Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Tuyên Truyền

Liên kết

Website

 
Thông Tin Tuyên Truyền
 
I. KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ VĂN NGÂNĐồng chí Võ Văn Ngân sinh năm 1902, trong một gia đình nông dân yêu nước và có truyền thống cách mạng ở làng Đức Hòa, quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An). Thời niên thiếu, Võ Văn Ngân đã rất ham học hỏi và có tinh thần tự lực vươn lên. Ngay từ nhỏ, chứng kiến cảnh nư... 
 
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một chương lịch sử vô cùng vẻ vang, oanh liệt của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc kháng chiến đầy hy sinh khốc liệt đó, ở miền Nam, dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung ương Cục miền Nam trực tiếp lãnh đạo, tỉnh Long An đã vinh dự được đón nhận danh hiệu vẻ vang, cao quý: “ Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ”. 
 
Trong hai ngày 17 và 18/9/2022, tại huyện Vĩnh Hưng sẽ diễn ra giải Long An Marathon 2022 – Về Đồng Tháp Mười. Sự kiện do UBND tỉnh Long An, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, Tạp chí Nông thôn Việt phối hợp với UBND huyện Vĩnh Hưng và NTV Media tổ chức. 
 
Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội có văn bản tuyên truyền về việc tham gia, hưởng ứng Giải báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ V - năm 2022.  
 
Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chủ trì tổ chức phát động Cuộc thi “Tìm kiếm giải pháp Chuyển đổi số Quốc gia - Viet Solutions” năm 2022. 
 
Từ ngày 17/9/2022 đến ngày 21/9/2022, UBND tỉnh Long An tổ chức “Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022”, nhằm góp phần đưa du lịch Long An ngày càng phát triển; tạo điểm nhấn để phát triển du lịch gắn với việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên và làng nghề truyền thống. Tổ chức các hoạt động kích cầu, quảng bá, xúc tiến về tiềm năng, thế mạnh du lịch Long An với thông điệp “Du lịch Long An an toàn, thân thiện, hấp dẫn”. 
 
Cuộc thi trực tuyến Tìm hiểu 55 năm tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu “Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc” được tổ chức từ ngày 01/8/2022 đến ngày 15/8/2022. Dự kiến tổng kết và trao giải Cuộc thi vào đầu tháng 9/2022. 
 
Ngày 22/6/2022, UBND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 2366/UBND về việc hỗ trợ tuyên truyền đến thân nhân các mộ bị ảnh hưởng trong dự án di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quân Bình Tân. 
 
Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2022). Cổng thông tin điện tử tỉnh xin giới thiệu toàn văn nội dung Đề cương tuyên truyền. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2021)Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2021)

I-  NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG

Lịch sử Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng gắn liền với quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng cứu nước của các sĩ phu yêu nước và các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, mà sự kiện tạo ra bước ngoặt căn bản trong việc hình thành con đường cứu nước của dân tộc là khi Người đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin vào tháng 7/1920.

Những nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và các chiến sĩ cách mạng tiền bối trong việc truyền bá hệ tư tưởng Mác xít và tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng…  đã góp phần tích cực làm nên sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, đó là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.

Sau Hội nghị thành lập Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã thành lập Ban Cổ động và Tuyên truyền - cơ quan tham mưu, chỉ đạo công tác tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ trước mắt là tuyên truyền, giác ngộ quần chúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, về Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và đường lối cách mạng của Đảng; cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân giác ngộ cách mạng, hiểu Đảng, ủng hộ Đảng, tin và đi theo Đảng làm cách mạng.

Đặc biệt, ngày 1/8/1930, nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, Ban Cổ động và Tuyên truyền đã xuất bản tài liệu mang tên "Ngày quốc tế đỏ 1/8". Đây là Tài liệu duy nhất và sớm nhất còn lưu giữ đến nay đề rõ "Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành". Ngay sau khi phát hành, Tài liệu đã tạo được tiếng vang lớn, có sức cổ vũ mạnh mẽ quần chúng cách mạng nước ta đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức, bóc lột, phản đối chiến tranh xâm lược, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Từ đó, ngày 1/8 trở thành một mốc son lịch sử, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa đối với công tác tuyên giáo của Đảng.

Đánh giá cao sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt này, năm 2000, Bộ Chính trị (Khoá VIII) quyết định lấy ngày 1/8 hàng năm làm Ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng. Năm 2007, sau khi hợp nhất Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) quyết định lấy ngày 1/8 hằng năm làm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng.

Ngày 1/8/1930 được chọn là Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng nhưng trên thực tế, công tác tuyên giáo đã có từ trước khi thành lập Đảng, từ khi Nguyễn Ái Quốc bắt đầu các hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam.

II- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VẺ VANG CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUA 91 NĂM (1930 - 2021)

1. Công tác tuyên giáo đã góp phần xây dựng, phát triển phong trào cách mạng, khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám 1945, giành chính quyền về tay nhân dân (giai đoạn 1930 - 1945)

a. Cao trào cách mạng (1930 - 1931) và Xô Viết Nghệ Tĩnh

Ngay sau khi thành lập, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về việc thành lập Đảng và đường lối cách mạng của Đảng; phổ biến rộng rãi Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; đề ra nhiều khẩu hiệu phản ánh nguyện vọng bức thiết của quần chúng lao động…; qua đó đã làm dấy lên phong trào cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong cả nước. Hàng trăm cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, binh lính đã nổ ra quyết liệt trên nhiều tỉnh, thành phố, đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Công tác tuyên truyền trong nhân dân được tiến hành công khai, sâu rộng, mà trọng tâm là tuyên truyền các chính sách của cách mạng: xoá nợ, giảm tô, chia lại công điền cho nông dân, thủ tiêu mọi thứ thuế, ban bố các quyền dân chủ, xét xử bọn phản động, bài trừ hủ tục, tổ chức học văn hoá... Nhiều tờ báo của Đảng và các địa phương ra đời. Thơ ca cách mạng được lưu truyền. Sách, báo, tài liệu cách mạng được phổ biến rộng rãi.

Trọng tâm của công tác tư tưởng thời kỳ này là công tác tuyên truyền và đào tạo cán bộ tuyên huấn. Công tác tư tưởng tập trung giác ngộ chính trị cho đảng viên và quần chúng, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, chuyển tư tưởng yêu nước của nhân dân ta theo lập trường của giai cấp công nhân. Công tác tuyên truyền thường xuyên tố cáo tội ác của đế quốc và tay sai, chống lại các thủ đoạn lừa bịp của chúng, chống chủ nghĩa quốc gia cải lương; gắn chặt với cuộc đấu tranh hàng ngày của quần chúng đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, kết hợp các khẩu hiệu kinh tế với khẩu hiệu chính trị, thông qua đấu tranh mà nâng cao trình độ chính trị, rèn luyện đảng viên và quần chúng. Đối với cán bộ, đảng viên, công tác tư tưởng đã coi trọng việc giáo dục tính chất giai cấp của Đảng, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và phẩm chất đạo đức cách mạng, phân rõ ranh giới tư tưởng vô sản với các tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, giữ vững đường lối chính trị đúng đắn, quan điểm tư tưởng vô sản, chống các tư tưởng phi vô sản, đào tạo một đội ngũ cán bộ kiên cường, trung thành, tận tụy với cách mạng.

 

b. Đấu tranh chống khủng bố, khôi phục và phát triển phong trào cách mạng (giai đoạn 1932 - 1935)

Thời gian này, công tác tư tưởng đã được tiến hành kịp thời, sắc bén, bám sát thực tiễn, góp phần quan trọng ổn định tư tưởng cán bộ, đảng viên, nâng cao lòng tin vào lý tưởng và thắng lợi của cách mạng, đẩy lùi các hiện tượng bi quan, dao động; nêu gương sáng về tinh thần hy sinh, bất khuất vì lợi ích cách mạng của những người cộng sản; góp phần quan trọng vào việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng trước sự khủng bố tàn bạo của địch, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh rộng lớn hơn về sau.

c. Cuộc vận động dân chủ chống phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (giai đoạn 1936 - 1939)

Trong thời kỳ này, Trung ương Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ công tác báo chí, xuất bản, phát hành, huấn luyện, đào tạo cán bộ thông qua việc phát triển xuất bản sách báo công khai và chọn đảng viên có trình độ viết sách, viết bài; mỗi chi bộ lập"bình dân thư xã" mua và đọc sách, báo cách mạng; khuyến khích quần chúng mua và đọc sách, báo. Các cấp đảng bộ tái bản những tài liệu tuyên truyền của Trung ương, lập ra Ban huấn luyện chăm lo đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chính trị cho đảng viên và quần chúng. Nhiều tác phẩm văn hóa hiện thực phê phán ra đời. Phong trào Truyền bá quốc ngữ phát triển sâu rộng. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, ta đã giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử Viện dân biểu Bắc kỳ và Viện dân biểu Trung kỳ (1937 - 1938).

Công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng tạo ra một cao trào cách mạng sôi nổi, đây được coi là cuộc tổng diễn tập thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945; bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, đó là: đấu tranh cho tự do dân chủ, cải thiện đời sống và hoà bình, chống phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh; tạo điều kiện cho đường lối, chủ trương của Đảng đi sâu vào quần chúng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hoá dân tộc, cổ vũ mạnh mẽ khí thế của phong trào cách mạng, tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tiến bộ tham gia vận động cách mạng.

d. Cao trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám (giai đoạn 1939 - 1945)

Công tác tuyên giáo trong thời kỳ 1939 - 1945 đã gắn chặt và phục vụ thiết thực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ, khó khăn nhưng rất oanh liệt, vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Thông qua công tác tuyên giáo góp phần phát huy cao độ lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết, anh hùng, bất khuất của dân tộc, nổi dậy tự giải phóng mình khỏi ách nô lệ của đế quốc và tay sai. Đó là kịp thời truyền đạt các nhận định và chủ trương của Đảng, đưa ra những khẩu hiệu sát hợp hướng dẫn tư tưởng và hành động của quần chúng; đấu tranh sắc bén với các tư tưởng tự ti, nô lệ, các khuynh hướng sai lầm, rụt rè, do dự hoặc nóng vội, manh động… với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, thậm chí táo bạo như: tuyên truyền xung phong, tuyên truyền vũ trang, biểu tình vũ trang; cổ vũ nhân dân nổi dậy với khí thế mạnh mẽ áp đảo quân thù. Đó là góp phần bồi dưỡng, đào tạo hàng loạt cán bộ về chính trị, về kinh nghiệm tổ chức, phát động quần chúng, giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong cách mạng, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, quyết tâm đấu tranh cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đ­ường lối độc lập tự chủ và đầy sáng tạo của cách mạng Việt Nam; đồng thời cũng là thành tựu to lớn của công tác tuyên giáo trong việc tuyên truyền, vận động cách mạng, biến chủ nghĩa Mác - Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng thành phong trào cách mạng của quần chúng trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, phong kiến.

2. Công tác tuyên giáo tham gia huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (giai đoạn 1945 - 1954)

a. Tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng xã hội mới (giai đoạn 1945 - 1946)

Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám, chính quyền cách mạng mới ra đời gặp muôn vàn khó khăn. Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có ngành tuyên giáo, là đoàn kết toàn dân bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chống thù trong, giặc ngoài, góp phần đưa cách mạng tiến lên. Công tác tuyên giáo lúc này tập trung giáo dục ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, tự do; cổ vũ nhân dân thực hiện ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngay sau khởi nghĩa, Bộ Tuyên truyền được thành lập, tiếp quản các cơ sở tuyên truyền, báo chí của chế độ cũ. Các binh chủng chủ lực của công tác tuyên giáo lần lượt ra đời như Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã. Báo của Đảng, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chức đoàn thể đã được phát hành công khai, rộng rãi. Công tác tuyên truyền tập trung tố cáo âm mưu và tội ác của thực dân Pháp ở miền Nam, khơi dậy ý chí quyết tâm chống xâm lược, ủng hộ đồng bào miền Nam kháng chiến. Nhiều tỉnh thành trên cả nước diễn ra các cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược. Đặc biệt, các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ có nhiều hình thức động viên phong phú để quyên góp thuốc men, quần áo, vũ khí chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Hàng vạn thanh niên nô nức tham gia tòng quân, xung phong "Nam tiến". Tại Nam Bộ, công tác tuyên truyền được tiến hành sâu rộng nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng.

Tháng 11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc, xác định tính chất cách mạng nước ta và hai nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chế độ mới. Công tác tuyên truyền tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân, chống nạn mù chữ. Khắp nơi có khẩu hiệu "Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt", nhiều ca dao, hò vè được sáng tác để cổ vũ phong trào... Kết quả sau một năm, đã có 2 triệu người thoát nạn mù chữ.

Cuộc vận động xây dựng đời sống mới, giáo dục tinh thần yêu nước, đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính", chống các hủ tục, lạc hậu cũng được tuyên truyền sâu rộng. Nạn trộm cắp, cờ bạc, các hủ tục trong ma chay, cưới xin được xoá bỏ ở nhiều nơi, công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng, nhất là ca hát, thể dục thể thao phát triển rộng rãi.

Tháng l/1946, Chính phủ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức. Công tác tuyên truyền, vận động bầu cử thực sự là một cuộc đấu tranh gay gắt chống lại sự phá hoại của quân đội Tưởng và bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách ở miền Bắc, thực dân Pháp ở miền Nam. Với khẩu hiệu phổ biến mọi nơi là: "Tất cả cử tri tới thùng phiếu"; "Mỗi lá phiếu là một viên đạn diệt thù", công tác tuyên giáo đã góp phần giúp cuộc Tổng tuyển cử thành công, thu hút đại đa số cử tri đi bỏ phiếu bầu cho các ứng cử viên của Mặt trận Việt Minh, kể cả ở miền Nam dưới bom đạn của thực dân Pháp.

b. Động viên toàn dân kháng chiến, toàn quốc kháng chiến, thi đua yêu nước, giết giặc, lập công; đẩy mạnh cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới và đi tới thắng lợi quyết định (giai đoạn 1946 - 1954)

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ... đã có mặt trên các chiến trường nóng bỏng, phản ánh, động viên chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu, sản xuất của chiến sĩ, đồng bào cả nước. Thời gian này, công tác khoa giáo tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, vận động trí thức. Công tác tuyên huấn đã động viên phong trào thi đua yêu nước, diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Công tác tuyên truyền, cổ động tập trung nêu cao ý nghĩa chiến thắng Việt Bắc, phổ biến Lời kêu gọi ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống tư tưởng chủ quan, khinh địch, vạch trần âm mưu lập chính quyền bù nhìn Bảo Đại của thực dân Pháp, cổ vũ cho phong trào thi đua yêu nước trên mọi lĩnh vực kháng chiến, kiến quốc.

Năm 1954, quân ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Công tác tuyên giáo tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ và chiến sĩ ngoài mặt trận, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tích cực tiến công, ý chí quyết thắng, quyết tâm chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, khắc phục tư tưởng tiêu cực, ngại gian khổ hy sinh, uốn nắn tư tưởng chủ quan, khinh địch khi có thắng lợi, biểu dương các gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh. Qua đó góp phần quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng miền Bắc, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Điểm nổi bật của công tác tuyên truyền thời kỳ này là đã đi vào từng nhà, từng người; gắn tuyên truyền đường lối kháng chiến với cổ động hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể của kháng chiến từng thời kỳ, ở mọi lúc, mọi nơi…; thường xuyên biểu dương gương điển hình tiên tiến; mọi hoạt động văn học, nghệ thuật, giáo dục, báo chí… đều hướng vào phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ quần chúng đã phát triển mạnh mẽ; lĩnh vực khoa giáo được quan tâm và đẩy mạnh. Nhìn chung, trong kháng chiến chống Pháp, công tác tuyên giáo đã được triển khai mạnh mẽ, toàn diện, góp phần huy động sức mạnh của toàn dân tộc tham gia vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thắng lợi.

3. Công tác tuyên giáo đồng hành cùng nhân dân cả nước tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (giai đoạn 1954 - 1975)

a. Quán triệt và thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở miền Nam (giai đoạn 1954 - 1960)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7/1954) và Nghị quyết Bộ Chính trị về khôi phục kinh tế, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, công tác tuyên huấn đã giúp cấp ủy tổ chức lực lượng tuyên truyền sâu rộng các chính sách của Chính phủ đối với vùng mới giải phóng; vạch trần luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của địch, vận động đồng bào tham gia đấu tranh thực hiện tốt công tác tiếp quản. Biểu dương các phong trào "Nhường cơm sẻ áo", "Một miếng khi đói bằng một gói khi no"… tác động tích cực đến quần chúng. Tập trung quán triệt và giúp cấp ủy đảng triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, kế hoạch của Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường tổ chức học tập lý luận Mác - Lênin cho cán bộ, đảng viên; giáo dục giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho đảng viên; về hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội…

Giai đoạn này, công tác tuyên giáo đóng vai trò trọng yếu trong việc khơi dậy ý chí, tri thức và sức mạnh trong quần chúng, cổ vũ mạnh mẽ các phong trào thi đua như Gió Đại PhongSóng Duyên Hải, Tiếng trống Bắc LýCờ Ba nhất… Đây cũng là giai đoạn công tác tuyên giáo đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trên lĩnh vực khoa giáo, như: giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân…

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ củng cố miền Bắc, công tác tuyên giáo đã động viên phong trào quần chúng ủng hộ, cổ vũ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, phản đối Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp khủng bố đồng bào miền Nam, phá hoại hiệp thương, tổng tuyển cử, động viên phong trào đấu tranh chính trị, tiến tới Đồng khởi ở miền Nam.

b. Đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (giai đoạn 1961 - 1965)

Công tác tuyên giáo tập trung tuyên truyền, vận động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Nhiều điển hình xuất sắc xuất hiện trong phong trào quần chúng đã trở thành ngọn cờ cổ vũ phong trào thi đua như: Gió Đại PhongSóng Duyên Hải, Tiếng trống Bắc LýCờ Ba nhất …

Trong những năm 1960 - 1964, nhân dân miền Nam đã đồng khởi nổi dậy và đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, công tác tư tưởng đã luôn chú trọng tới việc quán triệt phương hướng, nhiệm vụ, phương châm đấu tranh trong tình hình mới; coi trọng việc phổ biến những kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời tích cực tham mưu, đề xuất Đảng, Nhà nước phát động phong trào thi đua "Dũng sĩ diệt Mỹ", nâng cao quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

c. Miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu, chi viện cho miền Nam, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà (giai đoạn 1965 - 1975)

Với mục tiêu đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng trong việc động viên quân dân miền Bắc chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và tích cực chi viện cho miền Nam. Các phong trào văn hóa - văn nghệ phát triển mạnh; công tác xây dựng Đảng về tư tưởng kịp thời chuyển hướng để bảo đảm yêu cầu lãnh đạo quân dân ta thực hiện tốt những nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc: tăng cường hơn nữa công tác giáo dục đảng viên, học tập kết hợp chặt chẽ với phê bình và tự phê bình, phát huy tính tiền phong, gương mẫu; công tác tuyên truyền đối ngoại được tăng cường, tích cực tranh thủ các diễn đàn quốc tế, thông qua các hoạt động ngoại giao, nêu cao tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Thành công của công tác tuyên giáo giai đoạn này là tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái lao động, sản xuất, chiến đấu. Miền Bắc, công tác tuyên giáo tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, như "Vì miền Nam ruột thịt", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", chi viện đắc lực sức ng­ười, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, động viên lớp lớp thanh niên hăng hái lên đường đánh giặc với tinh thần "Xẻ dọc Tr­ường Sơn đi cứu n­ước". Với miền Trung, tập trung tuyên truyền, khơi dậy lòng yêu nước và truyền thống cách mạng, tất cả một lòng "Xe cho qua, nhà không tiếc; Đư­ờng ch­o thông, không tiếc máu x­ương".  Ở miền Nam, công tác tuyên giáo đã cổ vũ quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang ở khắp mọi nơi, trên cả ba vùng: vùng núi, đồng bằng và đô thị; khơi dậy lòng căm thù giặc, bồi dưỡng lòng yêu nư­ớc, tinh thần dũng cảm, không quản ngại hy sinh, tạo nên nhiều phong trào thi đua giết giặc, lập công: "Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công", "Xuống đường đòi tự do, dân chủ", "Hát cho đồng bào tôi nghe"… Sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đã được chuyển hóa bằng thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã lãnh đạo công tác tuyên giáo thực hiện cuộc vận động chính trị nhằm quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Với ý chí "không có gì quý hơn độc lập tự do", thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước của toàn dân tộc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Công tác tuyên giáo đã thành công trong việc bồi dưỡng ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

4. Công tác tuyên giáo trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (giai đoạn 1975 - 2021)

a. Thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế (giai đoạn 1975 - 1985)

Đất n­ước vừa trải qua 30 năm chiến tranh, phải đối phó với các cuộc chiến tranh biên giới, bị đế quốc Mỹ và các thế lực đế quốc bao vây cấm vận, kinh tế - xã hội nư­ớc ta lâm vào khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, công tác tuyên giáo đã tập trung động viên các tầng lớp nhân dân nêu cao ý chí khắc phục khó khăn, quyết tâm vư­ợt qua thử thách, nhanh chóng thực hiện thống nhất đất nư­ớc; cổ vũ khí thế phấn đấu nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc, từng bư­ớc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu quan trọng của đất nư­ớc, tạo điều kiện cho các b­ước phát triển tiếp theo. Đặc biệt là qua thực tiễn, đã từng b­ước chuẩn bị lý luận cho công cuộc đổi mới đất n­ước.

b. Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (giai đoạn 1986 - 2021)

Tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta khởi xư­ớng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất n­ước. Kể từ đó đến nay đã 35 năm, nhiệm vụ, chức năng là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, tham mưu giúp các cấp ủy đảng trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, về chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, lý luận chính trị, lịch sử Đảng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, thông tin đối ngoại, khoa giáo; công tác tuyên giáo đã đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện sự nghiệp đổi mới và đã đạt được những thắng lợi bước đầu. Sự đóng góp của công tác tuyên giáo được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nổi bật, đó là:

+ Tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.

+ Củng cố niềm tin, niềm tự hào về Đảng, về đất nước và con người Việt Nam; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

+ Góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng chăm lo và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

+ Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội an toàn, lành mạnh, xây dựng con người mới Việt Nam.

Đặc biệt là trong 5 năm trở lại đây, công tác tuyên giáo từ Trung ương đến địa phương đã có sự chuyển biến sâu sắc và đạt được những kết quả nổi bật, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Cụ thể:

- Công tác tham mưu giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các lĩnh vực công tác tuyên giáo ngày càng chủ động, nhạy bén, sáng tạo, sát với yêu cầu của thực tiễn. Toàn Ngành đã chủ động tham mưu tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương ban hành trong nhiệm kỳ; nghiên cứu, tham mưu có chất lượng nhiều vấn đề quan trọng trên lĩnh vực tuyên giáo, đồng thời phục vụ tích cực cho việc xây dựng, ban hành, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy địa phương để tháo gỡ khó khăn, bất cập cũng như những định hướng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tuyên giáo trong tình hình mới.

Việc tham mưu, đề xuất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đặc biệt là việc biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương "người tốt, việc tốt" trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục, với nhiều nội dung và cách làm mới, đã tạo sức lan toả sâu rộng trong xã hội, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị.

+ Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống, đạo đức, lối sống trong các trường phổ thông; công tác lý luận, giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề được chú trọng, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được chủ động triển khai, ngày càng nền nếp, bài bản hơn. Công tác triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức. Việc tổ chức học tập, quán triệt triển khai thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 khóa XII được đổi mới từ chỗ học tập, quán triệt bằng hình thức trực tiếp thì nay được kết hợp phương pháp trực tuyến với nội dung ngắn gọn, súc tích, giúp cho cán bộ, đảng viên nắm vững, hiểu rõ những nội dung cơ bản, cốt lõi của các nghị quyết; thời gian tổ chức sớm hơn, nội dung thảo luận, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết khả thi hơn, sát hợp hơn với thực tế địa phương, đơn vị.

Toàn Ngành đã chú trọng tìm tòi, đổi mới nội dung và phương thức tham mưu về công tác lý luận chính trị; tập trung chỉ đạo, định hướng các cơ quan, đơn vị chức năng nghiên cứu một số vấn đề về đường lối, chính sách, phương thức lãnh đạo, thực hiện dân chủ trong Đảng; khẳng định và làm rõ một số giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thống yêu nước tiếp tục được coi trọng và tăng cường, từng bước được đổi mới, đa dạng về nội dung và phương thức. Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống và nghiên cứu, biên soạn và xuất bản sách lịch sử Đảng được cấp ủy các cấp quan tâm triển khai.

+ Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội có nhiều đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của thực tiễn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng tuyên truyền được coi trọng, tập trung chỉ đạo sâu sát, kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt, triển khai các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không ngừng đổi mới theo hướng chủ động, sáng tạo, hiệu quả; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử quan trọng; tuyên truyền kinh tế - xã hội; tuyên truyền quốc phòng, an ninh có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức tạo sức lan tỏa trong xã hội. Công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên cũng đã được ban tuyên giáo các cấp chú trọng và thực hiện có hiệu quả. Công tác chỉ đạo, định hướng tuyên truyền trên internet, mạng xã hội được quan tâm. Việc chỉ đạo, định hướng thông tin tuyên truyền trên báo chí được đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt, từng bước tạo lập môi trường thông tin trong sạch, lành mạnh trên báo chí và trên không gian mạng. Công tác sắp xếp, quy hoạch báo chí được thực hiện đồng bộ với nhiều phương pháp hiệu quả. Công tác nắm bắt, điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội từng bước được đổi mới theo hướng chủ động, sớm và sát thực tiễn hơn; nhất là trước các vấn đề phức tạp, nhạy cảm mà đông đảo nhân dân quan tâm.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa - văn nghệ bám sát nhiệm vụ chính trị, đúng định hướng, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước và từng địa phương.

Công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực, ngày càng đi vào chiều sâu; thông tin về thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đường lối đối ngoại; quảng bá văn hóa, hình ảnh Việt Nam ra thế giới; về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam; các vấn đề chủ quyền biên giới lãnh thổ, vấn đề Biển Đông, tôn giáo, dân tộc, dân chủ nhân quyền... được tăng cường.

+ Công tác tham mưu trên các lĩnh vực khoa giáo ngày càng chủ động, có nhiều chuyển biến quan trọng. Ngành Tuyên giáo đã tập trung chỉ đạo, định hướng chính trị trong triển khai các nội dung, nhiệm vụ công tác khoa giáo như: đổi mới giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường; phòng chống thiên tai, dịch bệnh; phát triển y tế, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, bình đẳng giới. Chủ động tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nghị quyết chỉ thị, nghị quyết này trong tình hình mới.

+ Công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng hiệu quả. Chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống âm mưu "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa có chuyển biến tích cực, rõ nét hơn so với trước; nhất là việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc, phản bác quan điểm sai trái thù địch, xuyên tạc trên Internet, mạng xã hội và tăng cường cung cấp thông tin chính thống, tổ chức đối thoại, định hướng thông tin trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm.

III- SỰ TRƯỞNG THÀNH, LỚN MẠNH CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUA 91 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

1. Hệ thống tuyên giáo các cấp ngày càng được củng cố, kiện toàn; đội ngũ cán bộ tuyên giáo không ngừng phát triển về số lượng, lớn mạnh về chất lượng

Trải qua 91 năm, công tác tuyên giáo của Đảng ngày càng khẳng định sự trưởng thành, phát triển và lớn mạnh không ngừng.

Tổ chức bộ máy hệ thống tuyên giáo cấp ủy đảng các cấp từng bước được đổi mới, kiện toàn chất lượng hoạt động ngày một được nâng lên. Đến nay, đã có 659 Ban Tuyên giáo quận, huyện, thị uỷ; 42 tỉnh, thành phố thành lập được hệ thống tuyên giáo cơ sở xã, phường, thị trấn (65%), một số tỉnh, thành ủy đang tiến hành xây dựng, nhiều nơi đang triển khai thực hiện thí điểm thành lập hệ thống tuyên giáo xã, phường, thị trấn.

Đội ngũ cán bộ tuyên giáo giai đoạn đầu còn ít, lực lượng cán bộ "mỏng", qua mỗi thời kỳ cách mạng, lực lượng ấy ngày càng đông về số lượng, mạnh về chất lượng. Hiện nay, tổng số cán bộ tuyên giáo chuyên trách của cấp ủy đảng từ Trung ương đến cấp huyện và tương đương trên cả nước là khoảng trên 3.800 người (cấp Trung ương: 319 người; cấp tỉnh, thành ủy: khoảng 1.200 người; cấp quận huyện, thị: 2.300 người). Lực lượng cán bộ tuyên giáo ngày càng đông đảo, không chỉ có đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo của cấp ủy, mà còn có đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, các phóng viên, biên tập viên báo chí, các chuyên gia, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, trí thức, cùng đông đảo đội ngũ cộng tác viên. Tính đến cuối năm 2019, chỉ tính riêng đội ngũ Báo cáo viên Trung ương đã có 490 người. Số lượng Báo cáo viên cấp tỉnh và tương đương là 3.945 người, Báo cáo viên cấp huyện và tương đương là 39.107 người; tuyên truyền viên ở cơ sở là 179.094 người (số liệu năm đến tháng 10/2017). Số cộng tác viên dư luận xã hội trên cả nước là 17.398 người (trong đó cấp Trung ương: 60 người; cấp tỉnh: 1.953 người; cấp huyện: 15.445 người).

Nhìn chung, các lực lượng, binh chủng làm công tác tuyên giáo ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên giáo đều là những đồng chí có năng lực, đạo đức, tâm huyết, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, có năng lực, kiến thức chuyên môn, hiểu biết nghiệp vụ, trách nhiệm với công việc; nhiều đồng chí có bề dày kinh nghiệm, đã trải qua nhiều chức vụ lãnh đạo, công tác ở nhiều lĩnh vực (cấp ủy, chính quyền, đoàn thể).

Trong bối cảnh hiện nay, xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng mới, xu thế thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch không ngừng chống phá quyết liệt bằng mọi thủ đoạn, phương thức nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta; đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo ngày càng khẳng định bản lĩnh tư tưởng, năng lực tham mưu mới, sáng tạo, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Thành công của cách mạng Việt Nam luôn có sự đóng góp thiết thực, hiệu quả của đội ngũ cán bộ tuyên giáo chuyên trách và bán chuyên trách các cấp qua mọi giai đoạn cách mạng.

2. Ngành Tuyên giáo ngày càng thể hiện tính chủ động, tính chiến đấu, vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp đổi mới xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế

Công tác tham mưu của ngành Tuyên giáo với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy Đảng mang tầm chiến lược và ngày càng thực hiện tốt vai trò đi trước mở đường, đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trở thành hiện thực trong đời sống xã hội.

Nội dung, phương thức công tác tuyên giáo đổi mới, sát với yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn; chất lượng, hiệu quả ngày càng được nâng lên; tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cán bộ tuyên giáo các cấp ngày càng được phát huy. Công tác tư tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử đã có bước đổi mới tích cực, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong xã hội với tinh thần "lấy cái đẹp, dẹp cái xấu". Công tác tư tưởng, tuyên giáo ngày càng nhanh nhạy đi trước mở đường, khắc phục căn bản tình trạng "chạy theo, nói lại", "tầm chương trích cú". Đặc biệt, đã sớm phát hiện và chủ động chỉ đạo, định hướng tuyên truyền những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, như vấn đề xây dựng Luật Đặc khu, vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, vấn đề Formosa, vụ việc cá chết ở Hồ Tây…

Công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được chú trọng đẩy mạnh, đạt hiệu quả thiết thực; việc đấu tranh, phản bác các quan điểm, sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dần đi vào nền nếp và hoạt động ngày càng hiệu quả. Từ chỗ mới chỉ có một số bài viết đấu tranh nhỏ lẻ, rải rác trên báo chí; đến nay, ngành Tuyên giáo đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn, phản bác quan điểm sai trái, thù địch; bước đầu kết hợp hài hòa các biện pháp kỹ thuật, pháp lý, kinh tế và tuyên truyền, giáo dục để ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, quan điểm xấu độc nhất là trên không gian mạng, làm lành mạnh hóa môi trường thông tin truyền thông, internet và mạng xã hội.

Qua mỗi giai đoạn cách mạng, ngành Tuyên giáo không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, nhạy bén, đổi mới công tác tham mưu, không ngừng sáng tạo, tự làm mới mình, bắt kịp sự phát triển thời đại công nghệ 4.0, tổ chức triển khai các nhiệm vụ đồng bộ, bài bản có trọng tâm, trọng điểm, góp phần quan trọng trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước, lao động, sáng tạo, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, giữ vững ổn định kinh tế chính trị, trật tự an toàn xã hội.

IV- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy để chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch trọng tâm hàng năm; nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, tăng cường công tác dự báo để chủ động tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy giải quyết tốt, đúng và trúng các vấn đề, các sự việc diễn ra, nhất là các vấn đề, sự việc có tính chất phức tạp, nhạy cảm.

Hai là, luôn xác định tinh thần trực chiến trên mặt trận tư tưởng của Đảng; đối diện, không né tránh những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động công tác tuyên giáo; nâng cao tính chủ động, sáng tạo và nhạy bén chính trị, để tham mưu đúng và trúng những giải pháp xử lý các vấn đề mới, khó, phức tạp, cũng như những vấn đề thường xuyên thuộc lĩnh vực công tác tuyên giáo ở mỗi thời điểm, địa bàn cụ thể.

Ba là, quan tâm đầu tư, tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh vững vàng, nhạy bén chính trị, có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết, có khả năng tập hợp, đoàn kết, thuyết phục quần chúng. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo cần được xây dựng theo hướng chuyên sâu, có cơ cấu hợp lý, có tính ổn định tương đối, bộ máy tinh gọn để nâng cao hiệu quả công việc. Ưu tiên chuẩn hóa nghiệp vụ và hiện đại hóa phương tiện tác nghiệp của đội ngũ cán bộ tuyên giáo để luôn đáp ứng yêu cầu mới.

Bốn là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị làm công tác tuyên giáo; tăng cường phối hợp giữa ngành Tuyên giáo với các ban, bộ, ngành, địa phương.

Năm là, chủ động, kiên quyết phản bác có cơ sở khoa học và sức thuyết phục các quan điểm sai trái, thù địch nhất là đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội; vừa tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông mới phục vụ cho công tác tuyên giáo.         

2. Nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tuyên giáo trong thời gian tới

(1). Chủ động bám sát, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, thực hiện tốt chức năng định hướng chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, quan tâm phát hiện những điểm mới trong đời sống xã hội, nâng cao chất lượng tham mưu các cấp ủy đảng trong từng lĩnh vực công tác tuyên giáo. Triển khai và thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

(2). Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; nâng cao chất lượng việc tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả, khả thi. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc tổ chức học tập, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng.

(3). Thể hiện rõ vai trò tiên phong, chủ lực trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; gắn nhiệm vụ xây dựng Đảng với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

(4). Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tuyên giáo; lấy cơ sở lý luận và thực tiễn để tăng khoa học, tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác tuyên giáo. Bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo theo kế hoạch chung của toàn Ngành, phát huy hơn nữa tính chủ động, sáng tạo của tuyên giáo các cấp, các lĩnh vực, các địa phương. Tăng cường sự phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề nổi cộm, Nhân dân quan tâm".

(5). Nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Từ đó, chủ động dự báo tình hình, lên các phương án kế hoạch công tác tư tưởng, không để bùng phát thành "điểm nóng".

(6). Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường tính chiến đấu, tính hiệu quả và tính thuyết phục, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn đất nước. Tiếp tục chỉ đạo và tổ chức tốt công tác tuyên truyền thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các sự kiện trọng đại của đất nước năm 2020, đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng; tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, đồng thuận trong xã hội, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

(7). Đổi mới sâu sắc, quyết liệt hơn nữa công tác định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại; chú trọng công tác tham mưu thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo,dạy nghề, khoa học, công nghệ, y tế, thể dục, thể thao, dân số, gia đình, trẻ em..; góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người và tiềm lực khoa học, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

(8). Chỉ đạo quyết liệt công tác đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới".

(9). Động viên, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt, các nhân tố tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội gắn với thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Xây dựng ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, tạo đà quan trọng thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng.

(10). Tổ chức đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tuyên giáo từ Trung ương đến cơ sở, dự kiến nhu cầu, chủ động tạo nguồn và triển khai kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ, tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị "về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức" và Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".

                                                         ***                                                        

91 năm qua, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, công tác tuyên giáo đã có những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, là niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và nhất là thế hệ những cán bộ đã và đang công tác trong ngành Tuyên giáo. Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống của ngành Tuyên giáo là dịp để chúng ta cùng ôn lại và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của ngành Tuyên giáo; bồi đắp thêm niềm tự hào về những đóng góp to lớn, có ý nghĩa lịch sử của ngành Tuyên giáo trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; củng cố và tăng cường niềm tin vào mục tiêu lý tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, đây cũng là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động ngành Tuyên giáo ra sức phấn đấu, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị, biểu thị quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An


26/07/2021 10:00 SAĐã ban hành
Số điện thoại đường dây nóng của Long An về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19Số điện thoại đường dây nóng của Long An về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19
Sở Y tế tỉnh Long An thông báo số điện thoại đường dây nóng về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19, như sau:

5-2-2020--duong-day-nong-1.jpg

5-2-2020--duong-day-nong-2.jpg

05/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
Không có lăng quăng, không có sốt xuất huyếtKhông có lăng quăng, không có sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút Dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Đến nay, bệnh sốt xuất huyết chưa có vắc xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, biện pháp phòng bệnh chủ yếu và hiệu quả nhất là diệt muỗi, diệt lăng quăng và phòng muỗi đốt.

Để bảo vệ sức khỏe gia đình, bản thân và mọi người xung quanh, Bộ Y tế kêu gọi người dân mỗi tuần hãy dành ra 10 phút diệt lăng quăng và thực hiện các biện pháp phòng bệnh như sau:

Kiểm tra, phát hiện và diệt lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt bằng cách thường xuyên xúc rửa, đậy nắp kín hồ và các vật dụng chứa nước, thả cá để tiêu diệt lăng quăng.

Thường xuyên thay nước ở các bình bông, thả muối hoặc hóa chất diệt lăng quăng vào chén nước kê chân tủ chứa thức ăn, tủ chén, hồ cảnh, hòn non bộ, khay nước thải tủ lạnh....

Loại bỏ các vật liệu phế thải, hốc nước tự nhiên, lật úp các vật dụng có thể chứa nước không sử dụng để không cho muỗi đẻ trứng.

Ngủ mùng phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày, mặc quần áo dài tay, dùng bình xịt muỗi, nhang muỗi, kem xua muỗi, vợt điện muỗi để diệt muỗi và phòng muỗi đốt. 

Tích cực phối hợp với ngành y tế trong các chiến dịch diệt lăng quăng và các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.

Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị, không tự ý điều trị tại nhà./.

TH


29/06/2022 8:00 SAĐã ban hành
Lợi ích tiêm vắc xin phòng COVID-19 mũi 4Lợi ích tiêm vắc xin phòng COVID-19 mũi 4
Vì sao cần tiêm vắc xin phòng COVID-19 nhắc lại lần 2 (mũi 4)?

Giống như nhiều loại vắc xin khác, những người đã tiêm vắc xin phòng COVID-19 đầy đủ và đúng hạn sẽ được bảo vệ tốt nhất. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của biến thể Omicron và sự giảm dần khả năng bảo vệ sau tiêm vắc xin theo thời gian (đặc biệt là đối với một số nhóm đối tượng nguy cơ). Do đó, nhằm tăng cường miễn dịch phòng bệnh COVID-19 cho những người đã được tiêm chủng, Bộ Y tế đã chỉ đạo về việc tiêm vắc xin phòng COVID-19 nhắc lại lần 2 (mũi 4) cho người dân.

Trong thời gian qua, vắc-xin phòng COVID-19 đã cho thấy hiệu quả trong việc bảo vệ mọi người trong việc giảm khả năng bệnh nặng, tránh nhập viện, thậm chí là ngăn ngừa tử vong do COVID-19, đặc biệt ở những người đã tiêm mũi nhắc lại. Trên thế giới, một số quốc gia đã triển khai tiêm các liều tăng cường bổ sung ngoài liều tăng cường đầu tiên (mũi 3).

Theo tổng hợp từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện tại có 7 nghiên cứu về hiệu quả mũi 4 vắc xin phòng COVID-19. Trong đó, 6 nghiên cứu từ Israel và 1 nghiên cứu từ Canada. Tất cả đều được tiến hành trong thời gian mà Omicron là biến thể lưu hành phổ biến trên toàn cầu. Mặc dù các nghiên cứu khác nhau về thiết kế và dân số được điều tra nhưng hầu hết đều đánh giá mũi 4 vắc xin phòng COVID-19 là có hiệu quả.

Cụ thể, trong số 7 nghiên cứu điều tra việc sử dụng liều vắc xin mRNA COVID-19, có 2 nghiên cứu được thực hiện trên nhân viên y tế ở Israel. Kết quả của nghiên cứu thứ nhất cho thấy rằng vắc-xin đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch mạnh mẽ (cả kháng thể IgG và kháng thể trung hòa) đều tăng gấp 9 hoặc 10 lần và vắc xin không gây ra tác dụng phụ nào lớn cho đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu thứ hai đã khảo sát những trường hợp nhiễm COVID-19 sau tiêm vắc xin ở những nhân viên y tế được tiêm 3 mũi vắc xin Pfizer-BioNTech và đưa ra so sánh với những người được tiêm mũi 4 vắc xin này. Kết quả cho thấy ở những người được tiêm mũi 4 đã giảm tỷ lệ mắc COVID-19 sau tiêm vắc xin so với tỷ lệ được quan sát thấy chỉ sau mũi 3 của vắc xin này.

Trong số năm nghiên cứu còn lại, tất cả đều được thực hiện ở những người trên 60 tuổi, không bao gồm những người đã nhiễm COVID-19 trước đó cho thấy mũi 4 vắc xin có hiệu quả. Trong số đó, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tỷ lệ mắc COVID-19 nặng một tháng sau mũi 4 thấp hơn 3,5 lần so với ở nhóm tiêm 3 liều. Nghiên cứu cuối cùng được thực hiện tại Canada cho thấy rằng với mỗi liều bổ sung, hiệu quả vắc xin tăng lên đối với bệnh nặng. Cụ thể hiệu quả vắc xin tuyệt đối là 82% (KTC 95%: 75-88%) được đo hơn 84 ngày sau liều thứ ba và 92% (KTC 95%: 87-95%) đối với người nhận lliều thứ 4.

Đối tượng nào được tiêm vắc xin phòng COVID-19 nhắc lại lần 2 (mũi 4)?

Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC Hoa Kỳ) khuyến nghị tiêm nhắc mũi 4 vắc xin Pfizer-BioNTech hoặc Moderna COVID-19 ít nhất 4 tháng sau lần tiêm nhắc lại đầu tiên cho các đối tượng gồm người lớn từ 50 tuổi trở lên; Những người từ 12 tuổi trở lên bị suy giảm miễn dịch vừa phải hoặc nghiêm trọng.

Theo đó, ngày 9/5/2022, Bộ Y tế cũng đã có văn bản số 2357/BYT-DP chỉ đạo về việc triển khai tiêm vắc xin phòng COVID-19 liều nhắc lại lần 2 (mũi 4) như sau:

Đối tượng tiêm: Người từ 50 tuổi trở lên, người từ 18 tuổi trở lên có suy giảm miễn dịch từ thể vừa đến thể nặng, người từ 18 tuổi trở lên thuộc nhóm nguy cơ cao phơi nhiễm với COVID-19: cán bộ y tế, cán bộ tuyến đầu, công nhân các khu công nghiệp.

Vắc xin sử dụng: Vắc xin mRNA (của hãng Pfizer hoặc Moderna sản xuất), vắc xin do Astra Zeneca sản xuất, vắc xin cùng loại với mũi 3.

Khoảng cách: Ít nhất là 4 tháng sau mũi 3.

Người đã mắc COVID-19 sau tiêm mũi 3: Hoãn 3 tháng sau khi mắc COVID-19.

Theo Bộ Y tế, vắc xin phòng COVID-19 chính là chìa khóa quan trọng nhất trong phòng, chống dịch và là nền tảng để thích ứng an toàn, hiệu quả. Do đó, mỗi chúng ta hãy tiêm vắc xin theo hướng dẫn của ngành y tế.

 TH


10/06/2022 11:00 SAĐã ban hành
Long An tăng cường công tác phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và ZikaLong An tăng cường công tác phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika
Để chủ động phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika, ngày 13/8, UBND tỉnh Long An có công văn số 4881/UBND-VHXH yêu cầu các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã Kiến Tường, TP.Tân An tăng cường công tác phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika.

Đặc điểm chung của bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika là đều có cùng tác nhân gây bệnh do muỗi Aedes gây ra. Ảnh minh họa

Theo báo cáo của Công an tỉnh, từ ngày 19 đến ngày 22/7/2020, tại tỉnh Banteay Meanchey - Campuchia đã ghi nhận khoảng 100 người mắc bệnh do virus Chikungunya gây ra. Đến ngày 01/8/2020, đã có 1.020 người bị nhiễm tại 12 tỉnh, thành của Campuchia gồm Banteay Meanchey, Siem Reap, Preah Vihear, Kampong Chain, Tbong Khmum, Ta Keo, Kampot, Preah Sihnouk, Oddar Meanchey, Pursat, Pailin và Stung Treng.

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), Chikungunya là bệnh do virus được lây truyền sang người qua trung gian là muỗi Aedes nhiễm bệnh. Triệu chứng phổ biến của bệnh là sốt, đau khớp nghiêm trọng, đau cơ, nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi và phát ban; các biểu hiện lâm sàng của bệnh này giống như bệnh sốt xuất huyết và Zika. Dịch bệnh Chikungunya đã lây lan nhanh sang 12 tỉnh, thành phố tại Campuchia và có khả năng tiếp tục lan rộng sang các địa phương khác (trong đó có 3 tỉnh giáp biên giới với Việt Nam là Tbong Khmum, Ta Keo, Kampot).

Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh cũng đang diễn biến phức tạp. Theo thống kê của Sở Y tế, từ đầu năm đến ngày 04/8/2020 số ca mắc sốt xuất huyết ghi nhận được là 1.083 ca, giảm 52,6% so với cùng kỳ năm 2019 (2.911 ca). Tuy nhiên, thời gian gần đây số mắc sốt xuất huyết đã gia tăng nhanh tại 15/15 huyện, thị xã, thành phố. Các ca bệnh chủ yếu tập trung tại các huyện: Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc và thành phố Tân An (chiếm 71% số ca mắc của toàn tỉnh), trong đó, riêng địa bàn huyện Đức Hòa đã ghi nhận 313 ca, chiếm 29% tổng số ca mắc trên toàn tỉnh.

Đặc điểm chung của bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika là đều có cùng tác nhân gây bệnh do muỗi Aedes gây ra.

Trước tình hình trên, nhằm chủ động triển khai các giải pháp phòng, chống hiệu quả bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika, quyết tâm khống chế dịch bệnh, hạn chế thấp nhất số ca mắc trong thời gian tới, UBND tỉnh có công văn số 4881/UBND-VHXH yêu cầu các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã Kiến Tường, TP.Tân An tăng cường công tác phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika.

Tại đây, UBND tỉnh yêu cầu các địa phương xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết, Zika, đặc biệt là vùng có nguy cơ cao, kịp thời phát hiện bệnh và xử lý ngay, không để dịch bệnh bùng phát, lan rộng, kéo dài.

Đối với Sở Y tế, UBND tỉnh yêu cầu theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình dịch bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết, Zika, kịp thời tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh đạt hiệu quả, phù hợp với diễn biến tình hình trên địa bàn tỉnh và khả năng xâm nhập dịch bệnh từ nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là trên tuyến biên giới của tỉnh. Đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường công tác truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh cá nhân.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, đoàn thể tùy theo chức năng thực hiện tốt công tác phòng, chống bệnh Chikungunya, sốt xuất huyết và Zika./.

Theo Báo Long An online

http://baolongan.vn/long-an-tang-cuong-cong-tac-phong-chong-benh-chikungunya-sot-xuat-huyet-va-zika-a100475.html


14/08/2020 6:00 SAĐã ban hành
Cuộc thi trực tuyến Tìm hiểu 55 năm tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” diễn ra từ ngày 01/8/2022 đến ngày 15/8/2022Cuộc thi trực tuyến Tìm hiểu 55 năm tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” diễn ra từ ngày 01/8/2022 đến ngày 15/8/2022
Cuộc thi trực tuyến Tìm hiểu 55 năm tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu “Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc” được tổ chức từ ngày 01/8/2022 đến ngày 15/8/2022. Dự kiến tổng kết và trao giải Cuộc thi vào đầu tháng 9/2022.

Đối tượng dự thi bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, người lao động, đoàn viên công đoàn đang công tác tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; học sinh, sinh viên và nhân dân trên địa bàn tỉnh Long An.

Cuộc thi được tổ chức theo hình thức thi trực tuyến tại địa chỉ: https://myaloha.vn/ct/Y75ZUU. Bộ câu hỏi trắc nghiệm có tổng số 100 câu để thí sinh chọn ra 30 câu trả lời đúng. Thí sinh tham gia trả lời các câu hỏi trên máy vi tính hoặc các thiết bị điện tử khác có kết nối internet (máy tính bảng, điện thoại thông minh).

Cuộc thi được tổ chức nhằm thiết thực kỷ niệm 55 năm ngày tỉnh Long An được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc". Thông qua cuộc thi giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hiện nay tự hào về những giá trị lịch sử, truyền thống của tỉnh Long An đồng thời củng cố và bồi đắp bản lĩnh chính trị, niềm tin, lý tưởng cách mạng. Khơi dậy niềm tự hào, tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực phấn đấu, rèn luyện không ngừng của cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Nội dung thi thiết thực với những câu hỏi trắc nghiệm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ về nội dung các tài liệu lịch sử về Long An (giai đoạn 1960 – 1967). Đồng thời góp phần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, tuyên truyền các ngày lễ và sự kiện lịch sử quan trọng trong năm 2022./.

637934554945034613_1738_SVHTTDL-BTTV_15-07-2022_The le cuoc thi TDKCTĐG.signed.pdf

637934554945034613_1738_SVHTTDL-BTTV_15-07-2022_Bo cau hoi thi truc tuyen 55 nam TDKCTĐG.signed.pdf

TH


20/07/2022 7:00 SAĐã ban hành
Kỷ niệm 55 năm Ngày tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” (17/9/1967- 17/9/2022)Kỷ niệm 55 năm Ngày tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” (17/9/1967- 17/9/2022)
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một chương lịch sử vô cùng vẻ vang, oanh liệt của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc kháng chiến đầy hy sinh khốc liệt đó, ở miền Nam, dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung ương Cục miền Nam trực tiếp lãnh đạo, tỉnh Long An đã vinh dự được đón nhận danh hiệu vẻ vang, cao quý: “ Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ”.

Chính truyền thống anh hùng bất khuất kết tinh từ cội nguồn đoàn kết yêu nước của dân tộc Việt Nam kết hợp với đường lối cách mạng, đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn của Đảng và sự vận dụng lãnh đạo đầy linh hoạt sáng tạo của Đảng bộ, mà quân dân Long An đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ", góp phần cùng toàn miền Nam và cả nước đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn chiến lược chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất đất nước.

I. Tinh thần yêu nước và cách mạng trong bề dày lịch sử

Long An là một trong những vùng đất có lịch sử hình thành sớm ở Nam Bộ. Cách đây trên 300 năm, vào năm 1705, Nguyễn Cửu Vân lần đầu tiên khai phá xứ Vũng Gù (Long An ngày nay). Địa bàn Long An (xưa là Tân An, Chợ Lớn) giáp thủ phủ Sài Gòn, có Đồng Tháp Mười đầm lầy hiểm trở, có hai con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và tuyến đường huyết mạch Thiên Lý (sau là lộ Đông Dương, quốc lộ 4) đi qua, là nơi giao thương cũng đồng thời sớm hình thành một cộng đồng dân cư giàu phẩm chất cố kết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ khi thực dân Pháp mới xâm lược, đất Tân An - Chợ Lớn đã hội tụ bốn phong trào đấu tranh võ trang lớn nhất Nam Kỳ: khởi nghĩa của Trương Định (1860 - 1864), Nguyễn Trung Trực (1859 - 1868), Thủ Khoa Huân (1864 - 1875), Thiên Hộ Dương (1860 - 1866)… Lòng dân ở đây từng dựng nên một Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định - chống giặc đến cùng, không theo lệnh triệt thoái của Triều đình bạc nhược. Đặc biệt có người anh hùng áo vải trẻ tuổi Nguyễn Trung Trực lập chiến công vang dội cả nước bằng "Hỏa hồng Nhựt Tảo" và "Kiếm bạt Kiên Giang"; có Thiên hộ Dương bền bỉ dựa vào thế trận lòng dân, lập căn cứ Đồng Tháp Mười hiểm yếu chống chọi với giặc nhiều năm trời; lại có những nhà thơ, trí thức đánh giặc bằng ngọn bút như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông… Những năm đầu thế kỷ XX, đất Tân An - Chợ Lớn (Long An ngày nay) xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh sôi nổi được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ như Đông du (1905 - 1909), Duy Tân (1906 - 1908), Thiên Địa hội (1913 - 1916), Hội kín Nguyễn An Ninh… nhưng đều thất bại do chưa tìm được đường lối cứu nước đúng đắn.

Từ năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, nhân dân hai tỉnh Tân An - Chợ Lớn đã tiến hành cuộc biểu tình chống Pháp lớn nhất Nam Kỳ vào ngày 4/6/1930 nêu gương hy sinh oanh liệt của Châu Văn Liêm, một trong những vị tham gia sáng lập Đảng. Trong khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940, Tân An - Chợ Lớn là 2 trong 9 tỉnh khởi nghĩa mạnh mẽ nhất. Trong Cách mạng tháng Tám, nếu Chợ Lớn là nơi tiếp ứng Sài Gòn và là nơi Xứ ủy 3 lần chọn họp để quyết định ngày giờ khởi nghĩa, thì Tân An là tỉnh đi tiên phong giành chính quyền ở Nam Bộ. Chín năm kháng chiến chống Pháp đầy gian lao và anh dũng, nhân dân Tân An - Chợ Lớn thực hiện xuất sắc đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ của Đảng, đánh giặc cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa; tập trung xây dựng củng cố các căn cứ địa Đức Hòa, Vườn Thơm, Rừng Sác, Đông Thành, Đồng Tháp Mười… bẻ gãy hàng trăm cuộc càn lớn nhỏ của giặc Pháp, bảo vệ vững chắc Xứ ủy và các cơ quan đầu não kháng chiến, phối hợp nhịp nhàng cùng với chiến trường cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954), buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954) về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam.

II. Kiên cường từ mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Từ giữa năm 1954, đế quốc Mỹ bộc lộ sự can thiệp trắng trợn, đưa Ngô Đình Diệm về lập bộ máy cai trị phản động ở miền Nam, vừa thanh trừng các giáo phái và thế lực thân Pháp, vừa mở các chiến dịch "tố Cộng, diệt Cộng", tàn sát man rợ những người kháng chiến cũ. Để chống khủng bố, Tỉnh ủy Tân An và Chợ Lớn đã tổ chức cho cán bộ điều lắng và lãnh đạo đấu tranh chính trị với địch. Hàng ngàn quần chúng ở Mộc Hóa, Đức Hòa, Thủ Thừa xuống đường biểu tình. Ta cũng cài lực lượng vũ trang vào quân đội giáo phái ly khai chống Diệm để biến các đơn vị này thành lực lượng vũ trang của ta mang danh "Cao Thiên Hòa Bình". Trong điều kiện Diệm thi hành Luật phát xít 10/59, dồn dân lập ấp chiến lược, gây bao đau thương tang tóc và tổn thất cho lực lượng cách mạng (từ hàng ngàn đảng viên, 2 tỉnh chỉ còn vài trăm đồng chí). Tháng 8/1957, Tỉnh ủy Chợ Lớn và Tỉnh ủy Tân An thực hiện quyết định của Xứ ủy và Liên Tỉnh ủy, đã chia lại lực lượng và địa bàn theo phân chia địa giới hành chính của địch thành hai tỉnh Long An và Kiến Tường, đồng thời tổ chức hoạt động vũ trang tuyên truyền để tạo lại thế, tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị - quân sự - binh vận tiến tới đồng khởi.

Đầu năm 1960, dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, được Trung ương cho phép tiến hành cách mạng bằng bạo lực, Đảng bộ Long An và Kiến Tường đã chỉ đạo dùng ba mũi đột kích tiến công đồn bót địch (ở Đức Lập và Ma-Reng) mở màn cuộc Đồng khởi trên địa bàn tỉnh, tiến công đánh phá các khu Dinh điền, khu Trù mật. Với cuộc đồng khởi, lực lượng cách mạng đã tiêu diệt và làm tan rã hàng chục đồn bót, trừng trị nhiều tay sai ác ôn ngoan cố. Trong đợt hai, bằng hình thức "tản cư ngược" vào các trung tâm tỉnh lỵ, huyện lỵ, kết hợp với binh vận, lực lượng cách mạng làm tan rã hàng ngàn tên địch, giải phóng hàng chục xã, tiến lên thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng ở hai tỉnh Long An và Kiến Tường, giải phóng 38 xã - trong đó giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ.

Bị thua đau sau Đồng khởi, Mỹ - ngụy tập trung xây dựng Long An - Kiến Tường thành địa bàn trọng điểm số 1 của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", thực hiện Kế hoạch Staley-Taylor, thiết lập lại khu Trù mật và ấp chiến lược, xây dựng ở Long An hai trại huấn luyện biệt kích lớn là Hiệp Hòa và Gò Đen. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Cục tại hội nghị tháng 4/1961, Đảng bộ Long An và Kiến Tường phát triển nhanh lực lượng đảng viên, đồng thời phát động toàn dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, rào làng chiến đấu, cài chông, mìn, lựu đạn, phá lộ, cản đường… buộc địch phải phân tán lực lượng chủ lực. Phong trào du kích chiến tranh kết hợp nhịp nhàng với hơn 500 trận đánh và các mũi đấu tranh chính trị, binh vận, đã thu hút hàng ngàn quần chúng tham gia… Đặc biệt, thừa cơ hội gia đình trị độc tài Diệm-Nhu bị đảo chính, ngày 23/11/1963, Đảng bộ lãnh đạo quân dân Long An tập kích trại huấn luyện biệt kích Hiệp Hòa, tiến lên thành lập Tiểu đoàn 1, mở ra cao trào phá ấp chiến lược (phá rã hơn 80% ấp chiến lược), giải tán 21.000 thanh niên chiến đấu của địch, bẻ gãy Kế hoạch Staley-Taylor trên địa bàn Long An - Kiến Tường.

Năm 1964, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện Kế hoạch Jonshon - McNamara, điều sư đoàn 25 ngụy khét tiếng từ Quảng Ngãi vào chiến trường Long An; địch vừa cấp đất cho dân cày nghèo vừa bình định trọng điểm. Ngay trong năm đó, quân dân Long An phối hợp ba mũi giáp công, đánh 1.600 trận lớn nhỏ, làm tan rã 29.000 tên địch, đánh quỵ sư đoàn 25, bức rút hơn 100 đồn bót, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ lần thứ hai. Trận Cù Tròn (xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành) ngày 27/11/1964 đã bẻ gãy cuộc càn lớn, tiêu diệt hàng trăm tên địch, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang ở địa phương, khẳng định sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân.

Tháng 7/1964, Tỉnh ủy Long An tổ chức Đại hội chiến sĩ thi đua toàn tỉnh, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và các đoàn thể cách mạng, biểu dương tinh thần kháng chiến của lực lượng vũ trang và nhân dân Long An, phát huy được sức mạnh của 3 thứ quân trong thế trận chiến tranh nhân dân, tổng kết nhân rộng phong trào nhân dân du kích chiến tranh. Tháng 5/1965, Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ nhất đã biểu dương tinh thần kiên cường chống phá ấp chiến lược và phát triển chiến tranh du kích của Đảng bộ và lực lượng vũ trang nhân dân Long An. Tại Đại hội này, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn Miền[1].

III. Thành tích vẻ vang "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc"

Năm 1965, đế quốc Mỹ tiến hành "Chiến tranh cục bộ", chi 12 tỷ đô la và đưa 200.000 quân viễn chinh ồ ạt vào miền Nam, kết hợp với 400.000 quân chủ lực ngụy được trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại. Đế quốc Mỹ phong tỏa vịnh Bắc Bộ, đem máy bay chiến lược B52 ném bom miền Bắc. Tướng Mỹ Curti Lemay huênh hoang tuyên bố "đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá!". Ngày 17/7/1966, trước đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Dù Mỹ trực tiếp đưa vào miền Nam bao nhiêu vạn quân, dù phải chiến đấu 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn!", Người nêu chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập tự do!".

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phong trào thi đua "Quyết thắng giặc Mỹ!" của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát động, Đảng bộ Long An đã phát động phong trào toàn dân đánh giặc. Tháng 12/1965, Mỹ đổ quân xuống Long An, Hậu Nghĩa bằng chiến dịch "5 mũi tên" nhằm bảo vệ hướng tây bắc và tây nam thành phố Sài Gòn. Lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ quân xuống lưu vực sông Vàm Cỏ Đông (Đức Hòa, Đức Huệ) lập tức bị Tiểu đoàn 1 của Long An và Tiểu đoàn 267 của Khu chặn đánh; trận đầu tiên ta diệt 5 trực thăng và hơn 100 tên Mỹ. Từ tháng 9 đến tháng 11/1965, quân dân ta đánh liên tiếp 3 trận lớn tại Đức Lập (Đức Hòa) loại khỏi vòng chiến đấu 1.850 tên địch, trong đó riêng trận Đức Lập 2 (tháng 10/1965) loại khỏi vòng chiến đấu 514 tên, góp phần đập tan quân chủ lực ngụy[2]. Tháng 11/1965, quân dân Kiến Tường đánh trận gò Ông Lẹt (nay ở Vĩnh Thạnh - Vĩnh Hưng). Tháng 4/1966, ta đánh trận ở kinh Dương Văn Dương (nay thuộc huyện Tân Thạnh) tiêu diệt 120 tên địch, bẻ gãy chiến thuật biệt kích của địch ở Kiến Tường - những trận thắng quân chủ lực ngụy này đã tạo đà cho quân dân trong tỉnh tiến lên thực hiện quyết tâm đánh Mỹ. Tháng 2/1966, bộ đội địa phương Long An bắn rơi 8 máy bay Mỹ, phá hủy 5 xe M113. Ngày 7/2/1966, Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn tổ chức đại hội "Dũng sĩ diệt Mỹ" đã tuyên dương 2 ngọn cờ đầu diệt Mỹ là Long An "anh dũng kiên cường giết giặc" và Củ Chi "đất thép thành đồng".

Phát huy thành tích bước đầu, tháng 5/1966, bộ đội địa phương huyện Đức Hòa kết hợp với mũi đấu tranh chính trị của quần chúng đánh Mỹ ở Bàu Sen (Đức Lập) diệt gọn 1 đại đội thuộc Lữ đoàn dù 173 Mỹ, mở ra khả năng hoàn toàn có thể thắng Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân Long An - Kiến Tường ngay từ khi Mỹ vào đã tỏ ra xứng đáng là mảnh đất thành đồng, "Tháp Mười anh dũng". Phong trào toàn dân đánh Mỹ được Đảng bộ nhân rộng và phát triển lên đỉnh cao với khẩu hiệu "nắm thắt lưng địch mà đánh", "tìm ngụy mà đánh, tìm Mỹ mà diệt". Ở nhiều nơi, phong trào sôi nổi đến mức bộ đội, du kích và nhân dân đã "vay mượn" nhau vũ khí, nhường nhau thành tích để nhiều người đạt được danh hiệu "dũng sĩ diệt Mỹ. Long An có những nông dân trở thành "kỹ sư" chế tạo vũ khí như "kỹ sư" Lớn (ở Đức Huệ), có chị Ba Hợi, anh giáo Ngọt (Đức Hòa) gài mìn phá lộ đánh xe tăng Mỹ, có thiếu niên 16 tuổi diệt được cả mấy xe M113 và máy bay HU1A, có những em bé biết cách ném cát vào mắt Mỹ để giật súng đưa về cho bộ đội, du kích. Có những ông cha, bà má đêm đêm đào hầm nuôi chứa cán bộ cách mạng, ngày ngày đi đấu tranh chính trị, nắm càng máy bay, cản đầu xe tăng địch trong các cuộc càn. Có những tập thể làng xã hay bộ đội, du kích, an ninh mật chiến đấu ngoan cường được truy tặng danh hiệu anh hùng; có Tiểu đoàn 1 anh hùng được mệnh danh "Điều đâu đi đó; chỉ đâu đánh đó; đánh đâu thắng đó!"; có các đội quân tóc dài đấu tranh chính trị trực diện với địch; có các đội nữ pháo binh cơ động và kiên cường, các đơn vị thông tin, giao bưu, cơ yếu… luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều tập thể du kích vừa sản xuất, vừa rào làng chiến đấu, đánh địch bằng muôn ngàn kiểu cách, kể cả bằng dùng ong vò vẽ, bàn chông đinh, đạp lôi, trận địa giả, cắm bảng "tử địa". Long An - Kiến Tường có nhiều anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như Huỳnh Văn Đảnh, Nguyễn Thị Hạnh, Huỳnh Văn Tạo, Nguyễn Văn Thể, Trần Thế Sinh, Huỳnh Việt Thanh, Dương Thị Hoa…; chỉ huy giỏi như Huỳnh Công Thân, Trương Công Xưởng; nhiều dũng sĩ diệt Mỹ, nhiều tấm gương tuổi trẻ anh hùng được cả nước biết tiếng như: Võ Tấn Đồ, Mai Thị Non, Nguyễn Thái Bình…; lại có những chiến sĩ an ninh, biệt động, binh vận biết luồn sâu, đánh thọc tận hang ổ địch như thiếu tá anh hùng tình báo Nguyễn Thị Ba; có cán bộ chỉ huy tình báo cấp chiến lược như đại tá Đào Trọng Hằng và biết bao Bà mẹ Việt Nam anh hùng…

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng các vành đai diệt Mỹ, tiến công địch bằng nhiều mũi giáp công, linh hoạt và biến hóa, trong mùa khô 1965 - 1966 quân dân Long An đã diệt gần 2.000 tên Mỹ, bắn cháy 25 máy bay, phá hủy hàng chục xe M113. Từ ngày 5/6 đến 20/7/1967, quân dân huyện Cần Giuộc - Cần Đước đánh trên 50 trận, diệt gần 1.400 tên Mỹ, bắn rơi 21 máy bay, nhấn chìm 12 tàu chiến. Quân dân Long An đã đẩy lùi lữ đoàn 2, sư đoàn 9 về Mỹ Tho, sư đoàn 25 ngụy về Đồng Dù - Củ Chi. Long An có vành đai đánh Mỹ tiêu biểu vang danh cả nước như Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến, cùng với Bình Đức của Mỹ Tho… Thời kỳ 1965- 1966, ở Long An có hàng trăm đảng viên hy sinh oanh liệt trong chiến đấu (chưa thống kê được số hy sinh trong lực lượng vũ trang hoặc tử nạn vì đạn pháo), cùng với sự hy sinh, góp sức to lớn của hàng trăm đồng chí, hàng ngàn đồng bào luôn kiên cường bám trụ, giữ đất giữ địa bàn, đảm bảo nhiệm vụ chiến trường và là hành lang chiến lược.

Với truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất và thành tích đặc biệt xuất sắc trong cao trào toàn dân đánh Mỹ, ngày 17 tháng 9 năm 1967, tại Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ 2, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quyết định phong tặng cho Đảng bộ và quân dân Long An danh hiệu và lá cờ ghi tám chữ vàng: " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ". Đây là một trong những điểm son tô thắm cho truyền thống cách mạng vẻ vang của quân và dân tỉnh Long An trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Phát huy cao độ truyền thống vẻ vang " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ", dưới sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh ủy, quân dân Long An tiếp tục vượt qua những đỉnh cao khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, huy động hơn một triệu đảng viên và quần chúng ưu tú tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968 và "mùa hè đỏ lửa 1972", góp phần cùng với cả miền Nam buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngưng ném bom miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, rút hết quân viễn chinh Mỹ về nước. Thực hiện trọn vẹn lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!", Đảng bộ - quân dân Long An đã cùng toàn miền Nam và cả nước đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975, đưa cả nước đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để ghi nhớ thành tích vẻ vang của quân dân Long An trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thời gian qua, tỉnh đã đầu tư xây dựng, tôn tạo nhiều di tích lịch sử và công trình văn hóa, trong đó có Tượng đài Long An " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc " tại phường 5, thành phố Tân An. Công trình khởi công vào năm 2004 và hoàn thành ngày 28/4/2010 nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là công trình văn hóa tiêu biểu của tỉnh, không chỉ là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất, đạo lý "uống nước nhớ nguồn" cho các tầng lớp nhân dân, mà còn là điểm tham quan có ý nghĩa lịch sử- văn hóa sâu sắc, đang cùng với các di tích lịch sử- văn hóa trong tỉnh góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.

IV. Phát huy truyền thống "Trung dũng kiên cường" trong thời kỳ mới

Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và truyền thống " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc " trong kháng chiến, từ sau ngày 30/4/1975 đến nay, với ý chí tự lực, tự cường, năng động và sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân Long An ra sức khắc phục mọi khó khăn, thách thức, tập trung xây dựng và phát triển tỉnh nhà. Trong hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Long An không ngừng vươn lên trong quá trình đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế, thực hiện chủ trương "Nhà nước và nhân dân cùng làm", hạch toán trong sản xuất - kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính; tập trung sức người, sức của xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông, thủy lợi, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phân bổ lại lao động, đất đai, thu hút các nguồn lực đầu tư nhằm cải tạo nông nghiệp và xây dựng các khu, cụm công nghiệp.

Qua các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh, nhiều chủ trương lớn có tính đột phá, thể hiện sự năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của tỉnh. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất (1976 - 1980), Long An vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, sản xuất ổn định đời sống, khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, vừa chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới Tây Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Campuchia. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ hai (1980 - 1983), Long An thực hiện cơ chế "một giá", xóa bao cấp trên lĩnh vực phân phối lưu thông, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần tích cực vào việc hình thành đường lối đổi mới kinh tế của Đảng. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ ba (1983 - 1986), Long An thực hiện chương trình khai mở vùng Đồng Tháp Mười, biến Đồng Tháp Mười từ một vùng hoang hóa, kém phát triển thành vùng trọng điểm lương thực của tỉnh.

Trong các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh tiếp theo, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh luôn xác định đúng những nhiệm vụ trọng tâm, công trình trọng điểm, chương trình đột phá về kinh tế - xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh. Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020 – 2025) đã xác định 3 chương trình đột phá và 3 công trình trọng điểm:Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp ; Chương trình huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ phục vụ phát triển công nghiệp, đô thịvùng kinh tế trọng điểm của tỉnh ; Chương trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và nông nghiệp của tỉnh và các công trình trọng điểm:Hoàn thiện Đường Vành đai thành phố Tân An; Đường tỉnh 830E (đoạn từ nút giao cao tốc đến Đường tỉnh 830) ; Đường tỉnh 827E (đoạn từ Thành phố Hồ Chí Minh đến sông Vàm Cỏ Đông).

Các công trình trọng điểm, chương trình đột phá về kinh tế - xã hội nói trên đã tạo động lực mạnh mẽ đưa tỉnh nhà ngày càng phát triển đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt khoảng 9,11%/năm. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch rõ nét, đúng định hướng (cơ cấu kinh tế 3 khu vực I, II, III năm 2020 lần lượt là 15, 3% - 52, 1% - 32,6% [i] ) . Đời sống người dân ngày càng cải thiện, GRDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 77 triệu đồng, gấp hơn 1,5 lần so với năm 2015. Năm 2021 do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, dù hệ thống chính trị, doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh đã có nhiều nỗ lực, phấn đấu nhưng tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, tồn tại, hạn chế. Tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) trong tỉnh đạt 1,02% (kế hoạch đề ra từ 9-9,5%) là mức tăng trưởng thấp nhất trong nhiều năm qua, GRDP bình quân đầu người đạt hơn 80 triệu đồng/người/năm, tăng 4% so với cùng kỳ, tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 118,7% dự toán Trung ương giao…

Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp được tập trung thực hiện, có nhiều mô hình cho hiệu quả cao; hình thành các chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Chương trình đầu tư xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 đạt nhiều kết quả tích cực[ii], góp phần thay đổi tích cực diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa cư dân nông thôn.

Với những thành tích to lớn đó, trong 55 năm qua, Long An vinh dự, tự hào được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Quân công giải phóng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất,…; hàng trăm tập thể, cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động và nhiều danh hiệu cao quý khác, góp phần tô thắm thêm truyền thống " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ". Danh hiệu cao quý " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc " đã trở thành biểu tượng trong lòng mỗi người dân Long An và là niềm tự hào to lớn, động viên, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Long An trong công cuộc đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương Long An ngày càng giàu đẹp.

Tuy vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn, thách thức trong quá trình đổi mới, hội nhập, song với ý chí tự lực, tự cường, truyền thống yêu nước, đoàn kết, " Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc ", chắc chắn rằng tỉnh Long An sẽ ngày càng phát triển, đạt nhiều thành tựu to lớn hơn nữa, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; vì lẽ, Đảng và nhân dân ta luôn có chung một mục tiêu, lý tưởng không bao giờ thay đổi: Độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân!

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

[1] Lịch sử Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Long An (1945-2005), Nhà xuất bản QĐND, trang 274.

[2] Tóm tắt Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Tỉnh Long An, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, năm 2005, trang 90.

[i].Cơ cấu kinh tế: Năm 2015 là khu vực I chiếm 22,2%, khu vực II chiếm 39,3%, khu vực III chiếm 38,5%. Năm 2016 là khu vực I chiếm 20,7%, khu vực II chiếm 41,7%, khu vực III chiếm 37,6%. Năm 2017 là khu vực I chiếm 18,3%, khu vực II chiếm 44,9%, khu vực III chiếm 36,8%. Năm 2018 là khu vực I chiếm 17,2%, khu vực II chiếm 47,7%, khu vực III chiếm 35,1%. Năm 2019 là khu vực I chiếm 15,9%, khu vực II chiếm 50,0%, khu vực III chiếm 34,1%.

[ii]. Đến năm 2020 toàn tỉnh có 93/161 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, huyện Châu Thành được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và thành phố Tân An hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Tháng 7/2022, toàn tỉnh đã có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới là huyện Châu Thành, Tân Trụ, thị xã Kiến Tường và TP.Tân An; 112 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 22 xã nông thôn mới nâng cao. Mục tiêu của tỉnh đến năm 2025 có 10 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, 2 huyện nông thôn mới nâng cao và huyện Châu Thành đạt nông thôn mới kiểu mẫu; đối với cấp xã, phấn đấu có 142 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 65 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 12 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu.


16/09/2022 8:00 SAĐã ban hành
Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030

1dvc.jpg

2dvc.jpg

3dvc.jpg

4dvc.jpg

5dvc.jpg



05/07/2022 3:00 CHĐã ban hành
Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2022)Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2022)
Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2022). Cổng thông tin điện tử tỉnh xin giới thiệu toàn văn nội dung Đề cương tuyên truyền.

I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của Ngày Thương binh - Liệt sỹ

1. Hoàn cảnh ra đời

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần quật cường, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sỹ đã hy sinh, cống hiến xương máu, sức lực trên các chiến trường. Thấm nhuần đạo lý truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc và thấu hiểu sâu sắc giá trị của sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh hùng liệt sỹ, thương binh đối với đất nước, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và Nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.        

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác, sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Hội.

Chiều ngày 28/5/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Tổng Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng để kêu gọi đồng bào gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sỹ bị thương tùy theo điều kiện của gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.

Sau đó, nhiều chương trình quyên góp, ủng hộ bộ đội được phát động, đáng chú ý nhất là cuộc vận động "Mùa đông binh sỹ". Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban vận động đã họp phát động phong trào may áo trấn thủ cho chiến sỹ. Chiều ngày 17/11/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong "Mùa đông binh sỹ", mở đầu cuộc vận động "Mùa đông binh sỹ" trong cả nước để giúp chiến sỹ trong mùa đông giá rét với sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ. Ngay tại buổi lễ, Người đã cởi chiếc áo len đang mặc để tặng lại các binh sỹ.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19/12/1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sỹ, nhất là những chiến sỹ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sỹ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sỹ.

Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL "Quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ". Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ.

Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày làm ngày Thương binh - Liệt sỹ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày "Thương binh toàn quốc". Từ đó hằng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sỹ.        

Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi "Ngày Thương binh toàn quốc" thành "Ngày Thương binh - Liệt sỹ" để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.        

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành "Ngày Thương binh - Liệt sỹ" của cả nước.        

2. Ý nghĩa Ngày Thương binh - Liệt sỹ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là:

- Thể hiện sự tiếp nối truyền thống "hiếu nghĩa bác ái", "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc; thể hiện sự biết ơn, trân trọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

- Khẳng định việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau đối với sự cống hiến, hy sinh của các anh hùng, liệt sỹ, thương binh cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của Nhân dân.

- Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

II. Những kết quả đạt được trong công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng 75 năm qua

1. Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách, pháp luật, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng

- Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 "Quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ" đến nay, những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sỹ đã được Đảng, Nhà nước ta cụ thể hóa thành các chính sách, pháp luật ưu đãi đối với thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng và hiện tại được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện, thực hiện thống nhất trong cả nước; từ đó góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp về chính trị, kinh tế và xã hội, sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân và bản thân người có công với cách mạng, nâng cao nhận thức của toàn xã hội cùng với Nhà nước chăm lo cho người có công với cách mạng, phát huy truyền thống, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc trong thời kỳ mới.

Các chính sách, pháp luật về ưu đãi đối với thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước năm 1986 đến nay đã có những thay đổi quan trọng để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và ngày càng được mở rộng về đối tượng, bao phủ hầu hết các mặt của đời sống, trong đó nổi bật nhất là việc ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1994 và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 1994, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005; các Nghị định của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng[1],... Năm 2020, trên cơ sở tổng kết việc thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 và số 04/2012/UBTVQH13, Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021 với nhiều điểm mới, hướng tới nâng cao chế độ ưu đãi và mở rộng số người hưởng ưu đãi cho người có công với cách mạng đã tạo điều kiện để người có công nỗ lực vượt lên khó khăn, ổn định cuộc sống, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia tích cực vào công tác "Đền ơn đáp nghĩa".

Đến nay, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và các văn bản hướng dẫn đã kịp thời thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về ưu đãi người có công với cách mạng qua các thời kỳ, đặc biệt Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng, đã tiếp tục chuẩn hóa các điều kiện, tiêu chuẩn xem xét công nhận người có công với cách mạng theo đúng nguyên tắc chặt chẽ, thật sự xứng đáng, tôn vinh đúng đối tượng; chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân được quy định thống nhất, rõ ràng; kịp thời bổ sung cả về đối tượng và chế độ thụ hưởng đối với người có công, thân nhân người có công với cách mạng.

- Sau 75 năm thực hiện, các chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và gia đình người có công với cách mạng đã được nghiên cứu, bổ sung và điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Theo đó các chế độ ưu đãi được thực hiện đa dạng gồm trợ cấp, phụ cấp hằng tháng, trợ cấp một lần và các chế độ ưu đãi khác như: hỗ trợ y tế, giáo dục, trang cấp dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng, tạo việc làm, hỗ trợ, cải thiện nhà ở, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, vay vốn kinh doanh và miễn hoặc giảm thuế. Người có công tùy từng đối tượng có các chính sách chăm sóc đặc thù như: Chính sách trợ cấp người phục vụ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên, bệnh binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên sống ở gia đình… và được chăm sóc với nhiều hình thức đa dạng như tại gia đình, cộng đồng, các cơ sở y tế và các Trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng.

Đối với mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi, từ năm 1994 đến nay, chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công được điều chỉnh gắn liền với việc thực hiện cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công, theo đó chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đã qua nhiều lần điều chỉnh, từng bước khắc phục những hạn chế về mức, về nguyên tắc và phương thức điều chỉnh độc lập với chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, phù hợp với điều kiện của ngân sách nhà nước, góp phần từng bước cải thiện, nâng cao đời sống của người có công. Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp ưu đãi người có công năm 2012 là 1.110.000 đồng; từ năm 2019 đến nay mức chuẩn là 1.624.000 đồng (cao hơn mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng của cán bộ, công chức hiện nay). Hiện nay có gần 1,2 triệu người có công đang hưởng chế độ ưu đãi hàng tháng.

Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và đời sống Nhân dân, Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 quy định việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, tạo cơ sở để thực hiện triển khai chi trả hỗ trợ kịp thời, đầy đủ cho 994.626 đối tượng thuộc lĩnh vực người có công với kinh phí khoảng 1.483 tỷ đồng.

2. Công tác xác nhận, công nhận người có công với cách mạng

- Công tác xác nhận người có công với cách mạng được triển khai chặt chẽ, công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật; có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng, huy động trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đến nay, toàn quốc đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công, trong đó:

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945: gần 9.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945: 16.500 người.

+ Liệt sỹ: gần 1,2 triệu người; thân nhân liệt sỹ gần 500.000 người.

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng: trên 139.000 người.

+ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động: gần 1.300 người.

+ Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: gần 600.000 người.

+ Bệnh binh: gần 185.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: gần 320.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: gần 111.000 người.

+ Người có công giúp đỡ cách mạng: 1.897.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế: gần 4,1 triệu người.

- Công tác rà soát, giải quyết các hồ sơ tồn đọng đã được chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện đúng quy trình, chặt chẽ, bài bản, trong đó tập trung vào các nội dung: Giải quyết hồ sơ tồn động, giải quyết chế độ cho các trường hợp liệt sỹ, thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; hoàn thiện hồ sơ xét tặng, truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", giải quyết chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa hóa và con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Trong các năm từ 2016 - 2021 đã thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ công nhận và cấp bằng Tổ quốc ghi công đối với hơn 4.200 liệt sỹ, cấp đổi lại hơn 90.000 bằng Tổ quốc ghi công. Những hồ sơ không đủ điều kiện đã được kết luận và giải thích rõ cho đối tượng, tránh để xảy ra tình trạng đơn thư khiếu nại.

3. Công tác chăm sóc đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng

Xác định công tác chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng là trách nhiệm, tình cảm và vinh dự để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã có công lao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực bằng những việc làm đầy trách nhiệm và nghĩa tình.

Trong giai đoạn từ năm 2017 - 2021, số xã phường làm tốt công tác thương binh - liệt sỹ liên tục tăng dần từ là 96,6% đến 99% (năm 2017 đạt 96,6%; năm 2018 đạt 98,11%, năm 2019 đạt 98,37%, năm 2020 đạt 98,7%, năm 2021 đạt 99%); chỉ tiêu mức sống của người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống của người dân nơi cư trú tăng dần từ 98% đến 98,6% (năm 2017 đạt 98%; năm 2018 đạt 98,42%, năm 2019 đạt 98,63%, năm 2020 đạt 99%, năm 2021 đạt 98,6%).

Việc hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ đến nay đã được hoàn thành. Cả nước có tổng số 393.707 hộ người có công cần hỗ trợ về nhà ở (gồm 184.695 hộ xây mới và 209.012 hộ sửa chữa) đã được thẩm tra, cấp từ ngân sách Trung ương khoảng 10.654 tỷ đồng.

Quỹ Đền ơn đáp nghĩa cả nước vận động được hơn 4.900 tỷ đồng. Phong trào tặng sổ tiết kiệm của cả nước đạt hơn 61.600 sổ với tổng kinh phí là hơn 113,7 tỷ đồng. Xây dựng mới hơn 36.400 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 24.000 nhà tình nghĩa trị giá gần 2.140 tỷ đồng. Phong trào nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng được tiếp tục đẩy mạnh, góp phần tích cực chăm lo đời sống của các đối tượng và gia đình có công với cách mạng, tính đến tháng 12/2021 cả nước có 3.736/139.882 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các đơn vị nhận phụng dưỡng. Dịp lễ, tết, kỷ niệm ngày 27/7 hằng năm, ngoài quà của Chủ tịch nước, ở tất cả các địa phương đều tổ chức gặp mặt, thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách.

Bên cạnh đó, với ý chí tự lực, tự cường, nhiều thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và gia đình người có công đã vượt lên thương tật, khó khăn, hòa mình vào cuộc sống, tiếp tục cống hiến sức lực, trí tuệ trong lao động, sản xuất, công tác, chiến đấu, học tập,... góp phần bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, xứng đáng là những "Công dân kiểu mẫu", là tấm gương sáng cho cộng đồng và xã hội noi theo. Đến nay, chỉ tiêu hộ gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình dân cư nơi cư trú đạt 98,6%.

4. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ; xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ; nâng cấp các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng cho người có công với cách mạng

Xác định công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa", là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, góp phần đáp ứng nguyện vọng của thân nhân, gia đình liệt sỹ; thời gian qua, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, tích cực, hiệu quả Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 15/5/2013 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo", Quyết định số 1237/QĐ-TTg, ngày 27/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo, Quyết định số 150/QĐ-TTg, ngày 14/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xác định hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin. Với việc triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, công tác này đã được thực hiện toàn diện, hoàn thành cơ bản các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra.

- Nhà nước đầu tư nâng cấp các trung tâm giám định ADN của các bộ, ngành nhằm đẩy nhanh việc xác định danh tính hài cốt liệt sỹ; xây dựng Trung tâm lưu giữ nguồn gen đã được giám định để phục vụ cho công tác xác định hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin; điều tra, thu thập thông tin về liệt sĩ, hài cốt liệt sĩ, thân nhân liệt sỹ còn thiếu thông tin, mộ liệt sỹ còn thiếu thông tin trong các nghĩa trang liệt sỹ; xây dựng phần mềm quản lý và cơ sở dữ liệu thông tin liệt sỹ, thân nhân liệt sỹ, mộ liệt sỹ và nghĩa trang liệt sỹ; cổng thông tin điện tử về mộ liệt sỹ, nghĩa trang liệt sỹ.

- Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị quản lý chặt chẽ địa bàn; tổ chức đón nhận, bàn giao, truy điệu, an táng hài cốt liệt sỹ trang nghiêm, trọng thị, chu đáo; công bố, trả kết quả xác định danh tính hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin đúng quy định.

- Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được các cấp, các ngành chú trọng và đã đạt được những kết quả cụ thể. Hiện nay, cả nước có trên 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 các công trình ghi công liệt sĩ. Hàng năm, ở Trung ương và địa phương đều bố trí kinh phí để tu bổ, nâng cấp mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, bia ghi danh liệt sĩ, đền thờ liệt sĩ, bảo đảm bền vững, trang trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân về việc tôn vinh, thăm viếng mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng.

- Công tác quy hoạch, đầu tư, nâng cấp các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng cho người có công ngày càng được chú trọng. Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt quy hoạch mạng lưới các cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu hình thành hệ thống cơ sở có đủ quy mô, năng lực đáp ứng yêu cầu nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công; đảm bảo người có công được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc toàn diện cả về thể chất và tinh thần.

III. Công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định trong những năm tới, tiếp tục: "Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân...". Để phát huy được những kết quả, thành tích đã đạt được trong suốt 75 năm qua, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau:

- Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục tuyên truyền sâu rộng hơn nữa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân; nâng cao nhận thức về việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công vừa là tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm cao cả của cả hệ thống chính trị và toàn dân, vừa là yếu tố bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thể hiện sâu sắc tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ ta, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Từ đó, biến nhận thức thành hành động thiết thực, cụ thể, tích cực góp phần vào việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, nâng cao hiệu quả và đưa các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng" trở thành hoạt động thường xuyên trong mọi mặt của đời sống xã hội.

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công. Trong đó, đặc biệt quan tâm các gia đình người có công có hoàn cảnh khó khăn, người có công hiện đang sống cô đơn, không nơi nương tựa, các gia đình người có công vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng trước đây, phấn đấu không để hộ người có công thuộc diện hộ nghèo.

- Tiếp tục làm tốt công tác tu bổ, tôn tạo nghĩa trang liệt sỹ, công trình ghi công liệt sỹ; đẩy mạnh tìm kiếm, xác định danh tính liệt sỹ, quy tập hài cốt liệt sỹ, kịp thời thông báo và tạo điều kiện thuận lợi để thân nhân liệt sỹ đến thăm viếng.

- Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác người có công với cách mạng. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật ưu đãi người có công, đặc biệt chú trọng giải quyết các vướng mắc, tồn tại phát sinh liên quan để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của đất nước. Quan tâm giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công còn tồn đọng, bảo đảm chặt chẽ, thấu lý, đạt tình để những người có công và gia đình được thụ hưởng đầy đủ các chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước.

- Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương trong thực hiện công tác người có công với cách mạng; chú trọng các biện pháp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cũng như ý thức, trách nhiệm của những người làm công tác này.

- Thúc đẩy cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia có trách nhiệm đối với công tác người có công và phong trào "Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng", ủng hộ quỹ "Đền ơn đáp nghĩa". Tôn vinh, biểu dương những tấm gương thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công đã phát huy ý chí tự lực, tự cường, vượt khó vươn lên, tích cực lao động, sản xuất, tham gia các phong trào thi đua yêu nước…

- Kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích đóng góp trong các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng", chung sức giúp đỡ các gia đình người có công khắc phục khó khăn, cải thiện đời sống.

Ban Tuyên giáo Trung ương


10/07/2022 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin đến thân nhân các mộ bị ảnh hưởng trong dự án di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí MinhThông tin đến thân nhân các mộ bị ảnh hưởng trong dự án di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 22/6/2022, UBND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 2366/UBND về việc hỗ trợ tuyên truyền đến thân nhân các mộ bị ảnh hưởng trong dự án di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quân Bình Tân.

Theo đó, UBND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đề nghị các thân nhân có mộ bị ảnh hưởng trong dự án di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh liên hệ đăng ký bốc mộ hạn chót từ nay đến ngày 30/10/2022, thời gian bốc mộ hạn chót từ ngày 01/11/2022 đến ngày 30/4/2023. Nếu sau thời gian nêu trên, các mộ không có thân nhân đăng ký bốc mộ, UBND quận Bình Tân sẽ lập các thủ tục để thực hiện công tác bốc mộ hàng loạt theo kế hoạch.

Dự án di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa được triển khai thực hiện theo Công văn số 4894-CV/VPTU ngày 13/8/2010 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Công văn số 4119/UBND- ĐTMT ngày 23/8/2010 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về chủ trương di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân.

Địa điểm thực hiện dự án như sau: Giai đoạn 1 (12,9504 ha) thuộc phường Bình Hưng Hòa (Khu 10 ha) gồm các Nghĩa trang Phật học, Tương tế Thánh Minh, Tương tế Thanh Hóa, Tương tế Sòng Sơn, Nghĩa trang Chùa Đại Giác, Nghĩa trang Tư cỏ (Lê Văn Hai), Nghĩa trang Đức Thành (Trần Văn Lái), Nghĩa trang Hai Cỏ (Nguyễn Văn Cở), Nghĩa trang Sáu Tờ (Nguyễn Ánh), Nghĩa trang Ba Trung (Huỳnh Văn Hoàng), Nghĩa trang Tư nhân Hoàng (Huỳnh Văn Hoàng), Nghĩa trang Minh Phượng (Lê Văn Hai) và phường Bình Hưng Hòa A (Khu 2 ha) gồm các Nghĩa trang Liên ứng; một phần Nghĩa trang Quan Bế, Đông Quan, hiện nay dự án còn lại 1.926 mộ chưa có thân nhân đăng ký bốc mộ, di dời.

Giai đoạn 2 (11,54 ha): thuộc Phường Bình Hưng Hòa A gồm các Nghĩa trang Giáo xứ Đức Mẹ A, Thượng Nông, Vụ Bản, Hiếu Nghĩa, Sáu Liễu, Tân Việt, Khu 85, Ngọc Cụt, Nam Thái, một phần Nghĩa trang Bắc Việt, một phần Nghĩa trang Chín Lý (Nguyễn Thị Lý), Nghĩa trang Chín Hoàng (Trương Văn Hoàng), một phần Nghĩa trang Hai Bì (Nguyễn Văn Bì), Nghĩa trang Giáo xứ An Lạc, Nghĩa trang Út Tre (Võ Văn Tre), nghĩa trang Hai Cờ (Võ Văn Cờ), nghĩa trang Chín Láy (Trần Văn Láy), Nghĩa trang Tư nhân Chánh (Trần Văn Chánh), Nghĩa trang Chín Hoàng (Trương Văn Hoàng), Nghĩa trang Vân Chàng, Nghĩa trang Văn Ấp. Hiện nay còn lại 5.671 mộ bị ảnh hưởng chưa có thân nhân đăng ký bốc mộ, di dời.

Giai đoạn 3 (16 ha): thuộc phường Bình Hưng Hòa A gồm các Nghĩa trang Cán Bộ, Bắc Việt, Giác Quan, Sau chùa Di Lạc, Trấn Quốc Giác Hải, Đông Quan, Liên Ứng, Hòa Hưng, Tư nhân Thành, nhà sau chùa Trấn Quốc Giác Hải, Chín Lý, Tư Danh, Út Cuộc, Nguyễn Văn Bì, Bắc Hà, Hai Nhớ, Chín Hoàng, Tư Một, Đất tộc - Tư Lập, GX Tân Phú - Tám Quẹo, Tám Sơn, Bảy Bạch, Đồng hương Kính Danh, GX Vườn Xoài, Đất Làng, Ba Thổ, Út Tre, Ngọc Cụt, GX Nam Hòa, Út Lợi.

Để chuẩn bị cho công tác bốc mộ trong năm 2022, UBND quận Bình Tân đề nghị các thân nhân liên hệ đăng ký kê khai từ nay đến ngày 30/10/2022, thời gian bốc mộ hạn chót từ ngày 1/11/2022 đến ngày 30/4/2023. Nếu sau thời gian trên, các mộ không có thân nhân đăng ký bốc mộ, UBND quận Bình Tân sẽ lập các thủ tục để thực hiện công tác bốc mộ hàng loạt theo kế hoạch.

Về hồ sơ kê khai, bốc mộ: Nhận hồ sơ trực tiếp tại Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng quận Bình Tân - Địa chỉ 380 Kinh Dương Vương, phường An Lạc A, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh (đối diện Bến xe Miền Tây) hoặc theo mẫu hồ sơ kê khai tại Website dự án:www.duandidoinghiatrangbhh.vn

Cách thức nộp hồ sơ: Nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện về Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng quận Bình Tân - Địa chỉ 380 Kinh Dương Vương, phường An Lạc A, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 0919.893.700, 0919.895.581, 0919.893.793./.

​Dự án Di dời Nghĩa trang Bình Hưng Hòa với quy mô diện tích là 53,612 ha (phần diện tích đất thu hồi) là 40,6969 ha với 53.956 mộ bị ảnh hưởng, chia làm 03 giai đoạn thực hiện:
Giai đoạn 1 (12 ha): có tổng số mộ bị ảnh hưởng là 15.539 mộ, đã vận động được thân nhân đăng ký kê khai 13.715 mộ (đạt 88,26%), trong đó đã bốc và di dời 13.613 mộ (đạt 87,6%) còn lại 1.926 mộ chưa có thân nhân đăng ký bốc mộ, di dời.
Giai đoạn 2 (11,54 ha): có tổng số mộ bị ảnh hưởng là 16.848 mộ, đã vận động được thân nhân đăng ký kê khai 11.651 mộ (đạt 69,15%), trong đó đã bốc và di dời 11.177 mộ (đạt 66,34%), còn lại 5.671 mộ chưa có thân nhân đăng ký bốc mộ, di dời.
Giai đoạn 3 (16 ha): Dự án giai đoạn 3 (khu 16ha) có 21.569 mộ bị ảnh hưởng, hiện đã thông qua danh mục đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2015-2020.


TH


15/07/2022 6:00 SAĐã ban hành
Long An tổ chức “Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022” từ ngày 17/9/2022 đến ngày 21/9/2022Long An tổ chức “Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022” từ ngày 17/9/2022 đến ngày 21/9/2022
Từ ngày 17/9/2022 đến ngày 21/9/2022, UBND tỉnh Long An tổ chức “Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022”, nhằm góp phần đưa du lịch Long An ngày càng phát triển; tạo điểm nhấn để phát triển du lịch gắn với việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên và làng nghề truyền thống. Tổ chức các hoạt động kích cầu, quảng bá, xúc tiến về tiềm năng, thế mạnh du lịch Long An với thông điệp “Du lịch Long An an toàn, thân thiện, hấp dẫn”.

Việc tổ chức "Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022" còn là điều kiện thuận lợi cho các khu di tích, điểm du lịch, doanh nghiệp du lịch, lữ hành, khách sạn, làng nghề truyền thống liên kết, hợp tác phát triển du lịch, quảng bá thương hiệu, sản phẩm đến du khách trong và ngoài nước.

Thông qua việc tổ chức "Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022" sẽ giới thiệu, quảng bá, xúc tiến hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh, sản phẩm du lịch, ẩm thực đặc trưng, các dịch vụ du lịch…, đồng thời giới thiệu giá trị văn hóa đặc sắc của tỉnh Long An. Cơ hội tìm kiếm đối tác, tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch. Cơ hội giới thiệu, quảng bá, đánh thức tiềm năng du lịch gắn với yếu tố lịch sử, giàu bản sắc văn hóa của vùng đất Long An "Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc". Cơ hội trao đổi, liên kết với một số địa phương trong nước và trên thế giới, mở rộng giao lưu văn hóa. Lan tỏa, nhân rộng những giá trị của văn hóa truyền thống, nghệ thuật đờn ca tài tử, di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, góp phần bảo vệ và phát huy các lễ hội, văn hóa, bản sắc đặc trưng của Long An nói riêng và Tây Nam bộ nói chung.

Các hoạt động diễn ra trong "Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022" bao gồm: Chương trình khai mạc, bế mạc; Lễ dâng hương kỷ niệm 55 năm tỉnh Long An được phong tặng danh hiệu "Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc" (17/9/1967 -17/9/2022); Lễ hội đường phố; Lễ hội ẩm thực đường phố, nghề truyền thống; Hội chợ triển lãm sản phẩm OCOP tỉnh Long An năm 2022; Triển lãm, không gian Thư pháp và giao lưu đờn ca tài tử; Giao lưu các loại hình nghệ thuật dân tộc; Hội thi "Người đẹp sông Vàm" năm 2022; Tổ chức Famtrip khảo sát, giới thiệu sản phẩm, tour du lịch mới Long An; Hội thảo "Phát triển bền vững du lịch Long An giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030"; Không gian trò chơi dân gian và trò chơi tuổi thơ miền quê; Tổ chức giao lưu Bóng chuyền giữa Long An và các tỉnh, thành bạn; Tổ chức chạy Marathon hưởng ứng Tuần Văn hóa – Du lịch tỉnh Long An năm 2022; Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Long An năm 2022 sẽ bế mạc lúc 18 giờ 00 phút, ngày 21/9/2022./.

TH


26/07/2022 4:00 CHĐã ban hành
Cuộc thi “Tìm kiếm giải pháp chuyển đổi số quốc gia – Viet Solutions” năm 2022Cuộc thi “Tìm kiếm giải pháp chuyển đổi số quốc gia – Viet Solutions” năm 2022
Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chủ trì tổ chức phát động Cuộc thi “Tìm kiếm giải pháp Chuyển đổi số Quốc gia - Viet Solutions” năm 2022.

Viet Solutions là cuộc thi do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, Cục Tin học hóa và Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel đồng tổ chức, từ năm 2022 có sự tham gia đồng hành của Công ty Galaxy Digital, cùng sự tham gia bảo trợ truyền thông của Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài tiếng nói Việt Nam (VOV), Báo VietNamNet, Báo Vnexpress và Tạp chí Thông tin và Truyền thông.

Viet Solutions 2022 cũng nhận được sự hưởng ứng đồng hành của rất nhiều cơ sở đào tạo Đại học, gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Công nghệ Bưu chính, viễn thông, Học viện Nông nghiệp, các Trường Đại học: Bách khoa Hà Nội, Ngoại thương, Bách Khoa Đà Nẵng, Duy Tân Đà Nẵng và Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã khái quát và đưa ra nhận thức rằng: "Câu hỏi đúng thì quan trọng hơn câu trả lời, bài toán tường minh thì quan trọng hơn lời giải. Việc khó với mình thì có thể là không khó với một ai đấy ngoài kia. Bởi vậy mà cách tốt nhất để phát triển là công khai bài toán của mình, công khai vấn đề của mình."  Vì vậy, Viet Solutions là nơi tập hợp các bài toán, các vấn đề chuyển đổi số Việt Nam. Viet Solutions cũng là nơi tìm kiếm và chia sẻ các giải pháp cho chuyển đổi số Việt Nam.

Với tinh thần đó, Ban Tổ chức đã đưa ra mục tiêu cụ thể và giá trị giải thưởng lên đến gần 2 tỷ đồng để khích lệ mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân cùng tham gia đặt bài toán và giải bài toán cho Chuyển đổi số quốc gia.

Mục tiêu của Cuộc thi năm 2022 là: Tìm kiếm và công bố các bài toán chuyển đổi số Việt Nam ở các ngành, lĩnh vực, địa phương và doanh nghiệp; Tìm kiếm và trao giải cho cặp bài toán và cách làm mới xuất sắc cho ngành; Tìm kiếm và trao giải cho các cặp bài toán và giải pháp xuất sắc cho địa phương; Tìm kiếm và trao giải cho các cặp bài toán và giải pháp xuất sắc cho doanh nghiệp; Tìm kiếm và trao giải cho các cặp bài toán và giải pháp xuất sắc cho các dự án về cộng đồng.

Đến thời điểm phát động, Bộ Thông tin và Truyền thông đã nhận được 30 bài toán từ các tổ chức, cá nhân và đăng tải trên trang https://c63.mic.gov.vn. Thông qua cuộc thi, Ban Tổ chức kêu gọi các bộ, ngành, địa phương, các Hội, hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ, các trường đại học, các tổ chức, cá nhân và người dân hãy tham gia, người thì đặt bài toán, người thì nêu vấn đề của mình, người thì đưa ra ý tưởng, người giải bài toán. Không phân biệt bài toán lớn hay bài toán nhỏ, không phân biệt doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp nhỏ, không phân biệt cá nhân, tổ chức trong nước hay cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Cuộc thi được tổ chức thành 03 vòng thi, gồm vòng sơ loại, vòng bán kết và vòng chung kết. Để tiến sâu vào các vòng trong, thì việc đặt bài toán một cách tường minh là đặc biệt quan trọng. Bài toán phải đầy đủ các thông tin chi tiết về tổng quan, quy mô thị trường, thực trạng và mong muốn lời giải. Trong đó, quy mô thị trường sẽ cho thấy mức độ hấp dẫn, tạo động lực và nguồn lực khi tham gia giải bài toán.

Đến nay là năm thứ 3, cuộc thi Tìm kiếm Giải pháp Chuyển đổi số Quốc gia - Viet Solutions được chủ trì bởi Bộ Thông tin và Truyền thông. Mỗi năm đều có những thay đổi mới để tạo ra nhiều hơn không gian sáng tạo và khuyến khích sự tham gia của đông đảo các tổ chức, cá nhân. Viet Solutions 2020, lần đầu tiên Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, Cục Tin học hóa và Viettel đồng tổ chức, đặt ra mục tiêu tìm kiếm giải pháp hoàn thiện, chưa phổ biến, nhưng có tiềm năng lớn và nhận được 343 sản phẩm từ 23 quốc gia tham dự. Năm 2021, Cuộc thi thêm không gian mới là "Tìm kiếm ý tưởng giải quyết" và lần đầu tiên đưa ra 10 bài toán cụ thể để tìm kiếm giải pháp và ý tưởng.

Năm nay, Viet Solutions 2022, có thêm sự đồng hành của Công ty Galaxy Digital Holdings, cùng sự đồng hành của nhiều trường đại học và bảo trợ của 5 cơ quan báo chí truyền thông. Về cơ cấu, có thêm không gian cho "Cách triển khai độc đáo mang lại kết quả đột phá", và đặc biệt là "Trao giải cho tổ chức, cá nhân nêu ra được bài toán".

* Đăng ký, cập nhật và chia sẻ bài toán tại:  https://c63.mic.gov.vn 

* Đăng ký, cập nhật và chia sẻ câu chuyện thành công tại: https://t63.mic.gov.vn 

* Đăng ký tham gia Cuộc thi tại: https://vietsolutions.net.vn

*Tài liệu về Cuộc thi được download về tại: https://drive.google.com/drive/folders/1Rmx4o0Lal3gpi3B9PdNDHze5TOrRhxNp

3-SACH-CAC-BAI-TOAN-CDS-QG-2022-11H30-280722.DOCX

 

TH


08/08/2022 12:00 CHĐã ban hành
Giải báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ V - năm 2022Giải báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ V - năm 2022
Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội có văn bản tuyên truyền về việc tham gia, hưởng ứng Giải báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ V - năm 2022.

Nội dung các tác phẩm tham gia giải là những tác phẩm đảm bảo tính chân thực, chính xác, khách quan, có định hướng tư tưởng, chính trị đúng đắn. Tác phẩm phải nêu được những vấn đề mới về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh và đang được dư luận xã hội quan tâm, có tính phát hiện, tổng kết, hướng dẫn; có tính thuyết phục và hiệu quả xã hội cao; có phương pháp thể hiện hấp dẫn, sáng tạo, có tác động tích cực trong phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

Mỗi tác giả, nhóm tác giả được chọn tối đa 3 tác phẩm báo chí để tham gia giải. Tác phẩm được viết bằng tiếng Việt được đăng, phát trên các loại hình báo chí (báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, ảnh báo chí) kể từ ngày 16.11.2021 đến ngày 10.8.2022; nếu tác phẩm nhiều kỳ thì ít nhất phải có 2/3 số tác phẩm đăng, phát trong khoảng thời gian nêu trên.

Thời gian nhận tác phẩm báo chí tham gia giải chậm nhất đến ngày 30.8.2022. Tác giả dự giải có thể nộp tác phẩm trực tiếp hoặc qua đường bưu điện gửi về Hội Nhà báo TP Hà Nội - địa chỉ số 62 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội; số điện thoại 02439412067; Email: hoinhabaohanoi@gmail.com./.

TH


18/08/2022 3:00 CHĐã ban hành
Giải Long An Marathon 2022 – Về Đồng Tháp MườiGiải Long An Marathon 2022 – Về Đồng Tháp Mười
Trong hai ngày 17 và 18/9/2022, tại huyện Vĩnh Hưng sẽ diễn ra giải Long An Marathon 2022 – Về Đồng Tháp Mười. Sự kiện do UBND tỉnh Long An, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, Tạp chí Nông thôn Việt phối hợp với UBND huyện Vĩnh Hưng và NTV Media tổ chức.

Đây là giải Marathon quy mô lớn lần đầu tiên được tổ chức tại Long An, nằm trong khuôn khổ Tuần Văn hóa – Du lịch của tỉnh Long An năm 2022, nhằm lan tỏa tinh thần vận động thể thao, nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời kích cầu du lịch cho vùng Đồng Tháp Mười.

6d9feb5c2cb8efe6b6a9.jpg

Với 4 cự ly: 5km, 10km, 21km, 42km, Long An Marathon 2022 dự kiến quy tụ khoảng 4.000 người tham gia, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sĩ quan, lực lượng vũ trang tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…trên địa bàn tỉnh và các vùng lân cận; các vận động viên chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp, người yêu thích môn chạy Marathon trên cả nước.

Đến với Long An Marathon 2022, các vận động viên sẽ có cơ hội được sải chân trên những con đường giữa vùng quê thanh bình với những cánh đồng sen ngát hương, những hàng cây tràm xanh mát. Đặc biệt, cung đường chạy của cự ly 42km sẽ đi qua đường tuần tra biên giới, nằm dọc biên giới giữa Việt Nam với nước bạn Campuchia.

Các vận động viên đăng ký tham gia Long An Marathon 2022 – Về Đồng Tháp Mười từ nay đến hết ngày 31/8/2022 qua cổng thông tin điện tử https://raceez.com/event/long-an-marathon-2022 hoặc https://longanmarathon.com/cong-dang-ky/

Được tổ chức lần đầu tiên tại huyện Vĩnh Hưng, Giải Long An Marathon 2022 hứa hẹn sẽ mang đến những trải nghiệm thú vị qua cung đường đua đặc biệt của " Đồng Tháp Mười"./.

TH


23/08/2022 3:00 CHĐã ban hành
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Ngân (1902 - 2022),   lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt NamKỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Ngân (1902 - 2022),   lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam

I. KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ VĂN NGÂN

Đồng chí Võ Văn Ngân sinh năm 1902, trong một gia đình nông dân yêu nước và có truyền thống cách mạng ở làng Đức Hòa, quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An).

Thời niên thiếu, Võ Văn Ngân đã rất ham học hỏi và có tinh thần tự lực vươn lên. Ngay từ nhỏ, chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, đồng bào sống cơ cực, lầm than dưới ách quân xâm lược; chịu ảnh hưởng từ truyền thống cách mạng của quê hương, gia đình, đặc biệt là người anh trai Võ Văn Tần, nên Võ Văn Ngân sớm hình thành tình cảm yêu nước, thương dân sâu sắc.

Những năm 20 của thế kỷ XX, người thanh niên Võ Văn Ngân lên Sài Gòn gia nhập Hội kín Nguyễn An Ninh (tức Thanh niên Cao vọng Đảng), rồi vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. 

Năm 1929, đồng chí Võ Văn Ngân tham gia thành lập chi bộ An Nam Cộng sản Đảng đầu tiên ở làng Đức Hòa. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Võ Văn Ngân là đảng viên Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở tỉnh Chợ Lớn, lập vào ngày 6/3/1930 tại làng Đức Hòa.

Tháng 5/1930, khi quận ủy Đức Hòa thành lập, đồng chí Võ Văn Ngân được bầu vào Quận ủy (do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư). Ngày 04/6/1930, Đồng chí cùng Quận ủy Đức Hòa thực hiện chỉ đạo của liên tỉnh ủy phối hợp lãnh đạo cuộc biểu tình chống Pháp lớn nhất Nam kỳ diễn ra tại quận lỵ Đức Hòa. Sau cuộc biểu tình trên, đêm 22/9/1930, nhà cầm quyền Pháp điên cuồng ra lệnh truy lùng những người cộng sản, đồng chí Võ Văn Ngân phải lánh sang Hóc Môn - Gia Định để tiếp tục hoạt động.

Cuối năm 1931, nhiều đồng chí Tỉnh ủy Gia Định bị địch bắt, đồng chí Võ Văn Ngân cùng anh trai Võ Văn Tần ra sức khôi phục lại các cơ sở Đảng và cùng với các đồng chí khác lần lượt lập lại Quận ủy Gò Vấp, Hóc Môn, tái lập Tỉnh ủy Gia Định; được Xứ ủy chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Định.

Năm 1932, đồng chí Võ Văn Ngân về làm Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn thay đồng chí Võ Văn Tần, góp công sức vào việc khôi phục tổ chức, củng cố cơ sở Đảng ở cả 2 tỉnh Chợ Lớn - Gia Định trong thời kỳ thoái trào 1931-1933.

Đầu năm 1933, đồng chí Võ Văn Ngân vừa là Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, vừa là thành viên của Đặc ủy Vàm Cỏ Đông; đầu tháng 3/1935, được tổ chức Đảng tín nhiệm bổ sung vào Xứ ủy, trực tiếp về phụ trách Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và được cử đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất.

Tháng 3/1935, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất họp ở Ma Cao (Trung Quốc), đồng chí Võ Văn Ngân được bầu là một trong 9 ủy viên chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc, đồng chí Võ Văn Ngân trở về Nam kỳ hoạt động trong hoàn cảnh 8 ủy viên Trung ương Đảng lần lượt sa lưới mật thám, Xứ ủy lại bị vỡ, Võ Văn Ngân cùng các đồng chí khác kiên trì khôi phục lại Xứ ủy và trực tiếp làm Bí thư Xứ ủy.

Năm 1936, tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy do đồng chí Võ Văn Ngân làm Bí thư, hàng trăm ủy ban hành động ra đời; Đảng đưa người ra công khai ứng cử vào Hội đồng Quản hạt thành phố, Đồng chí trực tiếp lãnh đạo nhiều cuộc mít tinh, biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ tại Sài Gòn - Chợ Lớn.

Tháng 3/1937, sau Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Văn Ngân chuyển bệnh nặng, Trung ương Đảng quyết định để Đồng chí nghỉ dưỡng bệnh lâu dài và chỉ định đồng chí Võ Văn Tần thay làm Bí thư Xứ ủy Nam kỳ, bổ sung vào Trung ương Đảng.

Năm 1938, đồng chí Võ Văn Ngân được Xứ ủy chuyển từ Bình Lý về gia đình ở ấp Bình Tả, làng Đức Hòa chữa bệnh, nhưng do bệnh nặng, Đồng chí từ trần vào ngày 29/10/1938, khi mới 36 tuổi.

II. NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ VĂN NGÂN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC

1. Đồng chí Võ Văn Ngân - từ người thanh niên yêu nước trở thành một đảng viên thế hệ đầu tiên của Đảng

Vào nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XX, qua tuyên truyền của Võ Văn Tần về phong trào yêu nước theo lập trường vô sản với những bước phát triển quan trọng, đã tác động ảnh hưởng tích cực và là một trong yếu tố quyết định đến tư tưởng, định hướng đi theo con đường cách mạng của Võ Văn Ngân.

Trong không khí sôi nổi của phong trào yêu nước ở Đức Hòa, Sài Gòn, Chợ Lớn, cuối năm 1926, được sự tuyên truyền vận động, giúp đỡ của các hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn, Chợ Lớn vừa thành lập, Võ Văn Ngân đã dứt khoát lựa chọn và quyết định chuyển sang lập trường yêu nước theo xu hướng mới và chính thức gia nhập tổ chức này, trở thành một trong những hội viên đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ nói chung và tỉnh Chợ Lớn nói riêng. Tham gia tổ chức này, Võ Văn Ngân đã chuyển biến từ lập trường yêu nước sang lập trường cách mạng vô sản, là một trong số hội viên cốt cán ở quận Đức Hoà, thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Võ Văn Ngân đã đi tuyên truyền về tôn chỉ mục đích của Hội, vận động quần chúng, nhất là thanh niên tham gia Hội, phát triển tổ chức Hội Thanh niên trong quận Đức Hòa và tỉnh Chợ Lớn.

Vào đầu năm 1927, Võ Văn Ngân từ Sài Gòn trở về Đức Hòa để hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng theo đường hướng của Hội Thanh niên. Trên địa bàn quận Đức Hòa, Võ Văn Ngân đã tích cực tuyên truyền mục tiêu, lý tưởng của Hội Thanh niên, từng bước vận động quần chúng tham gia tổ chức Thanh niên, phát triển hội viên, thanh thế và lực lượng của tổ chức Thanh niên. Do có uy tín trong làng và địa bàn hoạt động rộng, Võ Văn Ngân đã tuyên truyền, vận động được nhiều hội viên; lựa chọn những người hăng hái tích cực trong nông dân, chú trọng nhất là thanh niên, giáo dục nâng cao lòng yêu nước và ý thức giai cấp, động viên khích lệ họ tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Bằng sự nỗ lực, uy tín cùng với những hoạt động tích cực, Võ Văn Ngân đã sớm xây dựng được các chi hội Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Đức Hòa, Mỹ Hạnh, Đức Lập, Hựu Thạnh. Đây chính là những tổ chức đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở quận Đức Hòa, cũng như của tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An lúc bấy giờ.

Những hoạt động tích cực của Võ Văn Ngân đã góp phần nhanh chóng mở rộng quy mô và ảnh hưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không chỉ ở Đức Hòa, mà đã lan rộng cả vùng nông thôn rộng lớn của Sài Gòn, Chợ Lớn.

Sự kiện gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và hoạt động tích cực trong tổ chức Thanh niên, phát triển tổ chức ở tỉnh Chợ Lớn là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành về bản lĩnh chính trị, khả năng vận động, tổ chức và phẩm chất, năng lực hoạt động của Võ Văn Ngân.

Ngay sau khi An Nam Cộng sản Đảng ra đời, Võ Văn Ngân đã nhanh chóng trở thành thành viên của tổ chức này; là một trong những người đầu tiên tham gia thành lập Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở Đức Hòa (Chi bộ gồm 7 hội viên do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư). Đây là Chi bộ cộng sản ra đời sớm nhất ở Đức Hòa, vào cuối năm 1929; sau khi thành lập, các thành viên của Chi bộ đã chú trọng công tác phát triển hội viên, xây dựng cơ sở.

Ngày 6/3/1930, cuộc họp bí mật của Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng diễn ra với sự tham gia của các đồng chí Võ Văn Ngân, Võ Văn Tần, Nguyễn Văn Sậy, Võ Văn Tây, Võ Thị Phái, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Thỏ tại làng Đức Hòa, quyết định chuyển chi bộ An Nam Cộng sản Đảng thành Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở quận Đức Hoà và tỉnh Chợ Lớn.

Sự ra đời từ rất sớm của Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Đức Hòa đã phản ánh tình thế vận động cách mạng sôi nổi, trong đó có sự đóng góp quan trọng của đồng chí Võ Văn Ngân, một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Người cán bộ tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thực dân Pháp dùng mọi kế sách, thủ đoạn khủng bố thâm độc hòng tiêu diệt các tổ chức cộng sản, tiêu diệt lớp đảng viên đầu tiên của Đảng; mưu toan mau chóng dập tắt các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của Nhân dân ta. Phong trào cách mạng và tinh thần đấu tranh của Nhân dân bị kẻ thù đàn áp, hệ thống Đảng bị tan rã trong cả nước, phong trào cách mạng cả nước nhìn chung lâm vào thoái trào, đồng chí Võ Văn Ngân trên các cương vị lãnh đạo, với sự nỗ lực vượt bậc, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để bền bỉ vận động quần chúng cách mạng giữ vững niềm tin, kiên trì giác ngộ những người yêu nước tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng để xây dựng, phát triển Đảng, tăng cường đội ngũ cho Đảng, Đồng chí đã thành công trong việc góp phần hồi sinh, củng cố và phát triển phong trào cách mạng ở tỉnh Gia Định và Chợ Lớn, đóng góp to lớn vào việc khôi phục tổ chức và mở rộng các hoạt động của Đảng ở Nam bộ trong những năm từ 1930 đến 1938.

- Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Gia Định:

Năm 1931, nhiều đồng chí lãnh đạo của Tỉnh ủy Gia Định sa vào tay địch, để tiếp tục duy trì phong trào, đồng chí Võ Văn Ngân đã tìm mọi cách móc nối, khôi phục lại các cơ sở đã bị phá vỡ, tổ chức tái lập lại tỉnh Gia Định; giữa năm 1931, Đồng chí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Định.

Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Võ Văn Ngân, Đảng bộ tỉnh Gia Định đã giương cao ngọn cờ chống khủng bố, áp bức bóc lột của đế quốc thực dân; ủng hộ, bênh vực những người lao động cần lao; xây dựng phát triển cơ sở Đảng, các tổ chức quần chúng ở các địa phương, đặc biệt ở xã Bà Điểm, tổ chức Nông hội đỏ được củng cố, phát triển khắp khu vực Mười Tám thôn Vườn Trầu...; các đảng viên dựa vào mối quan hệ dòng họ, gia đình để tuyên truyền giới thiệu quần chúng với chi bộ xem xét kết nạp nhằm tăng thêm số lượng đảng viên cho Đảng.

- Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn:

Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, đồng chí Võ Văn Ngân đã khôi phục xây dựng cơ sở đảng ở những nơi bị địch phá vỡ. Hệ thống tổ chức đảng gây dựng từ cấp xã đến tỉnh; cán bộ, đảng viên liên tục bị địch khủng bố gây nhiều tổn thất nặng nề cho phong trào cách mạng. Tính đến cuối năm 1932 ở Nam Kỳ, hầu hết các địa phương không còn tổ chức đảng, riêng chỉ có ở Đức Hòa, Càng Long, Long Xuyên... là còn duy trì hoạt động tổ chức cơ sở đảng. Trong tình hình đó đồng chí Võ Văn Ngân đã chắp nối, từng bước gây dựng phong trào và cơ sở cách mạng.

Cùng với những hoạt động khôi phục, củng cố tổ chức Đảng, đẩy mạnh các phong trào quần chúng trong đấu tranh chính trị, bám sát chủ trương của Đảng là tranh thủ những điều kiện để hoạt động công khai, đồng chí Võ Văn Ngân đã chỉ đạo hoạt động đưa cán bộ, đảng viên tham gia tranh cử Hội đồng thành phố Sài Gòn năm 1933 cùng Đảng Lập hiến và một số đảng phái khác. Theo đó, kết quả ngày 30/4/1933, ứng cử viên công nhân đã giành thắng lợi, một số người được vào Hội đồng thành phố, thuận lợi trong việc bênh vực người lao động, vạch mặt bọn lừa bịp của chính sách thực dân.

Nhờ sự hoạt động tích cực và có hiệu quả của Tỉnh ủy Chợ Lớn do đồng chí Võ Văn Ngân đứng đầu, phong trào cách mạng ở Chợ Lớn cuối năm 1934, đầu năm 1935 được khôi phục và có chiều hướng phát triển. Hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh xuống cơ sở được gây dựng và củng cố. Lực lượng cách mạng gồm nhiều giai cấp, giai tầng của đô thị đã nhanh chóng phát triển cả số lượng và chất lượng; đặc biệt đồng chí Võ Văn Ngân cũng đã rất chú trọng đến công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, kinh nghiệm đấu tranh trên các diễn đàn báo chí; trong đó có tờ báo Búa Liềm ở Chợ Lớn đã góp phần quan trọng vào tuyên truyền đấu tranh của Đảng bộ.

Tài năng, tầm vóc và những đóng góp to lớn của đồng chí Võ Văn Ngân được thể hiện rõ ở trong việc tổ chức thành công Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Đảng (tháng 3/1935) và những đóng góp cho sự chuyển hướng chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (mở rộng) năm 1937-1938, với tư cách là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.

- Trên cương vị vai trò Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, từng bước xây dựng kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ (1935-1936)

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam Kỳ do đồng chí Võ Văn Ngân làm Bí thư đã chỉ đạo các tổ chức Đảng, theo sát tình hình và thường xuyên làm công tác vận động, lôi cuốn quần chúng tham gia cuộc vận động dân chủ, tham gia ủy ban hành động; cùng với phong trào Đông Dương Đại hội, phong trào đấu tranh của các tầng lớp Nhân dân đòi các quyền dân sinh, dân chủ đã được đẩy mạnh và diễn ra trên hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, đặc biệt là ở khu vực thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn.

Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, đồng chí Võ Văn Ngân luôn chú trọng xây dựng các tổ chức Hội, nhất là tổ chức Công hội; xây dựng tổ chức Đảng trong các cơ sở công nghiệp như Ba Son Sài Gòn, đồn điền cao su, xe lửa; chú trọng công tác tuyên truyền trong các phong trào công nhân. Do đó phong trào công nhân Nam Kỳ có sự chuyển biến rõ rệt từ tự phát sang tự giác.

Trên cương vị Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Văn Ngân đã bắt tay vào công tác với tinh thần khí thế mới của Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Thời kỳ này ở Nam Kỳ, địch vẫn ráo riết lùng sục, một số Xứ ủy viên, thành ủy viên tiếp tục bị bắt, đồng chí Võ Văn Ngân phải tạm thời cho dời trụ sở Xứ ủy ở thành phố Sài Gòn về Bà Điểm (Hóc Môn-Gia Định), nơi cơ sở đã được xây dựng từ lâu, có quần chúng cách mạng vững vàng để công tác bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng được thuận lợi và chu đáo.

Chỉ trong hai năm 1934-1935, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Võ Văn Ngân, trên cương vị là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, Bí thư Xứ ủy, phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân lao động đã có sự phát triển mạnh hơn thời kỳ trước, tiêu biểu là thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. 

Từ một đảng viên đầu tiên của Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở làng Đức Hòa, đồng chí Võ Văn Ngân trở thành Bí thư Tỉnh ủy Gia Định (4/1931) rồi Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn (4/1932); được Đảng cử đi dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3/1935); được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3/1935) và trở về phụ trách Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ (3/1935), cho thấy vai trò, cống hiến xuất sắc của Đồng chí ở phương diện xây dựng, chỉ đạo lý luận và thực tiễn.

Cả cuộc đời hoạt động và cống hiến cho cách mạng, cho sự nghiệp của Đảng vì mục tiêu độc lập dân tộc, đồng chí Võ Văn Ngân luôn thực hiện đúng đường lối của Đảng và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kết hợp với phát huy tinh thần cách mạng của quần chúng Nhân dân. Đồng chí Võ Văn Ngân luôn tích cực tham gia và chỉ đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng ngay trên quê hương mình và mở rộng địa bàn, tạo điều kiện cho các đảng viên hoạt động, xây dựng và phát triển tổ chức; thu hút những quần chúng ưu tú vào Đảng, tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của Đảng, làm cho lực lượng của Đảng không ngừng lớn mạnh.

Qua thực tiễn lãnh đạo các phong trào cách mạng, đặc biệt là trên cương vị người đứng đầu tổ chức Đảng các cấp, đồng chí Võ Văn Ngân không chỉ là một trong những người tiên phong góp phần khôi phục, củng cố tổ chức của Đảng, mà còn là người lãnh đạo tài năng, luôn nỗ lực đặc biệt trong tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ đặt ra của cách mạng trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào. 

3. Tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời

Hoạt động cách mạng trong hoàn cảnh hết sức khó khăn với sự khủng bố khốc liệt của kẻ thù, đồng chí Võ Văn Ngân luôn thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng sáng ngời, ở bất kỳ cương vị nào Đồng chí "Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỉ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng", luôn "Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc"; Đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Với 13 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Võ Văn Ngân đã có những cống hiến rất to lớn cho Đảng và cách mạng nước ta, để lại tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của người cộng sản tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, suốt đời phấn đấu và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. 

***

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Ngân (1902 - 2022) là dịp để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Long An khẳng định, tri ân công lao to lớn, noi theo tấm gương kiên trung, phấn đấu, hy sinh của Đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; đồng thời, tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh sự đóng góp của các anh hùng liệt sĩ, các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng của cách mạng Việt Nam.  

Tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc những cống hiến to lớn của đồng chí Võ Văn Ngân, chúng ta nguyện noi gương Đồng chí và các nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ra sức học tập, lao động, công tác và chiến đấu, góp phần đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng bộ tỉnh, sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Theo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy


26/09/2022 8:00 SAĐã ban hành
Tiểu sử tóm tắt và chương trình hành động người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh Long An nhiệm kỳ 2021 – 2026Tiểu sử tóm tắt và chương trình hành động người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh Long An nhiệm kỳ 2021 – 2026

1. Đơn vị bầu cử số 1, huyện Đức Huệ, tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

2. Đơn vị bầu cử số 2, gồm các xã, thị trấn (Lộc Giang, An Ninh Tây, An Ninh Đông, thị trấn Hiệp Hòa, Hiệp Hòa, Tân Mỹ, thị trấn Hậu Nghĩa, Đức Lập Thượng, Đức Lập Hạ, Đức Hòa Thượng, Mỹ Hạnh Nam thuộc huyện Đức Hòa), tổng số người ứng cử là 08 người.

- Xem thông tin.

3. Đơn vị bầu cử số 3, gồm các xã, thị trấn (Hòa Khánh Nam, Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Mỹ Hạnh Bắc, Đức Hòa Đông, Đức Hòa Hạ, thị trấn Đức Hòa, Hựu Thạnh, Hòa Khánh Đông thuộc huyện Đức Hòa), tổng số người ứng cử là 08 người.

- Xem thông tin.

4. Đơn vị bầu cử số 4, gồm thị trấn Bến Lức và các xã ( Long Hiệp, Phước Lợi, Mỹ Yên, Tân Bửu, Thanh Phú thuộc huyện Bến Lức), tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

5. Đơn vị bầu cử số 5, gồm các xã (An Thạnh, Tân Hòa, Lương Hòa, Lương Bình, Thạnh Lợi, Thạnh Hòa, Bình Đức, Thạnh Đức, Nhựt Chánh thuộc huyện Bến Lức), tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

6. Đơn vị bầu cử số 6, huyện Thủ Thừa, tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

7. Đơn vị bầu cử số 7, thành phố Tân An, tổng số người ứng cử là 08 người.

- Xem thông tin.

8. Đơn vị bầu cử số 8, huyện Châu Thành, tổng số người ứng cử là 07 người.

- Xem thông tin.

9. Đơn vị bầu cử số 9, huyện Tân Trụ, tổng số người ứng cử là 05.

- Xem thông tin.

10. Đơn vị bầu cử số 10, gồm thị trấn Cần Đước và các xã (Tân Lân, Tân Chánh, Tân Ân, Phước Đông, Phước Tuy, Long Hựu Đông, Long Hựu Tây thuộc huyện Cần Đước), tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

11. Đơn vị bầu cử số 11, gồm các xã (Long Định, Long Cang, Phước Vân, Long Sơn, Tân Trạch, Long Khê, Long Trạch, Long Hòa, Mỹ Lệ thuộc huyện Cần Đước), tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

12. Đơn vị bầu cử số 12, gồm các xã (Phước Lý, Long Thượng, Phước Hậu, Phước Lâm, Mỹ Lộc, Long An, Thuận Thành thuộc huyện Cần Giuộc), tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

13. Đơn vị bầu cử số 13, gồm thị trấn Cần Giuộc và các xã (Long Phụng, Đông Thạnh, Tân Tập, Phước Vĩnh Đông, Phước Vĩnh Tây, Phước Lại, Long Hậu thuộc huyện Cần Giuộc), tổng số người ứng cử là 07 người.

- Xem thông tin.

14. Đơn vị bầu cử số 14, huyện Thạnh Hóa, tổng số người ứng cử là 03 người.

- Xem thông tin.

15. Đơn vị bầu cử số 15, huyện Tân Thạnh, tổng số người ứng cử là 05 người.

- Xem thông tin.

16. Đơn vị bầu cử số 16, huyện Vĩnh Hưng, tổng số người ứng cử là 03 người.

- Xem thông tin.

17. Đơn vị bầu cử số 17, huyện Tân Hưng, tổng số người ứng cử là 03 người.

- Xem thông tin.

18. Đơn vị bầu cử số 18, huyện Mộc Hóa, tổng số người ứng cử là 03 người.

- Xem thông tin.

19. Đơn vị bầu cử số 19, thị xã Kiến Tường, tổng số người ứng cử là 03 người.

- Xem thông tin.


17/05/2021 7:00 SAĐã ban hành
Người từ vùng dịch về Long An trong thời gian từ ngày 20/5/2021 đến ngày 01/6/2021 thực hiện cách ly tại nhàNgười từ vùng dịch về Long An trong thời gian từ ngày 20/5/2021 đến ngày 01/6/2021 thực hiện cách ly tại nhà
Trước tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh diễn biến ngày càng phức tạp, để tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch, không để dịch bệnh lan rộng trên địa bàn tỉnh, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm đối với người trên địa bàn tỉnh yêu cầu:

1. Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh khẩn trương rà soát, xác định danh sách tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người dân từ vùng dịch (đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh...) về Long An trong khoảng thời gian từ ngày 20/5/2021 đến ngày 01/6/2021 để chỉ đạo tổ chức cách ly tại nhà theo quy định; đồng thời phối hợp với Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tiến hành lấy mẫu và xét nghiệm PCR đối với tất cả các trường hợp này.

Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động giao Thủ trưởng cơ quan tổ chức cho làm việc trực tuyến đảm bảo giải quyết tốt, không để ách tắc công việc được phân công.

2. Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Y tế các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức xây dựng kế hoạch thực hiện việc lấy mẫu và trả kết quả xét nghiệm cho các địa phương, đảm bảo nhanh, kịp thời, chính xác.

3. Trưởng ban Ban Quản lý khu kinh tế, Giám đốc Sở Công Thương, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung theo chỉ đạo tại Thông báo khẩn số 1672/TB-BCĐ ngày 31/5/2021 của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm đối với người trên địa bàn tỉnh.

4. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An triển khai thông tin nhanh, liên tục chỉ đạo trên để các doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh biết, thực hiện.

Theo chỉ đạo trên, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, Thủ trưởng các đơn vị liên quan khẩn trương triển khai thực hiện./.

1697-01-6-2021.pdf

TH


01/06/2021 2:30 CHĐã ban hành
Đại dịch COVID-19: Mách bạn cách ứng phó những tình huống hoảng sợĐại dịch COVID-19: Mách bạn cách ứng phó những tình huống hoảng sợ
Đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, bài viết này cung cấp một số cách ứng phó những tình huống nhằm giúp cộng đồng bớt hoang mang, hoảng sợ.

Thắc mắc về triệu chứng

Bệnh Covid-19 và bệnh cảm thông thường khác nhau như thế nào?

Bệnh COVID-19 biểu hiện chủ yếu là phát sốt; đau đầu và toàn thân đau nhức, mất sức, ho khan, ít đàm; một số người bệnh có triệu chứng thở gấp, khó thở, số ít diễn biến thành hội chứng ngạt thở; thời kỳ đầu tế bào bạch cầu bình thường hoặc giảm nhẹ, X-quang phổi cho thấy diễn biến viêm phổi. Bệnh cảm thông thường triệu chứng bao gồm phát sốt, ho, đau đầu, bệnh sau vài ngày có thể diễn biến tốt, cũng thường không có dấu hiệu viêm phổi.

Phát sốt; ho phải làm sao?

Phương pháp đầu tiên để phân biệt bệnh cảm và bệnh viêm đường hô hấp cấp trước tiên là có hay không việc từng tiếp xúc với người mắc bệnh, hoặc đã từng đi tới vùng dịch; nếu đã có tiền sử như vậy lại xuất hiện triệu chứng sốt cao, ho... phải đi điều trị sớm; có cách ly hay không do bác sĩ quyết định. Nếu không có tình trạng này thì không nên căng thẳng một cách vô cớ, không nên cho rằng một khi bị cảm, trong người khó chịu thì khẳng định là mắc bệnh COVID-19.

Đại dịch Covid-19

Nếu nghi ngờ một người mắc bệnh COVID-19, phải chăng chụp X-quang mới chứng minh là lây nhiễm?

Nếu nghi ngờ mắc bệnh COVID-19 nên sớm đi bệnh viện điều trị, chụp X-quang trợ giúp cho việc chẩn đoán.

Sau khi lây nhiễm, thời gian khoảng bao lâu virus corona chủng mới sẽ gây bệnh?

Xét về góc độ y học, vấn đề chính là thời kỳ tiềm ẩn, nói cách khác là khoảng thời gian bị nhiễm bệnh cho đến thời gian bộc phát, ngắn nhất là 1 ngày, dài nhất là 14 ngày hoặc hơn, thường là 3 - 4 ngày.

Hơi có chút ho hoặc cảm mạo, nghi ngờ mình đã mắc bệnh COVID-19, vậy có đúng không?

Cảm mạo hoặc ho thì nghi ngờ đã mắc bệnh COVID-19 là không đúng. Vào mùa đông xuân, bệnh đường hô hấp, viêm đường hô hấp trên hoặc một số bệnh viêm phổi điển hình (viêm phổi do vi khuẩn), viêm phế quản... là bệnh thường gặp. Cho nên, khi xảy ra các triệu chứng trên thì sợ hãi, nghi ngờ mình đã mắc bệnh COVID-19 là không nên. Nếu như người sốt rất cao, đồng thời kèm ho, thậm chí xuất hiện triệu chứng toàn thân mất sức, đau cơ, đau đầu, đặc biệt là đã từng đi qua vùng có dịch, tiếp xúc qua người đã mắc bệnh, thì nên đến bệnh viện thăm khám, kiểm tra.

Thắc mắc về phương pháp điều trị

Có phương pháp điều trị bệnh COVID-19 không?

Trước mắt chưa có thuốc đặc hiệu và phương pháp điều trị, tuy nhiên, sau khi điều trị triệu chứng và qua điều trị bảo tồn kịp thời, đại đa số người bệnh hồi phục và lành bệnh.

Khẩu trang thông thường dùng bao nhiêu lần thì loại bỏ?

Mang khẩu trang tùy theo tình hình; mang khẩu trang trong bệnh viện trong vòng 3 - 4 giờ nên thay khẩu trang mới.

Ngồi xe công cộng có cần mang khẩu trang không?

Nếu tuyến đường này chưa phát hiện ca bệnh COVID-19, khi ngồi các phương tiện công cộng, không cần mang khẩu trang; nếu tuyến đường này đã có nhiều ca bệnh COVID-19 xảy ra, ngoài ra, nếu sức đề kháng của bạn hơi kém cũng có thể mang khẩu trang để phòng vệ.

Đại dịch Covid-19

Theo nghiên cứu hiện nay, các nhà chuyên môn phải chăng đưa ra kết luận người nào dễ mắc bệnh?Những người nào có tỷ lệ tử vong cao?

Tính đến nay, nghành y tế đã có một tổng kết sơ bộ số ca tử vong nguyên nhân do COVID-19 (và những đợt dịch trước kia). Căn cứ phân tích cho thấy, những ca tử vong có nguyên nhân như sau: một số người sau khi mắc bệnh thời gian đầu không được quan tâm, khi bệnh trạng diễn biến nghiêm trọng mới đến bệnh viện, sau cùng dẫn đến tử vong; nhiều hơn nữa là số người đã mắc một số bệnh khác, chẳng hạn như bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường, đồng thời đã lớn tuổi. Khi bệnh viêm đường hô hấp cấp xảy ra, vài căn bệnh xảy ra cùng một lúc, tình trạng này càng dễ dẫn đến tử vong.Xem xét tình hình đại đa số bệnh nhân, với những ca bệnh này, sau khi điều trị hiệu quả đều rất tốt, rất nhanh chóng hồi phục xuất viện.

Người dân làm thế nào dự phòng bệnh COVID-19?

Người dân chủ yếu tận dụng những biện pháp phòng ngừa như sau: đảm bảo vệ sinh cá nhân tốt; hắt hơi, ho khạc và sau khi vệ sinh mũi phải rửa tay; sau khi rửa tay, dùng khăn lau sạch và khăn giấy lau khô; không dùng khăn lông chung; chú ý ăn uống cân bằng; căn cứ mùa để tăng giảm áo mặc; vận động định kỳ; nghỉ ngơi đầy đủ; giảm nhẹ áp lực và tránh hút thuốc, tăng sức đề kháng của cơ thể; đảm bảo không khí trong nhà thông thoáng, thường xuyên mở hết các cửa sổ, cho không khí lưu thông; đảm bảo máy điều hòa tính năng tốt, thường xuyên tẩy rửa lưới lọc; tránh đi đến nơi công cộng có người đông đúc, không khí không thông thoáng.

Mang khẩu trang có thể phòng ngừa lây bệnh không?

Có trợ giúp phòng ngừa lây nhiễm, nhưng trước khi mang khẩu trang phải rửa tay. Những đối tượng cần mang khẩu trang:

Người có triệu chứng viêm đường hô hấp cấp.

Người chăm sóc người bệnh viêm đường hô hấp cấp.

Sau khi tiếp xúc với người đã xác định mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp, tối thiểu trong 10 ngày phải mang khẩu trang, tính từ ngày sau cùng tiếp xúc với người bệnh.

- Nhân viên y tế.

Xung quanh có ca bệnh nghi ngờ, phải làm thế nào?

Không thăm viếng

Do bệnh COVID-19 thông qua con đường lan truyền bằng bọt khí khoảng cách gần, tính lây nhiễm mạnh, người đang cách ly rất có khả năng trong thời kỳ tiềm ẩn, để tránh bệnh lây lan, đồng thời giúp người cách ly an tâm nghỉ ngơi, nên không thích hợp có người đến thăm viếng.

Cách ly sớm

Cách ly đối với người nghi mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp và người từng tiếp xúc mật thiết với người bệnh, theo thời kỳ tiềm ẩn lớn nhất của bệnh mà đưa ra biện pháp cách ly; theo dõi tình trạng sức khỏe người bệnh, đánh giá phải chăng có khả năng lây bệnh, theo đó dựa vào thời kỳ tiềm ẩn và thời kỳ tiến triển của người bệnh để chẩn đoán, điều trị sớm và cứu hộ. Đây là một biện pháp bảo vệ đối với người nghi mắc bệnh; người từng tiếp xúc mật thiết với người bệnh và người xung quanh.

Nhập viện sớm

Khi xuất hiện triệu chứng bệnh đường hô hấp như phát sốt ho, nên sớm chuyển bệnh nhân đến bệnh viện bằng xe cấp cứu chuyên nghiệp. Đối với người bệnh không thể loại trừ triệu chứng viêm đường hô hấp trên lâm sàng, phải phối hợp với nhân viên y tế có biện pháp cách ly. Có như vậy mới giúp ích cho việc theo dõi bệnh trạng và điều trị kịp thời, đồng thời cũng có thể phòng ngừa bệnh lây lan.

Thắc mắc về điều trị

Đã phát sốt phải làm như thế nào?

Sau khi phát sốt, bất kể đang nghi hoặc có triệu chứng viêm đường hô hấp cấp hay không, nhất định bệnh nhân không đi bằng phương tiện giao thông công cộng (xe bus, xe khách...), để giảm khả năng lây bệnh cho người khác. Lúc này bạn cũng không nên hoảng sợ, có thể xác nhận bản thân phải chăng có sốt thật sự, phải chăng có triệu chứng ho khan, nhớ lại mình gần đây phải chăng đi đến nơi đông đúc có nhiều khả năng lây truyền virus corona, hoặc không nhớ khả năng từng tiếp xúc mật thiết với người bệnh hoặc "nghi ngờ" mắc bệnh. Sau khi suy nghĩ các tình huống này, lập tức chúng ta gọi đến đường dây nóng của bệnh viện để được tham vấn, phối hợp nhân viên tư vấn, cố gắng diễn tả rõ về tình trạng của mình một cách chính xác, nghe sự hướng dẫn của chuyên viên, hoặc nghỉ ngơi tại nhà theo dõi tình hình, hoặc chờ xe chuyên dụng đến khu cách ly.

Đi chữa sốt cần lưu ý những gì?

-Trước tiên, chuẩn bị trả lời những câu hỏi về phát sốt, tránh phải suy nghĩ từng câu từng câu khi được tham vấn, vừa lãng phí thời gian của bác sĩ, kéo dài thời gian khám bệnh của mình, vừa tăng cơ hội lây bệnh. Cần nhớ rõ thời gian phát bệnh, tốt nhất đo thân nhiệt chính xác tại nhà, ghi lại chỉ số, báo cáo với bác sĩ. Ngoài ra, nói rõ với bác sĩ triệu chứng bản thân, có ho khan hay không; đau nhức toàn thân hay không. Địa chỉ cụ thể, số CMND/căn cước đều có thể được đề cập khi tham vấn, cho nên phải nhớ rõ.

- Tìm hiểu đường đến bệnh viện trước khi đi, không đi đường vòng vo.

- Đến bệnh viện trực tiếp gặp phòng tham vấn, trước tiên xác định rõ vị trí không hỏi tới hỏi lui mất thời giờ.

- Tự mình mang theo nhiệt kế cá nhân sẽ tự tin hơn về mặt tâm lý.

- Nhất định phải mang khẩu trang, không chỉ bảo vệ chính mình mà còn bảo vệ nhân viên y tế và cả những người bệnh khác.

- Tốt nhất không để người nhà đi kèm, giảm nguy cơ lây nhiễm cho người nhà.

- Trong khi chờ đợi đến lượt khám, cố gắng đứng nơi thoáng gió, giảm tiếp xúc với người bệnh khác ở khoảng cách gần.

- Không tùy tiện sờ mó, cố gắng ít tiếp xúc các đồ vật công cộng, chẳng hạn như tay vịn cầu thang, tay nắm cửa, nút bấm..., có thể mang khăn giấy tiệt trùng, mọi lúc chùi tay.

- Tại nơi khám bệnh không dụi mắt, móc lỗ mũi, hắt hơi; khạc đàm phải che kín, không đối mặt với người khác, phải dùng khăn giấy che lại.

Thắc mắc về đường lây truyền

Bệnh COVID lây truyền qua con đường nào?

Bệnh COVID-19 thông qua con đường lan truyền bằng bọt khí của người mắc bệnh, đến nay, bệnh được xác định là có lây truyền từ người sang người qua đường tiếp xúc trực tiếp với chất tiết từ đường hô hấp của người bệnh. Bệnh còn lây qua đường gián tiếp khi bàn tay người lành tiếp xúc với các đồ vật bị nhiễm virus, sau đó đưa vào mắt, mũi, miệng và gây nhiễm bệnh.

Làm thế nào tránh lây nhiễm tại phòng làm việc?

Mọi người nếu thấy cơ thể bất ổn, nên khám bệnh sớm, nghỉ ngơi tại nhà, không đi làm việc; tất cả người lao động phải lưu ý vệ sinh cá nhân và bồi dưỡng thói quen sống lành mạnh; đảm bảo không khí phòng ốc thông thoáng, thường xuyên mở cửa sổ, thường xuyên tẩy rửa lưới lọc máy điều hòa; đảm bảo các vật dụng trong phòng làm việc sạch sẽ.

Làm thế nào tránh lây nhiễm trong thang máy?

Mọi người cần lưu ý vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay; khi ho hoặc hắt hơi cần che mũi miệng. Nếu có triệu chứng viêm đường hô hấp, phải mang khẩu trang. Nhân viên quản lý tòa nhà phải đảm bảo vệ sinh thang máy; cửa, tay cầm, nút bấm của thang máy phải thường xuyên dùng thuốc tẩy gia đình pha loãng để làm sạch.

Đến bệnh viện có bị lây nhiễm không?

Người đến bệnh viện phải chú ý vệ sinh cá nhân.Mang khẩu trang giúp phòng ngừa lây nhiễm bệnh.

Người nhà và bạn bè đã thật sự mắc bệnh, biện pháp phòng ngừa như thế nào?

Không nên đi thăm viếng người bệnh. Người có tiếp xúc mật thiết với người bệnh phải lưu ý những điều như sau:

- Không đi làm hoặc đi học; nghỉ ngơi tại nhà, nhưng hàng ngày phải đến trung tâm y tế địa phương báo cáo, tiếp nhận kiểm tra, thời gian là 10 ngày.

- Khi cần ra khỏi nhà, phải mang khẩu trang, đảm bảo thói quen vệ sinh cá nhân tốt.

- Nếu nghi ngờ bản thân từng tiếp xúc với người mắc bệnh, nên đi khám tầm soát; trong vòng 10 ngày phải mang khẩu trang.

- Vật dụng và đồ chơi trong nhà người mắc bệnh phải dùng thuốc tẩy gia đình pha loãng để rửa sạch.

- Lưu ý tình trạng sức khỏe bản thân, chú ý vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay.

- Khi cảm thấy khó chịu, lập tức đi khám bệnh.

Sau khi đến bệnh viện thăm bệnh, quần áo đang mặc phải giặt sạch ngay lập tức?

Lập tức giặt sạch.

Khi dùng cơm chung cần lưu ý những gì?

Khuyến khích thực hiện hình thức ăn riêng.

Thời điểm này đi du lịch có an toàn không?

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo mọi người tránh đi đến những nơi đang có dịch bùng phát. Người từng đi du lịch nếu có triệu chứng nghi ngờ, nên kịp thời tham vấn với chuyên gia.

Theo Trang tin Bộ Y tế

https://ncov.moh.gov.vn/web/guest/-/-ai-dich-covid-19-ang-bung-phat-mach-ban-cach-ung-pho-nhung-tinh-huong-hoang-so

01/04/2020 9:00 SAĐã ban hành
 Kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Long An (30/12/1961 – 30/12/2021) Kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Long An (30/12/1961 – 30/12/2021)
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Từ nam vĩ tuyến 17, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, dựng lên chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ thực dân kiểu mới, phản bội lại những nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống. Chúng chủ trương xoá bỏ ý nghĩa thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và thành quả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng đã thực hiện chính sách khủng bố, trả thù những người yêu nước, ra sức chia rẽ dân tộc, tôn giáo và lệ thuộc vào nước ngoài về mọi mặt.

Với Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, chúng đã tổ chức các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, thảm sát những người yêu nước, tham gia cách mạng và thân nhân những gia đình có người ra Bắc tập kết, cướp lại ruộng đất của nông dân; tiến hành đàn áp các giáo phái, phân biệt đối xử với tư sản, trí thức, công chức đã từng hợp tác với Pháp, phân biệt đối xử với bà con người Hoa… Hàng chục vạn đồng bào ta đã bị thảm sát, hàng ngàn làng mạc đã bị đốt phá, gây nên biết bao cảnh đau thương, tang tóc.

Tức nước, vỡ bờ, nhân dân miền Nam đã vùng lên với nhiều hình thức đấu tranh chính trị, vũ trang để chống lại sự bắt bớ, đàn áp dã man, bảo vệ quyền sống, quyền làm người để xoá cảnh nước nhà bị chia cắt. Cuộc Đồng khởi ở Bến Tre rồi nhanh chóng lan rộng ra khắp các tỉnh Nam bộ, Tây nguyên và một số tỉnh Nam Trung bộ…

Thắng lợi to lớn của cuộc Đồng khởi cùng sự khủng hoảng gay gắt trong nội bộ địch đặt ra yêu cầu mới là phải tập hợp, đoàn kết rộng rãi hơn nữa các tầng lớp nhân dân miền Nam trong một Mặt trận Dân tộc thống nhất để đẩy mạnh cuộc đấu tranh nhằm chấm dứt ách thống trị của đế quốc Mỹ, lật đổ bộ máy ngụy quyền, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày 20-12-1960, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam được tiến hành tại Rùm Đuông, xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đại hội đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam,do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - một người con ưu tú của quê hương Long An làm Chủ tịch. Đại hội đã thông qua Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm của Mặt trận. Đây là sự kiện quan trọng, là bước ngoặt của cách mạng miền Nam.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời là tất yếu của lịch sử, là kết quả của sự sáng tạo trong chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng miền Nam. Kể từ đây, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là người đại diện chân chính, ngọn cờ công khai đoàn kết, tập hợp tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước ở miền Nam, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai phản động, thực hiện độc lập, dân chủ, hoà bình, thống nhất Tổ quốc.

Dưới ngọn cờ đại nghĩa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phong trào đấu tranh của các giới đồng bào miền Nam từ công nhân, nông dân, phụ nữ, học sinh, sinh viên, nhân sĩ, trí thức, dân tộc, tôn giáo… ngày càng diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến miền núi; kể cả có những người trong chính quyền và quân đội Sài Gòn trước đây cũng hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng, đi theo con đường chính nghĩa, đứng về phía nhân dân, có những đóng góp vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, kế thừa và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm hoạt động của các hình thức tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã coi trọng cả ba mũi giáp công và ba vùng chiến lược; kết hợp nhuần nhuyễn các hình thức đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận, ngoại giao nhằm phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp; nắm chắc và kiên trì thực hiện phương châm kiên cường bám trụ, một tấc không đi, một ly không rời, "đẩy lùi từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn". Được sự chi viện tối đa của quân và dân miền Bắc, sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của nhiều nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ của nước Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã lãnh đạo quân và dân miền Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lần lượt làm thất bại các chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, làm nên cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Pari. Mặt trận đã cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình Việt Nam (ra đời 20/4/1968) hiệp thương thống nhất, tổ chức Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam (từ 6-10/6/1969, tại Tây Ninh) để cử ra Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn của Chính phủ; lãnh đạo quân và dân miền Nam đấu tranh làm thất bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đã anh dũng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Đặc biệt, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã góp phần quan trọng làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối, đưa cả nước bước sang một kỷ nguyên mới, đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Trước yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống chiến lược chiến tranh mới của kẻ thù, để tập hợp mọi lực lượng yêu nước ở từng địa phương đi theo ngọn cờ và hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Long An và Kiến Tường đã thành lập tổ chức Mặt trận Dân tộc giải phóng để lãnh đạo các giới, các tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo trên địa bàn nhằm đẩy mạnh hơn nữa phong trào đấu tranh chống Mỹ Diệm, tiến tới giải phóng quê hương, góp phần giải phóng miền Nam.

Tháng 02/1961, Mặt trận Dân tộc giải phóng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Kiến Tường được thành lập ở Tân Mao, xã Bình Hòa thuộc vùng 6 tỉnh Kiến Tường (nay là ấp Gò Vồ Nhỏ, xã Bình Thạnh, Huyện Mộc Hóa) do ông Nguyễn Văn Nghi( thánh danh là Thái Nghi Thanh- Thượng Chánh phối sư Cao Đài ) làm Chủ tịch.

Ngày 30/12/1961, tại Khu Hội Đồng Sầm, ấp Hòa Tây (nay là ấp Tân Hòa) xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ, nhân kỷ niệm một năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tỉnh đã tiến hành đại hội thành lập Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Long An do ông Châu Văn Bảy làm Chủ tịch.

Ngay sau khi ra đời, các chính sách của Mặt trận được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phù hợp với nguyện vọng thiết thực của quần chúng, sách lược của Mặt trận cũng hết sức mềm dẽo nên thu hút được đông đảo quần chúng tham gia và hưởng ứng các phong trào đấu tranh do Mặt trận phát động. Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh đã trở thành trung tâm đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước của tỉnh cùng hòa chung vào nhịp đập của phong trào yêu nước miền Nam vùng lên giải phóng dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với quyết tâm đánh Mỹ, diệt ngụy, Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh đã ra sức phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, kiên trì bám trụ, chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, đau thương, mất mát, từng bước xây dựng, phát triển lực lượng, tiến hành đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận, tạo thế và lực cùng toàn miền Nam thực hiện những đòn tiến công chiến lược, đánh bại những cuộc hành quân, lấn chiếm và các chiến lược chiến tranh của địch, tiến lên thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mặt trận Dân tộc giải phóng và các tầng lớp nhân dân Long An, Kiến Tường đã xây dựng và không ngừng phát huy truyền thống đoàn kết "TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG, TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC" và đó cũng là những kinh nghiệm quý báu được tiếp tục phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nói chung, tỉnh Long An nói riêng, đến ngày Đại thắng mùa Xuân 1975 là chặng đường 15 năm, so với lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, chỉ là một chặng đường rất ngắn. Song, quân và dân ta đã làm nên kỳ tích, "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông nối liền một dải, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong những mốc son chói lọi nhất, tô thắm truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam 91 năm qua; góp phần làm cho Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam không ngừng lớn mạnh, tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân và nhân lên gấp bội tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, góp phần cùng Đảng và dân tộc ta làm nên những trang sử hào hùng nhất, vẻ vang nhất trong thời đại Hồ Chí Minh.

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Long An, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An từ sau năm 1975 đã tiếp tục tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Vận động nhân dân thi đua lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh; Thực hiện dân chủ, tham gia xây Đảng, chính quyền; giám sát và phản biện xã hội; phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; Tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng đối ngoại nhân dân; Tăng cường củng cố chức, đổi mới nội dung phương thức nâng cao hiệu quả hoạt đông của MTTQ Viêt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;

Thành công, thành công, đại thành công.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An


30/12/2021 10:00 SAĐã ban hành
Nghị định 24/2014/NĐ-CP – HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI ĐỊA PHƯƠNG Nghị định 24/2014/NĐ-CP – HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI ĐỊA PHƯƠNG
        Chính phủ vừa ban hành  Nghị định 24/2014/NĐ-CP  quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có hiệu lực từ ngày 20/5/2014, thay thế Nghị định số  13/2008/NĐ-CP  và Nghị định  16/2009/NĐ-CP .

 Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan ngang sở (gọi chung là sở). Nghị định 24 tiếp tục kế thừa những những quy định còn phù hợp của Nghị định 13 và Nghị định 16  đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới

Nghị định gồm 4 chương, 15 điều liên quan tới nguyên tắc tổ chức; vị trí  và chức năng của sở; nhiệm vụ và quyền hạn của sở; cơ cấu tổ chức của sở; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu sở; chế độ làm việc của sở và trách nhiệm của giám đốc sở; tổ chức các sở thuộc  ủy ban Nhân dân cấp tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.

Đảm bảo không chồng chéo chức năng

Theo Nghị định mới ban hành, việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh phải bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của UBND cấp tỉnh và sự thống nhất, thông suốt, quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở; tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, tổ chức sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; không nhất thiết ở Trung ương có bộ, cơ quan ngang bộ thì cấp tỉnh có tổ chức tương ứng. Đồng thời, phải đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên, dân số, tình hình phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước; không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn với các tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ đặt tại địa phương

Các sở được tổ chức thống nhất ở  các địa phương, gồm Sở Nội vụ, Sở Tư  pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và  Phát triển Nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở  Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở  Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa Thể thao và  Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng Ủy ban Nhân dân.Thanh tra tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của sở: Nghị định 24 bổ sung thêm nhiệm vụ, quyền hạn của sở đó là: “Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức và lao động thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh”.

Về cơ cấu tổ chức của sở: Trước đây, theo quy định tại Nghị định 13, cơ cấu tổ chức của sở gồm: văn phòng , thanh tra , phòng nghiệp vụ, không nhất thiết phải có chi cục và tổ chức sự nghiệp. Theo Nghị định 24, thanh tra sẽ không thuộc cơ cấu tổ chức bắt buộc phải có của các sở và riêng Văn phòng UBND cấp tỉnh phải có Cổng Thông tin điện tử và là đầu mối kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh.

  Cũng theo Nghị định này, số lượng phó giám đốc sở  không quá 3 người, riêng thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá 4 người. 

Thành lập sở  đặc thù khi  thật cần thiết: 

Ngoài ra, còn có các sở đặc thù  được tổ chức ở một số địa phương như Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc, Sở Quy hoạch Kiến trúc:
        
+ Sở Ngoại vụ được thành lập khi địa phương đó có đường biên giới trên bộ và có cửa khẩu quốc tế hoặc quốc gia. Những tỉnh không có đường biên giới nhưng có khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế mở, khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; các địa phương có khu du lịch quốc gia hoặc di sản văn hóa được UNESCO công nhận vẫn được tổ chức Sở Ngoại vụ.    
        
+ Ban Dân tộc được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi đảm bảo có 2 trong 3 tiêu chí: có trên 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; có trên 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; có đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại.Những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng tiêu chí trên thì thành lập Phòng Dân tộc hoặc bố trí công chức làm công tác dân tộc. 
        
 Sở Quy hoạch - Kiến trúc chỉ  được thành lập ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Các cơ quan chuyên môn  đặc thù khác chỉ được tổ chức khi cần thiết, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước ở địa phương. Căn cứ tiêu chí do Thủ tướng chính phủ quy định, UBND cấp tỉnh xây dựng đề án thành lập cơ quan chuyên môn đặc thù khác, trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.

Trách nhiệm của giám  đốc sở: Theo đó, giám đốc sở chịu trách nhiệm trước ủy ban Nhân dân, Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và các công việc được ủy ban Nhân dân, Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phân công hoặc ủy quyền. Không chuyển công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình lên ủy ban Nhân dân, Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền hoặc đúng thẩm quyền nhưng không đủ khả năng và điều kiện để giải quyết thì Giám đốc sở phải chủ động làm việc với Giám đốc sở có liên quan để hoàn chỉnh hồ sơ trình ủy ban Nhân dân, Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định...

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2014, thay thế  Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ  quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố  trực thuộc Trung ương và Nghị định số 16/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 của Nghị định số  13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ  quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc  Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

                                                             Thuỳ Dương

21/04/2014 2:00 CHĐã ban hành
Khai mạc Hội Báo Xuân Giáp Ngọ năm 2014Khai mạc Hội Báo Xuân Giáp Ngọ năm 2014
Ngày 24/01/2014, Hội Nhà báo tỉnh Long An phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức khai mạc Hội Báo Xuân Giáp Ngọ năm 2014 tại Trung tâm Văn hóa tỉnh. Đến dự có đồng chí Đặng Văn Xướng – Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, đồng chí Trần Hữu Phước – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí tỉnh và phóng viên thường trú có đăng ký tác nghiệp trên địa bàn.

Hội báo xuân đã thu hút 15 đơn vị có bản tin, tờ tin trong tỉnh tham gia. Sau thời gian chấm giải, Ban Giám khảo đã chọn ra 01 giải A; 02 giải B, 03 giải C và 05 giải khuyến khích của các tờ tin, bản tin xuất sắc về nội dung và đẹp về hình thức để trao giải thưởng. Bên cạnh đó, ban tổ chức Hội báo xuân cũng tổ chức triển lãm giới thiệu ấn phẩm Xuân của tỉnh nhà và hơn 100 báo, tạp chí Xuân của Trung ương và tỉnh, thành phố trong cả nước, để phục vụ cho độc giả đến tham quan, thưởng thức.

 

 

Biểu diễn văn nghệ 

Hội báo xuân Giáp Ngọ 2014 được tổ chức với tinh thần “Vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và nghĩa tình”. Thông qua Hội báo xuân năm nay, các cơ quan báo chí, các tờ tin, bản tin, đặc san tỉnh nhà giới thiệu đến đông đảo các tầng lớp nhân dân những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, quốc phòng - an ninh năm 2013 cũng như những tiềm năng, triển vọng, thời cơ và cả những thách thức trong năm 2014.

 

 
Lãnh đạo tỉnh tham quan triển lãm

 

Phát biểu khai mạc, ông Trần Hữu Phước – Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: “Đảng và Nhà nước rất coi trọng vai trò báo chí, đã trao cho báo chí nhiệm vụ hết sức nặng nề là cầu nối của Đảng với dân, giữa dân với Đảng. Cùng với việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giới báo chí, giới truyền thông phải luôn đồng hành, kề vai sát cánh với nhân dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Bước sang năm 2014, xuân Giáp Ngọ, tôi tin tưởng giới báo chí tỉnh nhà, các bản tin, tờ tin sẽ tiếp tục thông tin những thành tựu đạt được của tỉnh nhà, của ngành mình đến người dân trong tỉnh và các tỉnh bạn”.

 

 

Lãnh đạo tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể có đóng góp tích cực cho Hội báo Xuân năm 2014


 

 

Hội báo xuân được triển lãm phục vụ nhân dân từ ngày 24/01/2014 đến ngày 03/02/2014(mùng 4 tết) tại Trung tâm Văn hóa tỉnh, đồng thời phối hợp triển lãm ảnh nghệ thuật “Long An quê hương tôi lần thứ 25”, với những bức ảnh nghệ thuật đạt giải, ảnh thời sự kinh tế – xã hội của tỉnh.

Phòng BCXB.

25/01/2014 2:00 CHĐã ban hành
Long An: tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnhLong An: tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh
Ngày 05/8/2021, UBND tỉnh có văn bản số 7854/UBND-VHXH về việc tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh.

Theo văn bản, sau 04 ngày tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐTTg ngày 31/7/2021 và Công văn số 5255/VPCPKGVX ngày 31/7/2021 của Văn phòng Chính phủ, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và khó dự báo; số ca bệnh ghi nhận hàng ngày liên tục tăng và ở mức rất cao.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến số ca mắc tăng cao, trong đó một trong những nguyên nhân chính là do ý thức chấp hành thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg và các biện pháp tăng cường theo chỉ đạo của UBND tỉnh thực hiện chưa nghiêm, chưa thực sự hiệu quả, người dân, kể cả cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn ra đường đông với các lý do không chính đáng; đồng thời công tác quản lý, kiểm tra, giám sát người về từ vùng dịch tại một số địa phương còn lỏng lẻo, tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng.

Trước tình hình trên, để thực hiện bằng được mục tiêu bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, hạn chế thấp nhất trường hợp tử vong, bảo vệ hệ thống y tế và khả năng điều trị, cứu chữa bệnh nhân, bảo vệ bằng được "vùng xanh", khống chế và đẩy lùi dịch bệnh tại các địa phương thuộc "vùng đỏ", nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường mới, UBND tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan tập trung thực hiện các nội dung sau:

1. Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đầy đủ hơn nữa các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ được UBND tỉnh chỉ đạo tại Công văn số 7427/UBND-VHXH ngày 27/7/2021, Công văn số 7426/UBND-VHXH ngày 27/7/2021 và Công văn số 7658/UBND-VHXH ngày 01/8/2021. Tuyệt đối không để người dân ra đường khi không thật sự cần thiết, trừ những trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định. Người đứng đầu các địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chủ tịch UBND tỉnh, trước pháp luật về công tác phòng, chống dịch trên địa bàn.

2. Phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương, đặc biệt là vị trí, vai trò, trách nhiệm của Tổ COVID cộng đồng trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát người về từ vùng dịch, đảm bảo không để sót, lọt bất cứ trường hợp người về từ vùng dịch, trường hợp nghi nhiễm nào trong cộng đồng mà chưa được đưa đi cách ly tập trung, xét nghiệm và thực hiện các biện pháp dự phòng phù hợp theo Chỉ thị số 2415/CT-UBND ngày 27/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Tiếp tục củng cố củng cố, tổ chức hướng dẫn, tập huấn chuyên môn để Tổ COVID cộng đồng từng bước tham gia hỗ trợ lực lượng y tế hướng dẫn người dân thực hiện khai báo y tế, lấy mẫu xét nghiệm, cách ly tại nhà và chăm sóc y tế ban đầu cũng như chăm lo đời sống cho mọi người dân trên địa bàn khi có dịch bệnh theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại Công văn số 5312/VPCP-KGVX ngày 03/8/2021.

3. Giao Công an tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các lực lượng chức năng phối hợp với các lực lượng, đơn vị liên quan rà soát bố trí hợp lý các rào chắn (barie) nhằm kiểm soát không để người dân di chuyển ra đường khi không thật sự cần thiết; đồng thời tổ chức tuần tra, kiểm soát 24/24 giờ các tuyến đường liên xã, phường, thị trấn để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

4. Sở Y tế phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông hướng dẫn, chỉ đạo công khai, minh bạch, kịp thời mọi thông tin về phòng, chống dịch bệnh để nhân dân biết, đồng thuận ủng hộ và tích cực tham gia, tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch.

5. Các thành viên Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm đối với người của tỉnh, huyện, thị xã, thành phố theo nhiệm vụ, địa bàn được phân công tiếp tục phối hợp với cấp ủy, địa phương chủ động thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19, đảm bảo nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả.

6. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An tiếp tục tăng cường, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền các quy định, biện pháp phòng, chống dịch; trong đó tập trung ghi nhận, phản ánh kịp thời những kết quả, nỗ lực phấn đấu của các lực lượng tuyến đầu, những mô hình hay, những gương điển hình trong công tác phòng, chống dịch bệnh và diễn biến tình hình dịch bệnh trên địa bàn để mọi người dân nắm biết, tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống dịch.

Yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung chỉ đạo trên; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu để xảy ra các trường hợp không chấp hành nghiêm quy định trên địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách./.

 7854_Thuc hien nghiem cac BP phong chong dich.pdf

TH


05/08/2021 9:00 SAĐã ban hành
Chiến thắng vàm Nhựt TảoChiến thắng vàm Nhựt Tảo
Nằm ở nơi giao hội giữa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nước phẳng lặng hiền hòa thuộc xã Tân Bình, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ngày 10/12/1861, tàu L’ Espérance của quân xâm lược Pháp đã bị đánh chìm tại Vàm Nhựt Tảo. Người đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là “oanh thiên địa” ấy chính là anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, còn có tên là Chơn, sinh năm 1838 tại xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Xóm Nghề là một địa danh khá lâu đời ở phủ Tân An xưa và tỉnh Long An ngày nay. Cư dân Xóm Nghề vốn là hậu duệ của lưu dân từ miền Trung xa xôi, vượt biển vào Nam tìm chân trời mới cách nay ngót ba thế kỷ. Ngoài việc làm ruộng, cư dân nơi đây còn làm nghề đánh cá nên xóm này còn có tên là Xóm Nghề. Nội tổ của Nguyễn Trung Trực - ông Nguyễn Văn Đạo - vốn là một ngư dân ở huyện Phù Cát, phủ Quy Nhơn, di cư vào Xóm Nghề trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ông là một trong những người đầu tiên có công khai phá Xóm Nghề.

Xuất thân trong một gia đình làm nghề chài lưới đã nhiều đời, lại có nguồn gốc từ quê võ Bình Định nên Nguyễn Trung Trực rất giỏi về võ nghệ. Thuở nhỏ, ông theo học võ tại khu vực kinh Bảo Định - nơi phát tích của đạo quân Đông Sơn với căn cứ Ba Giồng nổi tiếng vào cuối thế kỷ XVIII. Năm 18 tuổi, ông thượng đài tại chợ Cai Tài (phủ lỵ phủ Tân An) và thủ võ đài suốt 3 ngày liền mà không có đối thủ ngang tài ngang sức nên tiếng tăm vang dội khắp nơi. Tuy nhiên, ông không hề kiêu căng tự phụ mà rất mực khiêm cung, điềm đạm, Nguyễn Thông - người đương thời với ông đã viết " Nguyễn Lịch tính thâm trầm, nghiêm nghị và can đảm".

Xuất thân là dân chài, giỏi võ nghệ, can đảm, có lòng yêu nước là những tố chất cần thiết để Nguyễn Trung Trực trở thành một thủ lĩnh nghĩa quân xuất sắc, lập nên nhiều chiến công hiển hách, mà chủ yếu là những trận thủy chiến trên vùng sông nước lục tỉnh Nam Kỳ. Đi theo tiếng gọi của non sông, người dân chài ấy đã cùng với hàng ngàn nghĩa quân đứng lên, lấy sức trẻ, lấy tấm lòng yêu nước thương dân dựng cờ khởi nghĩa để bảo vệ ngọn rau tấc đất quê hương trước sự xâm lăng của thực dân Pháp.

Ngày 17/2/1859, thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Gia Định thất thủ, Nguyễn Tri Phương được triều đình cử vào phụ trách mặt trận này. Ông cho đắp đại đồn Kỳ Hòa dài 3000m, ngang 1000m, cao 3,5m để chống giữ với quân Pháp. Lúc này đạo quân đồn điền của Trương Định cũng đang tham gia phòng thủ đại đồn Kỳ Hòa. Nguyễn Trung Trực vốn ở trong hàng ngũ của Trương Định ngay từ buổi đầu tiên và được phong chức Cai đội trong đạo quân đồn điền. Ngày 24/2/1861, Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, Trương Định lui về Gò Công, phong cho Nguyễn Trung Trực làm Quyền sung Quản binh đạo (gọi tắt là Quản binh), hoạt động kháng Pháp tại địa bàn phủ Tân An. Vì thế, lúc bấy giờ mọi người thường gọi ông là Quản Lịch hay Quản Chơn. Cuối tháng 3/1861, quân Pháp từ Vũng Gù (thành phố Tân An ngày nay) theo kinh Bảo Định đánh chiếm thành Định Tường (nay thuộc thành phố Mỹ Tho). Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân chặn đường hành quân của giặc Pháp, diệt tên chỉ huy là trung tá Bourdais và 30 lính. Paulin Vial, trong tác phẩm Historie de la Cochichine đã viết về trận đánh này: "Chưa có cuộc hành quân nào ở Nam Kỳ mà mệt nhọc và bị nhiều người chết chóc bằng cuộc hành quân này..."

 9-12-2021-2(2).jpg

Đền thờ Nguyễn Trung Trực được xây dựng theo kiến trúc truyền thống của đình làng Nam bộ, gian thờ chính thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực với bức tượng bán thân đức ông bằng đồng với đầy đủ nét uy nghiêm, thần thái hùng dũng, khí tiết của một trang anh hùng vì nước quên mình. Ảnh: Báo Long An Online

Vào đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ XIX, lo sợ trước phong trào kháng chiến ngày càng mạnh mẽ của nhân dân Nam Kỳ, quân Pháp đã điều động một tàu chiến mang tên là L' Espérance (Hy Vọng) án ngữ ở vàm sông Nhựt Tảo - con sông nối liền sông Vàm Cỏ Đông với sông Vàm Cỏ Tây thông qua kinh ông Hóng và rạch Châu Phê. Chiếc tàu này được người Pháp gọi là tàu kiểu lorcha bằng gỗ bọc đồng, ở thời kỳ ấy là loại khá hiện đại. Trên tàu có trang bị một khẩu đại bác và khoảng 45 lính Pháp, lính Mã tà và lính Tagals được trang bị đầy đủ vũ khí chiến đấu, đặt dưới sự chỉ huy của một viên Trung úy Hải quân người Pháp tên là Parfait. Trước thời điểm xảy ra trận đánh, địch huy động 20 lính lên đóng đồn tại chợ Nhựt Tảo, trên tàu chỉ còn khoảng 25 lính. Con tàu sừng sững như một cái đồn binh rất cơ động, sẵn sàng đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân trong vùng.

Được sự giúp đỡ của hương chức làng Nhựt Tảo như Hồ Quang Minh, Hồ Quang Chiêu, Nguyễn Trung Trực đã xây dựng một kế hoạch táo bạo, thông minh để đánh tàu L' Espérance. Ông đã theo dõi kỹ quy luật hoạt động cũng như việc canh phòng, bố trí hỏa lực của địch. Sau khi đã nắm chắc những thông tin cần thiết, các ông đã lập kế hoạch rất cụ thể cho các lực lượng, sẵn sàng hành động khi có lệnh phát ra. Để phân tán lực lượng địch, hương chức làng Nhựt Tảo tổ chức cúng chùa Ông, mời gánh hát bội đến biểu diễn và cho mời lính Pháp trên tàu đến xem, đồng thời bố trí nghĩa quân phục kích xung quanh chùa, chờ khi Nguyễn Trung Trực đánh tàu dưới sông thì cùng lúc tràn vào chùa tiêu diệt gọn toán lính Pháp này. Sáng ngày 10/12/1861, sau khi bố trí lực lượng phục kích trên bờ và dụ cho một bộ phận quân địch rời khỏi tàu, Nguyễn Trung Trực đã cùng 59 nghĩa quân lên 5 ghe giả làm ghe buôn lúa tiến sát tàu địch. Trong lúc trình giấy thông hành, ông đã bất ngờ giết tên lính gác rồi cùng nghĩa quân tràn lên tấn công quân Pháp trên tàu L' Esperance. Không kịp trở tay, toàn bộ địch trên tàu bị tiêu diệt (chỉ có 5 tên chạy thoát). Nghĩa quân dùng dầu dầu và đồ dẫn hỏa đốt cháy tàu. Ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt đã nhấn chìm tàu xuống đáy sông sâu. Toán lính đóng ở chợ Nhựt Tảo cũng bị nhóm nghĩa quân do hương thân Hồ Quang Chiêu chỉ huy tiêu diệt gọn. Tin chiến thắng Nhựt Tảo bay đi làm nức lòng quân dân cả nước. Triều đình Huế đã thăng Nguyễn Trung Trực lên chức Quản Cơ, hậu thưởng cho nghĩa quân, cấp tử tuất và hỗ trợ tiền cho làng Nhựt Tảo (đã bị quân Pháp triệt hạ sau trận đánh). Tin chiến thắng Nhựt Tảo đã nhanh chóng bay đi làm nức lòng nhân dân cả nước. Nối tiếp khí thế hào hùng đó, ngay sau trận Nhựt Tảo, nghĩa quân đồng loạt nổi dậy công phá hệ thống đồn lũy của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông, trong đó có trận Cần Giuộc (16/12/1861) đi vào lịch sử cùng với bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bất hủ. Giặc Pháp cũng hết sức bàng hoàng vì không thể ngờ rằng nghĩa quân có thể gây cho chúng tổn thất lớn như thế. Để ghi dấu kỷ niệm "đau thương" này, giặc Pháp đã cho xây dựng một bia tưởng niệm gần chùa Ông thuộc xã Tân Bình ngày nay.

Sau gần 130 năm nằm yên dưới đáy sông sâu, năm 1989, tàu L' Espérance đã được Sở Văn hóa - Thông tin Long An (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) khai quật. Tổng số hiện vật thu được là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 hiện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu như cong đà, be, lườn, cột buồm...và một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ. Dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên, những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực - người đầu tiên và duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm của Pháp trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lược bằng mưu trí và lòng dũng cảm dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác, "trận hỏa hồng Nhựt Tảo" chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những người "dân ấp, dân lân" chỉ vì "mến nghĩa"mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Hỏa hồng Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lược. Với ý nghĩa lịch sử to lớn ấy, Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 1460-QĐ/VH, ngày 28/6/1996./.

TH

 


09/12/2021 8:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục quốc phòng an ninh cho các hộ dân biên giới Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục quốc phòng an ninh cho các hộ dân biên giới
Long An là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của cả nước, có vị trí đặc biệt là cửa ngõ từ thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ và ngược lại, có đường biên giới quốc gia giáp Vương quốc Campuchia dài khoảng 132,977 km. Có 1 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu quốc gia và hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch và 20 chợ giáp với tỉnh SvâyRiêng và PreyVeng. Trung bình tại các chợ trên địa bàn tỉnh thu hút từ 500 - 700 lượt khách/ngày (trong đó người Việt Nam khoảng 60%). Trên tuyến biên giới Long An ta và bạn đã xác định 51 vị trí cắm mốc với tổng số 57 mốc, đã thi công được 42 cột mốc, trong đó có 4 mốc đôi.

Do địa hình ruộng liền ruộng, kênh liền kênh với nước bạn Campuchia, nên tình hình trật tự, trị an trên tuyến biên giới Long An vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, tình trạng buôn lậu, xâm canh xâm cự, vượt biên trái phép qua Campuchia đánh bài đánh bạc, diễn ra khá phức tạp. Trước thực tế đó Long An đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để giữ vững trật tự trị an biên giới trong đó đã đẩy mạnh giáo dục quốc phòng an ninh (GDQP-AN) cho các hộ dân biên giới.

 

 

 

LLVT Long An phối hợp tuần tra bảo vệ trị an biên giới

 

 

Trong điều kiện dân cư biên giới sống thưa thớt, điều kiện giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Hội đồng GDQP-AN và cơ quan quân sự các cấp đã làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương huy động cả hệ thống chính trị các địa phương biên giới vào cuộc để tuyên truyền vận động nhân dân tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức QP-AN. Hội đồng GDQP-AN 6 huyện, thị xã biên giới trong tỉnh phối hợp chặt chẽ với Ban CHQS, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị các huyện-thị hàng năm có kế hoạch tổ chức và trực tiếp mở các khoá bồi dưỡng KTQP-AN cho các hộ dân biên giới. Chỉ tính riêng trong năm 2013, các huyện thị biên giới trong tỉnh đã tổ chức 13 lớp cho 1.390 chủ hộ dân biên giới.  Nhìn chung qua bồi dưỡng kiến thức QP -AN  đã nâng cao nhận thức của nhân dân trên tuyến biên giới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phát huy sức mạnh của toàn dân trong đấu tranh phòng chống làm thất bại các âm mưu của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định ở địa phương. 

 

Đại tá Phan Minh Tuấn - Chính trị viên Ban CHQS huyện Tân Hưng cho biết: Lần đầu tiên triển khai công tác giáo dục QP-AN cho các hộ dân biên giới ở địa phương cũng gặp không ít khó khăn, trước hết là vấn đề kinh phí, sau là chọn các chuyên đề giáo dục QP-AN cho đối tượng này sao cho phù hợp….Sau khi nghiên cứu và được sự thống nhất của trên, huyện đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các hộ dân biên giới với 3 chuyên đề chính, và nguồn kinh phí ban đầu lấy từ nguồn kinh phí tuyên truyền phân giới cắm mốc biên giới. Chỉ riêng trong năm 2013, Tân Hưng tổ chức 3 lớp bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho 3 xã biên giới trong huyện với gần 400 chủ hộ tham dự. Nhờ đẩy mạnh thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục QP-AN địa bàn biên giới, cùng với đầu tư xây dựng tuyến đường tuần tra biên giới, xây dựng hệ thống cầu nối các tuyến đường vành đai, đã giúp cho các địa phương biên giới Long An phát triển nhanh về kinh tế và ổn định về trật tự trị an, tình trạng vượt biên đá gà, đánh bạc, buôn lậu địa bàn Long An giảm mạnh. Kinh tế xã hội địa bàn biên giới ngày càng phát triển.

 

Công tác Giáo dục QP-AN đối với lực lượng Dân quân tự vệ, dự bị động viên và lực lượng an ninh ở cơ sở thuộc 20 xã biên giới trong tỉnh cũng được chú trọng thực hiện. Ban CHQS 6 huyện thị xã biên giới trong tỉnh đã thường xuyện triển khai cho LLVT học tập về luật Quốc phòng, Pháp lệnh Dân quân tự vệ, Pháp lệnh dự bị động viên, Luật nghĩa vụ Quân sự, Luật Công an nhân dân, Pháp lệnh Công an xã và các nghị định của Chính phủ, thông tư các bộ, ngành về thực hiện pháp lệnh; thông qua họp mặt, kỷ niệm, mít tinh các ngày lễ lớn của dân tộc. Trong động viên tập huấn, huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên hàng năm quy định của Bộ Quốc phòng có hơn 85% lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đạt 95% trở lên tham gia huấn luyện.

 

Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục QP-AN cho các hộ dân biên giới đã góp phần củng cố xây dựng lòng tin nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội, Phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

 

 

Trung Dũng

  

08/07/2014 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo chuyển đổi phương thức tổ chức tiếp nhận tư vấn, đăng ký, thu tiền đóng BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình của người tham gia kể từ ngày 01/7/2022Thông báo chuyển đổi phương thức tổ chức tiếp nhận tư vấn, đăng ký, thu tiền đóng BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình của người tham gia kể từ ngày 01/7/2022
Thực hiện Quyết định số 1155/QĐ-BHXH ngày 12/5/2022 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam về việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động của tổ chức dịch vụ thu BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), các Hợp đồng Đại lý thu BHXH, BHYT đã được ký kết giữa BHXH tỉnh Long An và UBND các xã, phường, thị trấn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh theo quy định tại Quyết định số 1599/QĐ-BHXH của BHXH Việt Nam có giá trị thực hiện đến hết ngày 30/6/2022.

Kể từ ngày 01/7/2022, việc chuyển đổi phương thức tổ chức tiếp nhận, tư vấn, đăng ký, thu tiền đóng BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình của người tham gia sẽ thực hiện thông qua Tổ chức Dịch vụ thu BHXH, BHYT được cơ quan BHXH tỉnh Long An ủy quyền làm Đại lý thu trên địa bàn tỉnh gồm 02 tổ chức dịch vụ là: Bưu điện tỉnh Long An và Viettel Long An.

Người dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình từ Đại lý thu UBND các xã, phường, thị trấn; các tổ chức Hội đoàn thể trước đây cần chủ động thực hiện đóng tiếp hoặc đăng ký mới cho người chưa tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình tại các điểm thu của 02 Tổ chức dịch vụ là Bưu điện và Viettel trên địa bàn.

BHXH tỉnh Long An thông báo đến người dân trên địa bàn được biết, chủ động liên hệ./.

TH

04/07/2022 3:00 CHĐã ban hành
Đảng bộ Sở Giao thông Vận tải Long An tổ chức Hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm 2014. Đảng bộ Sở Giao thông Vận tải Long An tổ chức Hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm 2014.
   Chiều ngày 09/7/2014, Đảng bộ Sở Giao thông Vận tải Long An tổ chức Hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng bộ 6 tháng đầu năm 2014, đề ra phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014. Đến dự Hội nghị có 107/117 đảng viên và các đồng chí là Bí thư, Chủ nhiệm UBKT, Phó Ban Tổ chức Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.
14/07/2014 2:00 CHĐã ban hành
Trạm KTTTX 61 Long An sau 30 ngày hoạt động. Trạm KTTTX 61 Long An sau 30 ngày hoạt động.
Kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2014, Trạm kiểm tra tải trọng xe lưu động số 61  (do Bộ Giao thông vận tải cung cấp toàn bộ trang thiết bị cho tỉnh Long An, gọi tắt là Trạm KTTTX số 61) đi vào hoạt động cho đến nay đã hơn 30 ngày hoạt động. Sáng ngày 19 tháng 5 năm 2014, lãnh đạo Sở GTVT, lãnh đạo Trạm KTTTX số 61 đã tiến hành họp sơ kết, rút kinh nghiệm, bàn biện pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thời gian thực hiện vừa qua. Ông Võ Văn Ngọt – Phó chánh Thanh tra GTVT, Trưởng trạm, báo cáo tình hình hoạt động của Trạm KTTTX số 61 trong hơn 30 ngày hoạt động: Tổng số xe vào kiểm tra 1.845 xe, số xe vi phạm 269 xe (Trong 10 ngày đầu hoạt động có 157 xe vi phạm), số tiền xử phạt 1.334.600.000 đồng


                      Lãnh đạo Sở GTVT, Lãnh đạo Trạm cân dự họp sơ kết
                         sau 30 ngày Trạm KTTTX số 61 đi vào hoạt động

 


Trạm KTTTX số 61 hoạt động đúng theo kế hoạch đã được phê duyệt. Lãnh đạo, nhân viên trạm và lực lượng phối hợp tích cực tham gia điều hành hoạt động trạm cân đúng quy chế, quy định, xửlý nghiêm các trường hợp vi phạm; không để xảy ra tình trạng ùn tắt giao thông.

Qua nắm bắt tình hình chung và thông tin từ các đơn vị kinh doanh vận tải, chủ phương tiện và lái xe đã đồng tình với chủ trương của Nhà nước trong chỉ đạo đặt Trạm cân kiểm soát tải trọng xe trên các tuyến quốc lộ. Số lượng xe vi phạm tiếp tục giảm sau các ngày thực hiện.

Các khó khăn của Trạm KTTTX số 61 gặp phải trong thời gian vừa qua: Tuyến QL1 đi qua địa bàn tỉnh Long An không phải là tuyến đường độc đạo do đó còn nhiều phương tiện đi vào đường cao tốc, đường nhánh để tránh né trạm cân. Mặt đường tuyến QL1 hẹp, có dãi phân cách cứng gây khó khăn khi dừng phương tiện ngược chiều. Một số lái xe không đồng ý với kết quả cân, yêu cầu cân lại, đồng thời có sự so sánh kết quả cân giữa các trạm cân của các tỉnh, . . . 

Lãnh đạo Sở Giao thông vận tải, ông Nguyễn Văn Chỉnh – Phó Giám đốc Sở kiến nghị UBND tỉnh, Ban An toàn giao thông tỉnh trang bị thêm 02 cân kiểm tra tải trọng xách tay để kiểm tra xử lý các phương tiện tránh né trạm. Công an tỉnh chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông (Thành phố Tân An và các huyện) nơi đặt trạm cân, tăng cường phối hợp xử lý các phương tiện tránh né trạm đi vào các tuyến đường do địa phương quản lý. Tổng cục Đường bộ Việt Nam hướng dẫn thống nhất cách nhập số liệu vào phần mềm cân (nhất là loại xe đầu kéo kéo sơmirơmoóc) để kết quả cân của các tỉnh không còn sai lệch, tránh tình trạng khiếu nại của lái xe.
 

Tại cuộc họp sơ kết, ông Phùng Văn On – Phó Trưởng ban An toàn giao thông tỉnh đã chia sẽ các khó khăn, vướng mắc ban đầu của các sở, ngành, cán bộ và nhân viên Trạm cân, ghi nhận các ý kiến đóng góp của các sở, ngành và đánh giá hoạt động của Trạm cân hiện nay là biện pháp tạm thời, cấp thiết (vì loại cân tải trọng hiện nay các trạm đang sử dụng không hoạt động được dưới thời tiết có mưa lớn), về lâu dài Ban An toàn giao thông tỉnh sẽ đề nghị Bộ Giao thông vận tải bố trí trạm cân cố định trên địa bàn tỉnh Long An để hoạt động hiệu quả hơn./.

                                                         Minh Trí

14/07/2014 2:00 CHĐã ban hành
Kỷ niệm 80 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940 - 23/11/2020)Kỷ niệm 80 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940 - 23/11/2020)

I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ, DIỄN BIẾN, KẾT QUẢ CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ

1. Bối cảnh lịch sử

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng phát xít Đức. Lợi dụng cơ hội này, cuối tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo quân vào Đông Dương, từ đây Nhân dân ta lâm vào tình thế "một cổ hai tròng". Tháng 11/1940, bọn quân phiệt Thái Lan theo lệnh phát xít Nhật tiến đánh Campuchia. Thực dân Pháp bắt lính Nam Bộ ra trận làm bia đỡ đạn cho chúng. Căm thù thực dân Pháp và được cổ vũ bởi tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, Nhân dân Nam Bộ sục sôi tranh đấu.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ bảy (khóa I) từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939 tại Bà Ðiểm (Hóc Môn, Gia Ðịnh) nhận định: Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật, cách mạng Đông Dương sẽ bùng nổ; do vậy, phải đoàn kết thực hiện bằng được nhiệm vụ chính cốt là đánh đổ đế quốc, giải phóng dân tộc; chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và các cá nhân yêu nước.

Tinh thần Nghị quyết đã sớm đi vào đảng viên, quần chúng. Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ ngày càng phát triển mạnh mẽ, liên tiếp diễn ra nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, đấu tranh. Đặc biệt là các cuộc đấu tranh chống bắt lính diễn ra mạnh mẽ kể từ khi thực dân Pháp bắt thêm lính Việt Nam đem sang chiến trường biên giới Ai Lao (Lào) - Cao Miên (Campuchia) để chống Xiêm (Thái Lan). Khí thế chiến đấu diễn ra hầu khắp Nam Kỳ, đặc biệt là ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Vũng Tàu, Trà Vinh...

Trên cơ sở đó, tháng 3/1940, Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư thảo ra Đề cương chuẩn bị bạo động. Từ tháng 7 đến tháng 10/1940, Ðảng bộ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức nhiều cuộc họp để bàn chủ trương và gấp rút lãnh đạo Nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, thông qua Đề cương; chủ trương thành lập Ban Chỉ huy và Ban Quân sự các cấp; xác định hình thức chính quyền, quốc kỳ, khẩu hiệu; vạch các chính sách đối với Nhân dân…

Ðến giữa tháng 11/1940, trước tinh thần đấu tranh của quần chúng, đặc biệt là tinh thần phản chiến của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay Nhân dân. Ngày 21/11/1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ Đảng nhất loạt phát động Nhân dân nổi dậy vào lúc 24 giờ ngày 22/11/1940. Thời điểm hành động nhất loạt ở các tỉnh Nam Kỳ là lúc 0 giờ ngày 22, rạng 23/11/1940, hiệu lệnh là đèn Sài Gòn tắt hoặc có tiếng súng nổ.

Hội nghị Trung ương Ðảng họp tại Ðình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến 9/11/1940 nhận định điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và trong cả nước chưa chín muồi, đề nghị Xứ ủy Nam Kỳ chưa nên phát động khởi nghĩa. Trung ương phái đồng chí Phan Đăng Lưu trở về truyền đạt quyết định của Trung ương cho Xứ ủy Nam Kỳ. Nhưng khi đồng chí Phan Ðăng Lưu về tới Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã ban hành tới các địa phương không thể thu hồi; một số cán bộ chủ chốt của Xứ ủy đã bị địch bắt, Cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch.

2. Diễn biến, kết quả Cuộc khởi nghĩa

Chỉ trong một thời gian ngắn kể từ khi Thường vụ Xứ uỷ ra Đề cương chuẩn bị bạo động (tháng 3/1940), công tác chuẩn bị khởi nghĩa được triển khai rất khẩn trương; các tổ chức phản đế xuất hiện nhiều nơi, nhất là ở vùng nông thôn. Mít tinh, biểu tình liên tiếp nổ ra. Nhiều nơi địch đến đánh phá, Nhân dân nổi trống mõ, uy hiếp địch, bảo vệ cán bộ. Các đội tự vệ, du kích phát triển ngay trong những xí nghiệp lớn ở Sài Gòn như Ba Son, nhà máy đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ... Ở nông thôn, phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Các cơ sở sản xuất vũ khí làm việc suốt ngày đêm. Nhân dân quyên góp kim khí để đúc đạn; xuất hiện những cơ sở làm bom, lựu đạn xi măng, súng thô sơ ở Móp Xanh (Tân An), Bà U (Mỹ Tho), chùa Hòa Thượng Đồng (Rạch Giá)… Phong trào chống chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu "không một đồng xu, không một người lính cho đế quốc chiến tranh" ngày càng lan rộng. Công tác binh vận được tổ chức ráo riết, phần lớn trong số 15.000 binh lính người Việt trong quân đội Pháp đóng ở Sài Gòn sẵn sàng phối hợp nổi dậy.

Tuy nhiên, vì kế hoạch khởi nghĩa bị địch biết trước nên chúng lùng sục bắt bớ, giữ binh lính người Việt ở trong trại, tước vũ khí của binh lính phản chiến. Dù vậy, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch vào đêm 22 rạng sáng 23/11/1940.

Khởi nghĩa bùng nổ đồng loạt tại hầu hết các tỉnh Nam Kỳ với tinh thần quyết liệt, mạnh nhất là ở Gia Ðịnh, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long... Lực lượng vũ trang và quần chúng đã nổi dậy tiến công địch ở các xã, tập kích nhiều đồn bốt, tiến đánh một số quận lỵ, phá hỏng nhiều cầu, đường... Tại một số xã, quận, chính quyền địch hoang mang, tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở những nơi đã thành lập chính quyền cách mạng và trong nhiều cuộc biểu tình. Bọn phản cách mạng bị xét xử. Ruộng, thóc của địa chủ phản động được chia cho dân cày nghèo.

 Hóc Môn, dưới sự chỉ huy của đồng chí Mười Đen - Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, quân du kích và hàng nghìn đồng bào kéo đến vây công đồn, chặn đánh địch tiếp viện ở Cầu Bông, giết chết tên Chánh xứ tỉnh Tây Ninh, thu được hơn chục súng trường. Do quân của địch kéo đến nhiều, du kích không chiếm được đồn, tạm rút lên Truông Mít, Tây Ninh.

Tại Chợ Lớn, du kích tập trung ở Đức Hoà, Trung Quận, Cần Giuộc, mỗi nơi khoảng 400 đến 500 người. Ở Đức Hoà, quân du kích đánh tan toán lính địch tại Giồng Đa, giết chết tên đầu sỏ phản động. Tại Trung Quận, du kích cùng Nhân dân diệt tề, trừ gian, lập chính quyền cách mạng ở các xã dọc hai bên đường xe lửa. Ở Bến Lức, quân du kích dùng mưu dụ lính ra khỏi đồn, xông vào chiếm đồn lấy súng. Tại Cần Giuộc, du kích do đồng chí Nguyễn Thị Bẩy, Tỉnh uỷ viên chỉ huy, cùng Nhân dân đánh chiếm trụ sở hội tề, tịch thu sổ sách, bằng triện, lập chính quyền cách mạng ở các xã Phước Lai, Phước Vĩnh Đông, Tân Lập, Long Hậu, Long Đức.

Tại Vĩnh Long, quân du kích Vũng Liêm đánh chiếm quận lỵ, công đồn. Quân địch hoảng sợ bỏ chạy, nghĩa quân lập Ủy ban cách mạng và giữ được đồn trong ba ngày.

Tại Tân An  Mỹ Tho, các xã thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông và hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, chính quyền đều về tay Nhân dân. Hàng nghìn du kích dưới sự lãnh đạo của Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho đã tiến đánh nhiều nơi, mở rộng vùng giải phóng. Chỉ tính riêng hai quận Châu Thành và Cai Lậy, ta đã giải phóng được 54/56 xã. Lo sợ trước phong trào nổi dậy ở Mỹ Tho, ngày 14/12/1940 địch phải dùng thủy, lục, không quân tiến công nhưng mãi đến 14/1/1941 chúng mới chiếm lại được các đồn, bốt. Trong tình thế đó, quân du kích tạm rút vào Đồng Tháp Mười. Mỹ Tho là nơi giữ được chính quyền lâu nhất.

Ngay từ khi được tin Nam Kỳ khởi nghĩa, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra thông báo khẩn cấp, chỉ thị cho các địa phương "chia lửa" với Nam Kỳ. Từ việc rải truyền đơn, bãi khóa, bãi thị đến việc phát động du kích, nếu có điều kiện phá đường, cầu cống ngăn quân thù đàn áp. Nhưng thực dân Pháp khủng bố khốc liệt, càn quét các vùng khởi nghĩa, tiêu diệt chính quyền cách mạng, cho máy bay dội bom xuống làng mạc, thôn xóm. Tính từ ngày 22/11 đến ngày 31/12/1940, thực dân Pháp gây ra hơn 5.000 vụ bắt bớ; hàng ngàn người bị xử tử, tù đày, tra tấn vô cùng tàn bạo.

Tháng 12/1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp ở Bà Quẹo (Gia Định) quyết định rút lui cuộc khởi nghĩa để tránh tổn thất, đưa lực lượng còn lại xây dựng căn cứ U Minh và Đồng Tháp Mười.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dập tắt. Thực dân Pháp nhân cơ hội này xử bắn nhiều đồng chí cán bộ kiên trung của Ðảng bị bắt từ trước khởi nghĩa, như: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Ðăng Lưu...

II. Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Ý nghĩa lịch sử

Diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867 đến thời điểm đó. Tuy thất bại nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân ta:

- Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ "là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Ðông Dương"[1]. Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện sức mạnh quật khởi, lòng tin tưởng và sẵn sàng hy sinh của Nhân dân các tỉnh Nam Bộ trong cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Chính vì lẽ đó, ngày 14/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh 163-SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940. Đó là sự khắc ghi của dân tộc đối với công lao và sự hy sinh của quân và dân Nam Kỳ.

- Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, nhiều cán bộ của Đảng được rèn luyện, thử thách. Sau khởi nghĩa, một đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành với lý tưởng của Ðảng, gương mẫu chiến đấu hy sinh vì quyền lợi của dân tộc, của Nhân dân đã trưởng thành và đảm đương những trọng trách mà Đảng ta giao phó về sau. Từ đây, có hàng vạn quần chúng Nhân dân yêu nước được thử thách trong đấu tranh, tiếp tục đi theo Ðảng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945.

- Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ mang tính chất một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tính nhân dân rộng rãi và sâu sắc. Đó là minh chứng sinh động cho chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu của Ðảng với phương pháp đấu tranh vũ lực là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Ðồng thời, khởi nghĩa Nam Kỳ cũng là cơ sở thực tiễn để Đảng ta hoàn thiện con đường chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Từ kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Ðô Lương, Đảng đã có những bước đi cẩn trọng, chu đáo trong đánh giá, xác định thời cơ, chuẩn bị lực lượng... đi tới giải phóng toàn dân tộc.

- Với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, từ trong quá trình chuẩn bị và diễn ra, lần đầu thiết chế "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" được đề cập trong truyền đơn rải ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và tiêu ngữ "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quốc" được viết trên các băng zôn treo trước trụ sở các ủy ban cách mạng ở Long Hưng, Vĩnh Kim (Mỹ Tho). Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh xuất hiện trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân, biểu tượng của tinh thần và ý chí đấu tranh cách mạng của Nhân dân. Cờ đỏ sao vàng năm cánh sau đó đã được Ðảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn làm biểu tượng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh và đến ngày 9/11/1946 được ghi chính thức trong Hiến pháp, thông qua tại kỳ họp Quốc hội thứ hai (khóa I).

2. Bài học kinh nghiệm

Khởi nghĩa Nam Kỳ là thực tiễn sinh động về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân và để lại những bài học quý báu, đó là:

Một là, bài học về cụ thể hóa đường lối của Đảng phù hợp với thực tiễn địa phương, phải đặt địa phương trong mối tương quan với cả nước và có sự phối hợp khởi nghĩa giữa các địa phương trong cả nước. Một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là vì chưa được đặt trong sức mạnh chung của toàn quốc.

Hai là, bài học về công tác chuẩn bị các điều kiện cần và đủ cho một cuộc khởi nghĩa nổ ra có thể giành được thắng lợi, đặc biệt là chuẩn bị về lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích, xây dựng và kiểm tra kế hoạch, phát hiệu lệnh khởi nghĩa.

Ba là, bài học về xây dựng đội quân chủ lực, xác định rõ các lực lượng phối hợp của cuộc khởi nghĩa và đánh giá đúng vai trò của các lực lượng. Lực lượng vũ trang của binh lính là quan trọng nhưng quyết định vẫn là quần chúng công nông.

Bốn là, bài học về việc giữ vững sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và quần chúng; không ngừng xây dựng lực lượng cách mạng trong quần chúng; khơi dậy và nhân lên sức mạnh vĩ đại từ sự đồng tâm, hiệp lực của quần chúng.

Năm là, bài học về tính khoa học của kế hoạch lãnh đạo khi tiến công và thoái thủ; dự trù các phương án thắng - thua và khả năng giải quyết nếu khởi nghĩa thất bại; kế hoạch rút lui bảo toàn cơ sở và lực lượng.

III. PHÁT HUY TINH THẦN NAM KỲ KHỞI NGHĨA TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC GIAI ĐOAN HIỆN NAY

Kỷ niệm 80 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa diễn ra vào thời điểm toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta đang thi đua lập thành tích chào mừng Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng; phát huy tinh thần và những bài học kinh nghiệm của Cuộc khởi nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các cấp, các ngành cần nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đất nước, trọng tâm là:

- Tập trung xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhất là không ngừng nâng cao trí tuệ, năng lực hoạch định đường lối, chủ trương, chiến lược cách mạng khoa học và sáng tạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng giai đoạn đổi mới. Nghiên cứu, phân tích, nhận định tình hình thế giới và trong nước, nắm chắc, tận dụng thời cơ đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thành nguồn sức mạnh và động lực to lớn để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh tổ chức các phong trào thi đua yêu nước gắn với thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước trong từng thời kỳ nhằm tích cực phát huy vai trò của quần chúng Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Tăng cường củng cố, xây dựng lực lượng quốc phòng - an ninh vững chắc, trong đó chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; đồng thời, chú trọng công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, kịp thời phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động phá hoại, đánh cắp thông tin, bí mật nhà Nước của các thế lực thù địch, phản động, gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

- Nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng; đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chạy chức, chạy quyền; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức Đảng thực sự tiên phong, gương mẫu, trước hết là người đứng đầu; làm cho Nhân dân tin yêu và gắn bó máu thịt với Đảng. Đồng thời, đẩy mạnh phong trào tự soi, tự sửa theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để nâng cao chuẩn mực đạo đức, ý thức trách nhiệm, tác phong công tác cho cán bộ, đảng viên.     

 Ban Tuyên giáo Trung ương


21/11/2020 3:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đối với người bệnh, người cao tuổiHướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đối với người bệnh, người cao tuổi
File ghi âm hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đối với người bệnh, người cao tuổi do Cục Thông tin cơ sở cung cấp:

 


01/04/2020 8:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch và thể lệ Cuộc thi viết theo thể loại chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của ĐảngKế hoạch và thể lệ Cuộc thi viết theo thể loại chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khoá XII) và góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận cũng như năng lực nhận diện, đấu tranh, phản bác đối với các quan điểm sai trái, thù địch của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, học viên và sinh viên; Học viện Chính trị khu vực IV tổ chức "Cuộc thi viết theo thể loại chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới".

Cổng Thông tin điện tử tỉnh đăng tải toàn văn Kế hoạch và thể lệ Cuộc thiđể cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân biết và tích cực hưởng ứng cuộc thi./.

BBT

20/02/2020 4:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh - Nguyễn Anh Việt

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

Chung nhan Tin Nhiem Mang
​​ ​