Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức - Sự kiện

Thông tin du học

Website

Tin tức - Sự kiện
Thứ 2, Ngày 09/09/2019, 10:00
Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2019 – 2020
09/09/2019
Vụ lúa Hè Thu 2019, toàn tỉnh gieo sạ 221.936 ha, đã thu hoạch 147.669 ha, năng suất khô ước đạt 48,5 tạ/ha, sản lượng khoảng 682.608 tấn, diện tích còn lại khoảng 74.267 ha lúa đang ở giai đoạn trổ – chín. Bên cạnh đó, một số huyện nông dân đã tranh thủ gieo sạ lúa Thu Đông sớm ngay sau khi thu hoạch lúa Hè Thu với diện tích 23.727 ha.
Theo Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, hiện tượng ENSO được dự báo sẽ duy trì trạng thái El Nino yếu từ nay đến khoảng tháng 11/2019 với xác suất khoảng 50 – 55%, nhiệt độ trung bình ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn từ 0,5 – 10C so với trung bình nhiều năm (TBNN); Tổng lượng mưa khu vực Nam bộ trong tháng 8, tháng 9 cao hơn TBNN từ 10 – 30%, từ tháng 11 – 12/2019 thấp hơn TBNN từ 10 – 25%. Về Thủy văn, từ cuối tháng 7 – 10/2019 tổng lượng dòng chảy trên các trạm thượng nguồn sông Mê Kông ở mức thấp hơn so với TBNN từ 20 – 30%. Đỉnh lũ năm ở đầu nguồn sông Cửu Long ở mức BĐ1 – BĐ2 thấp hơn đỉnh lũ TBNN từ 0,2 – 0,4m, thời gian xuất hiện định lũ khả năng vào cuối tháng 9 đầu tháng 10/2019. Tuy ít khả năng xuất hiện lũ như hàng năm, nhưng tiềm ẩn nguy cơ cường suất lũ lên nhanh hơn so với bình thường do tác động điều tiết dòng chảy từ thượng nguồn.

Trước tình hình thời tiết và sinh vật gây hại vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ tác động lớn đến sản xuất, trồng trọt như: Lũ nhỏ, mưa ít trên toàn khu vực dẫn đến nhiều nguy cơ hạn xâm nhập mặn cao ở mùa khô năm 2019 – 2020 và một số sinh vật gây hại có nguy cơ bùng phát gây ảnh hưởng xấu cho sản xuất lúa Đông Xuân 2019 – 2020 nhất là chuột, sâu năn, rầy nâu, bệnh vàng lùn–lùn xoắn lá,...Ngày 06/9/2019, UBND tỉnh có văn bản số 4787 /UBND-KTTC yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan tập trung thực hiện các công việc cần thiết để đảm bảo chỉ đạo sản xuất vụ lúa Đông Xuân 2019 – 2020 đạt thắng lợi, góp phần hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu lương thực của tỉnh năm 2020.

Về xác định thời vụ gieo sạ, các địa phương tập trung chỉ đạo, rà soát, thường xuyên theo dõi các dự báo, kiểm tra thực tế để bố trí kế hoạch xuống giống lúa Đông Xuân hợp lý, thích ứng, linh hoạt với diễn biến nguồn nước tại các vùng chủ động được nước, vùng có nguy cơ thiếu nước, vùng có khả năng ảnh hưởng lũ gắn với bản đồ cơ cấu mùa vụ và lịch né rầy của liên tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp. Dự kiến thời vụ xuống giống:

Đợt 1: 18/10/2019 – 25/10/2019 DL, nhằm ngày 20/9 – 27/9/2019 AL (các huyện phía Bắc: vùng gò biên giới khả năng thiếu nước cuối vụ). Dự kiến thu hoạch từ 12/01 – 19/01/2020 DL; Diện tích gieo sạ đợt 1 dự kiến 25.000 ha.

Đợt 2: 18/11/2019 – 30/11/2019 DL, nhằm ngày 22/10 – 05/11/2019 AL (các huyện: vùng đất trung bình, vùng có đê bao). Dự kiến thu hoạch từ 15/02 – 27/02/2020 DL; Diện tích gieo sạ đợt 2 dự kiến 85.000 ha.

Đợt 3: 15/12/2019 – 31/12/2019 DL, nhằm ngày 20/11 – 06/12/2019 AL (các huyện vùng trũng không có đê bao). Dự kiến thu hoạch từ 13/3 – 28/3/2020 DL; Diện tích gieo sạ đợt 3 dự kiến 50.000 ha.

Trên cơ sở lịch gieo sạ này, yêu cầu các địa phương tùy theo điều kiện cụ thể về đất đai, thời tiết, chế độ nước, theo dõi diễn biến rầy nâu vào đèn để xây dựng lịch thời vụ gieo sạ trong khung thời vụ chung của tỉnh. Đối với các huyện phía Bắc cần tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo sạ dứt điểm vụ lúa Đông xuân 2019 – 2020 trong tháng 12/2019. Đối với các huyện phía Nam của tỉnh cần chú ý theo dõi những khu vực dễ bị ảnh hưởng của triều cường và xâm nhập mặn nên chuyển sang các cây trồng ngắn ngày và áp dụng các giải pháp tưới tiết kiệm để đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng. 

Về cơ cấu giống, ngoài việc ưu tiên sản xuất các giống lúa phù hợp với cơ cấu mùa vụ, thị trường, cần chú ý tới các giống phù hợp với diễn biến nguồn nước, tình hình xâm nhập mặn. Khuyến cáo sử dụng giống xác nhận và giảm lượng giống gieo sạ xuống còn từ 80 – 100 kg/ha. Cần sử dụng các giống lúa ngắn ngày, bố trí nhóm giống cùng thời gian sinh trưởng để thuận tiện việc cung cấp nước tưới, đảm bảo sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả. Chủ yếu là các nhóm giống: nhóm giống lúa thơm và lúa nếp ST 24, RVT, VD 20, Nếp IR 4625, Nếp OM 406,….; nhóm giống lúa cao sản ch