỗ lực, phấn đấu thực hiện hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm năm 2023, góp phần thực hiện thắng lợi NQ Đại hội XI Đảng bộ tỉnh và NQ Đại hội lần thứ XIII của Đảng./.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy


02/12/2022 6:00 SAĐã ban hành
Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 – 2027Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 – 2027
Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 – 2027. Cổng thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương.

I. CÁC KỲ ĐẠI HỘI ĐOÀN TOÀN QUỐC

Hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tổ chức thành công 11 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc và đang tích cực chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 - 2027.

1. Đại hội lần thứ I (năm 1950)

Sau gần 20 năm hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ I (tên gọi khi đó là Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam) diễn ra từ ngày 07-14/02/1950 tại xã Cao Văn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Dự đại hội có hơn 400 đại biểu đại diện cho đoàn viên, thanh niên trên khắp mọi miền đất nước. Với chủ đề "Chiến đấu và xây dựng tương lai", Đại hội đã đề ra nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là động viên, giáo dục, thống nhất lực lượng thanh niên, cổ vũ thế hệ trẻ tích cực tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quét sạch kẻ thù xâm lược. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đoàn mới, đồng chí Nguyễn Lam được bầu làm Bí thư Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam. Từ thành công của Đại hội, hàng vạn nam, nữ thanh niên hăng hái xung phong tham gia phục vụ các chiến dịch và phong trào "Tòng quân giết giặc lập công", góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu (tháng 5/1954).

2. Đại hội lần thứ II (năm 1956)

Diễn ra từ ngày 25/10-04/11/1956 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 479 đại biểu đại diện cho gần nửa triệu đoàn viên thanh niên trong cả nước. Đại hội khẳng định những cống hiến xuất sắc của tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên trong chín năm kháng chiến và ba năm khôi phục kinh tế. Tại Đại hội, Bác Hồ đã ân cần căn dặn: "Đảng và Chính phủ ta có thể tự hào đã tạo nên một thế hệ thanh niên dũng cảm như các cháu, và mong các cháu tiếp tục phấn đấu hăng hái cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nước nhà". Đại hội đã bầu BCH Trung ương Đoàn gồm 30 đồng chí, đồng chí Nguyễn Lam được bầu làm Bí thư thứ nhất.

Ngay sau Đại hội, tuổi trẻ miền Bắc đã phát động phong trào thi đua lao động sản xuất để khôi phục kinh tế, cải tạo và xây dựng xã hội mới. Hàng vạn thanh niên tham gia xây dựng các công trình thủy lợi, khai hoang phục hóa đất đai; hàng triệu thanh niên hăng hái theo học các lớp bổ túc văn hóa... Ở miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị của thanh niên, học sinh, sinh viên chống đế quốc Mỹ và tay sai tiếp tục phát triển mặc dù bị đàn áp dã man.

3. Đại hội lần thứ III (năm 1961)

Diễn ra từ ngày 23-25/3/1961 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 677 đại biểu đại diện cho một triệu đoàn viên thanh niên trong cả nước. Được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Bác Hồ, Đại hội đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. Đại hội đã phát động phong trào "Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất" (1961 - 1965). Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 71 đồng chí, đồng chí Nguyễn Lam tiếp tục được bầu lại làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. Sau Đại hội, đồng chí Nguyễn Lam được Đảng điều động nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Vũ Quang được cử làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Tháng 8/1964, đế quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc, tuổi trẻ Thủ đô đã phát động phong trào "Ba sẵn sàng". Ở miền Bắc, hàng triệu đoàn viên thanh niên đăng ký tham gia phong trào "Ba sẵn sàng" nêu cao quyết tâm chi viện cho chiến trường miền Nam với tinh thần "Chưa thắng giặc Mỹ, chưa về quê hương". Tháng 2/1965, Đại hội Đoàn thanh niên toàn miền Nam đã phát động phong trào "Năm xung phong", sau một thời gian ngắn đã có hàng vạn  đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào. Từ phong trào "Ba sẵn sàng" và "Năm xung phong" đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân với những chiến công xuất sắc trong chiến đấu tiêu diệt quân thù.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày thành lập Đảng (1970), thể theo nguyện vọng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định đổi tên Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh. Trong thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và đại thắng mùa xuân năm 1975, có sự đóng góp to lớn của đoàn viên thanh niên trên khắp các mặt trận, đây là thế hệ thanh niên Việt Nam vô cùng dũng cảm, thông minh, không sợ gian khổ, hy sinh, quyết chiến - quyết thắng đã được Đảng ta, Đoàn ta giáo dục, rèn luyện. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định đổi tên Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh thành Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

4. Đại hội lần thứ IV (năm 1980)

Diễn ra từ ngày 20-22/11/1980 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 623 đại biểu đại diện cho 4,3 triệu đoàn viên thanh niên cả nước. Đại hội đã quyết định đẩy mạnh hơn nữa phong trào "Ba xung kích" thành cao trào thi đua hành động cách mạng của tuổi trẻ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 113 đồng chí, đồng chí Đặng Quốc Bảo, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Vào thời điểm này, hàng triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia phong trào "Ba xung kích làm chủ tập thể"; gần 9 triệu đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào "Thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"; hàng chục vạn thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang, góp phần tích cực bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Tiếp đó là các phong trào "Hành quân theo bước chân những người anh hùng" đã thu hút gần 6 triệu đoàn viên, thanh thiếu nhi tham gia và "Hành quân theo chân Bác" đã có 10 triệu thiếu niên, nhi đồng tham gia.

Tháng 5/1982, Hội nghị BCH Trung ương Đoàn lần thứ 4 (khóa IV) đã tập trung chỉ đạo triển khai các chương trình hành động cách mạng của tuổi trẻ trong 2 năm 1982-1983. Tại Hội nghị này, đồng chí Vũ Mão, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn.

5. Đại hội lần thứ V (năm 1987)

Diễn ra từ ngày 27-30/11/1987 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 750 đại biểu đại diện cho 17 triệu đoàn viên, thanh niên trong cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 150 đồng chí, đồng chí Hà Quang Dự được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. Đại hội đã phát động phong trào "Tuổi trẻ xung kích, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V có ý nghĩa vô cùng lớn lao, đó là Đại hội của thế hệ trẻ đi đầu trong công cuộc đổi mới; Đại hội của hành động, vì tương lai của thế hệ trẻ, vì hạnh phúc của Nhân dân. Trong quá trình đất nước đổi mới, mặc dù đứng trước sự thử thách do tác động từ những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn phấn đấu tự đổi mới mình, không ngừng mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh.

6. Đại hội lần thứ VI (năm 1992)

Diễn ra từ ngày 15-18/10/1992 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 797 đại biểu đại diện cho 2,5 triệu đoàn viên, thanh niên cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 91 đồng chí, đồng chí Hồ Đức Việt được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. Sau Đại hội, tháng 2/1993, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 2 (khóa VI) đã phát động hai phong trào lớn: "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước". Hai phong trào đã được tuổi trẻ cả nước nhiệt liệt hưởng ứng và đi vào sâu rộng trong cuộc sống. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 9, khóa VI (tháng 12/1996), đồng chí Vũ Trọng Kim được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thay đồng chí Hồ Đức Việt được Đảng điều động nhận nhiệm vụ mới.

7. Đại hội lần thứ VII (năm 1997)

Diễn ra từ ngày 26-29/11/1997 tại Hà Nội. Dự đại hội có 899 đại biểu đại diện cho 21,2 triệu cán bộ, đoàn viên, thanh niên cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 125 đồng chí, đồng chí Vũ Trọng Kim được bầu lại làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. Đại hội đã quyết định tiếp tục phát triển hai phong trào"Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước" lên một tầm cao mới. Tại Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ 9 Khóa VII (tháng 6/2001), đồng chí Hoàng Bình Quân được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn thay đồng chí Vũ Trọng Kim được Đảng phân công nhiệm vụ mới.

Năm 2000 được Bộ Chính trị và Chính phủ chọn là "Năm thanh niên Việt Nam". Từ thời điểm này, phong trào "Thanh niên tình nguyện" có bước phát triển mới, đi vào thực tiễn, được đông đảo các cấp bộ Đoàn và đoàn viên, thanh niên tham gia, tạo ấn tượng tốt đẹp về lớp thanh niên Việt Nam của thời kỳ mới. Tổ chức Đoàn các cấp đã chủ động đề xuất và đảm nhận nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, tiêu biểu như: Dự án xóa cầu khỉ, xây cầu mới vùng đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng Đảo thanh niên; làm đường Hồ Chí Minh; xây dựng Làng thanh niên lập nghiệp... Phong trào thi đua học tập, lao động sáng tạo để chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức, khoa học công nghệ mới; sinh hoạt chính trị "Tuổi trẻ Việt Nam tiến bước dưới cờ Đảng","Tuổi trẻ với tư tưởng Hồ Chí Minh"... đã thu hút hàng triệu thanh thiếu niên tham gia.

8. Đại hội lần thứ VIII (năm 2002)

Diễn ra từ ngày 08-11/12/2002 tại Hà Nội. Dự đại hội có 898 đại biểu đại diện cho hàng chục triệu đoàn viên, thanh niên cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 134 đồng chí, đồng chí Hoàng Bình Quân, được bầu lại làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn. Với tinh thần "Đoàn kết, sáng tạo, xung kích, tình nguyện", Đại hội đã phát động phong trào "Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" và kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam cùng siết chặt tay dưới lá cờ vinh quang của Đoàn, nguyện đi theo con đường cách mạng của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, nắm chắc thời cơ, vượt qua thách thức, góp phần to lớn vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Phong trào mới với sức sống mới, hàng triệu thanh niên thi đua học tập, tiến quân vào khoa học - công nghệ; thi đua lao động sáng tạo để lập thân, lập nghiệp; xung phong tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng; góp phần giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Các cuộc vận động, phong trào mới được triển khai như: "Sáng tạo trẻ", "Bốn mới" (kỹ thuật mới, ngành nghề mới, thị trường mới, mô hình mới), "Cán bộ công chức trẻ với cải cách hành chính", "Học tập tốt, rèn luyện tốt", "Trí thức trẻ tình nguyện"... đã góp phần khơi sức thanh niên trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo từ thực tiễn.

Đặc biệt sinh hoạt chính trị "Tiếp lửa truyền thống - Mãi mãi tuổi hai mươi", diễn đàn "Tuổi trẻ sống đẹp, sống có ích" đã lôi cuốn và lan toả mạnh mẽ, tạo hiệu ứng xã hội sâu rộng góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, bồi đắp lý tưởng cách mạng và niềm tin cho thế hệ trẻ. Năm 2007, hưởng ứng cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" do Đảng ta phát động, Đoàn thanh niên các cấp chủ động, sáng tạo triển khai thực cuộc vận động "Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác" và đạt những kết quả tốt đẹp.

Sau khi đồng chí Hoàng Bình Quân chuyển công tác, ngày 01/4/2005, Bộ Chính trị cử đồng chí Đào Ngọc Dung giữ trách nhiệm Quyền Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 10 Khóa VIII (ngày 02/7/2005), đồng chí Đào Ngọc Dung được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn. Tại Hội nghị BCH Trung ương Đoàn lần thứ 11 Khóa VIII (ngày 13/01/2007), đồng chí Võ Văn Thưởng được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn thay đồng chí Đào Ngọc Dung nhận nhiệm vụ mới.

9. Đại hội lần thứ IX (năm 2007)

Diễn ra từ ngày 17-21/12/2007 tại Hà Nội. Dự đại hội có 1033 đại biểu đại diện cho hơn 23 triệu cán bộ, đoàn viên, thanh niên cả nước. Đại hội đã khẳng định: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục đổi mới toàn diện, phấn đấu thực sự trở thành người bạn thân thiết của thanh niên, định hướng cho thanh niên đến với lý tưởng cách mạng và những giá trị cao đẹp, đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp, xung kích trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đã phát động hai phong trào "5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc", "4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 145 đồng chí, đồng chí Võ Văn Thưởng được bầu lại làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Ngày 5/10/2011, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 11 (khóa IX), đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tín nhiệm bầu giữ chức Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn (khóa IX) thay đồng chí Võ Văn Thưởng được Đảng phân công nhiệm vụ mới.

10. Đại hội lần thứ X (năm 2012)

Diễn ra từ ngày 12-14/12/2012 tại Hà Nội. Dự đại hội có 999 đại biểu đại diện cho hơn 23 triệu cán bộ, đoàn viên, thanh niên cả nước. Đại hội đã nêu cao khẩu hiệu "Tuổi trẻ Việt Nam xây hoài bão lớn, rèn đức, luyện tài, đoàn kết, sáng tạo, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đại hội đã quyết định tiếp tục triển khai 2 phong trào "Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" nhằm tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò xung kích, tinh thần tình nguyện, khơi dậy tiềm năng to lớn của thanh niên tham gia thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Những quyết định của Đại hội thể hiện ý chí và khát vọng cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam được đem tài năng, sức trẻ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 151 đồng chí, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh được bầu lại làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn.

Tại Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng, nhấn mạnh: "Thanh niên mạnh thì dân tộc mới mạnh""Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc". Tổng Bí thư cũng chỉ ra những nhiệm vụ trọng tâm của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong giai đoạn hiện nay; bày tỏ mong muốn mỗi thanh niên và tổ chức Đoàn cần nhận thức sâu sắc hơn nữa vị trí, vai trò và sứ mệnh của mình, có "Tâm trong - Trí sáng - Hoài bão lớn", đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong nhiệm kỳ Đại hội, công tác giáo dục luôn được coi trọng, nội dung, phương thức tiếp tục được đổi mới, nhất là việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; triển khai thực hiện Chỉ thị 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015 - 2030". Nhiều phong trào hành động cách mạng của Đoàn được triển khai mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của đông đảo đoàn viên, thanh niên và tạo được hiệu ứng tốt đẹp. Tiêu biểu như Chương trình "Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam", đợt sinh hoạt chính trị "Con đường cách mạng của thanh niên thời kỳ mới""Tự hào tiến bước dưới cờ Đảng""Tự hào tuổi trẻ thời đại Hồ Chí Minh", Hội thi "Ánh sáng soi đường", cuộc thi "Tự hào Việt Nam", ngày hội "Tôi yêu Tổ quốc tôi"; phong trào "Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới""Thanh niên tham gia xây dựng văn minh đô thị", các phong trào "Học sinh 3 rèn luyện""Khi tôi 18", "Sinh viên 5 tốt"; phong trào "3 trách nhiệm", "Sáng tạo trẻ"... Phong trào "Thanh niên tình nguyện" có bước phát triển cả về chất lượng và số lượng với các hoạt động nổi bật. Công tác xây dựng tổ chức Đoàn được củng cố, đạt được nhiều kết quả vững chắc trên nhiều mặt.

Ngày 21/4/2016, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa X, đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam đã được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa X) thay đồng chí Nguyễn Đắc Vinh được Đảng phân công nhiệm vụ mới.

11. Đại hội lần thứ XI (năm 2017)

Đại hội diễn ra từ ngày 10-13/12/2017, tại Thủ đô Hà Nội, với 999 đại biểu tham dự là những cán bộ, đoàn viên ưu tú đại diện cho hơn 6,4 triệu đoàn viên và gần 24 triệu thanh niên Việt Nam trong và ngoài nước. Khẩu hiệu hành động "Thanh niên Việt Nam - Tiên phong - Bản lĩnh - Đoàn kết - Sáng tạo - Phát triển".

Đại hội đã tín nhiệm bầu 151 đồng chí có đủ tiêu chuẩn, phẩm chất và năng lực vào Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ nhất khóa XI đã bầu 31 đồng chí vào Ban Thường vụ Trung ương Đoàn; bầu 04 đồng chí vào Ban Bí thư Trung ương Đoàn khoá XI; bầu đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa X, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam tái đắc cử Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI.

Chủ đề Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI là "Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng; Xây dựng Đoàn vững mạnh; Đoàn kết, phát huy thanh niên xung kích, tình nguyện, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Đại hội biểu thị quyết tâm thực hiện mục tiêu công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2017 - 2022 là "Xây dựng lớp thanh niên thời kỳ mới có lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu lòng yêu nước; có đạo đức, lối sống văn hóa, trách nhiệm, tuân thủ pháp luật, yêu chuộng hòa bình; có tri thức, sức khỏe, hoài bão, khát vọng vươn lên. Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực sự vững mạnh, tập hợp đoàn kết đông đảo thanh niên, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nâng cao trách nhiệm phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và tích cực tham gia bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng. Phát huy thanh niên xung kích, tình nguyện, sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". 

Tại phiên Khai mạc Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Đại hội. Tổng Bí thư chỉ ra 03 nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ mà các cấp bộ đoàn phải tập trung thực hiện tốt: Một là, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Hai là, chăm lo củng cố xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực sự vững mạnh về tư tưởng chính trị, tổ chức và hành động, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba là, đổi mới và nâng cao hiệu quả các phong trào, chương trình của Đoàn, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên, khẳng định vai trò của Đoàn trong đồng hành, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên. 

Tại phiên Bế mạc vào sáng ngày 13/12/2017, Đại hội đã vinh dự đón Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tới dự và phát biểu chỉ đạo. Thủ tướng Chính phủ đã đề nghị các bộ, ngành, chính quyền các địa phương và mong muốn các bạn trẻ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tập trung làm tốt 03 vấn đề: Một là, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ Nhân dân; Hai là, xây dựng Quốc gia khởi nghiệp; Ba là, tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Ngày 11/11/2020, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thường trực Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam đã được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa XI) thay đồng chí Lê Quốc Phong được Đảng phân công nhiệm vụ mới. Từ tháng 01/2021 - 23/7/2022, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn thực hiện nhiệm vụ với cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam; Bí thư Đảng ủy Trung ương Đoàn; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đại biểu Quốc hội khóa XV.

Ngày 25/8/2022, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI, đồng chí Bùi Quang Huy, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thường trực Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa XI), nhiệm kỳ 2017 - 2022 thay đồng chí Nguyễn Anh Tuấn được Đảng phân công nhiệm vụ mới.

II. MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG NHIỆM KỲ 2017-2022

1. Trong công tác giáo dục, tổ chức Đoàn các cấp luôn quan tâm, chú trọng đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, đặc biệt việc thực hiện Chỉ thị 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được coi là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được chú trọng và đổi mới về nội dung, phương thức. Công tác nắm bắt, định hướng tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong thanh niên được thực hiện chủ động, đa dạng, thường xuyên, kịp thời. Nhiều hoạt động, sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về truyền thống lịch sử được xây dựng với nội dung, phương thức hiện đại, phù hợp với nhu cầu của thanh thiếu nhi, đem lại hiệu quả tích cực. Cuộc vận động "Xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên Việt Nam thời kỳ mới" được triển khai đồng bộ trong toàn Đoàn. Thông tin tích cực được tăng cường. Các cấp bộ đoàn đã tăng cường phát hiện, bồi dưỡng, tuyên dương điển hình tiên tiến và huy động người nổi tiếng, có uy tín để định hướng, giáo dục thế hệ trẻ. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện với hình thức phong phú, nội dung thiết thực. Việc phối hợp với các ngành trong giáo dục, giúp đỡ, cảm hóa thanh thiếu niên chậm tiến; tham gia phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội được thực hiện tích cực, chủ động. Hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và các thiết chế văn hoá cho thanh thiếu nhi trong và ngoài Đoàn đóng góp tích cực vào công tác tuyên truyền, giáo dục. Việc ứng dụng chuyển đổi số, tận dụng không gian mạng trong công tác tuyên truyền, giáo dục được thực hiện đồng bộ, quyết liệt. Hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đoàn được củng cố, phát huy tốt.

2. Ba phong trào hành động cách mạng của Đoàn là "Thanh niên tình nguyện", "Tuổi trẻ sáng tạo", "Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc" được triển khai đồng bộ, sâu rộng, hiệu quả, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia; đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, tạo môi trường thực tiễn sinh động để thanh niên phát triển toàn diện. Thông qua các phong trào, vị trí, vai trò, uy tín của tổ chức Đoàn và hình ảnh đoàn viên, thanh niên được khẳng định và ghi nhận. Phong trào Thanh niên tình nguyện là phong trào chủ lực của Đoàn các cấp, đã cổ vũ và phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của thanh niên. Nội dung, giải pháp, phương thức thực hiện phong trào ngày càng được đổi mới, linh hoạt, phù hợp, có tính hiệu triệu thanh niên tham gia tích cực, tạo nhiều dấu ấn tốt đẹp trong xã hội. Phong trào "Tuổi trẻ sáng tạo" đã đạt những kết quả nhất định trên các lĩnh vực; từng bước đi vào thực tiễn, khơi dậy và thúc đẩy tinh thần sáng tạo của thanh thiếu nhi. Phong trào Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần, trách nhiệm, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của thanh niên.

3. Ba chương trình đồng hành với thanh niên đã góp phần phát triển thanh niên và khẳng định vai trò của Đoàn trong chăm lo, hỗ trợ, bảo vệ quyền, lợi ích và nhu cầu chính đáng của thanh niên. Đồng hành với thanh niên trong học tập, các cấp bộ đoàn tổ chức nhiều chương trình, hoạt động hỗ trợ, khuyến khích học sinh, sinh viên thi đua học tập, xây dựng môi trường học đường lành mạnh; kết nối, đồng hành, hỗ trợ sinh viên, giáo viên trẻ, đặc biệt ở khu vực khó khăn, những địa bàn chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19. Quan tâm tổ chức các phong trào học tập, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tự học và rèn luyện ngoại ngữ. Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp đã được các cấp bộ đoàn triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ, kết nối các ý tưởng, dự án thanh niên khởi nghiệp; hỗ trợ thanh niên vay vốn phát triển kinh tế; đa dạng hoá các hoạt động tư vấn hướng nghiệp, giới thiệu việc làm; phát triển mô hình dạy nghề tại chỗ; mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã thanh niên phát triển kinh tế. Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần, toàn Đoàn đã tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức và tổ chức nhiều chương trình, hoạt động giáo dục trải nghiệm, rèn luyện kỹ năng cho thanh niên; phát động đoàn viên, thanh niên tham gia rèn luyện thể thao; tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cho thanh niên về tác hại của ma túy, rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích; giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản; tư vấn tâm lý, hỗ trợ pháp lý cho thanh thiếu nhi. Các cấp bộ đoàn đã tổ chức đa dạng các loại hình hoạt động văn hóa, nghệ thuật để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên.

4. Công tác phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng đạt kết quả toàn diện. Tổ chức Đoàn chú trọng phân công cán bộ có năng lực và tâm huyết phụ trách công tác thiếu nhi; định hướng chương trình công tác của Đội; củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Đội. Nhiều mô hình, hoạt động chăm lo cho thiếu nhi đạt kết quả tốt.

5. Công tác quốc tế thanh niên tiếp tục có những bước phát triển mới về chiều sâu, chất lượng được nâng lên, phương thức triển khai sáng tạo, linh hoạt, thích ứng, đóng góp tích cực vào thành công chung của công tác đối ngoại Nhân dân và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho thanh thiếu nhi Việt Nam.

6. Các cấp bộ đoàn đã triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng Đoàn vững mạnh về tư tưởng chính trị, tổ chức và hành động. Các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ đoàn, chất lượng cơ sở đoàn, chất lượng đoàn viên được chú trọng thực hiện, tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đoàn. Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên được mở rộng, tỷ lệ tập hợp thanh niên được nâng lên. Công tác cán bộ đoàn ở các cấp có chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ từ Trung ương tới cơ sở được chuẩn hóa, có tác động tích cực đến chất lượng tổ chức và hoạt động tại các cấp; năng lực công tác, bản lĩnh chính trị của cán bộ được nâng lên; các khâu của công tác cán bộ đoàn được thực hiện đúng quy định. Chất lượng đoàn viên, đoàn viên kết nạp mới ngày càng được cải thiện. Chương trình "Rèn luyện đoàn viên" được kiên trì triển khai, góp phần phát huy yếu tố tự rèn luyện của đoàn viên. Công tác quản lý đoàn viên có sự đổi mới. Tổ chức cơ sở Đoàn được quan tâm nâng cao chất lượng với nhiều giải pháp. Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn trong nhiệm kỳ đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là công tác giám sát, phản biện xã hội các chính sách có liên quan tới thanh thiếu nhi, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đoàn. Nội dung và phương thức đoàn kết tập hợp thanh niên được đổi mới theo hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu, sở thích của thanh niên, qua đó, mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên được mở rộng, tỷ lệ đoàn kết tập hợp thanh niên đạt 66%, tăng hơn 9% so với nhiệm kỳ trước. Vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn với Hội LHTN Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và các tổ chức thanh niên được tăng cường.

7. Công tác Đoàn tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị được xác định là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên; trong đó thực hiện quyết liệt, có hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; góp ý xây dựng Đảng; tích cực triển khai thực hiện Cuộc vận động "Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam". Các cấp bộ đoàn tích cực, chủ động, kiên trì tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách đối với thanh thiếu nhi.

III. ĐẠI HỘI ĐOÀN TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII

Dự kiến tổ chức vào tháng 12/2022 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội sẽ có khoảng 1.000 đại biểu đại diện cho hơn 22 triệu cán bộ, đoàn viên, thanh niên cả nước. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của tuổi trẻ Việt Nam. Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử sau hơn 35 năm đổi mới, có nhiều thời cơ thuận lợi và cũng không ít khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải luôn có tư duy, tầm nhìn mới, không ngừng đổi mới, sáng tạo trong hoạt động; tạo môi trường rèn luyện, động viên, khuyến khích, phát huy tinh thần xung kích, đổi mới, sáng tạo của thanh thiếu nhi thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; đồng hành, hỗ trợ, quan tâm, chăm lo vì sự phát triển của thế hệ trẻ Việt Nam.

1. Đại hội dự kiến xác định mục tiêu của công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2022 - 2027

Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự cường, tự hào dân tộc; có lý tưởng cách mạng, hoài bão, khát vọng vươn lên xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; có đạo đức, ý thức công dân, chấp hành pháp luật; sức khỏe; văn hóa; kiến thức khoa học, công nghệ; kỹ năng sống, nghề nghiệp; ý chí lập thân, lập nghiệp; năng động, sáng tạo. 

Phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong hội nhập quốc tế, chuyển đổi số quốc gia. Quan tâm, chăm lo các nhóm thanh thiếu nhi yếu thế về cơ hội phát triển.

Xây dựng Đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và hành động; nâng cao trách nhiệm phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; làm tốt công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

2. Dự kiến khẩu hiệu hành động của Đại hội là: "Khát vọng - Đoàn kết - Bản lĩnh - Tiên phong - Sáng tạo".

3. Dự kiến các phong trào và chương trình hành động cách mạng nhiệm kỳ:

- 3 phong trào hành động cách mạng:

+ Phong trào "Thanh niên tình nguyện";

+ Phong trào "Tuổi trẻ sáng tạo";

+ Phong trào "Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc".

- 3 chương trình đồng hành với thanh niên:

+ Chương trình "Đồng hành với thanh niên trong học tập";

+ Chương trình "Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp";

+ Chương trình "Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần".

4. Dự kiến một số chỉ tiêu trọng tâm của nhiệm kỳ 2022 - 2027

1) 100% cán bộ đoàn, đoàn viên, 80% thanh niên được học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết, kết luận, chủ trương của Đoàn.

2) 50 triệu lượt đoàn viên, thanh niên được tham gia các hoạt động tình nguyện do tổ chức Đoàn, Hội tổ chức.

3) 250 nghìn ý tưởng, sáng kiến của đoàn viên, thanh niên được tổ chức Đoàn hỗ trợ triển khai, hiện thực hóa.

4) 60% thanh thiếu nhi được tiếp cận các hoạt động nâng cao năng lực số do tổ chức Đoàn, Hội, Đội các cấp triển khai thực hiện. 50% thanh niên sử dụng dịch vụ công trực tuyến. 70% thanh niên sử dụng tài khoản thanh toán điện tử.

5) 100 triệu cây xanh được đoàn viên, thanh niên tham gia trồng mới.

6) 300 thôn, bản khó khăn được đoàn viên, thanh niên tham gia hỗ trợ hoàn thành tiêu chí nông thôn mới. 

7) 15 nghìn tỷ đồng được hỗ trợ cho thanh niên vay vốn để khởi nghiệp, lập nghiệp, làm kinh tế. 7 nghìn dự án khởi nghiệp sáng tạo của thanh niên được tổ chức Đoàn hỗ trợ.

8) 12 triệu lượt thanh thiếu niên được tư vấn hướng nghiệp và việc làm; 3 triệu thanh niên được giới thiệu việc làm.

9) 7 triệu lượt thanh thiếu nhi tham gia các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực ngoại ngữ và hội nhập quốc tế. 

10) 3 triệu thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn được tổ chức Đoàn các cấp hỗ trợ.

11) 50% đoàn viên xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tỷ lệ đoàn kết tập hợp thanh niên đạt 68%.

12) 01 triệu đoàn viên ưu tú được giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp. Các cấp bộ đoàn phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu do cấp ủy giao về kết nạp đảng viên mới từ đoàn viên. 

5. Dự kiến các chương trình, đề án trọng điểm thực hiện giai đoạn 2022 - 2027

(1) Đề án "Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi trên không gian mạng giai đoạn 2022 - 2030".

(2) Đề án "Phát hiện, bồi dưỡng và phát huy Tài năng trẻ Việt Nam giai đoạn 2022 - 2030".

(3) Đề án "Nâng cao năng lực số cho thanh thiếu niên Việt Nam giai đoạn 2022 - 2030".

(4) Đề án "Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2022 - 2030".

(5) Đề án "Thành lập Quỹ hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng".

(6) Đề án "Nâng cao năng lực ngoại ngữ và hội nhập quốc tế cho thanh thiếu nhi Việt Nam giai đoạn 2022 - 2030".

(7) Đề án "Tăng cường năng lực quản lý, điều phối hoạt động tình nguyện cho đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam các cấp giai đoạn 2022 - 2030".

(8) Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 - 2027".

(9) Đề án "Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề trẻ em giai đoạn 2023 - 2027".

(10) Đề án "Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các tổ chức thanh thiếu nhi Việt Nam trong tình hình mới"./.

Ban Tuyên giáo Trung ương – Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh


02/12/2022 8:00 SAĐã ban hành
Chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử phải cung cấp thông tin cho cơ quan thuế từ quý IV/2022Chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử phải cung cấp thông tin cho cơ quan thuế từ quý IV/2022
Cục Thuế tỉnh Long An vừa có văn bản hướng dẫn các tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử cung cấp thông tin, theo quy định tại Nghị định số 91/2022/ND-CP.

Đối tượng phải cung cấp thông tin

Tổ chức là chủ sở hữu sàn thương mại điện tử có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định tại Nghị định số 91/2022/NĐ-CP là các thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo quy định tại Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ về thương mại điện tử.

Thời gian cung cấp thông tin

Quy định về cung cấp thông tin tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 91/2022/NĐ- CP có hiệu lực từ kỳ cung cấp thông tin của quý IV/2022, thời hạn chậm nhất vào ngày 31/01/2023. Đối với các kỳ cung cấp thông tin của các quý tiếp theo thì thời hạn chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng đầu quý sau. Trường hợp ngày cuối cùng trùng với ngày nghỉ, lễ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn cung cấp thông tin là ngày làm việc liền kề sau ngày nghỉ, lễ đó.

Nội dung cung cấp thông tin

Tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng hạn các thông tin chung của thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử  bao gồm: tên người bán hàng, mã số thuế hoặc số định danh cá nhân hoặc chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ, số điện thoại liên lạc.

Riêng đối với Sàn giao dịch thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến thì ngoài các thông tin chung nêu trên còn phải cung cấp thông tin về doanh thu bán hàng thông qua chức năng đặt hàng trực tuyến của sàn thương mại điện tử. Trường hợp sàn giao dịch thương mại điện tử không lưu giữ đầy đủ các thông tin chung nêu trên thì vẫn phải thực hiện việc cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, đúng hạn theo đúng thực tế thông tin lưu giữ tại Sàn giao dịch thương mại điện tử.

Đối với các kỳ cung cấp thông tin tiếp theo Sàn giao dịch thương mại điện tử có trách nhiệm yêu cầu thương nhân, tổ chức, cá nhân bổ sung để Sàn giao dịch thương mại điện tử cập nhật thông tin chung theo đúng quy định tại Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP để cung cấp cho cơ quan thuế theo quy định. Trường hợp tổ chức là chủ sở hữu sàn thương mại điện tử không cung cấp thông tin theo quy định thì cơ quan thuế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP.

Hình thức cung cấp thông tin

Việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng phương thức điện tử, qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế (thuedientu.gdt.gov.vn, truy cập vào "Cổng dữ liệu thông tin thương mại điện tử") theo định dạng dữ liệu do Tổng cục Thuế quy định tại Phụ lục Quy định về thành phần chứa dữ liệu nghiệp vụ tiếp nhận thông tin từ tổ chức là chủ sở hữu sàn thương mại điện tử  đính kèm công văn số 4205/TCT- DNNCN. Cổng dữ liệu thông tin thương mại điện tử dự kiến kích hoạt từ tháng 12/2022.

Quy trình cung cấp thông tin

Bước 1: Tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử sử dụng tài khoản giao dịch thuế điện tử đã được cấp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để thực hiện cung cấp thông tin.

Trường hợp Tổ chức bổ sung thông tin đăng ký truyền nhận tài khoản cung cấp thông tin qua Cổng dữ liệu thông tin điện tử Sàn thương mại điện tử thì thực hiện theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 19/2021/TT-BTC ngày 18/3/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

Trường hợp Tổ chức chưa được cấp tài khoản giao dịch thuế điện tử thì thực hiện đăng ký theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 19/2021/TT- BTC ngày 18/3/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế để cung cấp thông tin gửi Tổng cục Thuế.

Bước 2: Cung cấp thông tin gửi đến Tổng cục Thuế qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, Tổ chức có thể thực hiện một trong các cách sau:

Kê khai trực tiếp trên phần mềm hỗ trợ kê khai (HTKK), sau đó kết xuất file XML để gửi qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.

Tải file mẫu excel từ ứng dụng HTKK và nhập dữ liệu trên excel, sau đó nhận vào ứng dụng HTKK để kiểm tra dữ liệu và kết xuất file XML để gửi qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.

Kết xuất từ phần mềm của công ty ra file XML theo đúng định dạng dữ liệu do Tổng cục Thuế quy định sau đó nhận vào phần mềm HTKK để kiểm tra và kết xuất file XML để gửi qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế. 

Bước 3: Nhận thông báo của cơ quan thuế.

Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế sẽ thực hiện kiểm tra dữ liệu theo định dạng dữ liệu đã công bố và tiếp nhận dữ liệu, thông báo về việc tiếp nhận dữ liệu theo mẫu số 01-1/TB-TĐT ban hành kèm theo Thông tư số 19/2021/TT- BTC ngày 18/3/2021 của Bộ Tài chính. Trường hợp sau khi tiếp nhận, hệ thống quản lý thuế của ngành thuế nếu phát hiện dòng chi tiết có lỗi thì Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế thực hiện thông báo cụ thể về dòng thông tin lỗi và lý do lỗi để tổ chức là chủ sở hữu sàn thương mại điện tử cung cấp lại thông tin.

Bước 4: Tổ chức bổ sung, thay đổi thông tin lỗi, thông tin thiếu gửi cơ quan thuế.

Trường hợp tổ chức là chủ sở hữu sàn thương mại điện tử  có cung cấp thông tin bổ sung, thay đổi thông tin thì có thể thực hiện khai thay thế hoặc khai bổ sung thông tin. Trường hợp lựa chọn thay thế thì tổ chức cung cấp lại đầy đủ thông tin của cả trường hợp không có thay đổi, bổ sung. Trường hợp quản lý được sự thay đổi, bổ sung thì tổ chức lựa chọn khai bổ sung và chỉ cung cấp thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân có thay đổi, bổ sung.

Cục Thuế tỉnh Long An thông báo đến người nộp thuế được biết để thực hiện đúng theo quy định./.

TH


09/12/2022 12:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​