Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Giới Thiệu

Thông tin du học

Website

 
Thông Tin Giới Thiệu
 
Thời gian thực hiện: từ năm 2003- 2008 
 
Long An có lịch sử hình thành và phát triển trên 300 năm. Theo biến thiên của thời gian và lịch sử, từ những lưu dân đầu tiên khai phá vùng đất phương nam, vượt qua bao nhiêu khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ, đến nay cộng đồng dân cư Long an đã phát triển gần 1,5 triệu người. Người dân Long An luôn nêu cao truyền thống '' trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc'' trong chiến đấu và cần cù, sáng tạo trong lao động.  
 
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt của tỉnh Long An nối liền với sông Tiền và hệ thống sông Vàm Cỏ là các đường dẫn tải và tiêu nước quan trọng trong sản xuất cũng như cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư. 
 
Một phần của lưu vực ở Tây Ninh chảy qua Long An trên dòng Sông Vàm Cỏ Đông, qua nhiều năm bồi lắng ở cuối lưu vực một lượng cát xây dựng khá lớn. Theo điều tra trữ lượng cát khoảng 11 triệu m3 và phân bố trải dài 60 km từ xã Lộc Giang giáp tỉnh Tây Ninh đến bến đò Thuận Mỹ (Cần Đước). 
Khí hậu (28/11)
 
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng ĐBSCL lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông. 
 
Nằm cạnh tỉnh lộ 835 thuộc địa phận xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc là một ngôi chùa đã nổi tiếng từ lâu trong lịch sử và văn học: Chùa Tôn Thạnh - một di tích lịch sử đã được Bộ VHTT xếp hạng cấp Quốc gia ngày 27/11/1997 (theo số quyết định 2890-VH/QĐ).  
 
DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA TỈNH LONG AN ĐƯỢC BỘ VĂN HÓA-THÔNG TIN XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA (TÍNH ĐẾN 5/2013)  
 
Có dịp xuôi dòng kinh Trà Cú, đến vàm Rạch Cây Gáo du khách sẽ nhìn thấy một ngôi đình cổ nằm soi bóng bên dòng nước - đó là đình Vĩnh Phong, nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa, người đã có công khai cơ lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của Thị trấn Thủ Thừa ngày nay.  
 
Cần Đước-Long An không những là vùng đất được biết đến với đặc sản gạo nàng thơm Chợ Đào mà còn là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa.Có dịp về Cần Đước, bạn đừng quên ghé thăm một công trình kiến trúc điêu khắc cổ ở xã Long Hựu Đông mà nhân dân địa phương thường gọi là Nhà Trăm Cột ( vì có trên 100 cột).  
 
Tính đến tháng 8/2013, toàn tỉnh có 20 bệnh viện trên địa bàn toàn tỉnh 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Tượng quan âm nghìn mắt nghìn tay  Tượng quan âm nghìn mắt nghìn tay 
Đến tham quan phòng trưng bày mỹ  nghệ mỹ thuật truyền thống của Bảo tàng tỉnh Long An, du khách gần xa đều thích chiêm ngưỡng và trầm trồ khen ngợi tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát) - một hiện vật chạm khắc gỗ độc đáo được các nghệ nhân tỉnh nhà sao chép từ tượng nguyên bản ở Chùa Bút Tháp (tỉnh Hà Bắc). 

 

Tượng quan âm nghìn mắt nghìn tay

 

Theo kinh Phật và những truyền thuyết dân gian thì Đức Quan Thế Âm Bồ Tát tu luyện được tất cả các phép thần thông quảng đại, thường hay biến hiện ra nhiều sắc tướng để trừ khổ ải cho chúng sinh. Trong các vị Quan Thế Âm Bồ Tát, theo danh hiệu và sắc tướng có một số danh hiệu sau đây: Quan Thế ÂmVô Úy, Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, Chuẩn Đề Quan Âm, Phật Bà Quan Âm. Trong 5 vị trên Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Phật thần thông quảng đại hay ra tay cứu độ chúng sinh: không đâu Ngài không thấy, không việc gì Ngài không làm được. Do vậy Ngài có sắc tướng là vị Phật nghìn mắt nghìn tay. Vào viếng các ngôi chùa, ta thường thấy các tượng Phật đứng hay ngồi mà có nhiều tay, nhiều mắt... đó chính là những pho tượng thờ Ngài.

Theo những nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam và lịch sử Phật giáo thì pho tượng bằng gỗ chạm, sơn son thếp vàng đầu tiên thờ Đức Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát (dân gian quen gọi là là Quan Âm nghìn mắt nghìn tay) được nghệâ nhân Trương Văn Thọ chạm khắc vào năm Bính Thân (1656), cao 3,45, đặt thờ tại chùa Bút Tháp (tỉnh Hà Bắc) đến nay vẫn còn. Tượng thể hiện lòng tin tuyệt đối vào sự toàn năng của Phật Bà Quan Âm: nhìn thấy, xem xét được mọi sự việc, sự vật ở khắp mọi nơi, cứu vớt, cứu khổ mọi người trong mọi lúc... Nghệ nhân đã thành công trong cách bố cục và diễn tả để pho tượng được tự nhiên, cân đối giữa thân người và 21 đôi tay mềm mại xung quanh. Các đôi cánh tay lớn như đang múa, các cánh tay nhỏ được sắp xếp theo vầng hào quang tỏa sáng xung quanh. Trên mỗi lòng bàn tay đều có hình con mắt thể hiện ''nghìn mắt''. Phần bệ tượng thể hiện ''bể khổ trần gian'' với nhiều sóng gió. Con ác thú đội tòa sen và người đội bệ tượng là những kẻ ác bị trừng phạt và được Phật Bà thu phục làm đệ tử. Riêng hoa văn chạm khắc trên bệ tượng mang nét đặc sắc của hoa văn trang trí thời Lê như ''Lưỡng long chầu nhật'', ''Song lân chầu nhật'' - trong đó hình tượng Long (rồng) tượng trưng cho uy quyền của Vua và Lân là biểu tượng cho sự bền vững của triều đại, của quốc gia... Tượng này được xem là cổ vật quý của nước ta và là niềm tự hào to lớn của nền mỹ thuật điêu khắc dân gian Việt Nam trong tiến trình phát triển lịch sử Phật giáo dân tộc.

Vào tháng 9/1978, Côn g ty Mỹ nghệ Mỹ thuật Long An đã cử ông Nguyễn Đức Lưu là họa sĩ, nguyên Giám đốc Công ty,  cùng 3 nghệ nhân Huỳnh Văn Định, Huỳnh Măng, Huỳnh Chính Đức trong dòng họ Huỳnh - một trong những dòng họ điêu khắc gỗ truyền thống của Long An, ra miền Bắc nghiên cứu và chép lại tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay từ  tượng gốc với tỷ lệ thu nhỏ. Trải qua nhiều khó khăn tưởng chừng như ý định trên sẽ không thực hiện được, nhưng với lòng kiên trì học hỏi, sự yêu nghệ cộng với khối óc thông minh và đôi bàn tay khéo léo... sau 3 tháng 15 ngày tích cực miệt mài làm việc (từ tháng 10/1978 đến giữa tháng 1/1979), những nghệ nhân Long An đã hoàn thành việc sao chép thành công tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay từ tượng tượng gốc ở chùa Bút Tháp bằng phương pháp đo đạc bằng dây và ước lượng thu nhỏ bằng mắt thường. 

Tượng sao chép được làm bằng gỗ lát hoa, cao 0,69m, rộng 26cm, là bản sao thu nhỏ của tượng gốc với tỷ lệ 1/5. Tượng gồm 3 phần: 

-Thân tượng và tay chính: do nghệ Huỳnh Văn Định đảm trách. Thân tượng có 3 đầu và 6 cánh tay liền nhau. Phần chóp có 9 đầu được lắp mão. Xung quanh được chạm 36 cánh tay rời (mỗi bên có 18 tay được chia làm 3 hàng lắp vào thân). 

-Hào quang: do nghệ Huỳnh Chính Đức đảm trách. Hào quang tính từ đế lên đến điểm cao nhất có 958 cánh tay rời, mỗi tay được chạm trên đó một con mắt được sắp xếp cách đều nhau. 

-Đế tượng (được tính từ tòa sen trở xuống): do nghệ Huỳnh Măng đảm trách. Đây là một khối gỗ chạm thủng không có lắp ghép. Phần đế tượng được chạm khắc nhiều hoa văn li ti rất công phu. 

Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay của các nghệ nhân Long An sau khi hoàn thành đã gây tiếng vang lớn trong giới mỹ thuật miền Bắc lúc bấy giờ. Bộ Văn hóa - Thông tin đã tặng cho 3 nghệ nhân Huỳnh Văn Định, Huỳnh Măng, Huỳnh Chính Đức mỗi người một Bằng khen đột xuất (theo Quyết định số 36 ngày 19/1/1979 do Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu ký). 

Lần đầu tiên ở nước ta mới có một đơn vị và nghệ nhân sao chép thành công tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay - mà đặc biệt là tượng thu nhỏ rất công phu. Đây là kết quả lao động miệt mài sáng tạo của các nghệ nhân Long An. Việc trưng bày, giới thiệu với khách tham quan Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay được sao chép thành công từ tượng gốc ở chùa Bút Tháp (Hà Bắc) đã làm phong phú thêm số lượng hiện vật trưng bày của Bảo tàng Long An và làm tăng thêm lòng tự hào về nghề chạm khắc gỗ truyền thống của tỉnh nhà.

 

NGỌC MAI

09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/tuongnginmat.jpg
Khí hậuKhí hậu
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng ĐBSCL lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông.

Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 -27,7 oC. Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9 oC, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2oC.
      Lượng mưa hàng năm biến động từ 966 -1325 mm. Mùa mưa chiếm trên 70 - 82% tổng lượng mưa cả năm. Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh thành phố Hồ Chí Minh xuống phía Tây và Tây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.
      Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 - 82 %.
     Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 - 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500 - 2.800 giờ. Tổng tích ôn năm 9.700 -10.100oC. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2-4oC.
      Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60-70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70%.
      Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa.
      Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp
.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-khihau.jpg
Tài nguyên rừng Tài nguyên rừng
     Năm 1976 diện tích đất rừng của tỉnh Long An là 93.902 ha, chủ yếu là rừng tràm tạo nên hệ cân bằng sinh thái cho toàn khu vực Đồng Tháp Mười. Đến năm 1999 diện tích rừng còn lại là 37.829 ha, chiếm 8,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Trong đó : rừng tự nhiên là 1.553 ha, rừng trồng là 36.276 ha tập trung chủ yếu là các huyện Đồng Tháp Mười (Tân Hưng 13.731 ha, Tân Thạnh 5.540 ha, Mộc Hóa 4.581 ha, Vĩnh Hưng 3.035 ha, Thạnh Hóa 2.850 ha, Đức Hòa 1.243 ha và Đức Huệ 1.072 ha).
     Năm 2000 diện tích rừng là 44.481 ha. Cây trồng chủ yếu là cây tràm, cây bạch đàn. Theo điều tra đến tháng 6/2003 tổng diện tích rừng trồng tập trung 64.462 ha.Tổng trữ lượng rừng khoảng 71.715 m3 gỗ bạch đàn và 29, 77 triệu cây cừ tràm. Ngoài ra Long An là một trong những địa phương có phong trào trồng cây phân tán rất mạnh. 
     Nguồn tài nguyên động thực vật của hệ sinh thái rừng tràm trên đất trũng phèn ở Long An đã bị khai thác và tàn phá nặng nề. Từ đó đã tạo ra những biến đổi về điều kiện sinh thái, gây ra ô nhiễm môi trường, những đổi thay môi trường sống tự nhiên của sinh vật, tác động đến quá trình phát triển bền vững. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc giảm sút rừng là do quá trình tổ chức và khai thác thiếu quy hoạch, phần lớn diện tích đất rừng chuyển sang đất trồng lúa. 
     Trong tương lai tỉnh cần có chủ trương khôi phục dần hệ sinh thái rừng tràm . . .Đồng thời cố gắng duy trì một số khu vực bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/TaiNguyenRung.jpg
Bảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnhBảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnh

1. Giá 1 tháng (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang1.500.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ1.200.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong700.000

2. Giá 1 năm (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang15.000.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ12.000.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong7.000.000

 

▪ Chính sách:

Để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tham gia quảng bá hình ảnh, thông tin về hoạt động và sản phẩm của doanh nghiệp, tổ chức mình, Cổng Thông tin điện tử Long An có chính sách như sau:

- Giảm 20% giá đặt liên kết của Banner/Logo thứ 2 đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 2 (sản phẩm thứ 2 của doanh nghiệp);

- Giảm 40% giá đặt liên kết của mỗi Banner/Logo thứ 3 trở lên đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 3 trở lên (sảm phẩm thứ 3 trở lên của doanh nghiệp).

▪ Thông tin liên hệ: 

- Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Điện thoại: 02723 552489 hoặc 0918 700 837.

- E-mail: webmaster@longan.gov.vn.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệpThư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệp

​THƯ NGỎ

Mời tham gia đặt banner liên kết đến website doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An tại địa chỉ www.longan.gov.vn

________

Với chức năng là cơ quan truyền thông đa phương tiện; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An luôn nỗ lực thực hiện sứ mệnh được giao, trong đó đặc biệt chú trọng chủ trương "đồng hành cùng doanh nghiệp" của lãnh đạo tỉnh bằng việc thông tin thường xuyên về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển tải kịp thời các chủ trương, chính sách phát triển cũng như tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Với nhiệm vụ là đầu mối thông tin điện tử, liên kết dịch vụ trực tuyến công của tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An là địa chỉ đáng tin cậy để doanh nghiệp truyền thông, quảng bá, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp.

Với thiện chí hợp tác cùng phát triển, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An cam kết cùng doanh nghiệp tạo nên những giá trị mới cho thương hiệu của doanh nghiệp và của tỉnh Long An. Đây là cơ hội để doanh nghiệp lựa chọn quảng bá thương hiệu, sản phẩm (kèm theo bảng giá đặt banner liên kết).

Rất mong nhận được sự hợp tác với quý công ty, doanh nghiệp./.

Tham khảo bảng giá tại đây.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thông tin hành chính tỉnh Long AnThông tin hành chính tỉnh Long An
12/12/2014 11:00 SAĐã ban hành
Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"
- Nhà Võ Công Tồn được xây dựng khoảng năm1910, theo kiểu chữ ''công'' (I) ba gian, hai chái với chất liệu bê tông, mái ngói. Năm 1984, do bị xuống cấp, ngôi nhà bị phá bỏ, chỉ tận dụng lại móng, nền, ngói để dựng ngôi nhà mới có diện tích 128m2. Trang trí bên trong nhà mang phong cách chung của các ngôi nhà khá giả cuối thế kỷ XIX với bao lam, hoành phi, câu đối. Nổi bật ở nhà Võ Công Tồn là bao lam với đề tài đa dạng được thể hiện sinh động bởi kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi, cẩn ốc xà cừ rất công phu và có giá trị về mặt điêu khắc, chạm gỗ.

 

Võ Công Tồn (1891 - 1942)

Địa thế nhà Võ Công Tồn rất tiện lợi để che mắt địch: cây cối rậm rạp, hàng rào cây xanh, hào sâu bao bọc và chỉ một cổng vào duy nhất là cầu bắt qua hào, đêm đến cầu được rút đi và có những chú chó tinh khôn canh gác. Cảnh quan di tích hiện nay vẫn không thay đổi nhiều. Nhân dân làng Long Hiệp vốn có truyền thống yêu nước, sẳn sàng chở che, đùm bọc cho những người yêu nước và các đảng viên Cộng sản, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng. Võ Công Tồn là một điển hình ấy. Ngôi nhà của ông là cơ sở tin cậy của các phong trào yêu nước:
- Thiên điạ hội, Hội kín Nguyễn An Ninh; nơi bác Tôn Đức Thắng tổ chức lớp học truyền bá tư tưởng cách mạng chống thực dân Pháp năm 1928; nơi sinh ra và lớn lên của nhà yêu nước Võ Công Tồn (1891-1942)- người đã cống hiến nhiều công, của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ Đảng còn non trẻ. Giáo sư Trần Văn Giàu đã ghi nhận: ''Võ Công Tồn cùng với Nguyễn An Ninh là hình ảnh của ''Núi Hai Vì'' hai tấm gương lớn về hoạt động cách mạng ở Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX''(1). HĐNN nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng ông Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1986; tên của ông được đặt cho một con đường tại tỉnh lỵ Long An.
- Khu Lò gạch Võ Công Tồn nằm về phía đông nam Nhà Võ Công Tồn, khoảng 1km. Trước kia khu Lò gạch có 3 lò sản xuất gạch ngói với hơn 300 công nhân. Hiện còn lại 1 lò gạch đã vỡ ¾ và một số nền móng sân nhà. Đây là nơi Võ Công Tồn sản xuất và kinh doanh gạch ngói tạo nguồn tài chính cung cấp cho Đảng, cơ sở tin cậy của Đảng bộ Chợ Lớn, Xứ ủy Nam kỳ và các phong trào yêu nước trước năm 1945; là nơi hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như Nguyễn An Ninh; nơi ra đời của chi Bộ Đảng ấp Lò Gạch năm 1935; nơi Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thị Minh Khai mở lớp học 20 ngày để tuyên truyền vận động cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin cho đông đảo công nhân Lò gạch năm 1936

''Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn'' đã được UBND tỉnh Long An đăng ký di tích lịch sử tại số 3639/QĐ-UB ngày 18/12/2000 và hiện nay (7-2003) đang trình Bộ VHTT nâng cấp thành di tích cấp quốc gia.
(1) : Trích bài phát biểu của Giáo sư Trần Văn Giàu trong hội thảo kỷ yếu của Võ Công Tồn 1995

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-upload-19 (1).JPG
Di tích lịch sử "Chùa Tôn Thạnh" Di tích lịch sử "Chùa Tôn Thạnh"
        Nằm cạnh tỉnh lộ 835 thuộc địa phận xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc là một ngôi chùa đã nổi tiếng từ lâu trong lịch sử và văn học: Chùa Tôn Thạnh - một di tích lịch sử đã được Bộ VHTT xếp hạng cấp Quốc gia ngày 27/11/1997 (theo số quyết định 2890-VH/QĐ).

ChuaTonThanh.jpg

Chùa Tôn Thạnh ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được Thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808. Thiền sư có thế danh là Nguyễn Ngọc Dót, con của ông Nguyễn Ngọc Bình và bà Trà Thị Huệ ở làng Thanh Ba tổng Phước Điền Trung huyện Phước Lộc.

         Từ thuở còn niên thiếu ông đã có tâm mộ đạo và nhiều lần xin phép song thân xuất gia đầu Phật. Cha ông cố ngăn con mới bảo rằng: '' Nghe nói đạo Phật tất cả đều không, hà huống có thân, con muốn xuất gia theo Phật hãy cầm cục lửa than cho cha châm thuốc cha mới tin con quyết tâm theo Phật''. Ông liền vào nhà bếp cầm một cục than hồng vào tay trái lên, mặc không biến sắc. Cha ông thấy vậy đành để cho ông quy y.

Chùa Tôn Thạnh

 

       Ban đầu thiền sư tu học ở chùa Vĩnh Quang, gần chợ Trường Bình, được sư phụ đặt cho pháp danh là Viên Ngộ. Thuở ấy đường vào chợ Trường Bình cỏ cây rậm rạp, lầy lội khó đi, hùm beo, thú dữ thường ra làm hại người. 
       Thấy vậy thiền sư Viên Ngộ phát nguyện một mình chặt cây, đắp đường từ chợ Trường Bình xuống thôn Tích Đức và phường Hòa Thuận dài 250 trượng. Năm Gia Long thứ 7 (1808) sư Viên Ngộ đến làng Thanh Ba (nay thuộc xã Mỹ Lộc) cất chùa Lan Nhã - đó chính là chùa Tôn Thạnh hiện nay. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, đây là ngôi chùa ''rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng'' nổi tiếng ở đất Gia Định xưa. Thiền sư còn cho đúc tượng Điạ Tạng Bồ Tát bằng đồng để thờ trong chùa. Tương truyền, khi đúc lần đầu, tượng Bồ Tát bị khuyết, thiền sư Viên Ngộ đã chặt một ngón tay của mình cho vào nồi nước đồng để tượng đúc lần sau được viên mãn.      
     Ông không những là một người con chí hiếu mà còn là một người đầy lòng từ bi bác ái. Khi cha bị bệnh, thiền sư đã thề trước Phật đài là sẽ ''trường tọa'' 10 năm để kéo dài tuổi thọ cho cha. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong vùng có dịch đậu mùa, sư Viên Ngộ đã nguyện ''trì kinh niệm Phật, chung thân tịch cốc'' để cầu cho nhân dân thoát khỏi cơn tai ách. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), ông thấy mình đã xuất gia 40 năm mà chưa đắc đạo nên tịch thủy 49 ngày rồi viên tịch. Pháp thân của ông được tăng chúng an táng ở bảo tháp phía tây chùa Tôn Thạnh. Tưởng nhớ đến một thiền sư suốt đời hy sinh thân mình để đem lại điều lành cho chúng sinh, nhân dân đã gọi chùa Tôn Thạnh là chùa Tăng Ngộ hay chùa Ông Ngộ. Mười sáu năm sau khi thiền sư Viên Ngộ viên tịch, chùa Tôn Thạnh đã đi vào lịch sử nước nhà với bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Trong ba năm 1859-1861 nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và làm thuốc. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm Tân Du, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người ''dân ấp dân lân'', nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: ''Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ''.
     Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh ngày nay không còn nguyên vẹn cảnh ''rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng'' như xưa. Thay vào đó là một tổng thể kiến trúc bao gồm tiền điện, chánh điện, nhà giảng, đông lang, tây lang mái lợp ngói, tường gạch. Tuy nhiên chùa Tôn Thạnh vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX, và các hoành phi câu đối chữ hán sơn son thếp vàng. Bên phải chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Đến viếng chùa Tôn Thạnh, thăm lại một danh lam của đất Gia Định xưa, thắp nén nhang tưởng niệm trước bảo tháp của vị cao tăng Viên Ngộ và tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ngày nào đã từng ở nơi đây để viết nên những áng văn tuyệt tác, chắc hẳn chuyến tham quan của du khách sẽ rất thú vị và bổ ích.

04/08/2014 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/ChuaTonThanh.jpg
Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến
Ngả Tư Rạch Kiến là giao lộ 18 và 19 tại trung tâm xã Long Hòa, huyện Cần Đước.Nơi đây, trong không gian khoảng 1km2,đây đó những sân bay dã chiến,bãi pháo, câu lạc bộ sĩ quan, khu trại quân sự ... của căn cứ Mỹ gợi lại một thời gian khổ và hào hùng trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến - một thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo thể hiện ý chí và sáng tạo của Đảng bộ và quân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1965 chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của địch bị phá sản hoàn toàn. Để ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn,Mỹ dấn sâu một bước can thiệp, trực tiếp đỗ quân vào miền Nam thực hiện ''chiến tranh cục bộ''. Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 sư đoàn 9 bộ binh Mỹ ồ ạt đổ quân lập căn cứ tại Rạch Kiến gồm: 1 tiểu đoàn bộ binh; 1 tiểu đoàn pháo binh có 4 khẩu cối 106,107mm, 4 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu pháo 57mm; một đại đội công binh cùng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như xe ủi đất, máy dò mìn; một đại đội trinh sát, 4 đại đội máy bay trực thăng; 1 chi đoàn xe bọc thép gồm 20 chiếc M113 và M118. 
     Căn cứ được bố trí dọc 2 bên lộ 18 (nay là tỉnh lộ 826) từ ngả ba đài chiến sĩ (Long Hòa) đến Cầu Đồn (Tân Trạch). Khu vực chính nằm ở hướng Đông Ngã Tư Rạch Kiến gồm hơn 20 doanh trại, phía Tây là trận địa pháo với những bệ bằng bê tông đúc sẳn, phía Bắc là sân bay dã chiến. Khu căn cứ được phòng thủ bằng 6 lớp rào đủ loại xen kẻ với 3 tuyến bãi mìn loại vướng nổ, đạp nổ, điều khiển bằng điện. Toàn bộ khu căn cứ chiếm diện tích khoảng 160.000 m2. Về mặt qui mô, căn cứ Rạch Kiến được xem như một mục tiêu quân sự lớn của Mỹ ở Nam Sài Gòn - nó không thua kém gì căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 25 Mỹ ở Bắc Sài Gòn.

Bia Rạch Kiến

​     Về vị trí chiếc lược đây là mắc xích q​uan trọng , vị trí trung gian giữa Cát Lái - Nhà Bè với Bình Đức - Mỹ Tho hình thành tuyến phòng thủ từ xa về mặt Nam Sài Gòn. Căn cứ Rạch Kiến còn nhằm triệt phá các căn cứ lõm và khu giải phóng ở Nam lộ 4 (Cần Giuộc-Cần Đước ) -địa bàn có vị trí bàn đạp đe dọa trung tâm đầu não Sài Gòn     

    Về phía ta,dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thế trậnVành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được hình thành với phạm vi 12 xã gồm: Long Hòa, Tân Trạch, Long Trạch, Long Khê,Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy(Cần Đước) và Phước Lâm, Thuận Thành ( Cần Giuộc). Ban chỉ huy vành đai là đồng chí Đoàn Văn Nguyễn - bí thư huyện ủy,Nguyễn Văn Nam - chính trị viên C315 và Lê Văn Được (Đô Lương ) - chỉ huy trưởng C315. ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến''  chia làm 3 tuyến với nhiệm vụ cụ thể: tuyến 1 gồm 2 xã có căn cứ Rạch Kiến là Long Hòa và Tân Trạch, du kích bám sát căn cứ gài lựu đạn, cắm chông; phong tỏa các ngã đường ra vào, theo dõi và báo cáo tình hình về Ban chỉ huy Vành đai; tuyến 2 gồm các xã giáp ranh Long Hòa, Tân Trạch, bộ đội địa phương và du kích phân tán đánh nhỏ, lẻ khắp nơi bắng nhiều hình thức, rút nhanh tránh thương vong; tuyến 3 ngoài cùng, bộ đội tỉnh và du kích xã làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc  bằng mọi hình thức chông mìn, ong vò vẻ. Phương châm hoạt động của Vành đai là vừa diệt địch vừa duy trì thế hợp pháp, phối hợp triệt để 3 mũi giáp công : quân sự, chính trị, binh vận duy trì thế bao vây cô lập  căn cứ Mỹ.
    Đánh Mỹ theo kiểu vành đai không phải là mới mẻ. Đó là những kinh nghiệm ở Chu Lai (Đà Nẵng ), Trảng Lớn (Tây Ninh).Nhưng ở những nơi ấy ta dựa vào địa hình rừng núi với lực lượng chủ yếu là du kích.Nét đặc biệt ở vành đai Rạch Kiến là sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của 3 mủi giáp công cùng sự tham gia đánh giặc của đông đảo  quần chúng nhân dân. Dồn mọi nỗ lực,hy sinh vào Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, Đảng bộ và quân dân Cần Đước- Cần Giuộc đã đưa phong trào toàn dân đánh giặc ở đây lên đến đỉnh cao, trở thành ngọn cờ đầu của tỉnh trong thời kỳ này. Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến đã gây tổn thất nặng nề và cô lập căn cứ Mỹ ở Rạch Kiến,làm thất bại hoàn toàn âm mưu triệt phá vùng giải phóng của ta ở Nam lộ 4 để nơi đây trở thành bàn đạp quan trọng ta tấn công vào Sài Gòn năm 1968. Chiến công của quân dân Cần Đước đã được tạc bằng chữ vàng trên bia đá ở di tích Ngã Tư Rạch Kiến để đời sau ghi nhớ:

     ''Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 9 quân viễn chinh Mỹ đánh chiếm Rạch Kiến lập căn cứ. Quân dân 2 huyện Cần Đước- Cần Giuộc với lực lượng vũ trang tỉnh lập nên ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến'' . Gần 1000 ngày chiến đấu dũng cảm, hy sinh gian khổ, quân dân ta tiêu diệt hơn 2000 tên giặc Mỹ, 17 máy bay, 20 xe thiết giáp, thu nhiều phương tiện chiến tranh. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Cần Đước- Cần Giuộc trên ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến'' là
đỉnh cao của chiến tranh nhân dân ở Long An góp phần đánh bại chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của Mỹ ở miền Nam-Việt Nam.''Năm 1996 ''Ngã Tư Rạch Kiến'' được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa (1460 QĐ-BT/28-6-1996).

19/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/rachkien.JPG
Thắng cảnh núi đấtThắng cảnh núi đất
Núi Đất là ngọn núi nhân tạo được đắp vào những năm 1957-1960. Khu di tích Núi Đất nằm ngay trung tâm thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa. Đến đây, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành, mát dịu.

 

​Khu Núi Đất chia thành 3 tiểu đảo: Tiểu đảo 1 có núi lớn cao khoảng 10 m, núi nhỏ cao khoảng 5 m với nhiều tảng đá xanh rêu, xen lẫn những cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi. Tiểu đảo 2 là một ngọn núi nhỏ được nối với tiểu đảo 1 bằng cây cầu thon dài. Tiểu đảo 3 nằm ở phía trái hồ sen trông như hòn non bộ bằng đá có trồng 2 cây bồ đề. Trong lòng hồ còn có nhà thủy tạ để du khách ngồi hóng mát, tâm tình.

NTO - Để đến được Núi Đất, từ thị xã Tân An, tỉnh Long An có ngã ba Bưu Điện, rẽ phải theo Tỉnh lộ 49 khoảng 65km đến thị trấn Mộc Hóa, gặp ngã tư Biên Phòng, quẹo trái chừng 500m là tới nơi. Sở dĩ gọi là Núi Đất vì nó không phải là núi tự nhiên, mà do chính bàn tay con người đắp nên. Vào năm 1957 đến 1960, cùng với việc chấn chỉnh địa lý hành chính và xây dựng tỉnh lỵ Kiến Tường ở Mộc Hóa, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho đào đất xung quanh khu vực này đắp thành những ngọn giả sơn (núi giả) để làm thắng cảnh.

Từ xa nhìn đến, Núi Đất như hòn non bộ khổng lồ nổi lên giữa một hồ nước trong xanh, êm đềm và thơ mộng. Nối liền Núi Đất với bờ là chiếc cầu bằng xi măng cách điệu uốn cong, mềm mại. Khu Núi Đất chia làm ba tiểu đảo: Tiểu đảo 1 có núi lớn cao khoảng 10m, núi nhỏ cao 5m với nhiều tảng đá ong rêu phong theo thời gian, xen lẫn trong những cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi, có đường lên xuống bằng các bậc đá. Xung quanh núi là những lối đi bằng đất được kè đá men theo mép nước đảm bảo độ an toàn cho khách du ngoạn. Tiểu đảo 2 là một ngọn núi nhỏ cũng được đắp bằng đất nối liền với tiểu đảo 1 bằng cây cầu dài nhỏ.

 

Tiểu đảo 3 nằm phía bên trái hồ sen, được tạo dáng như hòn non bộ bằng đá trồng hai cây bồ đề phủ lên. Trong lòng hồ còn có hai nhà thủy tạ để du khách ngồi hóng mát, trò chuyện, trên bờ là hệ thống nhà làm việc, nhà tiếp khách, nhà hàng ăn uống, khu trồng hoa kiểng, nuôi chim thú.

Nếu chưa một lần đến miền biên ải Mộc Hóa, ít ai có thể hình dung nơi vùng đất còn nghèo khó này lại có một khu du lịch khá đẹp như vậy. Càng thú vị hơn sau một chặng đường dài du khách đã thấm mệt, khi đến đây được tận hưởng bầu không khí trong lành, mát dịu, leo lên đỉnh núi gió phả vào mặt, cảm giác miên man khó tả.

 Để đến được Núi Đất, từ thị xã Tân An, tỉnh Long An có ngã ba Bưu Điện, rẽ phải theo Tỉnh lộ 49 khoảng 65km đến thị trấn Mộc Hóa, gặp ngã tư Biên Phòng, quẹo trái chừng 500m là tới nơi. Sở dĩ gọi là Núi Đất vì nó không phải là núi tự nhiên, mà do chính bàn tay con người đắp nên. Vào năm 1957 đến 1960, cùng với việc chấn chỉnh địa lý hành chính và xây dựng tỉnh lỵ Kiến Tường ở Mộc Hóa, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho đào đất xung quanh khu vực này đắp thành những ngọn giả sơn (núi giả) để làm thắng cảnh.

Từ xa nhìn đến, Núi Đất như hòn non bộ khổng lồ nổi lên giữa một hồ nước trong xanh, êm đềm và thơ mộng. Nối liền Núi Đất với bờ là chiếc cầu bằng xi măng cách điệu uốn cong, mềm mại. Khu Núi Đất chia làm ba tiểu đảo: Tiểu đảo 1 có núi lớn cao khoảng 10m, núi nhỏ cao 5m với nhiều tảng đá ong rêu phong theo thời gian, xen lẫn trong những cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi, có đường lên xuống bằng các bậc đá. Xung quanh núi là những lối đi bằng đất được kè đá men theo mép nước đảm bảo độ an toàn cho khách du ngoạn. Tiểu đảo 2 là một ngọn núi nhỏ cũng được đắp bằng đất nối liền với tiểu đảo 1 bằng cây cầu dài nhỏ.

Thông tin địa danh:
Địa chỉ: Huyện Mộc Hóa, Tỉnh Long An.

25/07/2011 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/thang-canh-nui-dat.jpg
Khu công nghiệp Thuận ĐạoKhu công nghiệp Thuận Đạo
Khu công nghiệp Thuận Đạo tọa lạc tại trung tâm thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Tỉnh Long An được xem là "sân sau" của Tp. HCM và là cửa ngõ giao thương chính yếu duy nhất giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long.

http://www.longan.gov.vn/Documents/1-Ban%20do.jpg 

THÔNG TIN KHU CÔNG NGHIỆP THUẬN ĐẠO

I.      TỔNG QUAN KHU CÔNG NGHIỆP

  1. Chủ đầu tư:

    CÔNG TY CỔ PHẦN KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG TÂM

    -      Địa chỉ  : KCN Thuận Đạo, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

    -      Điện thoại         : +84 72 387 2233                      Fax        : +84 72 387 2696

    -      Email         : sales@thuandao.com             Website : www.thuandao.com
  1. Quy mô: 189.843 ha
  2. Sản phẩm:

    -      Đất công nghiệp cho thuê.

    -      Đất dịch vụ thương mại: Nhà hàng, trung tâm thể dục thể thao…

    -      NX – VP cho thuê (nhà xưởng tiêu chuẩn hoặc thiết kế theo yêu cầu Khách hàng).
  1. Thời gian sử dụng đất: 50 năm (đến 09/2061)
  2. 09 lợi ích cho Nhà đầu tư khi đầu tư vào KCN Thuận Đạo:

    1)     Vị trí thuận lợi: Khu công nghiệp Thuận Đạo tọa lạc tại trung tâm thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

    Tỉnh Long An được xem là "sân sau" của Tp. HCM và là cửa ngõ giao thương chính yếu duy nhất giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long.

    2)     Thuận tiện giao thông: KCN Thuận Đạo kết nối hệ thống giao thông quốc gia dễ dàng và thuận tiện:

    -      Đường bộ: Quốc lộ 1A, Đường Vành đai 3, Vành đai 4, Đường cao tốc Tp. Hồ Chí Minh – Trung Lương – Cần Thơ, Tỉnh lộ 19.

    -      Đường thủy: Cảng Bourbon Bến Lức, Cảng Quốc tế Long An – tỉnh Long An, Cảng Hiệp Phước; Cảng Cát Lái – Tp. HCM

    -      Đường hàng không: Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất – Tp. HCM. Sân bay Quốc tế Long Thành – Đồng Nai;

    3)     Thời gian sử dụng đất: Nhà đầu tư được sử dụng đất 50 năm và không phải trả tiền sử dụng đất hàng năm.

    4)     Nhân lực – Đào tạo: KCN hỗ trợ Nhà đầu tư tuyển dụng nguồn nhân lực. Cán bộ quản lý cao cấp, nhân viên kỹ thuật, tuyển dụng từ Tp. Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Công nhân kỹ thuật được đào tạo tại các trường kỹ thuật (Trung cấp Việt Nhật, Trung cấp Kỹ thuật Long An, Cao đẳng nghề Long An). Lao động phổ thông tuyển dụng tại địa phương và khu vực lân cận.

    5)     Thủ tục "Một cửa một dấu": Nhà đầu tư được phục vụ các thủ tục một cửa, một dấu nhanh chóng và không tốn chi phí: cấp phép đầu tư, mã số thuế, con dấu, …

    6)     Dịch vụ tư vấn miễn phí: Nhà đầu tư được cung cấp miễn phí các dịch vụ tư vấn hồ sơ môi trường, thiết kế, xây dựng, hoàn công, sở hữu công trình, thủ tục hải quan, thuế, ngân hàng, kế toán, vay vốn Ngân hàng đầu tư xây dựng nhà xưởng và máy móc thiết bị …

    7)     Giá ưu đãi các sản phẩm vật liệu xây dựng: Nhà đầu tư được cung cấp với giá ưu đãi các sản phẩm vật liệu xây dựng từ hệ thống DongTam Group như: Bê tông tươi, cống ly tâm, gạch ốp lát, ngói, sơn, cửa nhựa lõi thép, thiết bị vệ sinh.

    8)     Tiện ích: Nhà đầu tư được sử dụng các dịch vụ & tiện tích gia tăng như điện, nước, nhiên liệu (khí thiên nhiên CNG) được cung cấp đến tận nhà máy với giá cả cạnh tranh và các tiện ích khác như: nhà lưu trú công nhân, chuyên gia; trung tâm thể dục thể thao, Văn phòng Hải quan, Kho ngoại quan, Ngân hàng, …

    9)     Môi trường Khu công nghiệp: KCN Thuận Đạo là một trong những khu công nghiệp tư nhân đầu tiên tại Việt Nam được tổ chức JICA – Nhật Bản chọn thí điểm tài trợ vốn phát triển dịch vụ tiện ích gia tăng, đảm bảo xử lý triệt để ô nhiễm môi trường từ ngành xi mạ, dệt nhuộm.

    F.    Tiếp nhận các ngành nghề:

    1)     Nhóm các dự án về cơ khí, xi mạ.

    2)     Nhóm các dự án về dệt nhuộm và may mặc.

    3)     Nhóm các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, ngoại trừ tấm lợp fibro xi măng

    4)     Nhóm các dự án về giao thông: Dự án sản xuất bê tông nhựa nóng.

    5)     Nhóm các dự án về năng lượng, phóng xạ: Dự án sản xuất dây, cáp điện

    6)     Nhóm các dự án điện tử, viễn thông.

    7)     Nhóm các dự án về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.

    8)     Nhóm các dự án về xử lý chất thải:  Dự án xây dựng cơ sở xử lý, tiêu hủy chất thải công nghiệp không nguy hại.

    9)     Nhóm các dự án chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm sứ.

    10)  Nhóm các dự án chế biến thực phẩm.

    11)  Nhóm các dự án chế biến nông sản.

    12)  Nhóm các dự án chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản, ngoại trừ dự án xây dựng cơ sở chế biến bột cá.

    13)  Nhóm dự án sản xuất phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, ngoại trừ dự án sang chiết đóng gói thuốc bảo vệ thực vật.

    14)  Nhóm các dự án về hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm.

    15)  Nhóm các dự án sản xuất giấy và văn phòng phẩm.

    16)  Nhóm các dự án khác, ngoại trừ thuộc da từ da tươi, chế biến cao su, mủ cao su.

    II.    CƠ SỞ HẠ TẦNG TRONG VÀ NGOÀI KHU CÔNG NGHIỆP

    A.    Đường trong KCN:

    Đường bê tông nhựa nóng, thiết kế theo tiêu chuẩn Việt Nam H30. Lộ giới đường nội bộ từ 16m đến 30m.

    B.    Đường ngoài KCN:

    -      Đường Nguyễn Trung Trực lộ giới 30 m nối KCN vào Quốc lộ 1A và thị trấn Bến Lức.

    -      Đường Long Cang – Long Định lộ giới 24m nối KCN vào thị trấn Bến Lức.

    -      Tỉnh lộ 16 lộ giới 24m nối KCN vào thị trấn Cần Đước và Quốc lộ 50 đi Cảng Long An và Cảng Hiệp Phước – Tp. HCM.

    C.    Hệ thống cung cấp điện

    -          Trạm biến thế Bến Lức, nguồn 110/22KV, công suất 40 + 63 MVA.

    -          Trạm biến thế Rạch Chanh – Cần Đước, công suất 40 MVA.

    -          Trạm biến thế Khu công nghiệp, công suất 65 MVA (liên doanh với Cty Kobelco  Eco– Solution thực hiện do Jica tài trợ vốn)

    D.    Cung cấp nhiên liệu (khí gas CNG):

    Trạm cung cấp khí ga thiên nhiên CNG cho các DN trong KCN. Công suất thiết kế Min 6.000m3/giờ (1m3 = 0,717 kg).

    E.    Hệ thống phòng cháy chữa cháy:

    Đội ngũ nhân viên PCCC KCN và các doanh nghiệp được đào tạo và có phương án diễn tập. Có xe chữa cháy trong KCN. Hệ thống trụ nước PCCC dọc theo các đường 150m/trụ, F 114 mm.

    F.    Hệ thống cấp nước:

    Khu công nghiệp Thuận Đạo được nhà máy cung cấp nước:

    -          Xí nghiệp cấp nước Gò Đen cung cấp 7.200m2/ngày đêm.

    -          Nhà máy nước Hoàng Long cung cấp 10.000m3/ngày đêm.

    -          Nhà máy nước KCN Thuận Đạo cung cấp 3.600m3/ngày đêm.

    Hệ thống ống chính Ф 250mm và ống nhánh Ф 200 - 150mm.

    Chất lượng nước theo QCVN 01:2009:BYT

    F.    Hệ thống xử lý nước thải

    -      Diện tích khu đất nhà máy xử lý nước thải 15.000m2.

    -      Công suất giai đoạn 1: 4.800 m3/ngày, giai đoạn 2: 6.000 m3/ngày.

    -      Đường ống Ф 600 – 800.

    Doanh nghiệp xử lý nội bộ nước thải theo tiêu chuẩn B – QCVN 40:2011/BTNMT KCN xử lý nước thải theo tiêu chuẩn A – QCVN 40:2011/BTNMT.

    KCN đầu tư trạm quan trắc tự động kiểm tra nước thải trước khi xả ra Rạch Chanh

    G.    Hệ thống thu gom rác thải:

    -      Bãi thu gom rác thải tập trung, diện tích 8.600m2, cạnh nhà máy nước thải.

    -      Đội xe thu gom và vận chuyển rác hàng ngày.

    -      Rác công nghiệp và rác thải nguy hại: Đơn vị dịch vụ: Công ty Môi trường Đô thị thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm xử lý.

    H.    Hệ thống thoát nước mưa và chống ngập lụt:

    -      Nước mưa chảy qua hệ thống cống hộp, mương có nắp đậy, van một chiều ra Rạch Chanh và vào sông Vàm Cỏ.

    -      Khu vực không bị ngập nước.

    Theo dự báo thủy văn sông Vàm Cỏ: Tháng 10 hàng năm, nước cao +1,40m, cứ 100 năm 1 lần nước cao +1,65m. Cao độ KCN + 2,1m. Cao độ nhà xưởng thấp nhất là +2,3m, vượt hệ số an toàn cho phép (2,3m – 1,65m = 0,65m > 0,5m)

    I.      Hệ thống thông tin liên lạc:

    Thiết lập mạng lưới bưu chính viễn thông hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế như dự kiến trang bị MDF, hệ thống điện thoại và đường truyền internet tốc độ cao do Công ty VNPT Long An lắp đặt, có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu của nhà đầu tư.

    III.   THÔNG TIN NGUỒN NHÂN LỰC

    A.    Nguồn lao động:

    Dân số tỉnh: 1.356.096 người. Trong độ tuổi lao động (từ 18 đến 54 tuổi) 834.555 người, chiếm 62% dân số. Nam 419.080 người, đạt tỉ lệ 31%, nữ 415.475 người.

    -      Huyện Bến Lức: 148.621 người, chiếm 11% dân số, trong đó trong độ tuổi lao động 90.262 người, nam 44.517 người, nữ 45.745 người.

    -      Huyện Cần Đước: 168.730 người, chiếm 12,5% dân số, trong đó trong độ tuổi lao động 84.890 người, nam 47.892 người, nữ 46.998 người

    B.    Đào tạo và dạy nghề:

    Tỉnh Long An có: 02 trường Đại học, 03 trường Cao đẳng nghề; 06 trường trung cấp; 02 trường trung cấp nghề; 7 trung tâm dạy nghề; 14 Trung tâm GD KTTH – hướng nghiệp; 06 TT giới thiệu việc làm; 35 trường PHTH.

    Hàng năm, có khoảng hơn 10.000 học viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng, trung cấp nghề  (Theo báo cáo "Kết quả 5 năm  xây dựng xã hội học tập tỉnh Long An giai đoạn 2005-2010")

    C.    Thu nhập trung bình của người lao động (tham khảo)

    Mức lương tối thiểu vùng: 2,100,000 đồng/tháng  (vùng II – nghị định 103/2012/NĐ–CP, ngày 04/12/2012, áp dụng từ ngày 20/01/2013)

    Thu nhập trung bình người lao động trong Khu công nghiệp (chưa tính tăng ca và các khoản phúc lợi khác):

    -      Lao động phổ thông                  2.300.000 2.700.000 đồng/tháng.

    -      Lao động có tay nghề               2.500.000 3.500.000 đồng /tháng

    -      Lao động kỹ thuật cao               4.000.000 5.500.000 đồng /tháng

    -      Quản lý                                                 5.000.000 10.000.000 đồng /tháng

    -      Quản lý cao cấp                                    từ 20 triệu trở lên

    D.    Bảo hiểm:

    -      Người lao động đóng 9,5%; Doanh nghiệp đóng 21% , gồm:

    -      Bảo hiểm xã hội           : Người lao động đóng 7%;          Doanh nghiệp đóng: 17%

    -      Bảo hiểm y tế   : Người lao động đóng 1,5%;                Doanh nghiệp đóng: 3%

    -      Bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động đóng 1%;          Doanh nghiệp đóng: 1%.

    E.    Khác:

    -      Thời gian thử việc        :  Lao động phổ thông 06 ngày. Lao động có tay nghề 30 ngày. Lao động trình độ chuyên môn cao 60 ngày.

    -      Khẩu phần ăn trưa       : từ 12.000 20.000 VNĐ/phần 

    -      Trợ cấp đi lại               : từ 50.000 200.000 VNĐ/tháng

    IV.   CÁC HỖ TRỢ CỦA KCN THUẬN ĐẠO

    A.    Thủ tục xin giấy phép:

    Giấy chứng nhận ĐKDN, giấy chứng nhận đầu tư, Con dấu, mã số thuế. Bố cáo thành lập DN. Giấy ĐK nhân sự quản lý.

    Thời gian cấp giấy: ĐKDN - 05 ngày làm việc; ĐKĐT: 15 ngày làm việc.

    B.    Hỗ trợ: Tuyển dụng và đào tạo lao động.

    C.    Tư vấn: Thiết kế nhà xưởng, xây dựng, kế toán, hải quan, xuất nhập khẩu, thuế vay vốn ngân hàng … thủ tục xin giấy phép xây dựng, thẩm định thiết kế, thẩm duyệt PCCC, hoàn công, sở hữu công trình xây dựng.

    Thời gian cấp giấy: Môi trường: 5 ngày làm việc, thẩm duyệt PCCC: 20 ngày. Xây dựng: 20 ngày. Sở hữu công trình: 30 ngày.

    D.    Cung cấp vật liệu xây dựng: Bê tông tươi, cống, cọc, gạch lát nền, gạch ốp tường, ngói, thiết bị vệ sinh, cửa nhựa lõi thép, sơn nước … giá cạnh tranh

    V.    THÔNG TIN LIÊN HỆ:

    PHÒNG KINH DOANH – TIẾP THỊ  

    -      Địa chỉ     : số 07, KP 06, Quốc lộ 1A, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức tỉnh Long An   

    -      Điện thoại: +84 72 387 2233 (105, 111, 168)          Fax: +84 72 387 2696

    -      Hotline    : 0909 82 1368;    0935 82 1368

    -      Email      : sales@thuandao.com  
09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/20131023112626_slide 10.jpg
Địa hình - Thổ nhưỡng  Địa hình - Thổ nhưỡng 
Tỉnh Long An có địa hình đơn giản, bằng phẳng nhưng có xu thế thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam. Địa hình bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Phần lớn diện tích đất của tỉnh Long An được xếp vào vùng đất ngập nước.

Khu vực tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc (Đức Huệ, Đức Hòa). Khu vực Đồng Tháp Mười địa hình thấp, trũng có diện tích gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Khu vực tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc (Đức Huệ, Đức Hòa). Khu vực Đồng Tháp Mười địa hình thấp, trũng có diện tích gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Khu vực Đức Hòa, một phần Đức Huệ, Bắc Vĩnh Hưng, thị xã Tân An có một số khu vực nền đất tốt, sức chịu tải cao, việc xử lý nền móng ít phức tạp. Còn lại hầu hết các vùng đất khác đều có nền đất yếu, sức chịu tải kém.
     Về phương diện địa chất - trầm tích thì chỉ có nhóm đất xám (phù sa cổ) thuộc trầm tích Pleistocene, phần còn lại có nguồn gốc từ lắng tụ của phù sa trẻ, trầm tích Holocene. phần lớn đất đai Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bời rời, tính chất cơ lý rất kém, các vùng thấp, trũng tích tụ nhiều độc tố làm cho đất trở nên chua phèn. Qua điều tra cơ bản, Long An có các nhóm đất chính :
      • Nhóm đất phù sa cổ: Phân bổ ở địa hình cao 2 - 6 m so với mặt biển, bao gồm các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng. Do địa hình cao thấp khác nhau nên chịu tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn.
      • Nhóm đất phù sa ngọt : Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, phân bổ chủ yếu ở các huyện, thị : Tân Thạnh, Thị xã Tân An, Tân Trụ, Cần Đước, Bến Lức, Châu Thành và Mộc Hóa.
      • Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: phân bố ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Tân Trụ. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thường bị nhiễm mặn trong mùa khô.
      • Nhóm đất phèn: phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười và kẹp giữa 2 dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Đất giàu chất hữu cơ, nồng độ độc tố trong đất cao (Cl-, Al3+, Fe2+ và SO42-), mất cân đối nghiêm trọng NPK.
      • Nhóm đất phèn nhiễm mặn: phần lớn phân bố trong vùng hạ tỉnh Long An và bị nhiễm mặn trong mùa khô.
      • Nhóm đất than bùn: phân bổ ở phía Nam huyện Đức Huệ, giáp với huyện Thạnh Hóa.
      Qua những đặc điểm về thổ nhưỡng cho thấy tỉnh Long An có nhiều bất lợi trong tổ chức sản xuất nông nghiệp. Vừa mang những nét đặc thù của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, vừa mang sắc thái riêng của vùng đất chua, phèn, mặn nên tỉnh cần có những giải pháp riêng định hướng phát triển vùng, nhất là sản xuất nông nghiệp.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Khu di tích khảo cổ học Bình Tả  Khu di tích khảo cổ học Bình Tả 
Khu di tích khảo cổ học Bình Tả , xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa , tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thị xã Tân An, cách Tân An 40 Km theo lộ trình Tân An- Bến Lức- thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 824 (tình lộ 9 cũ) tám trăm mét về phía đông.

  Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được 
 

Hiện vật vàng phát hiện tại Gò Xoài : 2 bông sen vàng và 1 mề đay nạm ngọc.

khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 16 di tích kiến trúc phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Từ phát hiện đầu tiên của nhà khảo cổ học người Pháp - H. Parmentier vào năm 1910;Năm 1931 J.Y. Claeys khai quật một di tích kiến trúc được xây bằng gạch ở phía tây nam cụm di tích này (Gò Tháp Lấp), đến nay di tích này đã bị hủy hoại , di vật bị thất lạc. Trong 2 năm 1987-1988, Sở Văn Hóa Thông tin phối hợp với Viện Khoa Học Xã Hội tại thành phố Hồ Chí Minh khai quật 3 di tích trong khu vực này.
     1.Di tích Gò Đồn 
: là loại kiến trúc đền tháp xây bằng gạch , chiều dài đông- tây 78,5 mét; chiều ngang chỗ rộng nhất đo được 60 mét (chiều bắc- nam), toàn bộ kiến trúc trước khi khai quật đều nằm trong lòng đất , chỗ gần mặt đất nhất là 0,4 mét. Cuộc khai quật đã thu thập được nhiều hiện vật bằng đá như tượng thần Dvarapala (thần giữ đền), đầu tượng thần Ganesa (phúc thần), nhiều vật thờ như linga, yoni, mi cửa chạm trổ hoa văn hình hoa lá, máng dẫn nước thiêng (somasutra)…và nhiều đồ gốm cổ . Trong hố thờ trung tâm của di tích sâu khoảng 3 mét còn có một linh vật yoni đã vỡ và nhiều viên đá cuội – được đoán định là đá thờ.
     Với kiểu dáng kiến trúc và những linh vật được phát hiện trong lòng di tích, có thể xác định Gò Đồn là một di tích kiến trúc Ấn Độ Giáo , thuộc văn hóa Óc Eo.

     2.Di tích Gò Xoài
 : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch , có dạng gần vuông với mỗi cạnh dài khoảng 20 mét , nền móng của kiến trúc có cấu tạo rất chắc chắn và phức tạp , gồm nhiều loại vật liệu khác nhau như cuội basalt (badan), sỏi đỏ, cát trắng, cát hồng…Kiến trúc Gò Xoài có hố thờ hình vuông ,cạnh 2,2 mét; sâu trên 2,5 mét, ở gần đáy hố thờ đã phát hiện được tro xương và một sưu tập hiện vật quý giá gồm nhiều mảnh vàng nhỏ, mỏng khắc chạm hình những linh vật như rùa, rắn, voi, những chiếc nhẫn và mề đay nạm đá quý và một bản văn minh Sanskrit-Pail gồm 5 dòng : dòng thứ nhất ghi một đoạn Pháp Thân Kệ, dòng thứ hai ghi một đoạn Kinh Pháp Cú (cả hai đoạn minh văn trên đều thuộc về Phật Giáo), dạng mẫu tự trên minh văn này được nhận định thuộc loại mẫu tự Nam ấn ( Deccan ), thếkỷ VIII-IX Công nguyên. Qua phát hiện trên, kiến trúc Gò Xoài được nhận định là một di tích stupa của Phật Giáo, có niên đại sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.
    3. Di tích Gò Năm Tước : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch, dài 17,20 mét; rộng 11,10 mét, phần trên của kiến trúc đã bị mất nhưng ở phần nền móng còn giữ được những đặc điểm của kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo như cấu trúc bẻ góc, các đường móng gạch rất thẳng, tam quan hình bán nguyệt hướng về phía đông … là cơ sở để nhận định đây là một kiến trúc đền thờ Ấn Độ Giáo.
Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực- tôn giáo của người xưa. Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối của hai chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ , phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (khu Bình Tả) : 1.588 ±56 năm cách ngày nay.
     Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa- Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích : Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Prei Kuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Kampuchia. Khu di tích khảo cổ học Bình Tả đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại quyết định số 1570/VH-QĐ ngày 5/9/1989./.
18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-new.JPG
Vị trí địa lýVị trí địa lý
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam.

 

 

 
    - Tỉnh Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng ĐBSCL song lại thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam (VPTKTTĐPN), được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam. Long An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài: 132,977 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) và Tho Mo (Đức Huệ). Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với ĐBSCL, nhất là có chung đường ranh giới với TP. Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như : quốc lộ 1A, quốc lộ 50, . . . các đường tỉnh lộ : ĐT.823, ĐT.824, ĐT.825 v.v . . . Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới, tạo động lực và cơ hội mới cho phát triển. Ngoài ra, Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai.
   - Là tỉnh nằm cận kề với TP.HCM có mối liên hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với Vùng Phát Triển Kinh Tế Trọng Điểm Phía Nam (VPTKTTĐPN), nhất là Thành phố Hồ Chí Minh một vùng quan trọng phía Nam đã cung cấp 50% sản lượng công nghiệp cả nước và là đối tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).
   - Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 449.194,49 ha, dân số 1.542.606 (theo số liệu dân số tính đến tháng 5 năm 2013)Tọa độ địa lý : 105030' 30'' đến 106047' 02'' kinh độ Đông và 10023' 40'' đến 11002' 00'' vĩ độ Bắc.

   - Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các huyện: Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An; có 192 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 166 xã, 12 phường và 14 thị trấn.

07/10/2013 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/ban_do_hanh_chinh_long_an_large.jpg
Hệ thống giao thông  Hệ thống giao thông 
 Từ năm 2010 đến nay, TW đã đầu tư nhiều tuyến đường quan trọng trên địa bàn tỉnh. Quốc lộ 50 đoạn qua Long An đã được nâng cấp, hoàn thiện. Đặc biệt là 2 đoạn tuyến tránh qua Thị trấn Cần Giuộc và Cần Đước đã hoàn thành đưa vào sử dụng vào cuối năm 2012. Quốc lộ N2, đoạn Tân Thạnh-Mỹ An cũng sắp hoàn thành đưa vào sử dụng trong tháng 7 năm 2013.

1/ Giao thông đường thủy:

   Mạng lưới giao thông thủy hầu như không tăng đến nay với quy mô 2.556,61 km với các tuyến đường thủy chính là Sông Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Rạch Cát.

   Ngoài ra các tuyến đường thủy nông thôn nhất là các huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười người dân có thể dùng ghe, tàu đi lại từ nhà này sang nhà khác, từ khu vực này sang khu vực khác và ghe tàu chính là phương tiện đi lại, làm ăn sinh sống của nhiều hộ gia đình vùng Đồng Tháp Mười. Các xã chưa có đường ô tô đến được trung tâm thì chủ yếu đi lại bằng đường thủy.

   Tuy nhiên hiện nay mạng lưới đường thủy vẫn chủ yếu dựa vào lợi thế tự nhiên, chưa khai thác được hết tiềm năng hiện có, hệ thống hỗ trợ như phao tiêu, báo hiệu đường thủy nội địa còn thiếu. Hiện tượng lấn chiếm dòng chảy, luồng chạy của tàu, vi phạm hành lang bảo vệ đường thủy nội địa như xây dựng nhà ở, các bến bãi chứa vật liệu xây dựng, họp chợ… chưa được ngăn chặn kịp thời. Nhiều tuyến đường thủy qua khai thác nhiều năm có độ bồi lắng lớn nhưng chưa được nạo vét làm ảnh hưởng đến khả năng đi lại của phương tiện.

  2/ Giao thông đường bộ:

   Đến tháng 5/2013, toàn tỉnh Long An có gần 5.824km đường giao thông bộ, trong đó đường cao tốc và quốc lộ hơn 217km, gồm: đường cao tốc Sài Gòn - Trung Lương, các quốc lộ: I, 50, 62 và N2. Tỉnh được Trung ương (TW) uỷ thác quản lý 77km quốc lộ 62. Đường tỉnh quản lý có hơn 904km, gồm 65 tuyến đường theo tên cũ, 50 tuyến theo tên mới (đường tỉnh được ký hiệu ĐT. và kèm theo số hiệu từ 816 đến 839, có thêm chữ B,C,D,E phía sau để chỉ các đường nhánh hoặc đường có hướng tuyến tương tự, Vd: ĐT.816 là tuyến đường từ Ngã tư Bình Nhựt, Bến Lức, giáp Quốc lộ I đến xã Bình Hoà Nam, Đức Huệ giáp với ĐT.839, trong đó: đường bê tông nhựa (BTN) hơn 86km, đường láng nhựa hơn 391km, đường bê tông xi măng (BTXM) 1,45 km và  đường cấp phối hơn 425km.

   Đường huyện, xã quản lý có hơn 4.700km, trong đó đường các huyện, thành phố quản lý (kể cả đường đô thị) có tổng chiều dài gần 1.279km, trong đó đường BTN hơn 142km, đường láng nhựa 269km, đường BTXM gần 30km, đường cấp phối hơn 747km và đường đất còn khoảng 90km. Đường đô thị có hơn 386km, trong đó bê tông nhựa hơn 122km, láng nhựa hơn 106km, bê tông xi măng hơn 18km, cấp phối hơn 130km và đường đất còn khoảng 9km.

   Đường xã quản lý có hơn 3.423km, trong đó láng nhựa gần 43km, bê tông xi măng hơn 306km, đường gạch, đá 31km, cấp phối gần 1.840 km và đường đất còn hơn 1.203km.

   Toàn tỉnh có 942chiếc cầu/32.601m, trong đó cầu bê tông cốt thép (BTCT) có 672chiếc/23.156m, cầu thép có 193chiếc/6.419m; cầu treo 8chiếc/848m; cầu gỗ 69 chiếc/2.178m.

   Cầu trên các trục đường tỉnh gồm 268chiếc/14.929,3m, trong đó: 11.658,52m/190chiếc bê tông dự ứng lực (BTDUL), 90,5m/4chiếc, cầu thép mặt thép 358,6m/5 chiếc, cầu thép mặt gỗ 2.245,68m/64chiếc và cầu treo còn 576m/5 chiếc.

   Từ năm 2010 đến nay, toàn tỉnh đã tăng thêm gần 800km đường mới, trong đó đường tỉnh có thêm 100km, đường huyện xã quản lý tăng thêm 700km. Đáng chú ý là  đường tỉnh được nhựa hoá đã tăng thêm hơn 190km. Đường huyện xã quản lý được nhựa hoá và bê tông hoá đã tăng thêm hơn 790km.

   Trong lĩnh vực xây dựng giao thông nông thôn, các địa phương trong tỉnh cũng đã huy động được hơn 1.605 tỷ đồng vốn xây dựng đường sá, cầu cống, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ gần 97 tỷ; ngân sách tỉnh hỗ trợ hơn 355 tỷ ; ngân sách huyện hơn  638 tỷ; ngân sách xã hơn 205 tỷ; tổ chức, doanh nghiệp đóng góp hơn 10 tỷ và  nhân dân đóng góp gần 298 tỷ. Đã xây dựng mới và nâng cấp được 2.423km đường, trong đó đường đô thị hơn 107km; đường huyện hơn 431km; đường xã hơn 1.011km; đường thôn (ấp) hơn 397km; đường ngõ, xóm hơn 476km. Ngoài ra còn xây dựng được 603 cây cầu các loại với tổng chiều dài hơn 15.716m.

   Có khá nhiều xã điển hình nổi bật đã phát động tốt phong trào xây dựng giao thông nông thôn như:

+/ Xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng đã huy động được 18,691 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 10,854 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 33,61km đường và 09 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 304m.

+/ Xã Long Trì, huyện Châu Thành đã huy động được 12,329 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 5,397 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 23,67km đường và 06 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 87m.

+/ Xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ đã huy động được 10,639 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 4,673 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 35,628km đường và 36 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 916m.

+/ Xã Quê Mỹ Thạnh, huyện Tân Trụ đã huy động được 7,940 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 4,331 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 21,03km đường.

+/ Xã An Nhật Tân, huyện Tân Trụ đã huy động được 6,373 tỷ đồng, trong đó  vốn nhân dân đóng góp 3,439 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 17,58km đường.

+/ Xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước đã huy động được 7,269 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 1,166 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 25,897km đường và 02 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 60m.

  Để chuẩn bị tổng kết 5 năm phong trào huy động nguồn lực làm đường giao thông nông thôn, Sở GTVT đã đề xuất và được Ban Chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh thống nhất đề nghị Chính phủ tặng Bằng khen cho 1 Xã, Bộ GTVT tặng Bằng khen cho 2 Xã và Tỉnh tặng Bằng khen cho 5 Xã về xây dựng giao thông nông thôn. Qua đợt tổng kết này, sẽ có nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra, để công tác xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới sẽ được thực hiện tốt hơn.

   Mặc dù từ năm 2010 đến nay, kinh phí đầu tư của ngân sách TW và tỉnh không nhiều, bình quân mỗi năm khoảng 500 tỷ, nhưng với nỗ lực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, đặc biệt là phong trào hiến đất làm đường giao thông nông thôn, người dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần giá trị đất để nâng cấp, mở rộng đường, doanh nghiệp ứng trước vốn đầu tư xây dựng đường, toàn tỉnh đã huy động được hơn 1300 tỷ đồng.

  Cũng từ năm 2010 đến nay, TW đã đầu tư nhiều tuyến đường quan trọng trên địa bàn tỉnh. Quốc lộ 50 đoạn qua Long An đã được nâng cấp, hoàn thiện. Đặc biệt là 2 đoạn tuyến tránh qua Thị trấn Cần Giuộc và Cần Đước đã hoàn thành đưa vào sử dụng vào cuối năm 2012. Quốc lộ N2, đoạn Tân Thạnh-Mỹ An cũng sắp hoàn thành đưa vào sử dụng trong tháng 7 năm 2013. Các dự án Cầu Mỹ Lợi, Đường Hồ Chí Minh, Âu Tàu Rạch Chanh, nạo vét tuyến đường thuỷ Bến Lức - Thủ Thừa - Rạch Chanh, nâng cấp Cầu An Thạnh (Bến Lức), xây dựng mới Cầu An Hoà (Thủ Thừa) và đường cao tốc Bến Lức-Long Thành cũng đã được khởi động, giải phóng mặt bằng và khởi công xây dựng một số hạng mục.

   Tuy vậy, đã quá nữa chặng đường của nhiệm kỳ đại hội IX Đảng bộ tỉnh. Nhìn lại những chỉ tiêu quan trọng của ngành GTVT, vẫn còn quá nhiều trăn trở. Số km đường trải nhựa, các tuyến đường nông thôn được bê tông hoá, số lượng đường vào xóm ấp, khu dân cư sạch không lầy lội vào mùa mưa vẫn còn chưa nhiều theo mong muốn. Số tuyến đường mở mới, số km đường được nâng cấp đạt chuẩn vẫn còn ít so với khả năng và tiềm lực.

    Để có thể đạt được kết quả theo mong muốn, ngoài nỗ lực của ngành GTVT, cũng rất cần sự cảm thông, ủng hộ của các cấp lãnh đạo và xã hội. Ưu tiên bố trí các nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho công trình giao thông; Tăng tính khả thi của các dự án giao thông phù hợp với điều kiện thực tiễn như: Điều chỉnh qui mô, trước hết, bảo đảm các tuyến đường tỉnh đủ 2 làn xe ô tô chạy với tốc độ 40-60km/giờ; Các tuyến đường huyện  đáp ứng yêu cầu tối thiểu 1 làn xe ô tô có đoạn tránh xe; Đường liên ấp có mặt đường bằng bê tông xi măng dầy tối thiểu 12cm, chiều rộng mặt đường từ 2,5m - 3,5m, có đoạn tránh xe; Tăng cường huy động vốn từ nguồn lực ngoài nhà nước, trong đó chú trọng nguồn lực từ sức dân góp đất, góp công và có thể đóng góp kinh phí cho một phần vật liệu; Tạo điều kiện thật thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp, thông qua hình thức ứng trước kinh phí thi công xây dựng, thanh toán theo lộ trình và kế hoạch dài hạn; Tạo sự đồng thuận cao từ người dân, thông qua các hội, đoàn thể dưới sự lãnh đạo thống nhất của cấp uỷ, hội đồng nhân dân, mặt trận tổ quốc và chính quyền các cấp, là những biện pháp quan trọng và quyết định để ngành GTVT sớm hoàn thành các chỉ tiêu của nhiệm kỳ Đại hội IX Đảng bộ tỉnh 2010-2015.  

       Mỗi tuyến đường được xây dựng mang lại bao niềm vui, hạnh phúc đến cho nhiều người, nhiều nhà. Cũng có những con đường sẽ chắp cánh, cho bao ước mơ bay cao, bay xa. Và, nếu có bất cứ con đường, cây cầu được xây dựng xong, mở mới, nâng cấp cũng sẽ là nền tảng cho tương lai, cho đất nước phát triển, vững bền.

      Ngành GTVT Long An sẽ tiếp tục nỗ lực nhiều hơn nữa để cho những tuyến đường trải dài đến mọi miền, mọi nhà./.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Thăm di tích nhà trăm cột ở Long An.Thăm di tích nhà trăm cột ở Long An.
Cần Đước-Long An không những là vùng đất được biết đến với đặc sản gạo nàng thơm Chợ Đào mà còn là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa.Có dịp về Cần Đước, bạn đừng quên ghé thăm một công trình kiến trúc điêu khắc cổ ở xã Long Hựu Đông mà nhân dân địa phương thường gọi là Nhà Trăm Cột ( vì có trên 100 cột).

Với diện tích 882m2, Nhà Trăm Cột tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2 ,chính diện quay về hưóng Tây Bắc. Nhà hoàn toàn bằng gỗ (cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch Tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian , 2 chái.    

Quang cảnh nhà trăm cột tỉnh Long An 

Quang cảnh nhà trăm cột tỉnh Long An...

       Nhà gồm có hai phần: phần trước là phần nội tự - ngoại khách,phần sau là phần để ở và sinh hoạt. Lẫm lúa ở sau cùng đã tháo dở (1952), nay chỉ còn nền móng. Kết cấu chính của Nhà Trăm Cột kiểu xuyên trính ( còn gọi là nhà đâm trính, nhà rường) ,khung sườn kiểu bát trụ, định vị theo hướng Tây - Đông, Tiền - Hậu. Các bộ phận của kết cấu chính như trính, trổng đều chạy chỉ , uốn cong kiểu nhà rường ở miền Trung. Tiếp giáp giữa bộ phận trính và trổng để đỡ đòn dông nóc nhà được cách điệu hình ''chày cối'',tượng trưng cho âm dương hòa hợp (nên còn gọi là kiểu nhà chày cối).Đây là kiểu nhà truyền thống có nhiều ưu điểm bởi bộ khung rất chắc chắn. Không gian ''rộng lòng căn'' được tạo ra ở giữa nhà do không có hàng cột giữa thích hợp để thờ tự.

Trong nhà đồ vật kiến trúc đều bằng gỗ... 

Trong nhà đồ vật kiến trúc đều bằng gỗ...

Đặc biệt, trang trí trong kiến trúc ở Nhà Trăm Cột cho thấy nghệ thuật điêu khắc của các nghệ nhân ngày trước ở vào trình độ bậc cao qua cách bố cục, thể hiện đề tài cũng như xử lý kỹ thuật. Toàn bộ hệ thống vì kèo, xuyên được chạm nổi, chạm lọng rất công phu các đề tài ''vân hóa long'', '' tứ thời'' kiểu ''dây lá hóa'' đặc trưng của Huế rất sắc sảo. Các gian nội tự và ngoại khách là nơi tập trung cao nhất giá trị thẩm my õ của công trình mà người xưa đã gửi gấm trên từng nét chạm. Đó là một tập hợp đa dạng, phong phú các đề tài cổ điển như ''tứ linh'',

Trước sảnh nhà Trăm cột... 

Trước sảnh nhà Trăm cột...

Một góc chụp phòng khách ... 

Một góc chụp phòng khách ...

Nét đặc thù trong phong cách chạm gỗ ở đây là bên cạnh phong cách tả thực khéo léo, tỉ mỉ nặng tính sao chép, gò bó bởi những qui phạm phong kiến là phong cách cách điệu phóng khoáng với khối lượng lớn các đồ án dạnhg ''dây lá hóa'' đã tạo thêm sự phong phú, sinh động, gây xúc cảm cho người thưởng ngoạn. Gian ngoại khách ở Nhà Trăm cột còn được tô điểm bởi các bức hoành phi, đối liễng, sơn son ,thếp vàng ,cẩn ốc xa cừ có nội dung nói lên tư tưởng hướng đến cuộc sống an nhàn, (Thiên địa náo trường xuân mậu trúc mai thanh khai hảo cảnh, Hướng sơn y thắng cuộc vận phi điểu cách tráng kỳ quan) hay ca ngợi cảnh đẹp (Sơn trang cổ họa) ,cầu phúc ,chúc thọ. Tất cả được bố cục ,xử lý một cách hài hòa trong không gian kiến trúc làm toát lên nét trang nghiêm của một ngôi nhà thờ và cũng đầy tráng lệ của một công trình kiến trúc điêu khắc truyền thống.

04/08/2014 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/NhaTramCot.jpg
DI TÍCH NHÀ TRĂM CỘTDI TÍCH NHÀ TRĂM CỘT
     Cần Đước-Long An không những là vùng đất được biết đến với đặc sản gạo nàng thơm Chợ Đào mà còn là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa.Có dịp về Cần Đước, bạn đừng quên ghé thăm một công trình kiến trúc điêu khắc cổ ở xã Long Hựu Đông mà nhân dân địa phương thường gọi là Nhà Trăm Cột ( vì có trên 100 cột).

du-lich-mien-tay-nha-tram-cot-long-an.jpg

Chủ nhân đời thứ 3 ,ông Trần Văn Ngộ kể rằng ngôi nhà này do ông nội ông, ông Trần Văn Hoa lúc ấy là Hương Sư làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ ,tỉnh Chợ Lớn xây dựng vào những năm 1901-1903 do một nhóm thợ miền Trung thực hiện.

      Với diện tích 882m2, Nhà Trăm Cột tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2 ,chính diện quay về hưóng Tây Bắc. Nhà hoàn toàn bằng gỗ (cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch Tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc ( ) , 3 gian , 2 chái.      
       Nhà gồm có hai phần: phần trước là phần nội tự - ngoại khách,phần sau là phần để ở và sinh hoạt. Lẫm lúa ở sau cùng đã tháo dở (1952), nay chỉ còn nền móng. Kết cấu chính của Nhà Trăm Cột kiểu xuyên trính ( còn gọi là nhà đâm trính, nhà rường) ,khung sườn kiểu bát trụ, định vị theo hướng Tây - Đông, Tiền - Hậu. Các bộ phận của kết cấu chính như trính, trổng đều chạy chỉ , uốn cong kiểu nhà rường ở miền Trung. Tiếp giáp giữa bộ phận trính và trổng để đỡ đòn dông nóc nhà được cách điệu hình ''chày cối'',tượng trưng cho âm dương hòa hợp (nên còn gọi là kiểu nhà chày cối).Đây là kiểu nhà truyền thống có nhiều ưu điểm bởi bộ khung rất chắc chắn. Không gian ''rộng lòng căn'' được tạo ra ở giữa nhà do không có hàng cột giữa thích hợp để thờ tự.

 

       Đặc biệt, trang trí trong kiến trúc ở Nhà Trăm Cột cho thấy nghệ thuật điêu khắc của các nghệ nhân ngày trước ở vào trình độ bậc cao qua cách bố cục, thể hiện đề tài cũng như xử lý kỹ thuật. Toàn bộ hệ thống vì kèo, xuyên được chạm nổi, chạm lọng rất công phu các đề tài ''vân hóa long'', '' tứ thời'' kiểu ''dây lá hóa'' đặc trưng của Huế rất sắc sảo. Các gian nội tự và ngoại khách là nơi tập trung cao nhất giá trị thẩm my õ của công trình mà người xưa đã gửi gấm trên từng nét chạm. Đó là một tập hợp đa dạng, phong phú các đề tài cổ điển như ''tứ linh'',

Di tích nhà 100 cột

 

''tứ thời'','' bát quả''; các mô típ thể hiện Phúc - Lộc -Thọ bên cạnh các đề tài phương Tây như hoa hồng, sóc - nho, cùng các yếu tố Nam bộ như mãng cầu, bình bát,khế,măng cụt, đã được các nghệ nhân thể hiện công phu trên các bao lam, các khung ô hộc, vách ngăn, vách lá gió, bàn thờ , ghế nghi, bàn tròn , bàn dài, bằng kỹ thuật chạm lọng, chạm nổi, chạm bong kênh, chạm nổi trên nền chạm lọng, hết sức điêu luyện và tài tình. 

Di tích nhà 100 cột

        Nét đặc thù trong phong cách chạm gỗ ở đây là bên cạnh phong cách tả thực khéo léo, tỉ mỉ nặng tính sao chép, gò bó bởi những qui phạm phong kiến là phong cách cách điệu phóng khoáng với khối lượng lớn các đồ án dạnhg ''dây lá hóa'' đã tạo thêm sự phong phú, sinh động, gây xúc cảm cho người thưởng ngoạn. Gian ngoại khách ở Nhà Trăm cột còn được tô điểm bởi các bức hoành phi, đối liễng, sơn son ,thếp vàng ,cẩn ốc xa cừ có nội dung nói lên tư tưởng hướng đến cuộc sống an nhàn, (Thiên địa náo trường xuân mậu trúc mai thanh khai hảo cảnh, Hướng sơn y thắng cuộc vận phi điểu cách tráng kỳ quan) hay ca ngợi cảnh đẹp (Sơn trang cổ họa) ,cầu phúc ,chúc thọ. Tất cả được bố cục ,xử lý một cách hài hòa trong không gian kiến trúc làm toát lên nét trang nghiêm của một ngôi nhà thờ và cũng đầy tráng lệ của một công trình kiến trúc điêu khắc truyền thống. 
       Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột là một ngôi nhà có kiểu thức thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế. Nhưng do được làm theo đơn đặt hàng của gia chủ trong bối cảnh Nam bộ thời thuộc Pháp nên có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí,tạo được sự phong phú và đa dạng. Đó cũng là một phần lịch sử - văn hóa đất phương Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Với giá trị ấy, năm 1997 Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn Hóa - Thông Tin xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa Quốc Gia (số 2890- VH/QĐ/ 27.09.1997).

12/11/2008 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/NhaTramCot.jpg
Di tích lịch sử "Vàm Nhựt Tảo" Di tích lịch sử "Vàm Nhựt Tảo"
Là nơi giao hội giửa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, Vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nước phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nhưng vào ngày 10/12/1861, vàm Nhựt Tảo đã dậy sóng căm hờn nhấn chìm tàu L' Espérance của quân xâm lược Pháp. Người đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là ''oanh thiên địa'' ấy chính là người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực.

 Ông sinh năm 1839 tại xóm Nghề, làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, ông đã tham gia vào đội nghĩa binh kháng chiến dưới quyền chỉ huy của Trương Định và được cử về hoạt động chống Pháp trên địa bàn phủ Tân An.  

Được sự giúp đở của hương chức làng Nhựt Tảo ông đã bố trí một kế hoạch táo bạo, thông minh để đánh tàu L' Espérance, một tiểu hạm chủa Pháp đang hoành hành trên vùng sông nước huyện Cửu An.Sáng ngày 10/12/1861, sau khi bố trí lực lượng phục kích trên bờ và dụ cho một bộ phận địch rời khỏi tàu, Nguyễn Trung Trực đã cùng 59 nghĩa quân lên 5 chiếc ghe giả làm ghe buôn lúa tiến sát tàu địch.

Vàm Nhựt Tảo
Vàm Nhựt Tảo

​     Trong lúc trình giấy thông hành, ông đã bất ngờ giết tên lính Pháp rồi cùng nghĩa quân tấn công lính Pháp trên tàu L' Espérance. Không kịp trở tay, toàn bộ địch trên tàu bị tiêu diệt ( chỉ có 5 tên chạy thoát). Nghĩa quân dùng dầu và đồ dẩn hỏa đốt cháy tàu L' Espérance. Ngọn lửa bốc cao từ từ nhấn chìm tàu xuống đáy sông sâu. Tin chiến thắng Nhựt Tảo bay đi làm nức lòng quân dân cả nước. Triều đình Huế đã thăng Nguyễn Trung Trực lên chức Quản Cơ, hậu thưởng cho nghĩa quân, cấp tử tuất và hổ trợ tiền cho làng Nhựt Tảo (bị quân Pháp triệt hạ).      
     Thực dân Pháp cũng hết sức bàng hoàng vì chúng không thể ngờ rằng nghĩa quân có thể gây cho chúng tổn thất lớn như thế. Để ghi dấu kỷ niệm ''đau thương'' này, Thực dân Pháp đã cho xây dựng một bia tưởng niệm bên bờ sông Nhựt Tảo .Thời gian lặng lẽ trôi, vàm Nhựt Tảo vẫn còn đó như gợi lại trong lòng khách vãng lai một niềm hoài cổ. Tàu L' Espérance sau gần 120 năm nằm yên dưới đáy sông sâu đã được khai quật. Tổng số hiện vật thu được là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 hiện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu như cong đà, be, lườn, cột buồm. Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhưng tàu L' Espérance vẩn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã được bảo quản và trưng bày tại Bảo Tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ.
     Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhựt Tân, du khách sẽ được ngắm nhìn vùng sông nước hữu tình vàm Nhựt Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nước trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dưới rặng dừa nước và một số loài cây hoang dại như vẹt, bần, đước, mắm. Cách vàm 200m là chiếc cầu treo bắc qua sông Nhựt Tảo nối liền 2 xã An Nhựt Tân và Bình Trinh Đông. Những buổi bình minh đứng trên cầu treo nhìn ra vàm sông ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp như tranh nơi đây. Sương tan là đà trên mặt sông dài như được nhuốm hồng bởi ánh bình minh, đó đây văng vẳng tiếng hò khoan dìu đặt của người dân chài lưới. Gần vàm là ngôi chợ khá lâu đời, hiện vẩn còn 2 dãy phố lợp ngói khá cổ kính. Đối diện chợ là trụ sở ủy ban nhân dân xã An Nhựt Tân. Khuôn viên ủy ban có bia kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo được xây dựng năm 1980. Nói chung dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- người đầu tiên duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lược bằng mưu trí và lòng dũng cảm dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những người ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lược. 135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó. Một dự án tôn tạo di tích quy mô đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và bước đầu thực hiện. Trong tương lai, đền thờ, tượng đài anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực và những hạng mục công trình khác sẽ được xây dựng bên bờ vàm Nhựt Tảo, sẽ làm cho vùng sông nước nên thơ này không những có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị tham quan du lịch.

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/nhattao.JPG
Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Ngày  15/4/2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 1299/QĐ-UBND duyệt đồ án quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với nội dung như sau:

* Chủ đầu tư lập quy hoạch: Ban Quản lý Dự án Quy hoạch Xây dựng – Sở Xây dựng Long An.

* Đơn vị tư vấn: Công ty Cổ phần Nước và Môi trường Việt Nam.

1. Phạm vi quy hoạch

Bao gồm toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Long An.

2. Quan điểm quy hoạch

- Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 phù hợp với định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu cụm công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An.

- Phát triển hoạt động cấp nước bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch; cung cấp nước ổn định, bảo đảm chất lượng, dịch vụ tốt và hiệu quả.

- Phát triển hệ thống cấp nước tỉnh Long An trong mối quan hệ với hệ thống cấp nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; quy hoạch cấp nước Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

3. Mục tiêu quy hoạch

- Cụ thể hóa định hướng cấp nước trong quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An.

- Xác định nhu cầu sử dụng nước sạch; khai thác hợp lý các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm); xác định nhu cầu đầu tư và phát triển hệ thống cấp nước tỉnh Long An đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch từng giai đoạn.

- Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch đến năm 2030 đạt 100%.

- Giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch đến năm 2015 đạt 25%, đến năm 2025 đạt 15%.

4. Tiêu chuẩn cấp nước

- Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt đến năm 2015 đạt 85 lít/người/ngày, đến năm 2020 đạt 90 lít/người/ngày, đến năm 2030 đạt 100 lít/người/ngày.

- Tiêu chuẩn cấp nước công nghiệp bình quân 30m3/ha/ngày.

5. Dự báo nhu cầu dùng nước

- Tổng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2020 là 420.077m3/ngày, trong đó:

+ Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt: 98.750m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước công nghiệp: 240.667m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước các loại hình dịch vụ khác: 16.580m3/ngày.

+ Nước thất thoát: 64.080 m3/ngày.

- Tổng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2030 là 735.969m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt: 210.848m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước công nghiệp: 391.743m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước các loại hình dịch vụ khác: 37.382m3/ngày.

+ Nước thất thoát: 95.996m3/ngày.

6. Nội dung quy hoạch

a) Các nhà máy nước và nguồn nước:

* Vùng 1: Bao gồm thành phố Tân An và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ, Thủ Thừa.

Nhà máy Nước Bình Ảnh:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  15.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 30.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 30.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ: Thành phố Tân An và thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

- Nhà máy Nước Tân An:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  15.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 10.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 10.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thành phố Tân An.

+ Phạm vi phục vụ:  Thành phố Tân An.

- Nhà máy Nước Bảo Định:

+ Nguồn nước:    Nước mặt sông Bảo Định.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

            . Năm 2020: 30.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 60.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ: Khu vực thành phố Tân An và huyện Thủ Thừa.

Nhà máy Nước Đức Hòa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 0.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa.

- Nhà máy Nước Hậu Nghĩa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 0.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

 

- Nhà máy Nước Tân Đức:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  5.000 m3/ngày đêm.

                                       . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

Nhà máy Nước Đức Hòa 3:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  15.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 10.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Khu công nghiệp Đức Hòa 3, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu công nghiệp Đức Hòa 3, huyện Đức Hòa.

- Nhà máy Nước Hòa Khánh Tây (Phú Mỹ Vinh I):

+ Nguồn nước:    Nước mặt hồ Dầu Tiếng (từ kênh Cầu Máng-N3).

+ Công suất:                . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

         . Năm 2020: 40.000 m3/ngày đêm.

        . Năm 2030: 80.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Các khu công nghiệp huyện Đức Hòa.

Nhà máy Nước Phú Mỹ Vinh II:

+ Nguồn nước:    Nước mặt hồ Dầu Tiếng (từ kênh Cầu Máng-N3).

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

            . Năm 2020: 200.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 300.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Thủ Thừa, Cần Đước, Cần Giuộc và Tân Trụ.

Nhà máy Nước Gò Đen:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  7.200 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 3.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Gò Đen, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu vực Gò Đen, huyện Bến Lức.

- Nhà máy Nước Bến Lức:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

- Nhà máy Nước Bến Lức 2:

+ Nguồn nước:    Nước mặt.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

            . Năm 2020: 25.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 50.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã An Thạnh, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ: Đô thị và khu công nghiệp huyện Bến Lức (ranh giới thành phố Hồ Chí Minh đến cầu Bến Lức).

Nhà máy Nước Cần Đước:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    - Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            - Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            - Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước.

- Nhà máy Nước Hoàng Long:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  5.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ: Khu công nghiệp Thuận Đạo, Cụm công nghiệp Long Định - Long Cang.

Nhà máy Nước Long Cang:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Cụm công nghiệp Long Cang, huyện Cần Đước.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Long Cang, huyện Cần Đước.

 

Nhà máy Nước Cần Giuộc:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc.

Nhà máy Nước Tân Kim:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Khu công nghiệp Tân Kim, huyện Cần Giuộc.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu công nghiệp Tân Kim, huyện Cần Giuộc.

Nhà máy Nước Long Hậu:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   5.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Khu công nghiệp Long Hậu, huyện Cần Giuộc.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu công nghiệp Long Hậu, huyện Cần Giuộc.

Nhà máy nước Thủ Thừa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   1.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm..

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

Nhà máy Nước Nguyễn Văn Thời:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   1.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

 

Nhà máy Nước Tân Trụ:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ.

* Vùng 2: Bao gồm các huyện Đức Huệ, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Châu Thành, Tân Hưng và thị xã Kiến Tường.

Nhà máy Nước Tầm Vu:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành.

- Nhà máy Nước Thanh Vĩnh Đông:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2030: 5.000 m3/ ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Thanh Vĩnh Đông, huyện Châu Thành.

+ Phạm vi phục vụ: Dân cư, công nghiệp xã Thanh Vĩnh Đông, huyện Châu Thành.

Nhà máy Nước Thạnh Hóa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 2.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa.

Nhà máy Nước Thuận Nghĩa Hòa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu: Dự kiến xây mới.    

. Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm.

                                       . Năm 2030: 8.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Thạnh Hóa và cụm công nghiệp Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa.

Nhà máy Nước Tân Tây:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu: Dự kiến xây mới.    

. Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm.

                                       . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Tân Tây, huyện Thạnh Hóa.

Nhà máy Nước Đông Thành:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  5.00 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm..

+ Vị trí:                Thị trấn Đức Huệ, huyện Đức Huệ.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Đức Huệ, huyện Đức Huệ.

Nhà máy Nước Bình Hòa Bắc:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 2.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Bình Hòa Bắc, Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ.

Nhà máy Nước Mỹ Quý Đông:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2030: 2.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ.

Nhà máy Nước Cát Cái:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.000 m3/ngày đêm.           

. Năm 2020: 12.000 m3/ngày đêm.         

. Năm 2030: 20.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị xã Kiến Tường.

+ Phạm vi phục vụ: Thị xã Kiến Tường.

Nhà máy Nước Bình Hiệp:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2020: 10.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 20.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường.

+ Phạm vi phục vụ:  Xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường.

Nhà máy Nước Tân Thạnh:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    - Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            - Năm 2020: 8.500 m3/ngày đêm.

            - Năm 2030: 17.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Tân Thạnh, huyện Tân Thạnh.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Tân Thạnh, huyện Tân Thạnh.

- Nhà máy Nước Tân Hưng:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.200 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm..

+ Vị trí:                Thị trấn Tân Hưng, huyện Tân Hưng.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Tân Hưng, huyện Tân Hưng.

- Nhà máy Nước Vĩnh Hưng:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 3.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng.

Nhà máy Nước Thái Bình Trung:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2020: 3.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 7.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng.

+ Phạm vi phục vụ: Dân cư, công nghiệp xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng.

b) Công nghệ xử lý:

- Công nghệ xử lý đối với nước ngầm và nước mặt đảm bảo chất lượng nước theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Đối với nước ngầm là làm thoáng - lắng - lọc - khử trùng, đối với nước mặt là làm keo tụ - lắng - lọc - khử trùng.

- Áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao hiệu quả của công tác khai thác, vận hành, quản lý cấp nước và tiết kiệm năng lượng.

c) Các công trình trong mạng lưới cấp nước vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh:

- Trạm bơm tăng áp số 1 (TA1) Lương Bình: Đặt tại vị trí cạnh đường tỉnh 830, tại xã Lương Bình, huyện Bến Lức. Cao độ trung bình khu vực là +0,8m. Công suất 220.000 m3/ngđ (năm 2030), trong đó 90.000 m3/ngđ giai đoạn 1 (năm 2020). Các hạng mục chính:

+ Bể chứa nước sạch: dung tích 20.000m3, chia thành 4 bể, 5.000 m3/bể. Giai đoạn 1 xây dựng 2 bể.

+ Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 6 bơm làm việc, 2 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=1.600 m3/h, H=60m. Giai đoạn 1 sử dụng 2 bơm làm việc, 1 dự phòng.

- Trạm bơm tăng áp số 2 (TA2) Bến Lức: Đặt tại vị trí gần đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, trong nhà máy nước Bến Lức 2 sẽ xây dựng theo dự án ODA của Nhật Bản, xã An Thạnh, huyện Bến Lức. Cao độ trung bình khu vực là +0,7m. Công suất 270.000 m3/ngđ (tính cả công suất nhà máy nước Bến Lức), trong đó 115.000 m3/ngđ giai đoạn 1. Các hạng mục chính:

+ Bể chứa nước sạch: dung tích 24.000m3, chia thành 4 bể, 6.000 m3/bể. Giai đoạn 1 xây dựng 2 bể.

+ Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 7 bơm làm việc, 2 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=1.600 m3/h, H=60m. Giai đoạn 1 sử dụng 3 bơm làm việc, 1 dự phòng.

- Trạm bơm tăng áp số 3 (TA3) Long Hòa: Đặt tại vị trí ngã tư Rạch Kiến, ấp 4, xã Long Hòa, huyện Cần Đước. Cao độ trung bình khu vực là +0,8m. Công suất 75.000 m3/ngđ. Các hạng mục chính:

 + Bể chứa nước sạch: dung tích 10.000m3, chia thành 2 bể, 5.000 m3/bể.

 + Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 2 bơm làm việc, 1 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=1.600 m3/h, H=60m.

- Trạm bơm tăng áp số 4 (TA4) Lạc Tấn: Đặt tại vị trí ngã tư đường tỉnh 833 và 833B, xã Lạc Tấn, huyện Tân Trụ. Cao độ trung bình khu vực là +0,8m. Công suất 30.000 m3/ngđ. Các hạng mục chính:

 + Bể chứa nước sạch: dung tích 5.000m3, chia thành 2 bể, 5.000 m3/bể.

+ Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 2 bơm làm việc, 1 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=650 m3/h, H=60m.

- Tuyến ống chuyển tải nước sạch chính và nhánh:

+ Ống cấp nước sử dụng loại ống chuyên dùng theo quy định hiện hành.

+ Đoạn từ Nhà máy nước Hòa Khánh Tây (Phú Mỹ Vinh I) và Phú Mỹ Vinh II đến Trạm tăng áp TA1:

w Tuyến ống chuyển tải chính: Từ nhà máy nước theo đường tỉnh 824 đến đường tỉnh 825 đường kính D2.000; đoạn tuyến chạy dọc theo đường tỉnh 825 ra đường tỉnh 830 có đường kính D1.800, chiều dài 2,27km; tuyến từ giao lộ đường tỉnh 825 và đường tỉnh 830 đến TA1 có chiều dài 11,35km, giai đoạn 1 đường kính tuyến D1.200, giai đoạn 2 thêm 1 tuyến đường kính D1.200.

w Tuyến ống chuyển tải nhánh: 2 nhánh.

Nhánh 1: Từ nhà máy nước Phú Mỹ Vinh I và II theo đường tỉnh 822 và đường tỉnh 823 kết nối với dự án hệ thống cấp nước Kênh Đông và nhà máy nước Đức Hòa 3 cấp cho khu công nghiệp Đức Hòa 3. Một tuyến ống D300 theo đường tỉnh 822 cấp cho thị trấn Hiệp Hòa và một tuyến D300 cấp cho thị trấn Hậu Nghĩa.

Nhánh 2: Nối từ tuyến ống D2.000, đi dọc theo đường tỉnh 824 chiều dài 9,1km cấp cho Khu công nghiệp Xuyên Á và các cụm công nghiệp lân cận, đường kính ống D400 lắp đặt luôn cho cả 2 giai đoạn.

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA1 đến TA2: đặt dọc theo đường tỉnh 830, chiều dài 11,5km. Đường kính tuyến giai đoạn 1 D1.200; giai đoạn 2 thêm 1 tuyến D1.000.

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA2 đến TA3:

w Tuyến ống D1.000 từ giao lộ Quốc lộ 1 với đường tỉnh 830 chạy dọc theo Quốc lộ 1 và chia làm thành 2 nhánh. Một tuyến D900 đi theo đường tỉnh 835 về trạm biến áp 4 (Long Hòa), chiều dài 7,7km; một tuyến D300 đi theo đường tỉnh lộ 835B cấp nước cho Khu công nghiệp Cầu Tràm, chiều dài 7,6km.

w Các tuyến nhánh chuyển tải từ TA4 (Long Hòa) đến các khu vực dùng nước:

. Tuyến 1 có D500, chiều dài 10,33km dọc theo đường tỉnh 835 cấp nước cho thị trấn Cần Giuộc, các khu công nghiệp huyện Cần Giuộc.

. Tuyến 2 có D700, chiều dài 1,8km dọc theo đường tỉnh 826, sau đó chia làm 2 nhánh. Nhánh D400, chiều dài 8,9km cấp cho thị trấn Cần Đước và khu công nghiệp Cần Đước; nhánh D600, chiều dài 7,4km cấp cho khu công nghiệp Phú Long, Bắc Tân Tập và Cảng Long An.

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA2 đến TA4:

w Tuyến ống chuyển tải chính: Chiều dài 11,5km đặt dọc theo đường tỉnh 830 (Đường vành đai 4 dự kiến). Đường kính tuyến D1.000. Hành lang quản lý tuyến 10m.

w Tuyến ống chuyển tải nhánh: 3 nhánh.

. Nhánh 1: Từ đường vành đai 4 (dự kiến) đi theo đường Quốc lộ 1 kết nối với các nhà máy nước Bình Ảnh, Bảo Định (Nhị Thành) cấp nước cho thành phố Tân An và các khu công nghiệp với chiều dài tuyến 9,4km. Đường kính ống D1.000 lắp đặt luôn cho cả 2 giai đoạn.

. Nhánh 2: Tuyến D600 từ Quốc lộ 1 rẽ trái theo đường vào xã Mỹ Bình  và chia làm 2 nhánh. Một tuyến D300, chiều dài 5km cấp cho Khu công nghiệp An Nhựt Tân; một tuyến D600, chiều dài 5,3km dọc theo đường tỉnh 833 đến trạm bơm tăng áp Lạc Tấn.

. Nhánh 3: Tuyến D900 từ ngã ba Mỹ Bình đi dọc theo Quốc lộ 1, chiều dài 5,1km đấu nối với mạng lưới cấp nước thành phố Tân An (dự kiến lắp đặt phục vụ cho cả 2 giai đoạn).

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA4 đến thị trấn Tân Trụ: Tuyến ống D600, chiều dài 6,3km đặt dọc theo đường tỉnh 833 cấp cho thị trấn Tân Trụ.

Ngoài ra mạng lưới cấp nước của hệ thống cấp nước vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh có dự kiến kết nối với mạng lưới cấp nước của thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tiền Giang qua các ngõ Quốc lộ 1 và Đường tỉnh 825.

7. Các dự án ưu tiên đầu tư

- Dự án cấp nước Hòa Khánh Tây giai đoạn 1, công suất 40.000m3/ngày.

- Dự án cấp nước Phú Mỹ Vinh II, giai đoạn 1, công suất 50.000m3/ngày.

- Dự án xây dựng và phát triển mạng lưới phân phối (cấp 2, 3) tiếp nhận nước từ hệ thống cấp nước Phú Mỹ Vinh I và II.

- Dự án Nhà máy Nước ngầm Bình Ảnh, giai đoạn 1, công suất 30.000 m3/ngày.

- Dự án Nhà máy Nước mặt Bảo Định, giai đoạn 1, công suất 30.000 m3/ngày.

- Dự án Nhà máy Bến Lức 2, giai đoạn 1, công suất 25.000m3/ngày.

- Các dự án cấp Nước quy mô nhỏ tại các đô thị.

8. Khái toán kinh phí và nguồn vốn đầu tư

- Kinh phí đầu tư hệ thống cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 khoảng 12.900 tỷ đồng.

- Nguồn vốn đầu tư:

+ Vốn ngân sách nhà nước.

+ Vốn ODA, vốn tài trợ nước ngoài.

+ Vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

+ Các nguồn vốn hợp pháp khác.​

15/12/2014 3:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Di tích lịch sử "Khu vực ngã tư Đức Hoà" Di tích lịch sử "Khu vực ngã tư Đức Hoà"
Ngã tư Đức Hòa tọa lạc tại trung tâm thị trấn Đức Hòa, được tạo thành bởi sự giao nhau của hai con lộ 9 và 10, cách TPHCM khoảng 22 km và cách thị xã Tân An hơn 40 km về hướng Nam. Tại đây, vào ngày 4/6/1930, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm- Bí thư Liên Tỉnh ủy Gia Định-Chợ Lớn và đồng chí Võ Văn Tần - Bí thư Huyện ủy Đức Hòa, khoảng 5000 đồng bào các xã trong huyện đã tham gia cuộc biểu tình hô vang khẩu hiệu đòi quyền dân sinh dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống lính vào làng đàn áp nhân dân.

     Xuất phát trên những ngã đường khác nhau từ các xã Bình Hòa, Thạnh Lợi, Hoà Khánh, Hựu Thạnh, Lương Hòa, Đức Hòa, Đức Lập, Mỹ Hạnh và các hướng còn lại, các đoàn gặp nhau tại khu vực ngã tư Đức Hòa vào lúc 17 giờ, và cùng tiến về phía Dinh Quận, đòi gặp quận trưởng Huỳnh Văn Đẩu (còn gọi quận Sành) để giải quyết các yêu sách của ta.

Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, quận Sành rất khiếp sợ không dám trực diện với nhân dân.Để đối phó với tình hình trên, địch phải xin điều binh tiếp viện. Đến 20 giờ được sự tiếp viện của địch từ hướng Chợ Lớn kéo đến- trong đó có cả cảnh sát Hóc Môn, Chợ Lớn và 20 lính mã tà của Sở cảnh sát Sài Gòn do tên cò Dreuil chỉ huy - quận Sành ra lệnh giải tán đoàn biểu tình, đe dọa quần chúng. Chúng tìm cách truy xét để tìm người cầm đầu cuộc biểu tình. Tất cả bọn lính đều được vũ trang, sẳn sàng dùng bạo lực để đàn áp đoàn người.

Khu vực Ngã tư Đức Hoà

​     Trước sự hung hăng của kẻ định, tinh thần của quần chúng không hề nao núng, đồng bào vẫn tiếp tục xiết chặt tay nhau tiến lên. Tên cò Dreuil ra lệnh bắn xả vào đoàn người, vài người đi đầu đã ngã xuống trước tầm súng địch trong tiếng la thét phẩn nộ của quần chúng. Trong tình thế căng thẳng trên, đồng chí Châu Văn Liêm nhanh chóng tiến lên phía trước gặp tên cò Dreuil để đưa bản yêu sách, đồng thời trực tiếp tranh luận vạch trần những hành động dã man và biết bao tội ác của địch bằng vốn tiếng Pháp thông thạo. Cuộc tranh luận kéo dài khoảng 15 phút, thì bất ngờ tên cò Dreuil rút súng lục bắn trúng vào giữa ngực đồng chí Châu Văn Liêm. Bọn lính vẫn ngoan cố tiếp tục nã súng vào đoàn biểu tình, làm thêm nhiều người chết và bị thương, cách dinh quận không đầy 100m. Đoàn biểu tình chựng lại, tản ra nhưng chưa hẳn giải tán. Mãi đến khi địch điều thêm lực lượng, bắt đi khoảng 100 người với sự thị thực của Thống đốc Nam Kỳ và Chủ tỉnh Chợ Lớn Renault thì cuộc biểu tình mới chấm dứt. Cuộc biểu tình bị dìm trong biển máu, nhưng nó đã gây chấn động lớn thời bấy giờ: Lần đầu tiên trong một vùng thôn quê yên tĩnh, đã nổ ra cuộc chạm trán quyết tử với kẻ thù vì lợi sống còn của hàng vạn người dân bị áp bức bóc lột từ bao đời nay. Cuộc biểu tình ngày 4/6/1930 ở Đức Hòa được xem là đỉnh cao của phong trào cách mạng tỉnh Tân An- Chợ Lớn năm 1930. Nó chứng minh cho khả năng lãnh đạo, vận động quần chúng đấu tranh của Đảng, và niềm tin một lòng theo Đảng của người dân Đức Hòa.

     Sang những năm 1940-1941, người dân Đức Hòa tiếp tục hưởng ứng và tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do Đảng lãnh đạo ngay chính trên quê hương mình. Sau Nam Kỳ khởi nghĩa, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của quần chúng. Cũng trong thời điểm này, ở thị trấn Đức Hòa một đài xử bắn được lập nên để hành hình những chiến sĩ tham gia cuộc khởi nghĩa. Đài xử bắn được đắp hình cung (mang vóc dáng hình móng ngựa), chổ cao nhất tới 3m, dày 1m, phía trước chôn từ 4 đến 5 cọc gỗ để trói những chiến sĩ cách mạng trước khi xử bắn. Tại đây, trong 3 ngày 7-8-9/7/1941, bọn chúng đã liên tiếp xử bắn các đồng chí: Nguyễn Văn Dương (tự Vườn), Nguyễn Văn Nai, Trần Văn Móng, Phạm Văn Tuội, Nguyễn Văn Giỗ, Lê Văn Lao, Đỗ Văn Mộc, Ngô Văn Diệp, Đỗ Văn Tiệp, Nguyễn Văn Sáu, Đỗ Văn Bá. Súng nổ, máu đỏ cả trường bắn. Các chiến sĩ ta hy sinh trong sự tiếc thương của bà con khắp thị trấn Đức Hòa hôm đó.

     Khu vực Ngã tư Đức Hòa với những địa điểm như: Dinh Quận gắn với cuộc biểu tình ngày 4/6/1930 của hơn 5000 nhân dân Đức Hòa; Đài xử bắn các chiến sĩ tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940-1941…là những chứng tích lịch sử tố cáo tội ác của bọn thực dân xâm lược, và là niềm tự hào của người dân Đức Hòa nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung về tinh thần đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy nền độc lập tự do. Ngày 5/9/1989, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định số 1570-VH/QĐ công nhận Khu vực Ngã tư Đức Hòa là di tích lịch sử cấp Quốc gia.

19/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/ngatuduchoa.JPG
Hệ thống cấp điện Hệ thống cấp điện
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng điện, quy hoạch phát triển điện cần tính toán hạ thế các lưới trung thế hiện hữu và xác định rõ lộ trình xóa điện kế tổ để phục vụ tốt cho nhu cầu nhân dân. Đồng thời, quy hoạch cần quan tâm đến cải tạo lưới điện hiện hữu nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng

Mạng lưới điện :

Lưới điện cung cấp cho tỉnh Long An gồm các trạm biến áp trung gian và cụm phát điện như sau :

  • Trạm Tân An:Trạm Tân An 1: 110/22/15KV(40 MVA); Trạm Tân An 2: 110/22/15 KV(40MVA)
  • Trạm Bến Lức: (65MVA)
  • Trạm Mộc Hóa: 110/22/15 KV(25 MVA).
  • Trạm Cần Đước ( 16MVA)
  • Trạm Đức Hòa: 110/22/15(40MVA)
  • Trạm Phú Lâm: điện thế 110/15 KV, dung lượng 40 MVA cung cấp cho thành phố và một phần cho huyện Cần Giuộc.
  • Trạm Cai Lậy: điện thế 66/15 KV, dung lượng 10 MVA cung cấp cho tỉnh Tiền Giang và một phần cho các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh và Thạnh Hóa.
  • Trạm Trảng Bàng: điện thế 66/15 KV, dung lượng 12,5 MVA cung cấp cho Tây Ninh và một phần cho huyện Đức Hòa và Đức Huệ.

     

  • Trạm Diesel: gồm có diesel đặt tại thành phố Tân An có công suất 565 Kw.

     

    Ngoài ra còn có những đơn vị lớn tự đầu tư trạm riêng như: Cty TNHH Giày Ching Luh(có công suất: 25 MVA); Cty TNHH Formosa Taffeta Việt Nam(có công suất 10 MVA); Cty Vina-Chung Shing(có công suất 25MVA).

     

    Nhìn chung, các trạm biến áp của tỉnh đều trong tình trạng thừa tải, các nguồn diesel dự phòng chỉ có thể đáp ứng một phần nhu cầu điện năng cho các hộ sử dụng điện ưu tiên trong lúc mất điện .

  • Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2015 có xét đến 2020 với các chỉ tiêu chủ yếu sau:

    I. Phụ tải điện

    Phụ tải điện được tính toán dự báo nhằm đáp ứng đủ nhu cầu điện cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An với tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn 2011 - 2015 đạt 14,0%/năm; Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,3%/năm.

    - Năm 2015: Dự báo công suất cực đại Pmax= 772,3MW, điện thương phẩm 4507,9 triệu kWh. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2011-2015 là 20,2%/năm.

    - Năm 2020: Dự báo công suất cực đại Pmax=1528,0MW; điện thương phẩm 9.428,8 triệu kWh. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2016 - 2020 là 15,9%/năm.

    II. Khối lượng xây dựng

    Khối lượng xây dựng tính toán trong đề án chỉ bao gồm lưới điện xây dựng trên địa bàn các huyện, thành phố tỉnh Long An

    1. Lưới 220, 110kV:

    a- Giai đoạn 2011 - 2015:

    - Đường dây 220kV:

    + Xây dựng mới 70,7km đường dây

    + Cải tạo 144,0km đường dây

    - Trạm 220kV:

    + Nâng công suất trạm 220kV Long An 2, (2x250)MVA

    + Xây dựng mới trạm Đức Hòa 2 - (2x250)MVA

    +  Xây dựng mới trạm Bến Lức 2 - (1x250)MVA.

    + Xây dựng mới trạm Cần Đước - (1x250)MVA.

    - Đường dây 110kV:

    + Xây dựng mới 15 tuyến đường dây với tổng chiều dài 82,5km.

    - Trạm 110kV:

     + Xây mới 15 trạm biến áp tổng dung lượng 923MVA (trong đó có 5 trạm khách hàng với tổng dung lượng là 305MVA, gồm: trạm Lê Long: 40MVA, trạm khu công nghiệp Xuyên Á: 2x40 MVA, trạm Vĩnh lộc 2: 40 MVA, khu công nghiệp Thuận Đạo 40+25MVA và khu công nghiệp Phú An Thạnh: 2x40MVA).

    + Cải tạo lắp máy 2, nâng công suất cho 5 trạm biến áp với tổng dung lượng 145MVA.

    b- Giai đoạn 2016 - 2020:

    - Đường dây 220kV:

    + Xây dựng mới 2 tuyến đường dây chiều dài 32km.

    - Trạm 220kV:

    + Lắp máy 3 trạm 220kV Đức Hòa 2  thành (3x250)MVA.

    + Lắp máy 2 trạm 220kV Bến Lức 2  thành (2x250)MVA.

    + Lắp máy 2 trạm 220kV Cần Đước  thành (2x250)MVA.

    + Xây dựng mới trạm 220kV Bến Lức 3 - (2x250)MVA.

    - Đường dây 110kV:

    + Xây dựng mới 11 tuyến đường dây với tổng chiều dài 167,5km.

    - Trạm 110kV:

     + Xây mới 8 trạm biến áp tổng dung lượng 664MVA

     + Cải tạo lắp máy 2, nâng công suất cho 10 trạm biến áp với tổng dung  lượng 710MVA

    2. Lưới phân phối:

    a- Giai đoạn 2011 -- 2015:

    - Đường dây 22kV:

    + Xây mới: 779,4 km

    + Cải tạo: 505,5 km

    - Trạm biến áp 22/0,4kV:

    + Xây mới: trạm biến áp tổng dung lượng 588.572,5kVA

    - Hạ thế:

    + Xây mới 1.260 km; lắp đặt  89.386 công tơ

    b- Giai đoạn 2016 - 2020:

    - Đường dây 22kV:

    + Xây mới: 541,3 km

    + Cải tạo: 252,7 km

    - Trạm biến áp 22/0,4kV:

    + Xây mới trạm biến áp tổng dung lượng 353.143,5kVA

    - Hạ thế:

     + Xây mới 756 km; lắp đặt 28.931công tơ

    III. Vốn đầu tư

    Giai đoạn 2011 - 2015 tổng vốn đầu tư cần huy động là: 6.847.737 triệu đồng

    Trong đó:

    Lưới điện 220kV:  3.809.470 triệu đồng

    Lưới điện 110kV: 1.851.100470 triệu đồng

    Lưới điện 22kV: 938.322 triệu đồng

    Lưới điện hạ thế: 248.845 triệu đồng

    Tổng cộng: 6.847.737 triệu đồng

    - Để nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng điện, quy hoạch phát triển điện cần tính toán hạ thế các lưới trung thế hiện hữu và xác định rõ lộ trình xóa điện kế tổ để phục vụ tốt cho nhu cầu nhân dân. Đồng thời, quy hoạch cần quan tâm đến cải tạo lưới điện hiện hữu nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng.

    - Hàng năm, UBND tỉnh trình Thường trực HĐND tỉnh thông qua việc cho tạm ứng vốn ngân sách tỉnh cho ngành điện (không tính lãi) để đáp ứng phần nào nhu cầu cải tạo, phát triển lưới điện trung và hạ thế khu vực nông thôn.

    - Việc đầu tư xây dựng lưới điện là một trong các kết cấu cơ sở hạ tầng quan trọng, là điều kiện tiên quyết để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện đời sống người dân. Vì vậy, việc huy động nguồn lực đầu tư cho dự án quy hoạch phát triển điện lực của tỉnh là cần thiết và cấp bách.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngày 30/12/2013, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4666/QĐ-UBND phê duyệt đồ án Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.pdf​  với các nội dung sau:

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Long An là 449.235 ha, quy mô dân số đến năm 2020 là 1.600.000 người, trong đó dân số đô thị khoảng 600.000 người; đến năm 2020 là 1.800.000 người, trong đó dân số đô thị khoảng 1.000.000 người.

Dự báo đất xây dựng đô thị đến năm 2020 vào khoảng 10.000 - 13.000ha; đến năm 2030 vào khoảng khoảng 20.000 - 22.000ha.

Không gian xây dựng đô thị Long An được chia làm 3 vùng phát triển như sau:

Vùng trung tâm bao gồm: Vùng thành phố Tân An, Bến Lức, Cần Giuộc và cảng Long An. Trong đó, thành phố Tân An là đô thị hạt nhân của tỉnh và vùng trung tâm, đô thị Bến Lức là đô thị trung tâm tiểu vùng phía Tây Bắc và đô thị Cần Giuộc là trung tâm tiểu vùng phía Đông.

Vùng đô thị phía Bắc bao gồm: Vùng đô thị Đức Hòa và đô thị Hậu Nghĩa là vùng đô thị động lực phía Bắc; vùng đô thị thị trấn Mỹ Hạnh, thị trấn Hiệp Hòa, thị trấn Đông Thành và đô thị Mỹ Quý. Đô thị Hậu Nghĩa là trung tâm vùng phía Bắc.

Vùng đô thị phía Tây bao gồm: Vùng đô thị Kiến Tườ​​ng gắn với Khu kinh tế cửa khẩu Long An, đô thị Bình Phong Thạnh (Mộc Hóa), thị trấn Tân Thạnh, thị trấn Thạnh Hóa và đô thị Hậu Thạnh Đông, vùng đô thị thị trấn Vĩnh Hưng và thị trấn Tân Hưng. Đô thị Kiến Tường là trung tâm vùng phía Tây.

Tỉnh Long An có phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp.

​ 

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tình trạng thuỷ triều Tình trạng thuỷ triều
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ I A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm.

Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô khi nước bổ sung đầu nguồn cho 2 sông Vàm Cỏ rất ít. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm tại Tân An và từ 60 - 85 cm tại Mộc Hóa. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe dọa xâm nhập mặn vào vùng phía Nam. Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven 2 sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tình hình lũ lụt Tình hình lũ lụt
Lũ đến hàng năm đổ về trước tiên là các huyện phía Bắc thuộc khu vực ĐTM, bắt đầu từ đầu hoặc trung tuần tháng 8 và kéo dài đến tháng 11. Trong thời gian này mưa tập trung với lưu lượng và cường độ lớn nhất trong năm gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Lũ đến tỉnh Long An chậm và mức ngập không sâu như đầu nguồn nhưng thời gian ngâm lũ lâu hơn.

Tần suất lũ lớn có xu hướng rút ngắn lại từ 8 - 10 năm 1 lần trước đây, nay xuống còn 3 - 4 năm 1 lần (1961, 1966, 1978, 1984, 1991) và liên tiếp trong 3 năm lũ lớn liên tục xảy ra (1994, 1995, 1996) và đặc biệt là năm 2000 lũ rất lớn. 
     - Mức ngập nước theo diện tích tự nhiên năm 1996 như sau :
      + Dưới 50 cm với diện tích ngập 50.294 ha, chiếm 13,2 % diện tích tự nhiên(DTTN).
      + Từ 50 - 100 cm với diện tích ngập 72.360 ha, chiếm 18,99% DTTN.
      + Từ 100 -150 cm với diện tích ngập 63.830 ha, chiếm 16,75% DTTN.
      + Từ 150 - 200 cm với diện tích ngập 94.840 ha, chiếm 24,88% DTTN.
      + Từ 200 - 250 cm với diện tích ngập 66.720 ha, chiếm 17,50% DTTN.
      + Ngập trên 250 cm với diện tích ngập 33.070 ha, chiếm 8,68% DTTN.
   - Thời gian ngập lũ :
      + Dưới 3 tháng 305.757 ha, chiếm 69,91% diện tích tự nhiên.
      + Từ 3 - 5 tháng 64.724 ha, chiếm 30,09 % diện tích tự nhiên.
    Đặc biệt là trong năm 2000 lũ lớn nhất trong nhiều thập niên qua và thời gian ngâm lũ kéo dài gây thiệt hại rất lớn đến sản xuất và đời sống dân cư. Mực nước cao nhất xuất hiện tại Mộc Hóa (Long An) là 3,27 mét, cao hơn 41 cm so với đỉnh lũ 1978. lũ đổ mạnh về phía Nam cộng hưởng với đợt triều cường gây ngập sâu và trên diện rộng gần 300.000 ha tự nhiên, bao gồm 132/188 xã phường, tương ứng 12/14 huyện thị của tỉnh. Độ ngập bình quân từ 1,5 - 2 mét, có vùng ngập sâu trên 3 mét. Tổng thiệt hại về vật chất gần 650 tỷ đồng. 
    Hiện nay tỉnh đang phối hợp với các dự án kiểm soát lũ của Trung ương để xây dựng hệ thống cống đập nhằm kiểm soát lũ một cách chặt chẽ và hữu hiệu hơn, lũ nhỏ cố gắng giữ nước, lũ lớn cho rữa trôi phèn, cải tạo đất. Đầu tư xây dựng 186 cụm, tuyến dân cư nhằm đảm bảo cho người dân chung sống vững chắc và ổn định trong mùa lũ. Trong đầu tư xây dựng chọn cao trình vượt mức ngập lũ năm 2000.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/LuLut.jpg
Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Chủ tịch UBND tỉnh-Đỗ Hữu Lâm đã ký Quyết định số 3533/QĐ-UBND ngày 10/10/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với nội dung chủ yếu như sau:

I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Quan điểm chủ đạo

- Công nghiệp hỗ trợ là một trong các khâu đột phá nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững công nghiệp tỉnh Long An theo hướng nâng cao trình độ công nghệ, tính cạnh tranh và hiệu quả trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu thế hội nhập, liên kết phân công sản xuất, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghiệp và gắn liền với phân công của trung ương trong quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Nghiên cứu và chọn các ngành, các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Long An, có công nghệ tiên tiến, tính cạnh tranh cao trong phạm vi vùng, trong nước và tiến đến phạm vi quốc tế; gắn liền với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa, phát triển năng lực công nghiệp xuất khẩu và phấn đấu từng bước trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc tế. Phát huy tối đa tính đa dụng của các sản phẩm - mặt hàng, nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh, góp phần giảm nhập nguyên liệu, tăng cường khả năng sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ.

- Phát huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là các đối tác chiến lược - các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong thế liên kết sản xuất - kinh doanh giữa công nghiệp thượng nguồn - công nghiệp hỗ trợ - công nghiệp hạ nguồn và mối liên kết giữa công ty mẹ với các lớp công ty con vệ tinh; tiến đến tập trung thu hút các nhà đầu tư FDI về công nghiệp hỗ trợ sau năm 2020 nhằm đa dạng hóa các lĩnh vực công nghệ cao.

- Hợp tác liên kết chặt chẽ và phân công phát triển hợp lý giữa Long An và các tỉnh thành lân cận, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh.

- Gia tăng nhanh hàm lượng công nghệ, giảm tối đa phát thải nhằm xác lập nền tảng công nghiệp sạch và xanh, bảo đảm theo đúng chủ trương của Tỉnh ủy vàUBND tỉnh Không tiếp nhận các dự án đầu tư công nghệ lạc hậu, nguy cơ ô nhiễm môi trường  cao”, nâng cao trình độ người lao động và tổ chức quản lý sản xuất, liên kết hợp tác phát triển.

2. Quan điểm phát triển của từng ngành, lĩnh vực trọng điểm

a) Ngành dệt – may

Phát triển khâu nguyên liệu và các công nghệ hỗ trợ (kéo sợi, dệt) nhằm nâng cao tính chủ động trong sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may. Tập trung vào sản xuất các nguyên phụ liệu, vừa nâng tỷ lệ nội địa hóa vừa cung ứng cho thị trường cả nước nhằm đưa Long An lên thành trung tâm nguyên, phụ liệu dệt - may cấp vùng và cấp quốc gia.

b) Ngành da - giày

Đầu tư gia tăng quy mô, công nghệ, hiệu quả sản xuất nguyên, phụ liệu cho ngành là lĩnh vực trọng tâm. Tăng cường khâu thiết kế mẫu, mốt nhằm phát triển thị trường và giảm dần tỷ trọng hàng gia công.

c) Ngành cơ khí chế tạo

Tập trung phát triển cơ khí nền tảng phục vụ sản xuất, lắp ráp các sản phẩm cơ khí trọng điểm. Tham gia chủ động, tích cực và có chọn lọc vào quá trình liên kết và phân công hợp tác quốc tế. Phát triển không khép kín, tăng cường chuyên môn hóa và hợp tác hóa trên cơ sở phát huy các tiềm năng và lợi thế của các cơ sở sản xuất cơ khí hiện có với khả năng thu hút hợp tác đầu tư từ các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, công ty mẹ nước ngoài.

d) Lĩnh vực bao bì - in

Phát triển các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ trên cơ sở nguyên liệu bao bì theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm tác động môi trường, đa dạng hóa và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. Thu hút đầu tư của các đối tác chiến lược trong và ngoài nước.

e) Lĩnh vực nhựa

Phát triển trên cơ sở cải tiến công nghệ nhằm đa dạng hóa và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, tiến đến phát triển các chi tiết linh kiện phục vụ đa ngành, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa toàn lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm phát triển các lĩnh vực thế mạnh.

g) Ngành điện tử - tin học

Tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực để làm chủ công nghệ cao, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển sản xuất linh, phụ kiện cho ngành. Từng bước xây dựng ngành sản xuất linh phụ kiện điện tử - tin học theo hướng gắn kết và tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng của các công ty và tập đoàn đa quốc gia và trên cơ sở liên kết với các tỉnh thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

II. MC TIÊU

1. Mục tiêu chung

- Phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp chính phát triển bền vững, sử dụng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, có khả năng xuất khẩu, hướng đến hình thành trung tâm nguyên, phụ liệu ngành dệt may cho cả vùng và hình thành hệ thống công ty mẹ và các lớp công ty con, cùng phối hợp sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả trong chuỗi phát triển công nghiệp thượng nguồn – công nghiệp hỗ trợ - công nghiệp hạ nguồn.

- Đến năm 2020, tỉnh Long An sẽ trở thành một trong các địa phương có thế mạnh hàng đầu về phát triển công nghiệp hỗ trợ so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đến năm 2030 phấn đấu tiếp cận mặt bằng chung của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phát triển được các doanh nghiệp hỗ trợ đóng vai trò đầu tàu, có khả năng cung cấp những sản phẩm công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn ra thị trường trong nước và nước ngoài, đồng thời thu hút đầu tư phát triển một số công ty mẹ với các lớp doanh nghiệp vệ tinh hợp lý.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Đến năm 2020:

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm từ 13% đến 14%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và từ 15% đến 17%/năm trong giai đoạn 2016-2020, bình quân từ 14% đến 16%/năm trong 10 năm.

- Công nghiệp hỗ trợ chiếm trên 21% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành. Nhờ vào hiệu quả sản xuất và tỷ lệ VA/GO (giá trị gia tăng/ tổng giá trị sản xuất) khá cao, giá trị tăng thêm chiếm tỷ trọng gần 30%.

- Tỷ lệ đầu tư thêm/VA trong khoảng 30%, tỷ lệ VA/GO từ 34,2% năm 2010 lên 37% năm 2020.

- Phấn đấu nâng giá trị tăng thêm bình quân/lao động công nghiệp lên đến trên 355 triệu đồng (tương đương 14.200 USD) năm 2020.

- Dự kiến sẽ phát triển 03 khu, cụm hoặc phân khu tại huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức, huyện Cần Giuộc; đến năm 2020, trong điều kiện thu hút đầu tư thuận lợi mở thêm các khu, cụm và phân khu chuyên công nghiệp hỗ trợ, tổng diện tích đất quy hoạch đạt chung quanh 2.000 ha và nằm trong quy hoạch các khu công nghiệp đã được phê duyệt. Phấn đấu xây dựng hoàn tất hạ tầng và lấp đầy 60%, giá trị tăng thêm công nghiệp/ha đất khu công nghiệp vào khoảng 25 tỷ đồng giá hiện hành năm 2020.

- Phấn đấu đạt trên 80% lao động công nghiệp qua đào tạo và 15-20% lao động trình độ cao.

- Tốc độ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và trang thiết bị tăng 18-20%/năm.

b) Đến năm 2030:

- Phấn đấu đến năm 2030, giá trị sản xuất của các ngành, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng 30-35%, giá trị tăng thêm chiếm 35-40%.

- Tỷ trọng VA/GO trong khoảng 38-40%.

- Số lượng doanh nghiệp đổi mới công nghệ tăng trên 20%/năm.

- Lao động công nghiệp qua đào tạo/tổng lao động 85%; lao động trình độ cao/tổng lao động >25%.

- Tỷ trọng doanh nghiệp công nghiệp đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tỷ lệ rác thải công nghiệp được xử lý, tái chế tiếp cận 100%.

3. Mục tiêu từng ngành, lĩnh vực

a) Ngành dệt - may

- Tăng trưởng gần 16%/năm, chiếm tỷ trọng gần 10% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Hình thành trung tâm nguyên phụ liệu cấp vùng và cấp quốc gia và phát triển các công nghệ sản xuất, xử lý, gia công về sợi, dệt.

b) Ngành da - giày

- Tăng trưởng gần 16%/năm, chiếm tỷ trọng gần 7% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Hình thành và hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hệ thống công nghiệp hỗ trợ bao gồm ít nhất 1 công ty mẹ và các lớp công ty vệ tinh cung ứng nguyên phụ liệu.

c) Ngành cơ khí chế tạo

- Tăng trưởng 17%/năm, chiếm tỷ trọng trên 40% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ; phát triển đa dạng các mặt hàng với công nghệ gia tăng.

- Phấn đấu đến cuối thời kỳ hình thành và hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hệ thống công nghiệp hỗ trợ, trong đó thu hút đầu tư ít nhất 1 công ty mẹ chuyên về cơ khí chế tạo phục vụ và các lớp công ty vệ tinh cung ứng nguyên phụ liệu trong và ngoài tỉnh. 

d) Lĩnh vực bao bì - in

- Tăng trưởng 15%/năm, chiếm tỷ trọng gần 16% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Phát triển hệ thống công nghiệp hỗ trợ, trong đó chủ lực là bao bì và các công nghệ hỗ trợ (mẫu mã, in).

e) Lĩnh vực nhựa

- Tăng trưởng 11-12%/năm, chiếm tỷ trọng trên 11% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Phát triển đa dạng các sản phẩm, mẫu mã, trong đó chủ lực là bao bì và các công nghệ hỗ trợ (mẫu mã, in); phấn đấu đến cuối thời kỳ đã phát triển tương đối vững chắc lĩnh vực linh kiện nhựa cao cấp.

g) Ngành điện tử - tin học

- Tăng trưởng 18%/năm, chiếm tỷ trọng trên 17% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Phấn đấu đến cuối thời kỳ thu hút đầu tư hình thành 02 nhà máy chuyên sản xuất linh kiện.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

1. Định hướng phát triển tầm nhìn đến 2030

- Tích cực thu hút đầu tư, hợp tác liên kết sản xuất và phát huy hiệu quả đầu tư về vốn, công nghệ, lao động chất lượng cao, định hướng tập trung ưu tiên vào các ngành công nghiệp hỗ trợ chủ lực (dệt - may, da - giày, cơ khí chế tạo), ngành phát triển khi có cơ hội (điện tử - tin học) và các lĩnh vực có liên quan (bao bì, nhựa).

- Phát triển các phân khu công nghiệp hỗ trợ trong các khu, cụm công nghiệp, tiến đến hình thành một số khu, cụm công nghiệp chuyên công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh làm cơ sở thu hút đầu tư và hợp tác - liên kết trong và ngoài nước.

- Tạo điều kiện phát triển, cải thiện và phát huy năng lực các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chủ lực và các ngành, lĩnh vực khác; thu hút đầu tư các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt chú trọng lĩnh vực lắp ráp để hình thành hệ thống công ty mẹ và các lớp công ty con, cùng phối hợp sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả.

- Phối hợp các ngành trong phát triển các khu dân cư, khu đô thị dịch vụ công nghiệp và các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, nghiên cứu và vận dụng các cơ chế chính sách cho môi trường thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn liền với thị trường cả nước và quốc tế.

2. Định hướng cụ thể đến năm 2020

- Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 3 khu, cụm công nghiệp hoặc phân khu định hướng phát triển chuyên công nghiệp hỗ trợ. Xúc tiến thu hút đầu tư và liên kết hợp tác sản xuất với các doanh nghiệp hỗ trợ trong và ngoài địa bàn.

- Đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, tổ chức thị trường, tiêu chuẩn hóa hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm trong hệ thống công nghiệp hỗ trợ.

- Tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ đổi mới trang thiết bị và công nghệ cho các cơ sở sản xuất; phổ biến các thông tin về khoa học, kỹ thuật và thị trường; phát triển mạnh các dịch vụ tư vấn, thẩm định, cải tiến thích nghi và triển khai các công nghệ mới.

- Xây dựng và quảng bá các thương hiệu mạnh về công nghiệp hỗ trợ.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hút và đào tạo chuyên gia, lao động trình độ cao.

- Nghiên cứu vận dụng các cơ chế chính sách và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư từ các công ty mẹ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyên công nghiệp hỗ trợ, trong đó chú trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các dự án phát triển tổng hợp.

3. Định hướng phát triển từng ngành, từng lĩnh vực trọng điểm

a) Ngành dệt - may

Phát triển sản xuất các loại vải cho may xuất khẩu và vải dệt để sản xuất giày dép xuất khẩu, một số loại hóa chất như hồ dệt Chú trọng phát triển sản xuất các loại phụ liệu may.

b) Ngành da - giày

Tập trung đầu tư nâng cao công nghệ, phát triển mẫu mã cho các doanh nghiệp chuyên phụ liệu; phối hợp với ngành nhựa đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm.

c) Ngành cơ khí chế tạo

Tăng cường đầu tư chiều sâu tại các cơ sở cơ khí chế tạo hiện có. Thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực cơ khí chế tạo phục vụ đóng tàu, logistic, chế tạo phụ tùng cho thiết bị đồng bộ, ô tô - xe máy, hàng gia dụng và chuyên dùng, máy công cụ chế biến, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sản xuất công nghệ cao và vào những khâu công nghệ đúc, rèn, tạo phôi lớn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt kim loại, sản xuất chi tiết quy chuẩn chất lượng cao.

d) Lĩnh vực bao bì - in

Tập trung đầu tư nâng cao công nghệ, đa dạng hóa mẫu mã cho các doanh nghiệp chuyên sản xuất các phụ liệu có nguồn gốc từ giấy; chú trọng phát triển công nghệ và mẫu mã bao bì giấy các loại. Thu hút đầu tư phát triển các lĩnh vực in mã vạch, chế tạo mực in chuyên dùng, sản xuất màng, đóng pallet, cung cấp bao bì cho công nghệ phẩm và nông sản phẩm.

e) Lĩnh vực nhựa

Hỗ trợ nâng cao công nghệ, cải tiến thiết bị và mẫu mã cho các doanh nghiệp hiện có; chú trọng phát triển lĩnh vực bao bì nhựa kết hợp với in. Tập trung thu hút đầu tư phát triển các doanh nghiệp chuyên sản xuất các linh kiện nhựa cao cấp phục vụ công nghiệp cơ khí lắp ráp, điện - điện tử.

g) Ngành điện tử - tin học

- Giai đoạn đầu: thu hút đầu tư các cơ sở lắp ráp gia công về điện - điện tử, từng bước nâng cao độ phức tạp của sản phẩm lắp ráp.

- Giai đoạn sau: tăng cường thu hút vốn đầu tư và công nghệ mới của các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong việc phát triển sản xuất linh phụ kiện điện, điện tử.

IVNHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ

Tổng nhu cầu vốn đầu tư là 20.587 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 34,8%, doanh nghiệp đầu tư vốn nước ngoài chiếm 65,2%; giai đoạn 2011-2015 chiếm 7.069 tỷ đồng (34,3%), giai đoạn 2016-2020 chiếm 13.518 tỷ đồng (65,7%).

V. DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN THU HÚT, ĐẦU TƯ

(Chi tiết theo phụ lục 1 đính kèm)

VIĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC

(Chi tiết theo phụ lục 2 đính kèm)

VII. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH

1. Giải pháp về tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh

- Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thẩm định dự án, cấp giấy phép đầu tư, thỏa thuận địa điểm cấp đất, đền bù giải tỏa, cấp giấy phép xây dựng.

- Xác định các khu, cụm chuyên công nghiệp hỗ trợ; một mặt tiếp tục kiến nghị trung ương ban hành các chính sách riêng biệt cho các khu, cụm hoặc phân khu chuyên công nghiệp hỗ trợ; mặt khác nghiên cứu vận dụng các chính sách trong phạm vi luật định để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hoặc thuê đất sản xuất kinh doanh.

- Triển khai hệ thống chính sách ưu đãi doanh nghiệp nhỏ và vừa; cần quan tâm các biện pháp hỗ trợ đối với các doanh nghiệp lớn có nhu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các mặt hàng sản xuất đặc thù, thế mạnh như cơ khí, nhựa, bao bì - in và in.

- Tạo điều kiện phát triển các khu dân cư, các khu thương mại, vui chơi giải trí và các dịch vụ dân sinh khác cho các chủ đầu tư và chuyên gia.

- Nâng cao hiệu suất hoạt động của Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư cấp tỉnh trên định hướng xúc tiến đầu tư toàn diện công thương nghiệp.

- Tạo thuận lợi về đất đai, nhân lực cho nhà đầu tư.

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động và tiềm lực tài chính Quỹ khuyến công, Quỹ xúc tiến đầu tư.

- Thúc đẩy các ngành thực hiện nhanh và dứt điểm các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, khu, cụm công nghiệp theo đúng quy hoạch được duyệt, đúng phân cấp đầu tư.

- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, tìm cơ hội liên doanh liên kết hợp tác. Tham quan, học tập mô hình, kinh nghiệm của các tỉnh, thành, tìm cơ hội liên kết phát triển.

2. Giải pháp khoa học công nghệ

- Xây dựng chiến lược dài hạn về phát triển khoa học - công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, xây dựng danh mục và triển khai thực hiện các chương trình phát triển khoa học - công nghệ đối với công nghiệp hỗ trợ; xúc tiến việc hình thành vườn ươm khoa học - công nghệ và các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ theo tiêu chí sạch và xanh.

- Tổ chức, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai ứng dụng công nghệ vào sản xuất.

- Hỗ trợ, khuyến khích hình thành các doanh nghiệp khoa học - công nghệ chuyên về tư vấn, thẩm định, cải tiến, ứng dụng thích nghi công nghệ, kết hợp với các dịch vụ công trong các lĩnh vực hành chính và kỹ thuật; phát triển các doanh nghiệp công nghệ thông tin.

- Tăng cường thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về khoa học công nghệ như tiêu chuẩn - đo lượng - chất lượng, phân tích - kiểm định, sở hữu công nghệ, sở hữu trí tuệ, thông tin khoa học công nghệ. Hỗ trợ tiêu chuẩn hóa ISO, HACCP, GMP, SA… cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Tăng cường mối liên hệ với các cơ quan khoa học, bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) của công ty mẹ; hỗ trợ việc thành lập bộ phận R&D trong đó có các đề tài, dự án về các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

- Thực hiện giới thiệu và hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất trong nước trên các chợ giao dịch công nghệ.

3. Giải pháp về cơ sở hạ tầng

- Kiến nghị trung ương đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải như các tuyến quốc lộ, đường cao tốc, đặc biệt là tuyến Vành đai 3, Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh kết nối Long An với các tỉnh phía Bắc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tăng cường thu hút và đầu tư tuyến Long Hậu - Tân Tập, cảng Long An, cảng Phước Đông. Phát triển mạnh lĩnh vực logistics tại các huyện Cần Giuộc và Bến Lức.

- Tập trung xây dựng một số khu, cụm (hoặc phân khu) chuyên công nghiệp hỗ trợ có trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, bao gồm 3 khu công nghiệp với tổng diện tích trong khoảng 2.000 ha.

- Xây dựng quy hoạch và kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực khu dân cư, khu thương mại, khu vui chơi giải trí chuyên đề.

4. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực

- Các cơ sở dạy nghề nghiên cứu cải thiện giáo trình hoặc tăng thêm các chuyên đề về các ngành thiết kế, sử dụng máy công cụ, chế tạo máy, luyện kim, tạo khuôn, điều khiển tự động, điện tử - tin học. Đảm bảo thường xuyên trao đổi thông tin và liên kết giữa các doanh nghiệp với sở, ngành và cơ quan, tổ chức liên quan, các trường nghề nhằm đổi mới công nghệ và phát triển hệ thống đào tạo theo công việc với đặt hàng của các doanh nghiệp.

- Vận dụng nguồn nhân lực trong tỉnh và thu hút nguồn nhân lực ngoài tỉnh, chủ yếu từ Thành phố Hồ Chí Minh. Mở hoặc liên kết đào tạo một số chuyên ngành kỹ thuật có liên quan tại trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An.

- Khuyến khích và đề xuất nhà nước ban hành các chính sách đối với các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực.

- Xem xét việc nâng định mức và nới rộng điều kiện hỗ trợ đối với đào tạo lao động chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Khuyến khích phát triển tài năng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật hiện có, tạo điều kiện thường xuyên bổ sung, bồi dưỡng những kiến thức mới, nâng cao thêm trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

- Xây dựng và triển khai thực tế có hiệu quả các đề tài nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ với sự phối hợp tham gia giữa các Viện, trường, doanh nghiệp (trong nước và FDI) làm nền tảng để đào tạo trên công việc cho các lao động của các doanh nghiệp cùng tham gia vào đề tài.

- Xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả chương trình khuyến công hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nghề ngắn hạn theo yêu cầu doanh nghiệp.

5. Giải pháp về liên kết doanh nghiệp

- Kết nối các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (công ty mẹ và các doanh nghiệp vệ tinh) với các doanh nghiệp trong nước (đặc biệt tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai); tư vấn hỗ trợ trong việc thương thảo, ký kết hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước.

- Điều tra, khảo sát, thiết lập mối quan hệ và xây dựng các chương trình hợp tác dài hạn với các đối tác chiến lược, các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong và ngoài nước về phát triển công nghiệp hỗ trợ.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu và website về danh mục các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện, các sản phẩm hỗ trợ, danh mục các sản phẩm hỗ trợ cần ưu tiên phát triển, các nhu cầu hợp tác - liên kết, các ưu đãi, hỗ trợ trung dài hạn.

- Củng cố và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ làm đầu mối liên kết doanh nghiệp.

- Thường xuyên tổ chức và nâng cao tính chuyên nghiệp của các hội chợ, chợ công nghệ, triển lãm và các hội thảo chuyên đề phát triển công nghiệp hỗ trợ cho từng lĩnh vực sản phẩm riêng biệt.

6. Giải pháp về nguyên liệu

- Liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có trên địa bàn nhằm xây dựng hệ thống liên kết sản xuất và cung ứng nguyên liệu trong chuỗi sản xuất với giá thành tối ưu.

- Liên kết gia công với các công ty mẹ, tập đoàn trong hệ thống công nghiệp hỗ trợ nhằm có được nguyên liệu với mức giá và độ ổn định tốt nhất.

7. Giải pháp về tài chính

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển.

- Tăng cường tiềm lực quỹ khuyến công, quỹ phát triển khoa học - công nghệ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Nghiên cứu và phát triển phương thức thuê mua tài chính trong mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ để nâng cao khả năng phát triển và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này.

- Tranh thủ nguồn vốn ODA để hỗ trợ đào tạo lao động, xây dựng thể chế pháp lý, các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp nhỏ và vừa, chương trình hợp tác với các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

8. Các giải pháp có tính đột phá trong tầm nhìn ngắn hạn (đến 2015)

- Tập trung vốn ưu đãi (từ các nguồn vốn khuyến công và vốn lồng ghép vào các chương trình mục tiêu khác, nguồn vốn huy động từ các chính sách liên quan) vào các đối tượng doanh nghiệp đang phát triển hiệu quả công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn trong lĩnh vực phụ liệu dệt - may - giày - da, chi tiết nhựa phục vụ cơ khí, bao bì kết hợp in, cơ khí chế tạo máy công cụ và máy nông nghiệp nhằm mục tiêu liên kết sản xuất, hỗ trợ công nghệ và cải tiến thiết bị, cải thiện điều kiện quản lý, hỗ trợ xử lý môi trường, xúc tiến thị trường đầu vào và đầu ra… nhằm cùng sản xuất các linh phụ kiện hướng đến sản phẩm cuối cùng (sản phẩm may mặc, giày da, máy công cụ, máy nông nghiệp…) có hiệu quả nhất và tạo dựng thương hiệu trên thị trường.

- Chuẩn bị trước nguồn nhân lực thông qua việc đào tạo cơ bản, đào tạo thích nghi và có những hỗ trợ cho lao động nâng cao trình độ: xem xét việc nâng định mức (học phí và % hỗ trợ) và nới rộng điều kiện hỗ trợ (thời gian hoàn vốn vay) đối với đào tạo lao động chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Chuẩn bị các khu chuyên công nghiệp hỗ trợ và thu hút đầu tư.

- Kiến nghị ban hành thêm các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp, bổ sung mặt hàng công nghiệp hỗ trợ và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận hiệu quả các chính sách hỗ trợ này. ​

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Chủ tịch UBND tỉnh-Đỗ Hữu Lâm đã ký Quyết định số 3097/QĐ-UBND ngày 04/9/2013 phê duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH LONG AN ĐẾN NĂM 2020

1. Quan điểm phát triển

- Phát triển thương mại tỉnh Long An phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh; quy hoạch phát triển thương mại cả nước; phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng để thương mại trở thành ngành kinh tế quan trọng;đẩy mạnh xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế bền vững.

  - Phát triển ngành thương mại theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình tổ chức thương mại, các phương thức giao dịch và dịch vụ hỗ trợ, vừa phát triển các loại hình dịch vụ chất lượng cao, vừa kế thừa, cải tạo các loại hình truyền thống.

  - Khuyến khích và thu hút mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong xã hội, kinh tế nước ngoài đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại và các loại hình dịch vụ phân phối hiện đại.

- Phát triển thương mại phù hợp với trình độ sản xuất của các ngành kinh tế coi trọng cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng.

- Quy hoạch phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh cần đặc biệt chú trọng đến yêu cầu nâng cao năng lực và vai trò quản lý nhà nước đối với các hoạt động thương mại của địa phương, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật và tạo ra cơ hội cho các chủ thể kinh doanh phát triển linh hoạt, năng động.

2. Mục tiêu phát triển thương mại

- Xây dựng ngành thương mại phát triển bền vững theo hướng văn minh, hiện đại; tăng tỷ trọng trong cơ cấu GDP của tỉnh. Phát huy vai trò của thương mại trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, tổ chức tiêu thụ tốt sản phẩm cho nông nghiệp, nông dân; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và tăng trưởng kinh tế.

- Đẩy mạnh xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; mở rộng thị trường và đa dạng hóa ngành hàng xuất khẩu, phát triển các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn; tăng cường xuất khẩu dịch vụ.

- Tích cực thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước để phát triển cơ sở hạ tầng thương mại theo hướng văn minh, hiện đại.

- Phát triển thị trường nội tỉnh trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển thị trường trong vùng và cả nước với thị trường nước ngoài; gắn hiệu quả kinh doanh thương mại với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 

II. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐẾN NĂM 2020

1. Định hướng phát triển

a) Định hướng phát triển không gian thương mại

- Thị trường đô thị

Phát triển nhanh hệ thống phân phối hiện đại gồm: các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị, các cửa hàng tiện lợi (trước mắt, tập trung tại thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường, thị trấn Bến Lức, Đức Hòa...) thuộc nhiều loại hình phân phối với quy mô thích hợp từng bước tiến tới quy mô lớn.

Khuyến khích các doanh nghiệp phân phối phát triển hệ thống phân phối theo “chuỗi” (chuỗi trung tâm thương mại, chuỗi siêu thị, chuỗi các cửa hàng tiện lợi). Kết hợp hài hòa giữa loại hình thương mại truyền thống với thương mại hiện đại trên địa bàn đô thị. Tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp trong tỉnh với các nhà phân phối của các tỉnh, thành phố khác (đặc biệt liên kết với các doanh nghiệp lớn của Thành phố Hồ Chí Minh) để tăng cường tiềm lực, mở rộng mạng lưới, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

Đẩy mạnh phát triển loại hình dịch vụ logicstics với sự hình thành các kho bán buôn, trung tâm phân phối hàng hóa có trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại làm đầu mối phát luồng cho mạng lưới bán lẻ ở thành phố Tân An và các vùng phụ cận...

Nâng cấp cải tạo các chợ ở thành phố Tân An thành một số chợ trung tâm, sắp xếp lại các chợ phường, liên phường, từng bước chuyển hóa một số chợ thành  siêu thị.

Từng bước phát triển thương mại điện tử, khuyến khích các giao dịch mua bán, thanh toán qua mạng; tích cực đầu tư kết cấu hạ tầng để thương mại điện tử trở thành phương thức giao dịch phổ biến trong trong thương mại - dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020.

Hình thành các khu phố thương mại trên cơ sở khuyến khích thương nhân đầu tư phát triển các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi.

Định hướng tổ chức thương mại trên thị trường đô thị

+ Hình thành và phát triển các tổng công ty kinh doanh chuyên ngành, đa ngành với hệ thống phân phối hợp lý để liên kết các khâu trong quá trình lưu thông đáp ứng nhu cầu của thị trường trên địa bàn; khuyến khích thương nhân phát triển các công ty bán lẻ tổng hợp với hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi; phát triển các công ty kinh doanh bán buôn với hệ thống kho hàng, trung tâm phân phối theo phương thức hiện đại, cung cấp hàng hóa cho hệ thống bán lẻ trên địa bàn.

+ Quy hoạch và xây dựng hệ thống chợ với quy mô phù hợp trên từng địa bàn, hình thành các dãy phố xung quanh chợ.

Phát triển một số siêu thị chuyên doanh hoặc tổng hợp có quy mô phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

- Thị trường nông thôn

- Lấy thị trấn huyện và trung tâm cụm xã làm trung tâm, từ đó hình thành các cụm kinh tế thương mại – dịch vụ. Tại khu vực này phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, cơ sở chế biến, dịch vụ sửa chữa, thương mại, ăn uống và các dịch vụ khác.

- Hệ thống chợ và cửa hàng mua bán truyền thống là kênh lưu thông hàng hóa chủ yếu của khu vực nông thôn trong suốt thời kỳ đến năm 2020.

Tập trung nâng cấp và xây mới các chợ ở trung tâm các huyện, hình thành các chợ đầu mối bán buôn nông sản, rau quả... xây mới chợ ở một số xã có nhu cầu nhưng chưa có chợ.

- Hình thành và phát triển Hợp tác xã thương mại - dịch vụ, tập trung thực hiện dịch vụ “đầu vào” cho sản xuất và tổ chức “đầu ra” tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

b) Định hướng phát triển các kênh lưu thông hàng hóa

- Tổ chức kênh lưu thông hàng nông sản, thực phẩm

+ Hướng tổ chức kênh này là Hợp tác xã thương mại - dịch vụ và các doanh nghiệp thương mại tổ chức thu mua sản phẩm của các hộ sản xuất, các trang trại theo hợp đồng kinh tế đồng thời tổ chức tiêu thụ hàng nông sản, thực phẩm thông qua hệ thống đại lý, cửa hàng độc lập, thương nhân ở các chợ và hệ thống  siêu thị…

+ Phát triển hệ thống chợ nông thôn để tổ chức tiêu thụ tại chỗ đồng thời khởi đầu cho kênh tiêu thụ nông sản hàng hóa.

+ Thiết lập chợ đầu mối tại vùng sản xuất tập trung để thu gom nông sản thực phẩm, tổ chức nguồn hàng phát luồng cho các chợ trên địa bàn  tỉnh.

- Kênh lưu thông hàng công nghiệp tiêu dùng

Hướng tổ chức kênh phân phối chung đối với hàng công nghiệp tiêu dùng là:

+ Hàng hóa sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất trong tỉnh được tiêu thụ qua mạng lưới phân phối, bán buôn, bán lẻ của chính doanh nghiệp sản xuất, hoặc qua hệ thống đại lý tiêu thụ, hoặc xuất khẩu;

+ Hàng hóa từ nguồn ngoài tỉnh mang về được các doanh nghiệp thương mại tổ chức tiêu thụ thông qua mạng lưới phân phối: Hệ thống đại lý, các cửa hàng độc lập, Trung tâm thương mại, các siêu thị…

- Tổ chức lưu thông các ngành hàng thuộc diện đặc thù

Các ngành hàng quan trọng mang tính đặc thù như: Xi măng, sắt thép, xăng dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dược phẩm, hóa chất… là những mặt hàng kinh doanh có điều kiện phải  tổ chức lưu thông theo quy hoạch chuyên ngành và quy định của nhà nước.

c) Định hướng phát triển kinh doanh xuất - nhập khẩu

Mở rộng và đa dạng hóa thị trường, giữ vững thị trường truyền thống. Tích cực mở rộng thị trường EU, Hoa Kỳ, Đông Bắc Á (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc…).

Tăng cường các hoạt động đối ngoại tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp khai thác thị trường xuất khẩu.

Thực hiện linh hoạt chính sách khuyến khích mở rộng thị trường phù hợp với những thay đổi về nhu cầu và luật pháp của nước nhập khẩu.

Tích cực đầu tư phát triển ngành hàng mới, mặt hàng mới; trong đó cần quan tâm xây dựng chiến lược đầu tư phát triển các ngành công nghệ cao như điện tử - tin học, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác và một số sản phẩm công nghiệp phụ trợ.

Cần xây dựng cơ chế phối hợp tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ thuộc các thành phần kinh tế được tham gia tổ chức nguồn hàng, xây dựng các đầu mối thu mua, thu gom hàng xuất khẩu;

d) Định hướng phát triển các thành phần kinh tế tham gia hoạt độngthương mại trên địa bàn

- Các doanh nghiệp thương mại cổ phần có vốn nhà nước

+ Các doanh nghiệp thương mại có vốn nhà nước đủ năng lực kinh doanh được giữ lại cần có định hướng phát triển chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức cung ứng những mặt hàng thiết yếu, khai thác và tiêu thụ nông sản, thuỷ sản với quy mô vừa và lớn.

+ Tổ chức doanh nghiệp thương mại nhà nước theo mô hình mạng liên kết trong đó doanh nghiệp nhà nước là hạt nhân và có nhiều đầu mối thuộc các thành phần kinh tế khác, ở các khu vực thị trường trọng điểm cả trong và ngoài tỉnh.

+ Các doanh nghiệp có vốn nhà nước liên kết để hình thành các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế kinh tế lớn kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực đủ năng lực hướng dẫn và chi phối thị trường; là lực lượng tiên phong đưa chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước vào cuộc sống. 

- Thương mại thuộc các thành phần kinh tế khác

Đối với các thành phần kinh tế khác nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển ngành nghề; đồng thời ưu tiên phát triển hệ thống Hợp tác xã thương mại - dịch vụ nhằn đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nông sản, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

đ) Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng thương mại

Tập trung hình thành và xây dựng một số hạng mục chủ yếu tại các Trung tâm thương mại lớn (thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường, huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức) và một số khu thương mại - dịch vụ; ở các địa bàn trọng điểm hình thành các tụ điểm thương mại đa quy mô, đa loại hình, có thể đáp ứng được nhiều hình thức hoạt động thương mại. Khuyến khích thương nhân đầu tư phát triển trung tâm thương mại và siêu thị tại các địa bàn trọng điểm, trước hết cần hình thành tại thành phố Tân An và các thị trấn lớn.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thương mại. Đối với hệ thống chợ ở những nơi đặc biệt khó khăn nhà nước đầu tư từ nguồn vốn ngân sách; đối với những chợ có khả năng sinh lợi nhà nước khuyến khích thương nhân đầu tư thông qua các hình thức đấu thầu, giao thầu… 

Đầu tư hệ thống kho tàng, bến bãi và cung cấp các loại hình dịch vụ tại các trung tâm logistics để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất và tổ chức phân phối, tiêu thụ sản phẩm.

e) Định hướng phát triển thương mại biên giới

Nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp trao đổi hàng hóa tại cửa khẩu. Phối hợp với các cơ quan phía Campuchia tổ chức hội chợ đường biên để giới thiệu, quảng bá sản phẩm, hàng hóa.

Khuyến khích các doanh nghiệp của tỉnh đầu tư, trồng trọt tại các tỉnh biên giới  nhập khẩu nông sản về tỉnh làm nguyên liệu sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng các trung tâm trung chuyển hàng hóa, các kho thương mại chuyên ngành tại cửa khẩu biên giới, trong đó cần tập trung ưu tiên tại cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp.

Tỉnh sẽ nghiên cứu chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sâu vào thị trường nội địa Campuchia để mở rộng kinh doanh và phát triển bền vững, v.v...

g) Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển ngành thương mại

- Tổng mức và cơ cấu lưu chuyển bán lẻ hàng hóa xã hội.

Trên cơ sở thực trạng tổng mức và cơ cấu lưu chuyển bán lẻ hàng hóa xã hội của tỉnh giai đoạn 2001 - 2010, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển thương mại của tỉnh, dự báo tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa hàng hóa thị trường tỉnh Long An theo phương án chọn như sau:

 Theo phương án chọn, năm 2010 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tỉnh Long An là 17.773,84 tỷ đồng; dự kiến năm 2015 đạt 52.500 tỷ đồng và năm 2020 là 102.400 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 là 24,18%, giai đoạn 2016 - 2020 là 14,30% và cả thời kỳ 2011 - 2020 là 19,15%/năm.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa bình quân đầu người đạt 12,31 triệu đồng trong năm 2010, tăng lên 35 triệu đồng vào năm 2015 và 64 triệu đồng vào năm 2020.

Trong phương án được chọn, tốc độ tăng trưởng bình quân được tính toán dựa trên việc tham khảo tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 và cân đối chung với sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thời kỳ đến 2020. Mặt khác, cùng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường thế giới, nhất là khi Việt Nam đã hội nhập đầy đủ với khu vực và thế giới, thì phương án chọn thể hiện tính tích cực và có tính khả thi cao.

2. Quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh

a) Định hướng phát triển Trung tâm thương mại

Tại thành phố Tân An phát triển 01 trung tâm thương mại cấp tỉnh; trong đó cần lựa chọn phát triển các hạng mục công trình phù hợp với quy mô trung tâm thương mại hạng 3. Trung tâm thương mại của tỉnh vừa làm nhiệm vụ bán buôn, phát luồng vừa tổ chức bán lẻ và đáp ứng các nhu cầu dịch vụ khác trên địa bàn. Trung tâm thương mại là hạt nhân thúc đẩy các liên kết kinh tế và thương mại trong tỉnh, trong  các vùng kinh tế, trong cả nước và với nước ngoài.

Dự kiến tập trung phát triển hệ thống trung tâm thương mại, trước hết tại thành phố Tân An và một số thị trấn trung tâm các huyện. Từ nay đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh quy hoạch phát triển 01 trung tâm thương mại tại phường 2, thành phố Tân An; giai đoạn sau 2020 sẽ phát triển một số trung tâm thương mại phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội ở một số thị xã, thị trấn huyện lỵ.

Định hướng đến 2030: Dự kiến đến năm 2020 sau khi hoàn chỉnh trung tâm thương mại thành phố Tân An, xem xét hiệu quả và nhu cầu của thị trường sẽ phát triển thêm một số trung tâm thương mại tại thị xã Kiến Tường, thị trấn huyện Đức Hòa, Bến Lức.

b) Trung tâm mua sắm

Từ nay đến năm 2020 phát triển 01 trung tâm mua sắm hạng 3 tại thành phố Tân An (Địa điểm dự kiến cặp đường tránh, thuộc phường 4 - 6 thành phố Tân An).

Sau năm 2020 sẽ phát triển thêm một số trung tâm mua sắm ở các địa bàn có điều kiện kinh tế phát triển.

c) Quy hoạch các trung tâm logistics

Từ nay đến 2020 quy hoạch mới 04 trung tâm dịch vụ logistics tại các địa chỉ sau:

- Khu vực Cảng Long An, huyện Cần Giuộc.

- Khu vực gần điểm giao của đường Vành đai 4 với đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, huyện Bến Lức.

- Trung tâm dịch vụ logistics tại khu Kinh tế cửa khẩu Long An (cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp).

- Trung tâm dịch vụ logistics tại cửa khẩu quốc gia Mỹ Quý Tây.

d) Quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị

- Căn cứ vào quy hoạch đô thị và công nghiệp, khu dân cư của tỉnh, đồng thời tham khảo quy hoạch hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị cả nước theo Quyết định số 6184/QĐ-BCT ngày 19/10/2012 của Bộ Công Thương phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại cả nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; dự kiến trong kỳ quy hoạch đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh phát triển mới 6 siêu thị tại các địa phương sau: Thị xã Kiến Tường và các thị trấn Đức Hoà, Hậu Nghĩa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc.

- Định hướng sau năm 2020 sẽ phát triển siêu thị ở các thị trấn còn lại.

đ) Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ

- Chợ đô thị:

+ Hạn chế xây dựng thêm chợ mới ở khu vực nội thị.

+ Nâng cấp, cải tạo các chợ trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn có quy mô lớn (diện tích đất >10.000 m2) có cơ sở vật chất kỹ thuật khang trang và hiện đại.

 + Sắp xếp lại các chợ dân sinh ở các phường, liên phường (diện tích đất > 3.000 m2) thành chợ bán lẻ tổng hợp.

+ Phát triển một số chợ chuyên doanh bán các mặt hàng như: Điện máy, vải sợi, quần áo, vàng bạc đá quý…

- Chợ nông thôn:

+ Cải tạo, di dời, xây mới để đảm bảo có đủ chợ dân sinh quy mô hạng III ở các xã, đáp ứng nhu cầu mua bán và tiêu thụ hàng hóa của nông dân.

+ Cải tạo, nâng cấp chợ ở các thị trấn thành chợ trung tâm huyện hoặc trung tâm cụm xã (quy mô hạng II, diện tích đất từ 5.000-10.000m2). Lấy chợ làm hạt nhân, tổ chức quanh khu vực ảnh hưởng của chợ các loại hình thương mại, dịch vụ khác để hình thành các khu thương mại - dịch vụ tổng hợp ở các địa bàn.

 

e) Định hướng phát triển thương mại điện tử

- Trong những năm tới, tỉnh cần  tiếp tục đầu tư  phát triển thương mại điện tử phù hợp với chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại điện tử quốc gia của nhà nước. Thường xuyên cập nhật thông tin và cung cấp thông tin, cơ hội giao thương để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia Sàn giao dịch có cơ hội mở rộng thị trường và đối tác đầu tư;

- Trước mắt cần đẩy mạnh khâu xúc tiến hoạt động kinh doanh, dưới hình thức mở trang web quảng cáo trên mạng, tìm kiếm thông tin về thị trường và bán hàng trên mạng, tiến hành các giao dịch trước khi ký kết hợp đồng và sử dụng cho các mục đích quản trị trong doanh nghiệp;

- Khi cơ sở hạ tầng và điều kiện pháp lý cho phép thì tiến tới ký kết hợp đồng và thực hiện thanh toán qua mạng;

- Xây dựng bộ phận chuyên trách về thương mại điện tử của tỉnh;

- Tổ chức thu thập, chọn lọc và hình thành kho dữ liệu thông tin và tổ chức cung cấp thông tin về hàng hóa, thị trường, giá cả… cho doanh nghiệp; đẩy mạnh hoạt động thương mại của tỉnh với thị trường ngoài tỉnh, ngoài nước.

III. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ

Từ nay đến 2020, tỉnh chú trọng tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng và huy động tối đa khả năng đầu tư từ các nguồn vốn khác nhau cho các công trình thương mại với ưu tiên đầu tư hợp lý. Trước hết cần ưu tiên triển khai đầu tư các chương trình dự án sau:

- Thứ nhất: Thành phố Tân An cần lập quy hoạch chi tiết dự án đầu tư: Trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm tại thành phố Tân An. Phối hợp với Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường chọn địa điểm, chuẩn bị quỹ đất sạch để lập dự án mời gọi đầu tư các hạng mục công trình trong các Trung tâm thương mại;

- Thứ hai: Ban Chỉ đạo phát triển chợ phối hợp với các huyện rà soát nhu cầu đối với những xã có nhu cầu xây chợ,  lập dự án đầu tư  mới và nâng cấp chợ. Căn cứ Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ và Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ để lập kế hoạch huy động vốn đầu tư phát triển chợ;

- Thứ ba: Thị xã Kiến Tường, các huyện  Bến Lức, Đức Hoà, Cần Đước, Cần Giuộc lập dự án đầu tư siêu thị trình UBND tỉnh phê duyệt;

- Thứ tư: Triển khai “Kế hoạch triển khai chương trình hành động thực hiện Chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hóa  thời kỳ 2011- 2020,  định hướng đến năm 2030”.

- Thứ năm: Lập đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh.

 

IV. NHU CẦU VỐN ĐẤT VÀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI

1. Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển thương mại 

- Tổng vốn đầu tư phát triển ngành thương mại Long An giai đoạn 2011-2020 khoảng 89.923 tỷ đồng (theo giá 2010):

+ Giai đoạn 2011-2015: 27.112 tỷ đồng (bình quân 5.422 tỷ đồng/năm);

+ Giai đoạn 2016-2020: 62.811 tỷ đồng (bình quân 12.562 tỷ đồng/năm).

Cơ cấu nguồn vốn dự kiến giai đoạn 2011-2020

- Dự kiến nguồn ngân sách hỗ trợ 2% = 1.789 tỷ đồng (bình quân 180-190 tỷ đồng/năm);

- Nguồn vốn khác (vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, vốn FDI, vốn trong dân,…) khoảng 98% bằng 88.134 tỷ đồng (bình quân 8.814 tỷ đồng/năm).

2. Nhu cầu đất và vốn đầu tư xây dựng cho các công trình hạ tầng thương mại thời kỳ 2011-2020

Dự kiến trong thời kỳ 2011-2020 nhu cầu đất để xây dựng các công trình thương mại chủ yếu khoảng 89,5 ha; trong đó xây dựng Trung tâm thương mại, Trung tâm mua sắm  tại thành phố Tân An: 11ha; 6 siêu thị: 3,5 ha; hệ thống chợ: 35 ha. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chủ yếu của ngành thương mại là 1.941,10 tỷ đồng gồm; Trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm: 450 tỷ đồng Siêu thị: 340 tỷ đồng, hệ thống chợ: 751,10 tỷ đồng, Trung tâm logistics: 400 tỷ đồng.

Nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng thương mại chủ yếu giai đoạn 2011- 2015: 925,10 tỷ đồng; giai đoạn 2016-2020: 1.016 tỷ đồng.

3. Nguồn vốn và cơ cấu vốn đầu tư hạ tầng thương mại 2011-2020

Dự kiến nguồn vốn huy động để đầu tư kết cấu hạ tầng thương mại trong giai đoạn 2011-2020  khoảng 1.941,10 tỷ đồng bao gồm:

- Nguồn vốn ngân sách đầu tư cho phát triển hạ tầng thương mại khoảng 10% với tổng vốn đầu tư là 194,11 tỷ đồng;

- Vốn huy động từ thương nhân khoảng 30% với số tiền là 582,33 tỷ đồng;

- Nguồn vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh (kể cả đầu tư nước ngoài) khoảng 60% với số tiền khoảng 1.164,66 tỷ đồng.

V. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH

1. Chính sách và giải pháp phát triển thương mại

1.1. Chính sách và cơ chế khuyến khích phát triển xuất khẩu

Nhà nước có kế hoạch đầu tư cho những khu công nghiệp sản xuất, chế biến, chế tạo hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.

- Thực hiện các quy hoạch, chương trình, dự án phát triển vùng sản xuất hàng xuất khẩu tập trung, các làng nghề, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực với sản lượng lớn, chất lượng cao, từ đó quyết định hướng đầu tư phù hợp.

- Đổi mới chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu nhằm hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập.

- Xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp, mở rộng khả năng thu thập và xử lý thông tin thị trường trong nước và thế giới để cung cấp cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp mở rộng hợp tác quốc tế,  thâm nhập sản phẩm vào thị trường mới.

- Thực hiện tốt các nội dung cơ bản của hoạt động xúc tiến thương mại như: tư vấn cho doanh nghiệp về thị trường; tìm kiếm bạn hàng; tổ chức hội chợ triển lãm, giới thiệu, quảng cáo hàng hoá; liên kết với các Trung tâm thương mại ở nước ngoài, giúp các doanh nghiệp lập văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc thành lập công ty/cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài.

- Hỗ trợ cho doanh nghiệp về nâng cao khả năng cạnh tranh của  hàng hoá xuất khẩu.

- Sắp xếp lại doanh nghiệp, ngành nghề; nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn; hỗ trợ tín dụng, tài chính đối với các nhà sản xuất thuộc những ngành công nghiệp mới cần bảo hộ.

1.2. Chính sách khuyến khích phát triển các loại hình thương mại truyền thống và hiện đại

- Tích cực thúc đẩy phát triển các phương thức dịch vụ và hình thức tổ chức kinh doanh theo dạng chuỗi, nhượng quyền kinh doanh, đại lý, vận tải liên vận đa phương thức, thương mại điện tử…vv. Khuyến khích áp dụng các phương thức lưu thông hiện đại và thay đổi các phương thức truyền thống. Khuyến khích các doanh nghiệp thương mại phát triển liên minh mua bán hàng hoá, nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh nhờ mở rộng quy mô.

- Thúc đẩy các doanh nghiệp thương mại thực thi chiến lược phát triển thương hiệu, lựa chọn các doanh nghiệp thương mại có năng lực cạnh tranh để hình thành các doanh nghiệp thương mại có ưu thế, có thương hiệu dịch vụ nổi tiếng và đa dạng chủ thể đầu tư.

Sở Công Thương  phối hợp với các cơ quan hữu quan khác của địa phương hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp thương mại áp dụng công nghệ thông tin phù hợp với nhu cầu thực tế và trình độ phát triển của doanh nghiệp.

Khi thực hiện việc điều chỉnh chuyển đổi mục đích sử dụng đất, Sở Công thương cần  đề xuất với cơ quan có thẩm quyền dành ưu tiên cho các dự án của doanh nghiệp thương mại phù hợp với quy hoạch.

- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ trở thành các doanh nghiệp chủ yếu hướng dẫn nông dân tham gia vào các hệ thống thị trường nông sản.

2. Nhóm giải pháp và chính sách huy động vốn đầu tư

2.1. Giải pháp và chính sách đầu tư

a) Đầu tư xây dựng mới chợ

- Nguồn vốn đầu tư phát triển chợ được huy động từ các nguồn:

+ Ngân sách nhà nước (Trung ương và tỉnh) hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các chợ  theo quy định của nghị định 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 và quyết định 23/QĐ-TTg ngày 6/1/2010.

+ Các nguồn vốn khác đầu tư xây dựng chợ được huy động từ:

- Thương nhân đầu tư xây dựng, kinh doanh chợ.

- Vốn huy động từ các hộ tham gia kinh doanh trong chợ thông qua hình thức bán, cho thuê mặt bằng kinh doanh trong chợ có thời hạn; vốn góp cổ phần hợp tác đầu tư xây dựng kinh doanh chợ.

b) Đầu tư cải tạo và nâng cấp hệ thống chợ

- Nguồn thu từ việc cho thuê mặt bằng kinh doanh, các khoản phí, lệ phí và các hoạt động dịch vụ trong chợ;

- Nguồn huy động từ các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong chợ vàcác hộ kinh doanh  cùng góp vốn với nhà nước để cải tạo, nâng cấp chợ theo quy hoạch, kế hoạch;

- Đối với những chợ dân sinh ở vùng đặc biệt khó khăn các khoản thu không đủ bù đắp chi phí quản lý chợ, ngân sách Nhà nước sẽ xem xét hỗ trợ kinh phí tu bổ, sửa chữa, nâng cấp chợ.

c) Đầu tư phát triển các công trình thương mại hiện đại

- Đề nghị ngân sách nhà nước đầu tư mặt bằng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các công trình thương mại và tổ chức kinh doanh, khai thác theo quy định của luật đầu tư;

- Đối với các siêu thị độc lập Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ chủ đầu tư thực hiện theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật.

d) Giải pháp thu hút vốn nước ngoài: Các công trình hiện đại có nhu cầu vốn lớn có thể mời gọi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư;

2.2. Chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư

Để tăng cường khả năng huy động các nguồn vốn xã hội vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh, ngoài các chính sách ưu đãi chung áp dụng đối với các chủ đầu tư  xây dựng chợ thuộc các thành phần kinh tế được hưởng theo quy định tại điều 27 và điều 28 Luật Đầu tư, tỉnh có thể ban hành các chính sách ưu đãi riêng (không trái với quy định của pháp luật) để khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch.

3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

- Công tác đào tạo cần tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, có tính kế thừa và đảm bảo thường xuyên, liên tục.

 - Cần xây dựng hoàn chỉnh hệ thống tiêu chuẩn các chức danh trên cơ sở có khung điều chỉnh những điều cần thiết cho phù hợp từng giai đoạn, trong đó chú ý những tiêu chuẩn về kỹ năng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

- Khuyến khích và có chính sách ưu tiên đối với các địa phương, các doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân lực.

- Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ  các sinh viên, học sinh giỏi tạo điều kiện để họ theo học các ngành nghề có nhu cầu sử dụng đồng thời ký thỏa thuận hợp đồng để họ yên tâm trở về phục vụ tại địa phương khi hoàn thành chương trình đào tạo.

- Yêu cầu phát triển trung tâm thương mại, siêu thị đòi hỏi phải có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, vì vậy phải phát triển lực lượng này thông qua tăng cường đào tạo, phổ biến cho cán bộ quản lý trung tâm thương mại, siêu thị về kiến thức và kỹ năng kinh doanh, kiến thức về pháp luật.

- Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng, cần tăng cường hoạt động thông tin để nâng cao kiến thức, hiểu biết mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật,...) cho nhân dân.

- Triển khai các chương trình đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh. Bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước; ngoài các tiêu chuẩn chung của cán bộ công chức, các cán bộ, công chức trong ngành phải hiểu biết pháp luật chuyên ngành và cập nhật các kiến thức có liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế;

- Hàng năm Sở Công Thương cần phối hợp với các trường nghiệp vụ mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngoại thương nhằm đáp ứng yêu cầu kinh doanh và hội nhập.

- Nhà nước quan tâm việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến các doanh nghiệp, thương nhân thông qua hội nghị, hội thảo, tập huấn… tạo điều kiện cho người kinh doanh thực hiện tốt quy định của pháp luật; bảo đảm quyền và nghĩa vụ của thương nhân, tạo môi trường kinh doanh công khai, minh bạch. 

4. Giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế và các địa phương trong nước

Đẩy mạnh liên kết giữa thị trường Long An với thị trường các tỉnh khác và với thị trường nước ngoài trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh là một trong những giải pháp quan trọng để ổn định thị trường một cách vững chắc trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều biến động.

Thực hiện tốt việc liên kết, hợp tác sẽ vừa tạo khả năng cho Long An nâng cao trình độ phát triển các quan hệ thị trường, vừa thu được những lợi ích kinh tế ổn định và bền vững.

4.1. Giải pháp thúc đẩy liên kết giữa Long An với các thị trường ngoài nước có tính chiến lược

- Đối với thị trường ngoài nước có tính chiến lược của Long An (thị trường xuất nhập khẩu Châu Á, ASEAN, EU, Hoa Kỳ), cần chủ động trong việc tạo lập các mối liên kết song phương với nhiều cấp độ và hình thức khác nhau;

- Khi phê duyệt các dự án đầu tư, cần chú trọng tới cấp độ công nghệ và xuất xứ công nghệ theo hướng sản phẩm tạo ra phải đạt tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với thị trường xuất khẩu và được hưởng ưu đãi mậu dịch do xuất xứ công nghệ mang lại;

- Có chính sách khuyến khích các hoạt động môi giới, trợ giúp tiếp cận thâm nhập thị trường mới;

- Khuyến khích khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp của tỉnh xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hiện đại, từ đó tăng cường khả năng mở rộng thị trường cho các sản phẩm hàng hóa có lợi thế của tỉnh;

4.2. Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả liên kết giữa thị trường Long An với thị trường các địa phương trong nước

- Phát triển các mối liên kết giữa thương nhân Long An với các doanh nghiệp sản xuất của các tỉnh theo từng ngành sản phẩm chủ lực để đẩy mạnh quá trình tập trung hóa nguồn lực và mạng lưới kinh doanh hình thành các chuỗi cung ứng, phân phối chuyên doanh.

- Tổ chức nghiên cứu thị trường và hoạt động xúc tiến thương mại với các thị trường trọng điểm (đặc biệt là thị trường thành phố Hồ Chí Minh), thị trường cáctỉnh lân cận để xác định lợi thế so sánh và khả năng giao lưu thương mại nhằm điều chỉnh phù hợp cơ cấu sản xuất và thương mại của tỉnh.

- Nghiên cứu đưa ra các điều kiện ưu đãi cho các địa phương có mối quan hệ liên kết thương mại với Long An. Các điều kiện ưu đãi có thể áp dụng như bán hàng trả chậm, ưu tiên sử dụng đất và địa điểm kinh doanh...

- Trong giai đoạn trước mắt, cần đẩy mạnh mối liên kết giữa Long An với các tỉnh trong Vùng đồng bằng sông Cửu Long trong việc đẩy mạnh cung ứng, tiêu thụ hàng nông sản, rau quả và thuỷ sản với số lượng lớn.

5. Giải pháp đổi mới và tăng cường năng lực quản lý nhà nước về thương mại

- Xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược và quy hoạch, chương trình, kế hoạch phát triển thương mại của tỉnh.

- Xây dựng và phát triển các hệ thống thị trường hàng hóa trên địa bàn.

- Phối hợp liên ngành để tăng hiệu lực quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

- Đẩy mạnh việc thực hiện cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn; từng bước tách dần chức năng quản lý hành chính với chức năng cung cấp dịch vụ công; phân định và làm rõ các quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành, các cấp chính quyền đảm bảo tính thống nhất theo mục tiêu phát triển ngành thương mại của tỉnh và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thương mại; thực hiện tốt việc phân cấp quản lý thương mại đi đôi với công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, hậu kiểm đối với các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

- Tăng cường công tác quản lý thị trường chống gian lận thương mại đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng.

- Tổ chức mạng lưới thông tin và công tác dự báo thị trường là biện pháp quan trọng để giúp hoạt động thương mại có hiệu quả. Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ lao động thương mại.

Tích cực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước.

6Giải pháp về chính sách phát triển khoa học công nghệ

Tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ tiến hành đổi mới công nghệ, phương thức kinh doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng.

- Thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước về hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới khoa học công nghệ. Căn cứ vào các chính sách hỗ trợ có liên quan, đưa ra giải pháp hỗ trợ có hiệu quả nhằm đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp;

- Tích cực nghiên cứu thị trường, đầu tư công nghệ chế biến sản phẩm mới, đổi mới công nghệ trong chế biến hàng xuất khẩu nhằm tăng giá trị hàng xuất khẩu và tăng hiệu quả kinh tế;

- Vận dụng các chính sách  tài chính nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại tiến hành điều chỉnh cơ cấu, mở rộng quy mô kinh doanh và phát triển các phương thức phân phối hiện đại. Nhà nước cần hỗ trợ về đất đai, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp kinh doanh theo dạng chuỗi, xây dựng mạng lưới từ thành thị đến nông thôn, chỉ đạo các doanh nghiệp đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin; tổ chức bán hàng trên mạng; thay thế các nghiệp vụ mua bán thủ công bằng việc áp dụng kỹ thuật quản lý theo mạng, nâng cao hiệu suất quản lý, hạ thấp chi phí lưu thông, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin khuyến khích các doanh nghiệp phát triển thương mại điện tử.​

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Dân số Long An - Những cột mốc lịch sử quan trọngDân số Long An - Những cột mốc lịch sử quan trọng
Long An có lịch sử hình thành và phát triển trên 300 năm. Theo biến thiên của thời gian và lịch sử, từ những lưu dân đầu tiên khai phá vùng đất phương nam, vượt qua bao nhiêu khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ, đến nay cộng đồng dân cư Long an đã phát triển gần 1,5 triệu người. Người dân Long An luôn nêu cao truyền thống '' trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc'' trong chiến đấu và cần cù, sáng tạo trong lao động.

Cả cộng đồng đang tích cực xây dựng gia đình ít con. ấm no , hạnh phúc, cùng chung tay góp sức bảo vệ và xây dựng quê hương Long An giàu đẹp.

  image-upload-12.JPG
Đa dạng hóa công tác truyền thông dân
số-KHHGĐ bằng các hình thức hội thi.
Theo tài liệu ''Địa chí Long An'' (Thạch Phương và Lưu Quang Tuyến chủ biên, do nhà xuất bản Long An và Khoa học - Xã hội xuất bản năm 1989) thì tính đến nay, cộng đồng dân cư Long An, đã có một lịch sử hình thành và phát triển của dân số Long An diễn ra theo những cột mốc lịch sử quan trọng sau:
Vào năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định. Ông lập đất Nông Nại thành phủ Gia Định, phân làm hai huyện: Phước Long trên vùng đất Đồng Nai có lỵ sở là dinh Trấn Biên và Tân Bình trên vùng đất Sài Côn có lỵ sở là dinh Phiên Trấn. Huyện Tân Bình có 4 tổng: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc và Thuận An. Trong đó hai tổng Phước Lộc và Thuận An thuộc Long An ngày nay.

Hai tổng Phước Lộc và Thuận An nằm trong lưu vực của sông Vàm Cỏ và sông Rạch Cát, đất đai phì nhiêu màu mỡ dễ canh tác, hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi, có nguồn nước ngọt dồi dào nên đã thu hút nhiều người Việt đến đây khai phá, sinh sống. Vào khoảng thời gian này dân số của cả Gia Định là 4 vạn hộ với khoảng 200.000 người.

Vào thập kỷ 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Thuận An và Phước Lộc (tức phần đất Long An ngày nay) đã có khoảng 350 thôn với số dân đinh là 15.000 người. ước tính tổng dân số khoảng 75.000 người. Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn ánh (1777-1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân số ở khu vực Sài Gòn và các vùng phụ cận, trong đó có Long An. Trong sự nổ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ Nguyễn, Nguyễn ánh đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến với Tây Sơn. Từ năm 1790 Nguyễn ánh cũng đã lệnh cho quân đội vỡ thêm ruộng đất, đặt một số cơ sở đồn điền dọc theo hai bờ sông Vàm Cỏ để sản xuất lương thực. Từ đó hình thành nên các khu dân cư, trong đó giồng Cai Yến (Khánh Hậu) là một trong những điểm định cư tương đối sớm của lưu dân Long An.

Sang thế kỷ XIX, năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn ánh chấm dứt. Nhà Nguyễn đã có chủ trương khai hoang, di dân lập ấp, kéo theo các luồng lưu dân mới từ đàng ngoài đã bổ sung vào cộng đồng dân cư Long An     

  image-upload-21.JPG

 Ông Trần Hữu Phước-PCT.UBND tỉnh tặng
 quà lưu niệm cho những đại biểu xuất sắc
của phong trào bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
 trẻ em tỉnh

Năm 1868, nhà Nguyễn thăng tổng Thuận An thành huyện Thuận An (vùng Bến Lức, Thủ Thừa), thăng tổng Phước Lộc thành huyện Phước Lộc (vùng Cần Đước, Cần Giuộc). Năm 1841 đặt thêm huyện Tân Thạnh (vùng Vàm Cỏ và Thị xã). Việc đặt thêm các đơn vị hành chánh phản ánh một yêu cầu mới về mặt quản lý xã hội mà bộ máy cai trị cũ không đủ giải quyết khi dân số tăng lên, nên thời kỳ này dân số Long An đã tăng nhanh hơn trước.

Do nằm trên vị trí chiến lược nên trong quá trình phát triển, Long An có nhiều biến đổi về địa giới hành chánh và dân cư.

          Các thống kê dân số ở Long An từ năm 1900 đến 1930 cho thấy trong vòng 30 năm số dân Long An từ 265.000 lên 355.000 người. Số tăng bình quân hàng năm là 3.000 người.

Vào giai đoạn 15 năm cuối cùng của chế độ Thực dân Pháp (1930-1945), dân số Long An mỗi năm tăng trung bình 12.000 người, gấp 4 lần giai đoạn trước. Ngay trong thời kỳ này, về mặt phân bố dân cư trong địa bàn tỉnh ta cũng có vấn đề đặt ra gay gắt và chính quyền thực dân cũng đưa ra nhiều phương án giải quyết nhưng không hiệu quả. Đó là tình trạng chênh lệch dân số quá lớn ở các vùng. Theo ''bản phúc trình'' của viên Chánh Thanh biện tỉnh Tân An (16-8-1934) thì mật độ dân số ở các huyện phía Nam lúc bấy giờ là 170 người/km2, trong khi đó phía Bắc chỉ có 7 người/km2, chênh lệch gấp 24 lần. Bản phúc trình nêu rõ: ''Cần phải báo động dân số cả tỉnh tăng 3.000 người mỗi năm, nếu sự khai thác đất đai mới không phát triển theo tỷ lệ đó thì trong vài mươi năm nữa chúng ta sẽ ở vào tình trạng như Đồng bằng Bắc Kỳ rất màu mỡ, sản xuất lúa chỉ đủ cho nhân dân ăn''.

Vào thời kỳ Mỹ - Diệm, cuối năm 1956 với mưu đồ chia cắt nhỏ từng địa phương để chống phá cách mạng, chính quyền Ngô Đình Diệm phân Tân An thành 2 tỉnh Long An và Kiến Tường. Trong những năm 1955-1956, Ngô Đình Diệm còn chủ trương đưa 100.000 đồng bào công giáo di cư  vào cấm chốt sâu ở vùng Mộc Hóa, Tân Thạnh, Vĩnh Hưng với ý định lập 16  ''khu dinh điền'' và 5 xã mới dọc biên giới Camphuchia - Việt Nam, đồng thời Diệm cũng di dân từ miền Trung vào Đồng Tháp Mười, góp phần làm tăng thêm dân số khu vực này.

Sau ngày đất nước được thống nhất, địa giới Long An được định hình rõ ràng như ngày nay. Cuộc tổng điều tra dân số lần thứ nhất vào 0h ngày 01-10-1979 thì dân số Long An là 949.200 người. So với dân số cả nước thời đó thì dân số Long An chiếm tỷ lệ 1,8% đứng hàng thứ 8 ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

Nghị quyết của Đại hội tỉnh Đảng bộ Long An lần thứ 3 (1983) đã nêu quyết tâm khai thác tiềm năng Đồng Tháp Mười, trong đó có kế hoạch ''lắp kín'' Đồng Tháp Mười bằng cây lúa và cây tràm; đồng thời nêu những biện pháp cụ thể về điều phối lao động, di dân các huyện phía Nam lên phía Bắc, các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và các tỉnh miền Bắc vào xây dựng Đồng Tháp Mười. Từ nổ lực đã góp phần điều chỉnh dân số giữa các vùng trong tỉnh, xây dựng các khu dân cư mới, thu hút nhân dân đến sinh sống.

Vào 0h ngày 01-4-1989 Long An tiến hành tổng điều tra dân số lần thứ 2 lúc đó dân số cả tỉnh là 1.120.204 người.

Đến nay về mặt hành chánh Long An có 14 huyện, thị xã và 190 xã, phường. Kết quả tổng điều tra dân số lần 3 vào lúc 0h ngày 01-4-1999, dân số Long An đã tăng lên 1.306.202 người. Giữa 2 kỳ tổng điều tra (1989-1999) thì dân số Long An đã tăng lên 185.998 người trong 10 năm qua (tăng 16,6%), bình quân tăng mỗi năm 1,55%.

Trong giai đoạn từ 01-10-1979 đến 01-4-1989 dân số Long An tăng bình quân 1,75%. Trong giai đoạn từ 01-4-1989 đến 01-4-1999 dân số Long An tăng bình quân1,55%. Như vậy so với thập kỷ trước, thập kỷ 90 tỉnh ta giảm bình quân mỗi năm 2%o. Điều này khẳng định sự đóng góp tích cực của chương trình dân số-kế hoạch hoá gia đình trong thời gian qua.

Với những nổ lực trong công tác dân số- kế hoạch hoá gia đình, năm 1999, Việt Nam đã được Liên Hiệp Quốc trao tặng giải thưởng về dân số-  giải thưởng cao nhất dành cho đơn vị duy nhất có thành tích xuất sắc trong chương trình dân số được tổ chức mỗi năm một lần. Riêng Long An thì được Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng III về thành tích trong lĩnh vực dân số. Những năm 1999- 2000, cơ bản Long An đã đạt được mức sinh thay thế     ( bình quân trong toàn xã hội mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con).

Thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2001- 2010, công tác dân số đã chuyển hướng tiếp cận từ kế hoạch hoá gia đình sang sức khoẻ sinh sản theo tinh thần hội nghị Cai- Rô ( Ai- Cập) năm 1994. Bên cạnh duy trì mục tiêu giảm sinh, chương trình bắt đầu chú trọng đến chất lượng dân số mà chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản là giải pháp quan trọng. Trong giai đoạn này sự biến động về tổ chức( hợp nhất Uỷ ban DS- KHHGĐ và Uỷ ban BVCSGDTE thành Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em); cùng với nhận thức chưa đúng về Pháp lệnh dân số; cộng với tâm lý thoả mãn, chủ quan của một bộ phận cán bộ về những kết quả bước đầu của công tác dân số... đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả chương trình. Liên tục trong hai năm 2002 - 2003 tỷ suất sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tăng trở lại đã ảnh hưởng kết quả công tác dân số nói riêng và phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh nói riêng.

Sau hơn một thập kỷ thực hiện chính sách dân số, so với dự báo thì Long An đã hạn chế gần 100.000 trường hợp sinh.  Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một tỉnh nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Năm 2006, dân số trung bình là 1.426.497 người, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là9,9%, tỷ lệ phát triển dân số là 0,96%. Tình hình tăng sinh đã được khống chế. Hiện toàn tỉnh có 6 xã, gần 300 ấp đạt chuẩn không có người sinh con thứ 3 trở lên. Nhiều mô hình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và nâng cao chất lượng dân số cộng đồng được triển khai bước đầu có hiệu quả. Công tác dân số được lồng ghép vào các chương trình phát triển kinh tế- xã hội; mô hình gia đình có 1 hoặc 2 con đang được xã hội đồng thuận như một chuẩn mực mới trong văn hoá về hôn nhân và sinh sản.....Những kết quả trên đã góp phần rất quan trọng vào chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, tạo thuận lợi cho công tác xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân.

Phùng Tấn Tú
( Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh) 

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-21.JPG
Hệ thống y tế tỉnh Long AnHệ thống y tế tỉnh Long An
Tính đến tháng 8/2013, toàn tỉnh có 20 bệnh viện trên địa bàn toàn tỉnh
                

 BV Long An.jpg

Trong đó:

- 03 bệnh viện tuyến tỉnh (Bệnh viện Đa khoa tỉnh ( 900 giường bệnh), Bệnh viện Y học cổ truyền (110 giường bệnh), Bệnh viện Lao và Bệnh phổi (70 giường bệnh)

- 03 bệnh viện đa khoa khu vực (Bệnh viện ĐKKV Hậu Nghĩa (250 giường bệnh), Bệnh viện ĐKKV Đồng Tháp Mười (140 giường bệnh),Bệnh viện ĐKKV Cần Giuộc (250 giường bệnh).

- 14 Trung tâm y tế và phòng khám khu vực tuyến huyện bao gồm:

* TTYT Bến Lức (120 giường bệnh).

* TTYT Cần Đước (100 giường bệnh).

* TTYT Đức Huệ (90 giường bệnh).

* TTYT Thủ Thừa (70 giường bệnh).

* TTYT Châu Thành (80 giường bệnh).

* TTYT Tân Trụ (80 giường bệnh).

* TTYT Thạnh Hóa (90 giường bệnh).

* TTYT Tân Thạnh (80 giường bệnh).

* TTYT Tân Hưng (110 giường bệnh).

* TTYT Vĩnh Hưng (90 giường bệnh).

* PKKV Đức Hòa (40 giường bệnh).

* PKKV Huỳnh Việt Thanh (25 giường bệnh).

* PKKV Gò Đen (35 giường bệnh).

* PKKV Rạch Kiến (50 giường bệnh).

- Trạm Y tế: 192/192 xã, phường, thị trấn có trạm y tế

- 15/15 huyện, thị xã, thành phố có trung tâm Dân số KHHGĐ

- Tổng số cán bộ, viên chức ngành Y tế: 5.011 cán bộ, viên chức ngành Y tế.

- Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân: 5 bác sĩ/vạn dân.

- Tỷ lệ dược sĩ đại học/vạn dân: 0,32 dược sĩ đại học/vạn dân.

09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/BV Long An.jpg
Chùa Phước Lâm Chùa Phước Lâm
Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Vào năm 1880, một lương y kiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Vì có công với làng nên ông Minh khi mất được dân chúng tôn làm hậu hiền và đưa vào phối tự trong đình Tân Lân. Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là Phước Lâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (do lệ cử tên húy ông Minh). Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm 3 phần: Chánh điện -  hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu ''bánh ít'', có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vảy cá.

Toàn bộ cột chùa chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập Điện Diêm Vương, Thiện, Aùc, Hộ Pháp, Kim Cương…và nhiều bộ bao lam, hoành phi, liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ. Đa số tượng Phật có chất liệu gỗ, đồng được chế tác từ thế kỷ XIX với một phong cách nghệ thuật mang đậm nét văn hóa Phật giáo Nam Bộ.

     Có một pho tượng rất đặc biệt tạc một vị Bồ Tát mình mặc cà sa, tay cầm phất trần, ngồi trên long mã bằng gỗ. Những bộ bao lam, hoành phi, liễn đối đều được chạm trổ rất công phu và là sản phẩm của cánh nghệ nhân họ Đinh ở Tân Lân Cần Đước(1).

Đặc biệt nhất là bức hoành '' Pháp luân thường chuyển” chạm lộng nhiều lớp có dạng cuốn thư với chủ đề cúc trĩ. Chữ thọ được chạm nổi tách làm đôi ở hai đầu cuốn thư và 4 chữ pháp luân thường chuyển sơn đỏ trên nền vàng góp phần làm tăng đường nét tinh xảo, sinh động cho hoành phi.

Chùa Phước Lâm 

​      Đây là một trong những bức hoành đẹp nhất ở Long An chứng minh cho trình độ nghệ thuật điêu luyện của nghề chạm khắc gỗ ở Cần Đước đã phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Cũng như những ngôi chùa làng khác ở Nam Bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường theo đúng công thức ''Tiền Phật, Hậu Tổ''. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công- người lập chùa , và bàn thờ của họ Bùi. Phía Ðơng chánh điện là 4 ngôi mộ tháp khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật, cầu kinh như để xua đi bao nổi ưu phiền của cuộc sống đời thường và hòa đồng với nhau trong tình thương bao la của Phật. Nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên có viết: ''Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hình ảnh của một ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, nhưng tiếc rằng ngôi già lam thể hiện một mảng văn hóa Phật giáo Nam Bộ này lại đang bị hư hại trầm trọng theo sự tàn phá nhanh chóng của thời gian''. Vào năm 2001, chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia.Với tấm lòng quý yêu một di sản văn hóa của cha ông,trong tuong lai ngôi cổ tự này sẽ được các cơ quan chức năng và đồng bào phật tử hợp sức trùng tu, tôn tạo để mãi mãi là một danh lam, một niềm tự hào của nhân dân địa phương.

     (1) Cánh thợ họ Đinh ở Cần Đước làm nghề chạm gỗ đến nay đã 5 đời. Tổ của họ này là nghệ nhân Đinh Văn Trì (sinh khoảng 1841) đã truyền nghề cho các nghệ nhân nổi tiếng sau: Đinh Công Tùng, Đinh Công Cai (thế hệ thứ 2); Đinh Văn Tất, Đinh Công Tồn (thế hệ thứ 3); Đinh Văn Năm (thế hệ thứ tư) Cánh thợ họ Đinh đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng ở chùa Giác Lâm (TPHCM), Hội quán Nghĩa Nhuận, Xóm Nhà Giàu (Xã Thanh Phú Long -Châu Thành), nhà Ông Cai Bằng (Tân Ân - Cần Đước), nhà Bà Phủ Phải (Chợ Quán -TPHCM)

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/phuoclam.JPG
Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020  Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020 
Với mục tiêu phát huy lợi thế tiềm năng của các lĩnh vực sản xuất  thủy sản trên địa bàn tỉnh và phát triển ngành thủy sản theo hướng ổn định và bền vững. Chuyển dịch và phát triển một cách có hiệu quả các lĩnh vực sản xuất thủy sản theo hướng tập trung tại các huyện vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh, cân đối phát triển thủy sản tại vùng hạ phù hợp với tiến trình phát triển công nghiệp, đô thị của tỉnh.

Đồng thời, xây dựng được các phương án phát triển đến các năm mốc 2015 và 2020 của ngành thủy sản dựa trên những phân tích, đánh giá các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến ngành thủy sản của tỉnh và các giải pháp có tính khả thi để thực hiện được các phương án quy hoạch. Hướng ngành thủy sản của tỉnh phát triển ổn định và bền vững.

Ngày 01/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 2224/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu cụ thể của quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị gia tăng ngành thủy sản (Nuôi trồng thủy sản và Khai thác thủy sản) thời kỳ 2012-2020 là 3,7%/năm; trong đó, giai đoạn 2012 – 2015 đạt 2,5%/năm và giai đoạn 2016 – 2020 đạt  4,5%/năm.

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tăng bình quân 4,1%/năm thời kỳ 2012 – 2020; trong đó giai đoạn 2012 – 2015 tăng 2,6%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 5,0%/năm.

Vùng 1 (vùng Đồng Tháp Mười): Đây là vùng nước ngọt quanh năm, bao gồm một phần các huyện Đồng Tháp Mười: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Đức Huệ, TX. Kiến Tường, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 2.790 ha tăng lên 5.777 ha (2020). Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 16.948 tấn tăng lên 32.552 tấn (2020), với các đối tượng nuôi chủ lực: Tôm càng xanh, cá lóc, cá tra, cá điêu hồng, cá rô đầu vuông, cá rô phi đơn tính, cá chạch lấu.

Vùng 2 (Vùng giữa): Bao gồm các huyện phía Đông Bắc của tỉnh: Đức Hòa, Bến Lức và TP. Tân An, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 585 ha tăng lên 734 ha (2020). Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 7.191 tấn tăng lên 10.365 tấn (2020), các đối tượng nuôi chính: Cá nước ngọt truyền thống, chủ lực là nuôi cá tra ở huyện Đức Hòa.

Vùng 3 (Vùng hạ): Vùng sinh thái mặn lợ bao gồm các huyện Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành và Tân Trụ, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 4.551 ha và đến năm 2020 là 4.769 ha. Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 13.384 tấn tăng nhẹ lên 15.743 tấn (2020), các đối tượng nuôi chính: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển, cá mặn lợ (cá chẽm, cá kèo, cá chim).

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực khai thác thủy sản tăng bình quân 1,2%/năm thời kỳ 2012 – 2020; trong đó giai đoạn 2012 – 2015 tăng 1,3%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 1,1%/năm.

Quy hoạch các khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản: Huyện Vĩnh Hưng (Khu Bàu Biển – xã Vĩnh Trị với diện tích 100 ha, khu đất trũng hai bên sông Lò Gạch – xã Vĩnh Trị có diện tích 54 ha và rạch Tà Me 85 ha); Huyện Tân Hưng (Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen với đặc thù là vùng trũng nên khu bảo tồn này là nơi cư trú lý tưởng của nhiều loài thủy sản, trong đó có những loài thủy sản quý hiếm như cá Tra Dầu, đồng thời cũng là bãi đẻ của nhiều loài thủy sản cung cấp một sản lượng giống tự nhiên lớn cho vùng Đồng Tháp Mười).

Việc phát triển thủy sản của tỉnh phải đặt trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến tiêu thụ, khai thác phải đi đôi với bảo vệ nguồn lợi, tiếp tục mở mang thị trường tiêu thụ cho xuất khẩu, đặc biệt chú trọng cung cấp các loại thủy sản nuôi tươi sống cho thị trường trong nước, nhất là nội tỉnh và TP. Hồ Chí Minh, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Và phát triển thủy sản của tỉnh phải gắn với việc tổ chức lại sản xuất dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ mới, tiên tiến, nhằm tăng năng suất, chất lượng và thân thiện với môi trường.

TV

09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: ông Nguyễn Thành Vững - Chánh Văn phòng​​​

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

​​ ​