Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Giới Thiệu

 
Thông Tin Giới Thiệu - Thương mại - Du lịch
 
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 1390/QĐ-UBND ngày 23/4/2013, với những nội dung chủ yếu sau: 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Tình trạng thuỷ triều Tình trạng thuỷ triều
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ I A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm.

Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô khi nước bổ sung đầu nguồn cho 2 sông Vàm Cỏ rất ít. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm tại Tân An và từ 60 - 85 cm tại Mộc Hóa. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe dọa xâm nhập mặn vào vùng phía Nam. Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven 2 sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Chủ tịch UBND tỉnh-Đỗ Hữu Lâm đã ký Quyết định số 3533/QĐ-UBND ngày 10/10/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với nội dung chủ yếu như sau:

I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Quan điểm chủ đạo

- Công nghiệp hỗ trợ là một trong các khâu đột phá nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững công nghiệp tỉnh Long An theo hướng nâng cao trình độ công nghệ, tính cạnh tranh và hiệu quả trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu thế hội nhập, liên kết phân công sản xuất, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghiệp và gắn liền với phân công của trung ương trong quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Nghiên cứu và chọn các ngành, các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Long An, có công nghệ tiên tiến, tính cạnh tranh cao trong phạm vi vùng, trong nước và tiến đến phạm vi quốc tế; gắn liền với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa, phát triển năng lực công nghiệp xuất khẩu và phấn đấu từng bước trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc tế. Phát huy tối đa tính đa dụng của các sản phẩm - mặt hàng, nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh, góp phần giảm nhập nguyên liệu, tăng cường khả năng sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ.

- Phát huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là các đối tác chiến lược - các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong thế liên kết sản xuất - kinh doanh giữa công nghiệp thượng nguồn - công nghiệp hỗ trợ - công nghiệp hạ nguồn và mối liên kết giữa công ty mẹ với các lớp công ty con vệ tinh; tiến đến tập trung thu hút các nhà đầu tư FDI về công nghiệp hỗ trợ sau năm 2020 nhằm đa dạng hóa các lĩnh vực công nghệ cao.

- Hợp tác liên kết chặt chẽ và phân công phát triển hợp lý giữa Long An và các tỉnh thành lân cận, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh.

- Gia tăng nhanh hàm lượng công nghệ, giảm tối đa phát thải nhằm xác lập nền tảng công nghiệp sạch và xanh, bảo đảm theo đúng chủ trương của Tỉnh ủy vàUBND tỉnh Không tiếp nhận các dự án đầu tư công nghệ lạc hậu, nguy cơ ô nhiễm môi trường  cao”, nâng cao trình độ người lao động và tổ chức quản lý sản xuất, liên kết hợp tác phát triển.

2. Quan điểm phát triển của từng ngành, lĩnh vực trọng điểm

a) Ngành dệt – may

Phát triển khâu nguyên liệu và các công nghệ hỗ trợ (kéo sợi, dệt) nhằm nâng cao tính chủ động trong sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may. Tập trung vào sản xuất các nguyên phụ liệu, vừa nâng tỷ lệ nội địa hóa vừa cung ứng cho thị trường cả nước nhằm đưa Long An lên thành trung tâm nguyên, phụ liệu dệt - may cấp vùng và cấp quốc gia.

b) Ngành da - giày

Đầu tư gia tăng quy mô, công nghệ, hiệu quả sản xuất nguyên, phụ liệu cho ngành là lĩnh vực trọng tâm. Tăng cường khâu thiết kế mẫu, mốt nhằm phát triển thị trường và giảm dần tỷ trọng hàng gia công.

c) Ngành cơ khí chế tạo

Tập trung phát triển cơ khí nền tảng phục vụ sản xuất, lắp ráp các sản phẩm cơ khí trọng điểm. Tham gia chủ động, tích cực và có chọn lọc vào quá trình liên kết và phân công hợp tác quốc tế. Phát triển không khép kín, tăng cường chuyên môn hóa và hợp tác hóa trên cơ sở phát huy các tiềm năng và lợi thế của các cơ sở sản xuất cơ khí hiện có với khả năng thu hút hợp tác đầu tư từ các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, công ty mẹ nước ngoài.

d) Lĩnh vực bao bì - in

Phát triển các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ trên cơ sở nguyên liệu bao bì theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm tác động môi trường, đa dạng hóa và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. Thu hút đầu tư của các đối tác chiến lược trong và ngoài nước.

e) Lĩnh vực nhựa

Phát triển trên cơ sở cải tiến công nghệ nhằm đa dạng hóa và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, tiến đến phát triển các chi tiết linh kiện phục vụ đa ngành, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa toàn lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm phát triển các lĩnh vực thế mạnh.

g) Ngành điện tử - tin học

Tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực để làm chủ công nghệ cao, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển sản xuất linh, phụ kiện cho ngành. Từng bước xây dựng ngành sản xuất linh phụ kiện điện tử - tin học theo hướng gắn kết và tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng của các công ty và tập đoàn đa quốc gia và trên cơ sở liên kết với các tỉnh thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

II. MC TIÊU

1. Mục tiêu chung

- Phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp chính phát triển bền vững, sử dụng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, có khả năng xuất khẩu, hướng đến hình thành trung tâm nguyên, phụ liệu ngành dệt may cho cả vùng và hình thành hệ thống công ty mẹ và các lớp công ty con, cùng phối hợp sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả trong chuỗi phát triển công nghiệp thượng nguồn – công nghiệp hỗ trợ - công nghiệp hạ nguồn.

- Đến năm 2020, tỉnh Long An sẽ trở thành một trong các địa phương có thế mạnh hàng đầu về phát triển công nghiệp hỗ trợ so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đến năm 2030 phấn đấu tiếp cận mặt bằng chung của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phát triển được các doanh nghiệp hỗ trợ đóng vai trò đầu tàu, có khả năng cung cấp những sản phẩm công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn ra thị trường trong nước và nước ngoài, đồng thời thu hút đầu tư phát triển một số công ty mẹ với các lớp doanh nghiệp vệ tinh hợp lý.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Đến năm 2020:

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm từ 13% đến 14%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và từ 15% đến 17%/năm trong giai đoạn 2016-2020, bình quân từ 14% đến 16%/năm trong 10 năm.

- Công nghiệp hỗ trợ chiếm trên 21% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành. Nhờ vào hiệu quả sản xuất và tỷ lệ VA/GO (giá trị gia tăng/ tổng giá trị sản xuất) khá cao, giá trị tăng thêm chiếm tỷ trọng gần 30%.

- Tỷ lệ đầu tư thêm/VA trong khoảng 30%, tỷ lệ VA/GO từ 34,2% năm 2010 lên 37% năm 2020.

- Phấn đấu nâng giá trị tăng thêm bình quân/lao động công nghiệp lên đến trên 355 triệu đồng (tương đương 14.200 USD) năm 2020.

- Dự kiến sẽ phát triển 03 khu, cụm hoặc phân khu tại huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức, huyện Cần Giuộc; đến năm 2020, trong điều kiện thu hút đầu tư thuận lợi mở thêm các khu, cụm và phân khu chuyên công nghiệp hỗ trợ, tổng diện tích đất quy hoạch đạt chung quanh 2.000 ha và nằm trong quy hoạch các khu công nghiệp đã được phê duyệt. Phấn đấu xây dựng hoàn tất hạ tầng và lấp đầy 60%, giá trị tăng thêm công nghiệp/ha đất khu công nghiệp vào khoảng 25 tỷ đồng giá hiện hành năm 2020.

- Phấn đấu đạt trên 80% lao động công nghiệp qua đào tạo và 15-20% lao động trình độ cao.

- Tốc độ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và trang thiết bị tăng 18-20%/năm.

b) Đến năm 2030:

- Phấn đấu đến năm 2030, giá trị sản xuất của các ngành, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng 30-35%, giá trị tăng thêm chiếm 35-40%.

- Tỷ trọng VA/GO trong khoảng 38-40%.

- Số lượng doanh nghiệp đổi mới công nghệ tăng trên 20%/năm.

- Lao động công nghiệp qua đào tạo/tổng lao động 85%; lao động trình độ cao/tổng lao động >25%.

- Tỷ trọng doanh nghiệp công nghiệp đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tỷ lệ rác thải công nghiệp được xử lý, tái chế tiếp cận 100%.

3. Mục tiêu từng ngành, lĩnh vực

a) Ngành dệt - may

- Tăng trưởng gần 16%/năm, chiếm tỷ trọng gần 10% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Hình thành trung tâm nguyên phụ liệu cấp vùng và cấp quốc gia và phát triển các công nghệ sản xuất, xử lý, gia công về sợi, dệt.

b) Ngành da - giày

- Tăng trưởng gần 16%/năm, chiếm tỷ trọng gần 7% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Hình thành và hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hệ thống công nghiệp hỗ trợ bao gồm ít nhất 1 công ty mẹ và các lớp công ty vệ tinh cung ứng nguyên phụ liệu.

c) Ngành cơ khí chế tạo

- Tăng trưởng 17%/năm, chiếm tỷ trọng trên 40% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ; phát triển đa dạng các mặt hàng với công nghệ gia tăng.

- Phấn đấu đến cuối thời kỳ hình thành và hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hệ thống công nghiệp hỗ trợ, trong đó thu hút đầu tư ít nhất 1 công ty mẹ chuyên về cơ khí chế tạo phục vụ và các lớp công ty vệ tinh cung ứng nguyên phụ liệu trong và ngoài tỉnh. 

d) Lĩnh vực bao bì - in

- Tăng trưởng 15%/năm, chiếm tỷ trọng gần 16% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Phát triển hệ thống công nghiệp hỗ trợ, trong đó chủ lực là bao bì và các công nghệ hỗ trợ (mẫu mã, in).

e) Lĩnh vực nhựa

- Tăng trưởng 11-12%/năm, chiếm tỷ trọng trên 11% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Phát triển đa dạng các sản phẩm, mẫu mã, trong đó chủ lực là bao bì và các công nghệ hỗ trợ (mẫu mã, in); phấn đấu đến cuối thời kỳ đã phát triển tương đối vững chắc lĩnh vực linh kiện nhựa cao cấp.

g) Ngành điện tử - tin học

- Tăng trưởng 18%/năm, chiếm tỷ trọng trên 17% trong giá trị tăng thêm công nghiệp hỗ trợ.

- Phấn đấu đến cuối thời kỳ thu hút đầu tư hình thành 02 nhà máy chuyên sản xuất linh kiện.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

1. Định hướng phát triển tầm nhìn đến 2030

- Tích cực thu hút đầu tư, hợp tác liên kết sản xuất và phát huy hiệu quả đầu tư về vốn, công nghệ, lao động chất lượng cao, định hướng tập trung ưu tiên vào các ngành công nghiệp hỗ trợ chủ lực (dệt - may, da - giày, cơ khí chế tạo), ngành phát triển khi có cơ hội (điện tử - tin học) và các lĩnh vực có liên quan (bao bì, nhựa).

- Phát triển các phân khu công nghiệp hỗ trợ trong các khu, cụm công nghiệp, tiến đến hình thành một số khu, cụm công nghiệp chuyên công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh làm cơ sở thu hút đầu tư và hợp tác - liên kết trong và ngoài nước.

- Tạo điều kiện phát triển, cải thiện và phát huy năng lực các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chủ lực và các ngành, lĩnh vực khác; thu hút đầu tư các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt chú trọng lĩnh vực lắp ráp để hình thành hệ thống công ty mẹ và các lớp công ty con, cùng phối hợp sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả.

- Phối hợp các ngành trong phát triển các khu dân cư, khu đô thị dịch vụ công nghiệp và các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, nghiên cứu và vận dụng các cơ chế chính sách cho môi trường thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn liền với thị trường cả nước và quốc tế.

2. Định hướng cụ thể đến năm 2020

- Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 3 khu, cụm công nghiệp hoặc phân khu định hướng phát triển chuyên công nghiệp hỗ trợ. Xúc tiến thu hút đầu tư và liên kết hợp tác sản xuất với các doanh nghiệp hỗ trợ trong và ngoài địa bàn.

- Đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, tổ chức thị trường, tiêu chuẩn hóa hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm trong hệ thống công nghiệp hỗ trợ.

- Tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ đổi mới trang thiết bị và công nghệ cho các cơ sở sản xuất; phổ biến các thông tin về khoa học, kỹ thuật và thị trường; phát triển mạnh các dịch vụ tư vấn, thẩm định, cải tiến thích nghi và triển khai các công nghệ mới.

- Xây dựng và quảng bá các thương hiệu mạnh về công nghiệp hỗ trợ.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hút và đào tạo chuyên gia, lao động trình độ cao.

- Nghiên cứu vận dụng các cơ chế chính sách và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư từ các công ty mẹ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyên công nghiệp hỗ trợ, trong đó chú trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các dự án phát triển tổng hợp.

3. Định hướng phát triển từng ngành, từng lĩnh vực trọng điểm

a) Ngành dệt - may

Phát triển sản xuất các loại vải cho may xuất khẩu và vải dệt để sản xuất giày dép xuất khẩu, một số loại hóa chất như hồ dệt Chú trọng phát triển sản xuất các loại phụ liệu may.

b) Ngành da - giày

Tập trung đầu tư nâng cao công nghệ, phát triển mẫu mã cho các doanh nghiệp chuyên phụ liệu; phối hợp với ngành nhựa đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm.

c) Ngành cơ khí chế tạo

Tăng cường đầu tư chiều sâu tại các cơ sở cơ khí chế tạo hiện có. Thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực cơ khí chế tạo phục vụ đóng tàu, logistic, chế tạo phụ tùng cho thiết bị đồng bộ, ô tô - xe máy, hàng gia dụng và chuyên dùng, máy công cụ chế biến, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sản xuất công nghệ cao và vào những khâu công nghệ đúc, rèn, tạo phôi lớn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt kim loại, sản xuất chi tiết quy chuẩn chất lượng cao.

d) Lĩnh vực bao bì - in

Tập trung đầu tư nâng cao công nghệ, đa dạng hóa mẫu mã cho các doanh nghiệp chuyên sản xuất các phụ liệu có nguồn gốc từ giấy; chú trọng phát triển công nghệ và mẫu mã bao bì giấy các loại. Thu hút đầu tư phát triển các lĩnh vực in mã vạch, chế tạo mực in chuyên dùng, sản xuất màng, đóng pallet, cung cấp bao bì cho công nghệ phẩm và nông sản phẩm.

e) Lĩnh vực nhựa

Hỗ trợ nâng cao công nghệ, cải tiến thiết bị và mẫu mã cho các doanh nghiệp hiện có; chú trọng phát triển lĩnh vực bao bì nhựa kết hợp với in. Tập trung thu hút đầu tư phát triển các doanh nghiệp chuyên sản xuất các linh kiện nhựa cao cấp phục vụ công nghiệp cơ khí lắp ráp, điện - điện tử.

g) Ngành điện tử - tin học

- Giai đoạn đầu: thu hút đầu tư các cơ sở lắp ráp gia công về điện - điện tử, từng bước nâng cao độ phức tạp của sản phẩm lắp ráp.

- Giai đoạn sau: tăng cường thu hút vốn đầu tư và công nghệ mới của các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong việc phát triển sản xuất linh phụ kiện điện, điện tử.

IVNHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ

Tổng nhu cầu vốn đầu tư là 20.587 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 34,8%, doanh nghiệp đầu tư vốn nước ngoài chiếm 65,2%; giai đoạn 2011-2015 chiếm 7.069 tỷ đồng (34,3%), giai đoạn 2016-2020 chiếm 13.518 tỷ đồng (65,7%).

V. DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN THU HÚT, ĐẦU TƯ

(Chi tiết theo phụ lục 1 đính kèm)

VIĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC

(Chi tiết theo phụ lục 2 đính kèm)

VII. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH

1. Giải pháp về tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh

- Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thẩm định dự án, cấp giấy phép đầu tư, thỏa thuận địa điểm cấp đất, đền bù giải tỏa, cấp giấy phép xây dựng.

- Xác định các khu, cụm chuyên công nghiệp hỗ trợ; một mặt tiếp tục kiến nghị trung ương ban hành các chính sách riêng biệt cho các khu, cụm hoặc phân khu chuyên công nghiệp hỗ trợ; mặt khác nghiên cứu vận dụng các chính sách trong phạm vi luật định để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hoặc thuê đất sản xuất kinh doanh.

- Triển khai hệ thống chính sách ưu đãi doanh nghiệp nhỏ và vừa; cần quan tâm các biện pháp hỗ trợ đối với các doanh nghiệp lớn có nhu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các mặt hàng sản xuất đặc thù, thế mạnh như cơ khí, nhựa, bao bì - in và in.

- Tạo điều kiện phát triển các khu dân cư, các khu thương mại, vui chơi giải trí và các dịch vụ dân sinh khác cho các chủ đầu tư và chuyên gia.

- Nâng cao hiệu suất hoạt động của Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư cấp tỉnh trên định hướng xúc tiến đầu tư toàn diện công thương nghiệp.

- Tạo thuận lợi về đất đai, nhân lực cho nhà đầu tư.

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động và tiềm lực tài chính Quỹ khuyến công, Quỹ xúc tiến đầu tư.

- Thúc đẩy các ngành thực hiện nhanh và dứt điểm các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, khu, cụm công nghiệp theo đúng quy hoạch được duyệt, đúng phân cấp đầu tư.

- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, tìm cơ hội liên doanh liên kết hợp tác. Tham quan, học tập mô hình, kinh nghiệm của các tỉnh, thành, tìm cơ hội liên kết phát triển.

2. Giải pháp khoa học công nghệ

- Xây dựng chiến lược dài hạn về phát triển khoa học - công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, xây dựng danh mục và triển khai thực hiện các chương trình phát triển khoa học - công nghệ đối với công nghiệp hỗ trợ; xúc tiến việc hình thành vườn ươm khoa học - công nghệ và các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ theo tiêu chí sạch và xanh.

- Tổ chức, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai ứng dụng công nghệ vào sản xuất.

- Hỗ trợ, khuyến khích hình thành các doanh nghiệp khoa học - công nghệ chuyên về tư vấn, thẩm định, cải tiến, ứng dụng thích nghi công nghệ, kết hợp với các dịch vụ công trong các lĩnh vực hành chính và kỹ thuật; phát triển các doanh nghiệp công nghệ thông tin.

- Tăng cường thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về khoa học công nghệ như tiêu chuẩn - đo lượng - chất lượng, phân tích - kiểm định, sở hữu công nghệ, sở hữu trí tuệ, thông tin khoa học công nghệ. Hỗ trợ tiêu chuẩn hóa ISO, HACCP, GMP, SA… cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Tăng cường mối liên hệ với các cơ quan khoa học, bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) của công ty mẹ; hỗ trợ việc thành lập bộ phận R&D trong đó có các đề tài, dự án về các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

- Thực hiện giới thiệu và hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất trong nước trên các chợ giao dịch công nghệ.

3. Giải pháp về cơ sở hạ tầng

- Kiến nghị trung ương đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải như các tuyến quốc lộ, đường cao tốc, đặc biệt là tuyến Vành đai 3, Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh kết nối Long An với các tỉnh phía Bắc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tăng cường thu hút và đầu tư tuyến Long Hậu - Tân Tập, cảng Long An, cảng Phước Đông. Phát triển mạnh lĩnh vực logistics tại các huyện Cần Giuộc và Bến Lức.

- Tập trung xây dựng một số khu, cụm (hoặc phân khu) chuyên công nghiệp hỗ trợ có trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, bao gồm 3 khu công nghiệp với tổng diện tích trong khoảng 2.000 ha.

- Xây dựng quy hoạch và kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực khu dân cư, khu thương mại, khu vui chơi giải trí chuyên đề.

4. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực

- Các cơ sở dạy nghề nghiên cứu cải thiện giáo trình hoặc tăng thêm các chuyên đề về các ngành thiết kế, sử dụng máy công cụ, chế tạo máy, luyện kim, tạo khuôn, điều khiển tự động, điện tử - tin học. Đảm bảo thường xuyên trao đổi thông tin và liên kết giữa các doanh nghiệp với sở, ngành và cơ quan, tổ chức liên quan, các trường nghề nhằm đổi mới công nghệ và phát triển hệ thống đào tạo theo công việc với đặt hàng của các doanh nghiệp.

- Vận dụng nguồn nhân lực trong tỉnh và thu hút nguồn nhân lực ngoài tỉnh, chủ yếu từ Thành phố Hồ Chí Minh. Mở hoặc liên kết đào tạo một số chuyên ngành kỹ thuật có liên quan tại trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An.

- Khuyến khích và đề xuất nhà nước ban hành các chính sách đối với các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực.

- Xem xét việc nâng định mức và nới rộng điều kiện hỗ trợ đối với đào tạo lao động chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Khuyến khích phát triển tài năng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật hiện có, tạo điều kiện thường xuyên bổ sung, bồi dưỡng những kiến thức mới, nâng cao thêm trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

- Xây dựng và triển khai thực tế có hiệu quả các đề tài nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ với sự phối hợp tham gia giữa các Viện, trường, doanh nghiệp (trong nước và FDI) làm nền tảng để đào tạo trên công việc cho các lao động của các doanh nghiệp cùng tham gia vào đề tài.

- Xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả chương trình khuyến công hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nghề ngắn hạn theo yêu cầu doanh nghiệp.

5. Giải pháp về liên kết doanh nghiệp

- Kết nối các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (công ty mẹ và các doanh nghiệp vệ tinh) với các doanh nghiệp trong nước (đặc biệt tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai); tư vấn hỗ trợ trong việc thương thảo, ký kết hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước.

- Điều tra, khảo sát, thiết lập mối quan hệ và xây dựng các chương trình hợp tác dài hạn với các đối tác chiến lược, các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong và ngoài nước về phát triển công nghiệp hỗ trợ.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu và website về danh mục các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện, các sản phẩm hỗ trợ, danh mục các sản phẩm hỗ trợ cần ưu tiên phát triển, các nhu cầu hợp tác - liên kết, các ưu đãi, hỗ trợ trung dài hạn.

- Củng cố và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ làm đầu mối liên kết doanh nghiệp.

- Thường xuyên tổ chức và nâng cao tính chuyên nghiệp của các hội chợ, chợ công nghệ, triển lãm và các hội thảo chuyên đề phát triển công nghiệp hỗ trợ cho từng lĩnh vực sản phẩm riêng biệt.

6. Giải pháp về nguyên liệu

- Liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có trên địa bàn nhằm xây dựng hệ thống liên kết sản xuất và cung ứng nguyên liệu trong chuỗi sản xuất với giá thành tối ưu.

- Liên kết gia công với các công ty mẹ, tập đoàn trong hệ thống công nghiệp hỗ trợ nhằm có được nguyên liệu với mức giá và độ ổn định tốt nhất.

7. Giải pháp về tài chính

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển.

- Tăng cường tiềm lực quỹ khuyến công, quỹ phát triển khoa học - công nghệ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Nghiên cứu và phát triển phương thức thuê mua tài chính trong mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ để nâng cao khả năng phát triển và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này.

- Tranh thủ nguồn vốn ODA để hỗ trợ đào tạo lao động, xây dựng thể chế pháp lý, các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp nhỏ và vừa, chương trình hợp tác với các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

8. Các giải pháp có tính đột phá trong tầm nhìn ngắn hạn (đến 2015)

- Tập trung vốn ưu đãi (từ các nguồn vốn khuyến công và vốn lồng ghép vào các chương trình mục tiêu khác, nguồn vốn huy động từ các chính sách liên quan) vào các đối tượng doanh nghiệp đang phát triển hiệu quả công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn trong lĩnh vực phụ liệu dệt - may - giày - da, chi tiết nhựa phục vụ cơ khí, bao bì kết hợp in, cơ khí chế tạo máy công cụ và máy nông nghiệp nhằm mục tiêu liên kết sản xuất, hỗ trợ công nghệ và cải tiến thiết bị, cải thiện điều kiện quản lý, hỗ trợ xử lý môi trường, xúc tiến thị trường đầu vào và đầu ra… nhằm cùng sản xuất các linh phụ kiện hướng đến sản phẩm cuối cùng (sản phẩm may mặc, giày da, máy công cụ, máy nông nghiệp…) có hiệu quả nhất và tạo dựng thương hiệu trên thị trường.

- Chuẩn bị trước nguồn nhân lực thông qua việc đào tạo cơ bản, đào tạo thích nghi và có những hỗ trợ cho lao động nâng cao trình độ: xem xét việc nâng định mức (học phí và % hỗ trợ) và nới rộng điều kiện hỗ trợ (thời gian hoàn vốn vay) đối với đào tạo lao động chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Chuẩn bị các khu chuyên công nghiệp hỗ trợ và thu hút đầu tư.

- Kiến nghị ban hành thêm các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp, bổ sung mặt hàng công nghiệp hỗ trợ và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận hiệu quả các chính sách hỗ trợ này. ​

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tình trạng xâm nhập mặn Tình trạng xâm nhập mặn
Nguồn xâm nhập mặn vào lãnh thổ Long An chủ yếu là từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 đến 3,9 m. Quá trình xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội địa và thời gian cũng dài hơn. Nguyên nhân là do hoạt động mạnh của triều, gió chướng, lượng nước thượng nguồn ít và nhất là khai thác nước mặt quá nhiều trong mùa kiệt. Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn khoảng 5 km, từ năm 1993 đến nay đã lên đến Vĩnh Hưng. Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 với mức 2 - 4 gam/lít. Sông Vàm Cỏ Đông do ảnh hưởng của Hồ Dầu Tiếng độ mặn giảm dần.

Ngoài ra, do trái đất có xu hướng nóng dần lên, tạo điều kiện cho mặt nước biển nâng dần lên, đẩy quá trình xâm nhập mặn xâu vào nội địa.
     Việc xâm nhập mặn đã làm biến đổi hệ sinh thái vùng vốn ổn định nhiều năm trước đây và kết quả là ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Để hạn chế quá trình này cần tránh khai thác nước quá nhiều trong mùa kiệt và đầu tư các công trình thủy lợi cần tính toán tác động của xâm nhập mặn ảnh hưởng đến hệ sinh thái chung.​​​

05/11/2008 4:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tài nguyên nước mặn, nước ngầm Tài nguyên nước mặn, nước ngầm
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt của tỉnh Long An nối liền với sông Tiền và hệ thống sông Vàm Cỏ là các đường dẫn tải và tiêu nước quan trọng trong sản xuất cũng như cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư.

Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ Campuchia, qua tỉnh Tây Ninh và vào địa phận Long An: diện tích lưu vực 6.000 km2, độ dài qua tỉnh 145 km, độ sâu từ 17 - 21 m. Nhờ có nguồn nước hồ Dầu Tiếng đưa xuống 18,5 m3/s nên đã bổ sung nước tưới cho các huyện Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức và hạn chế quá trình xâm nhập mặn của tuyến Vàm Cỏ Đông qua cửa sông Soài Rạp. Sông Vàm Cỏ Đông nối với Vàm Cỏ Tây qua các kênh ngang và nối với sông Sài Gòn, Đồng Nai bởi các kênh Thầy Cai, An Hạ, Rạch Tra, sông Bến Lức.
     Sông Vàm Cỏ Tây độ dài qua tỉnh là 186 km, nguồn nước chủ yếu do sông Tiền tiếp sang qua kênh Hồng Ngự, đáp ứng một phần nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân cư.
     Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu thành sông Vàm Cỏ dài 35 km, rộng trung bình 400 m, đổ ra cửa sông Soài Rạp và thoát ra biển Đông.
     Sông Rạch Cát (Sông Cần Giuộc) nằm trong địa phận tỉnh Long An dài 32 km, lưu lượng nước mùa kiệt nhỏ và chất lượng nước kém do tiếp nhận nguồn nước thải từ khu vực đô thị -TP Hồ Chí Minh, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư.
     Nhìn chung nguồn nước mặt của Long An không được dồi dào, chất lượng nước còn hạn chế về nhiều mặt nên chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống.
     Trữ lượng nước ngầm của Long An được đánh giá là không mấy dồi dào và chất lượng không đồng đều và tương đối kém. Phần lớn nguồn nước ngầm được phân bổ ở độ sâu từ 50 - 400 mét thuộc 2 tầng Pliocene - Miocene.
     Tuy nhiên tỉnh có nguồn nước ngầm có nhiều khoán chất hữu ích đang được khai thác và phục vụ sinh hoạt dân cư trên địa bàn cả nước.
     Khi gặp mưa lớn hoặc lũ về, kết hợp với triều cường thường gây ngập lụt ở khu vực ven sông nhất là vùng hạ. Để khai thác có hiệu quả tài nguyên nước mặt ở Long An, ngoài giải pháp mở rộng kênh tạo nguồn, cần thiết phải xây thêm hồ chứa nước phụ ở những khu vực thiếu nguồn.
     Trong tương lai cần phải xác định rỏ trữ lượng nguồn nước ngầm, địa bàn phân bổ, khả năng tái tạo để có kế hoạch khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Đặc điểm cấu trúc địa chất tỉnh Long An  Đặc điểm cấu trúc địa chất tỉnh Long An 
Long An, nằm ở rìa Đông Nam của đới Đà Lạt. Đây là đới kiến tạo - sinh khoáng tương đối độc lập, có móng là vỏ lục địa tiền CamBri, bị sụt lún trong Jura sớm - giữa và trải qua chế độ rìa lục địa vào Mesozoi muộn. Vào cuối Mesozoi và trong Kainozoi, đới Đà Lạt bị hoạt hóa mạnh mẽ. Trong Neogen - Đệ tứ phần lãnh thổ này tham gia vào bồn trũng MêKông bị sụt lún mạnh và lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên.

Trên địa bàn tỉnh Long An phát triển chủ yếu các thành tạo trầm tích Neogen - Đệ tứ:

- Các trầm tích cuội kết, cát kết, sét bột kết hệ tầng Cần Thơ (N21ct) có diện tích phân bố rộng.

 - Cuội sỏi kết, cát kết, bột kết, sét kết hệ tầng Năm Căn (N22nc) có diện tích phân bố rộng.

 - Các thành tạo trầm tích sông gồm cuội, sỏi, sạn, cát, sét, kaolin hệ tầng Củ Chi (aQ23cc) phân bố chủ yếu trên diện tích các xã Lộc Giang, Đức Lập Thượng, Mỹ Hạnh Bắc, Hòa Khánh Đông, An Ninh Tây thuộc huyện Đức Hòa.

 - Các thành tạo trầm tích sông biển gồm bột, sét ít thạch cao hệ tầng Mộc Hóa (amQ21mh) phân bố chủ yếu trên diện tích các huyện Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng.

 - Các thành tạo trầm tích sông gồm cuội, sỏi, sạn, cát, sét kaolin hệ tầng Hậu Giang (mQ21hg) phân bố chủ yếu trên diện tích các huyện Tân Thạnh, Mộc Hóa, Tân Hưng.

 - Các thành tạo trầm tích Holocen trung - thượng (aQ22-3) gồm các trầm tích sông (cát, bột, sét), sông - đầm lầy (bột, sét, di tích thực vật, than bùn), chúng là các trầm tích thềm, bãi bồi và tích tụ lòng sông phân bố hầu khắp trên diện tích các huyện thuộc tỉnh Long An.

Theo kết quả điều tra địa chất tỷ lệ 1:200.000 trên diện tỉnh ghi nhận 2 hệ thống đứt gãy chính theo phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam. Các hệ thống đứt gãy này được phát hiện theo các tài liệu địa vật lý và các dấu hiệu địa chất gián tiếp./.

(Theo tài liệu Cục Địa chất và Ksản VN 2006)

                                                                                        

Sở Tài nguyên và Môi trường

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tài nguyên cátTài nguyên cát
Một phần của lưu vực ở Tây Ninh chảy qua Long An trên dòng Sông Vàm Cỏ Đông, qua nhiều năm bồi lắng ở cuối lưu vực một lượng cát xây dựng khá lớn. Theo điều tra trữ lượng cát khoảng 11 triệu m3 và phân bố trải dài 60 km từ xã Lộc Giang giáp tỉnh Tây Ninh đến bến đò Thuận Mỹ (Cần Đước).

Việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực khai thác tài nguyên cát còn lỏng lẽo, chưa tạo được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ.
     Thời gian qua, một số tổ chức kinh tế đã khai thác được một khối lượng khá lớn cát, đáp ứng yêu cầu xây dựng trong vùng. Tuy nhiên, cần kiểm tra kỹ thuật khai thác, an toàn lao động và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo tính bền vững, chống nguy cơ sạt lỡ là do thay đổi dòng chảy và đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
     Do trữ lượng cát lấp có hạn nên tỉnh cần quy định hướng khai thác và sử dụng có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu san lấp nền trong đầu tư xây dựng.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-6.jpg
Khí hậuKhí hậu
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng ĐBSCL lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông.

Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 -27,7 oC. Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9 oC, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2oC.
      Lượng mưa hàng năm biến động từ 966 -1325 mm. Mùa mưa chiếm trên 70 - 82% tổng lượng mưa cả năm. Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh thành phố Hồ Chí Minh xuống phía Tây và Tây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.
      Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 - 82 %.
     Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 - 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500 - 2.800 giờ. Tổng tích ôn năm 9.700 -10.100oC. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2-4oC.
      Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60-70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70%.
      Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa.
      Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp
.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-khihau.jpg
Vị trí địa lýVị trí địa lý
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam.

 

 

 
    - Tỉnh Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng ĐBSCL song lại thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam (VPTKTTĐPN), được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam. Long An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài: 132,977 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) và Tho Mo (Đức Huệ). Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với ĐBSCL, nhất là có chung đường ranh giới với TP. Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như : quốc lộ 1A, quốc lộ 50, . . . các đường tỉnh lộ : ĐT.823, ĐT.824, ĐT.825 v.v . . . Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới, tạo động lực và cơ hội mới cho phát triển. Ngoài ra, Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai.
   - Là tỉnh nằm cận kề với TP.HCM có mối liên hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với Vùng Phát Triển Kinh Tế Trọng Điểm Phía Nam (VPTKTTĐPN), nhất là Thành phố Hồ Chí Minh một vùng quan trọng phía Nam đã cung cấp 50% sản lượng công nghiệp cả nước và là đối tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).
   - Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 449.194,49 ha, dân số 1.542.606 (theo số liệu dân số tính đến tháng 5 năm 2013)Tọa độ địa lý : 105030' 30'' đến 106047' 02'' kinh độ Đông và 10023' 40'' đến 11002' 00'' vĩ độ Bắc.

   - Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các huyện: Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An; có 192 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 166 xã, 12 phường và 14 thị trấn.

07/10/2013 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/ban_do_hanh_chinh_long_an_large.jpg
Tình trạng chua phèn Tình trạng chua phèn
Long An là nơi tập trung đất phèn đến 208.449 ha, chiếm 69,8 % diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười và bằng 46,41 % diện tích tự nhiên của tỉnh. Hiện tồn tại 2 vùng thấp - rốn phèn ở Bắc Đông và Bo Bo - Mỏ Vẹt. Một năm có 2 chu kỳ nước chua là đầu mùa mưa (tháng 4 đến tháng 7) và cuối mùa mưa (tháng 11 đến tháng 1).

Để hạn chế bất lợi cho sản xuất nông nghiệp cần tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi tạo nguồn, nghiên cứu áp dụng các phương pháp canh tác, giống cây con . . . cho phù hợp điều kiện tự nhiên và cơ chế thị trường. Trong khai hoang cần tính toán chặt chẽ việc đẩy nguồn nước chua phèn xuống khu vực hạ lưu gây tác hại cho sản xuất của khu vực ven sông.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/ChuaPhen.jpg
Khoáng sản  Khoáng sản 
Theo kết quả điều tra năm 1996 than bùn được tìm thấy ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười như Tân Lập - Mộc Hóa, Tân Lập - Thạnh Hóa (Tráp Rùng Rình), Tân Thạnh (Xã Tân Hòa), Đức Huệ (xã Mỹ Quý Tây, Trấp Mốp Xanh).

Trữ lượng than thay đổi theo từng vùng và chiều dày lớp than từ 1,5 đến 6 mét. Cho đến nay chưa có tài liệu nghiên cứu nào xác định tương đối chính xác trữ lượng than bùn nhưng ước lượng có khoảng 2,5 triệu tấn.
     Than bùn là nguồn nguyên liệu khá tốt để chế biến ra nhiều loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Theo kết quả phân tích đánh giá về chất lượng cho thấy than bùn ở Long An có độ tro thấp, mùn cao, lượng khoáng cao, có thể sử dụng làm chất đốt và phân bón.
Việc khai thác than sẽ thúc đẩy quá trình oxy hóa và thủy phân tạo ra acid sulfuric, đây là chất độc ảnh hưởng đến cây trồng và môi trường sống.
     Ngoài than bùn, tỉnh còn có những mỏ đất sét (trữ lượng không lớn ở khu vực phía Bắc) có thể đáp ứng yêu cầu khai thác làm vật liệu xây dựng.
     Trong thời gian qua, do quản lý nhà nước chưa chặt chẽ nên một số tổ chức và cá nhân khai thác than bừa bãi ảnh hưởng đến môi trường khu vực xung quanh. Trong tương lai, cần phải tổ chức khai thác thận trọng hơn vừa đáp ứng ứng yêu cầu kinh tế nhưng không ảnh hưởng đến môi trường dân sinh.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Địa hình - Thổ nhưỡng  Địa hình - Thổ nhưỡng 
Tỉnh Long An có địa hình đơn giản, bằng phẳng nhưng có xu thế thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam. Địa hình bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Phần lớn diện tích đất của tỉnh Long An được xếp vào vùng đất ngập nước.

Khu vực tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc (Đức Huệ, Đức Hòa). Khu vực Đồng Tháp Mười địa hình thấp, trũng có diện tích gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Khu vực tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc (Đức Huệ, Đức Hòa). Khu vực Đồng Tháp Mười địa hình thấp, trũng có diện tích gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Khu vực Đức Hòa, một phần Đức Huệ, Bắc Vĩnh Hưng, thị xã Tân An có một số khu vực nền đất tốt, sức chịu tải cao, việc xử lý nền móng ít phức tạp. Còn lại hầu hết các vùng đất khác đều có nền đất yếu, sức chịu tải kém.
     Về phương diện địa chất - trầm tích thì chỉ có nhóm đất xám (phù sa cổ) thuộc trầm tích Pleistocene, phần còn lại có nguồn gốc từ lắng tụ của phù sa trẻ, trầm tích Holocene. phần lớn đất đai Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bời rời, tính chất cơ lý rất kém, các vùng thấp, trũng tích tụ nhiều độc tố làm cho đất trở nên chua phèn. Qua điều tra cơ bản, Long An có các nhóm đất chính :
      • Nhóm đất phù sa cổ: Phân bổ ở địa hình cao 2 - 6 m so với mặt biển, bao gồm các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng. Do địa hình cao thấp khác nhau nên chịu tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn.
      • Nhóm đất phù sa ngọt : Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, phân bổ chủ yếu ở các huyện, thị : Tân Thạnh, Thị xã Tân An, Tân Trụ, Cần Đước, Bến Lức, Châu Thành và Mộc Hóa.
      • Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: phân bố ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Tân Trụ. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thường bị nhiễm mặn trong mùa khô.
      • Nhóm đất phèn: phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười và kẹp giữa 2 dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Đất giàu chất hữu cơ, nồng độ độc tố trong đất cao (Cl-, Al3+, Fe2+ và SO42-), mất cân đối nghiêm trọng NPK.
      • Nhóm đất phèn nhiễm mặn: phần lớn phân bố trong vùng hạ tỉnh Long An và bị nhiễm mặn trong mùa khô.
      • Nhóm đất than bùn: phân bổ ở phía Nam huyện Đức Huệ, giáp với huyện Thạnh Hóa.
      Qua những đặc điểm về thổ nhưỡng cho thấy tỉnh Long An có nhiều bất lợi trong tổ chức sản xuất nông nghiệp. Vừa mang những nét đặc thù của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, vừa mang sắc thái riêng của vùng đất chua, phèn, mặn nên tỉnh cần có những giải pháp riêng định hướng phát triển vùng, nhất là sản xuất nông nghiệp.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến
Ngả Tư Rạch Kiến là giao lộ 18 và 19 tại trung tâm xã Long Hòa, huyện Cần Đước.Nơi đây, trong không gian khoảng 1km2,đây đó những sân bay dã chiến,bãi pháo, câu lạc bộ sĩ quan, khu trại quân sự ... của căn cứ Mỹ gợi lại một thời gian khổ và hào hùng trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến - một thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo thể hiện ý chí và sáng tạo của Đảng bộ và quân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1965 chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của địch bị phá sản hoàn toàn. Để ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn,Mỹ dấn sâu một bước can thiệp, trực tiếp đỗ quân vào miền Nam thực hiện ''chiến tranh cục bộ''. Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 sư đoàn 9 bộ binh Mỹ ồ ạt đổ quân lập căn cứ tại Rạch Kiến gồm: 1 tiểu đoàn bộ binh; 1 tiểu đoàn pháo binh có 4 khẩu cối 106,107mm, 4 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu pháo 57mm; một đại đội công binh cùng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như xe ủi đất, máy dò mìn; một đại đội trinh sát, 4 đại đội máy bay trực thăng; 1 chi đoàn xe bọc thép gồm 20 chiếc M113 và M118. 
     Căn cứ được bố trí dọc 2 bên lộ 18 (nay là tỉnh lộ 826) từ ngả ba đài chiến sĩ (Long Hòa) đến Cầu Đồn (Tân Trạch). Khu vực chính nằm ở hướng Đông Ngã Tư Rạch Kiến gồm hơn 20 doanh trại, phía Tây là trận địa pháo với những bệ bằng bê tông đúc sẳn, phía Bắc là sân bay dã chiến. Khu căn cứ được phòng thủ bằng 6 lớp rào đủ loại xen kẻ với 3 tuyến bãi mìn loại vướng nổ, đạp nổ, điều khiển bằng điện. Toàn bộ khu căn cứ chiếm diện tích khoảng 160.000 m2. Về mặt qui mô, căn cứ Rạch Kiến được xem như một mục tiêu quân sự lớn của Mỹ ở Nam Sài Gòn - nó không thua kém gì căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 25 Mỹ ở Bắc Sài Gòn.

Bia Rạch Kiến

​     Về vị trí chiếc lược đây là mắc xích q​uan trọng , vị trí trung gian giữa Cát Lái - Nhà Bè với Bình Đức - Mỹ Tho hình thành tuyến phòng thủ từ xa về mặt Nam Sài Gòn. Căn cứ Rạch Kiến còn nhằm triệt phá các căn cứ lõm và khu giải phóng ở Nam lộ 4 (Cần Giuộc-Cần Đước ) -địa bàn có vị trí bàn đạp đe dọa trung tâm đầu não Sài Gòn     

    Về phía ta,dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thế trậnVành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được hình thành với phạm vi 12 xã gồm: Long Hòa, Tân Trạch, Long Trạch, Long Khê,Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy(Cần Đước) và Phước Lâm, Thuận Thành ( Cần Giuộc). Ban chỉ huy vành đai là đồng chí Đoàn Văn Nguyễn - bí thư huyện ủy,Nguyễn Văn Nam - chính trị viên C315 và Lê Văn Được (Đô Lương ) - chỉ huy trưởng C315. ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến''  chia làm 3 tuyến với nhiệm vụ cụ thể: tuyến 1 gồm 2 xã có căn cứ Rạch Kiến là Long Hòa và Tân Trạch, du kích bám sát căn cứ gài lựu đạn, cắm chông; phong tỏa các ngã đường ra vào, theo dõi và báo cáo tình hình về Ban chỉ huy Vành đai; tuyến 2 gồm các xã giáp ranh Long Hòa, Tân Trạch, bộ đội địa phương và du kích phân tán đánh nhỏ, lẻ khắp nơi bắng nhiều hình thức, rút nhanh tránh thương vong; tuyến 3 ngoài cùng, bộ đội tỉnh và du kích xã làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc  bằng mọi hình thức chông mìn, ong vò vẻ. Phương châm hoạt động của Vành đai là vừa diệt địch vừa duy trì thế hợp pháp, phối hợp triệt để 3 mũi giáp công : quân sự, chính trị, binh vận duy trì thế bao vây cô lập  căn cứ Mỹ.
    Đánh Mỹ theo kiểu vành đai không phải là mới mẻ. Đó là những kinh nghiệm ở Chu Lai (Đà Nẵng ), Trảng Lớn (Tây Ninh).Nhưng ở những nơi ấy ta dựa vào địa hình rừng núi với lực lượng chủ yếu là du kích.Nét đặc biệt ở vành đai Rạch Kiến là sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của 3 mủi giáp công cùng sự tham gia đánh giặc của đông đảo  quần chúng nhân dân. Dồn mọi nỗ lực,hy sinh vào Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, Đảng bộ và quân dân Cần Đước- Cần Giuộc đã đưa phong trào toàn dân đánh giặc ở đây lên đến đỉnh cao, trở thành ngọn cờ đầu của tỉnh trong thời kỳ này. Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến đã gây tổn thất nặng nề và cô lập căn cứ Mỹ ở Rạch Kiến,làm thất bại hoàn toàn âm mưu triệt phá vùng giải phóng của ta ở Nam lộ 4 để nơi đây trở thành bàn đạp quan trọng ta tấn công vào Sài Gòn năm 1968. Chiến công của quân dân Cần Đước đã được tạc bằng chữ vàng trên bia đá ở di tích Ngã Tư Rạch Kiến để đời sau ghi nhớ:

     ''Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 9 quân viễn chinh Mỹ đánh chiếm Rạch Kiến lập căn cứ. Quân dân 2 huyện Cần Đước- Cần Giuộc với lực lượng vũ trang tỉnh lập nên ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến'' . Gần 1000 ngày chiến đấu dũng cảm, hy sinh gian khổ, quân dân ta tiêu diệt hơn 2000 tên giặc Mỹ, 17 máy bay, 20 xe thiết giáp, thu nhiều phương tiện chiến tranh. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Cần Đước- Cần Giuộc trên ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến'' là
đỉnh cao của chiến tranh nhân dân ở Long An góp phần đánh bại chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của Mỹ ở miền Nam-Việt Nam.''Năm 1996 ''Ngã Tư Rạch Kiến'' được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa (1460 QĐ-BT/28-6-1996).

19/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/rachkien.JPG
Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"
- Nhà Võ Công Tồn được xây dựng khoảng năm1910, theo kiểu chữ ''công'' (I) ba gian, hai chái với chất liệu bê tông, mái ngói. Năm 1984, do bị xuống cấp, ngôi nhà bị phá bỏ, chỉ tận dụng lại móng, nền, ngói để dựng ngôi nhà mới có diện tích 128m2. Trang trí bên trong nhà mang phong cách chung của các ngôi nhà khá giả cuối thế kỷ XIX với bao lam, hoành phi, câu đối. Nổi bật ở nhà Võ Công Tồn là bao lam với đề tài đa dạng được thể hiện sinh động bởi kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi, cẩn ốc xà cừ rất công phu và có giá trị về mặt điêu khắc, chạm gỗ.

 

Võ Công Tồn (1891 - 1942)

Địa thế nhà Võ Công Tồn rất tiện lợi để che mắt địch: cây cối rậm rạp, hàng rào cây xanh, hào sâu bao bọc và chỉ một cổng vào duy nhất là cầu bắt qua hào, đêm đến cầu được rút đi và có những chú chó tinh khôn canh gác. Cảnh quan di tích hiện nay vẫn không thay đổi nhiều. Nhân dân làng Long Hiệp vốn có truyền thống yêu nước, sẳn sàng chở che, đùm bọc cho những người yêu nước và các đảng viên Cộng sản, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng. Võ Công Tồn là một điển hình ấy. Ngôi nhà của ông là cơ sở tin cậy của các phong trào yêu nước:
- Thiên điạ hội, Hội kín Nguyễn An Ninh; nơi bác Tôn Đức Thắng tổ chức lớp học truyền bá tư tưởng cách mạng chống thực dân Pháp năm 1928; nơi sinh ra và lớn lên của nhà yêu nước Võ Công Tồn (1891-1942)- người đã cống hiến nhiều công, của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ Đảng còn non trẻ. Giáo sư Trần Văn Giàu đã ghi nhận: ''Võ Công Tồn cùng với Nguyễn An Ninh là hình ảnh của ''Núi Hai Vì'' hai tấm gương lớn về hoạt động cách mạng ở Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX''(1). HĐNN nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng ông Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1986; tên của ông được đặt cho một con đường tại tỉnh lỵ Long An.
- Khu Lò gạch Võ Công Tồn nằm về phía đông nam Nhà Võ Công Tồn, khoảng 1km. Trước kia khu Lò gạch có 3 lò sản xuất gạch ngói với hơn 300 công nhân. Hiện còn lại 1 lò gạch đã vỡ ¾ và một số nền móng sân nhà. Đây là nơi Võ Công Tồn sản xuất và kinh doanh gạch ngói tạo nguồn tài chính cung cấp cho Đảng, cơ sở tin cậy của Đảng bộ Chợ Lớn, Xứ ủy Nam kỳ và các phong trào yêu nước trước năm 1945; là nơi hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như Nguyễn An Ninh; nơi ra đời của chi Bộ Đảng ấp Lò Gạch năm 1935; nơi Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thị Minh Khai mở lớp học 20 ngày để tuyên truyền vận động cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin cho đông đảo công nhân Lò gạch năm 1936

''Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn'' đã được UBND tỉnh Long An đăng ký di tích lịch sử tại số 3639/QĐ-UB ngày 18/12/2000 và hiện nay (7-2003) đang trình Bộ VHTT nâng cấp thành di tích cấp quốc gia.
(1) : Trích bài phát biểu của Giáo sư Trần Văn Giàu trong hội thảo kỷ yếu của Võ Công Tồn 1995

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-upload-19 (1).JPG
Di tích khảo cổ học "Gò Ô Chùa" Di tích khảo cổ học "Gò Ô Chùa"
​ Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa, tọa lạc tại xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, cách biên giới Việt Nam- Campuchia khoảng 2 km.


     Tháng 5/1997, Bảo tàng Long An phối hợp với Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức cuộc khai quật Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa. Qua khai quật thu thập được những hiện vật như: xương, răng động vật, các mộ còn dấu tích di cốt người, các mộ vò có di cốt trẻ em; dọi xe chỉ; nhiều đồ gốm và mãnh gốm chạc ba với kích thước và hình dáng trang trí; nhiều công cụ sắt; hạt chuỗi đá quý, lục lạc và vòng đồng; mãnh khuôn đúc và nồi rót kim loại; nhiều vỏ trấu và hạt lúa.
     Qua khai quật phát hiện và thu thập những hiện vật, có thể xác định Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa thuộc văn hóa Óc Eo ở vùng Đồng Tháp Mười. 
     Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004 của Bộ Văn hóa và Thông tin .

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/dt_05go-o chua.jpg
Chùa Phước Lâm Chùa Phước Lâm
Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Vào năm 1880, một lương y kiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Vì có công với làng nên ông Minh khi mất được dân chúng tôn làm hậu hiền và đưa vào phối tự trong đình Tân Lân. Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là Phước Lâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (do lệ cử tên húy ông Minh). Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm 3 phần: Chánh điện -  hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu ''bánh ít'', có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vảy cá.

Toàn bộ cột chùa chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập Điện Diêm Vương, Thiện, Aùc, Hộ Pháp, Kim Cương…và nhiều bộ bao lam, hoành phi, liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ. Đa số tượng Phật có chất liệu gỗ, đồng được chế tác từ thế kỷ XIX với một phong cách nghệ thuật mang đậm nét văn hóa Phật giáo Nam Bộ.

     Có một pho tượng rất đặc biệt tạc một vị Bồ Tát mình mặc cà sa, tay cầm phất trần, ngồi trên long mã bằng gỗ. Những bộ bao lam, hoành phi, liễn đối đều được chạm trổ rất công phu và là sản phẩm của cánh nghệ nhân họ Đinh ở Tân Lân Cần Đước(1).

Đặc biệt nhất là bức hoành '' Pháp luân thường chuyển” chạm lộng nhiều lớp có dạng cuốn thư với chủ đề cúc trĩ. Chữ thọ được chạm nổi tách làm đôi ở hai đầu cuốn thư và 4 chữ pháp luân thường chuyển sơn đỏ trên nền vàng góp phần làm tăng đường nét tinh xảo, sinh động cho hoành phi.

Chùa Phước Lâm 

​      Đây là một trong những bức hoành đẹp nhất ở Long An chứng minh cho trình độ nghệ thuật điêu luyện của nghề chạm khắc gỗ ở Cần Đước đã phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Cũng như những ngôi chùa làng khác ở Nam Bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường theo đúng công thức ''Tiền Phật, Hậu Tổ''. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công- người lập chùa , và bàn thờ của họ Bùi. Phía Ðơng chánh điện là 4 ngôi mộ tháp khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật, cầu kinh như để xua đi bao nổi ưu phiền của cuộc sống đời thường và hòa đồng với nhau trong tình thương bao la của Phật. Nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên có viết: ''Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hình ảnh của một ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, nhưng tiếc rằng ngôi già lam thể hiện một mảng văn hóa Phật giáo Nam Bộ này lại đang bị hư hại trầm trọng theo sự tàn phá nhanh chóng của thời gian''. Vào năm 2001, chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia.Với tấm lòng quý yêu một di sản văn hóa của cha ông,trong tuong lai ngôi cổ tự này sẽ được các cơ quan chức năng và đồng bào phật tử hợp sức trùng tu, tôn tạo để mãi mãi là một danh lam, một niềm tự hào của nhân dân địa phương.

     (1) Cánh thợ họ Đinh ở Cần Đước làm nghề chạm gỗ đến nay đã 5 đời. Tổ của họ này là nghệ nhân Đinh Văn Trì (sinh khoảng 1841) đã truyền nghề cho các nghệ nhân nổi tiếng sau: Đinh Công Tùng, Đinh Công Cai (thế hệ thứ 2); Đinh Văn Tất, Đinh Công Tồn (thế hệ thứ 3); Đinh Văn Năm (thế hệ thứ tư) Cánh thợ họ Đinh đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng ở chùa Giác Lâm (TPHCM), Hội quán Nghĩa Nhuận, Xóm Nhà Giàu (Xã Thanh Phú Long -Châu Thành), nhà Ông Cai Bằng (Tân Ân - Cần Đước), nhà Bà Phủ Phải (Chợ Quán -TPHCM)

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/phuoclam.JPG
Thư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệpThư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệp

​THƯ NGỎ

Mời tham gia đặt banner liên kết đến website doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An tại địa chỉ www.longan.gov.vn

________

Với chức năng là cơ quan truyền thông đa phương tiện; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An luôn nỗ lực thực hiện sứ mệnh được giao, trong đó đặc biệt chú trọng chủ trương "đồng hành cùng doanh nghiệp" của lãnh đạo tỉnh bằng việc thông tin thường xuyên về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển tải kịp thời các chủ trương, chính sách phát triển cũng như tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Với nhiệm vụ là đầu mối thông tin điện tử, liên kết dịch vụ trực tuyến công của tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An là địa chỉ đáng tin cậy để doanh nghiệp truyền thông, quảng bá, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp.

Với thiện chí hợp tác cùng phát triển, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An cam kết cùng doanh nghiệp tạo nên những giá trị mới cho thương hiệu của doanh nghiệp và của tỉnh Long An. Đây là cơ hội để doanh nghiệp lựa chọn quảng bá thương hiệu, sản phẩm (kèm theo bảng giá đặt banner liên kết).

Rất mong nhận được sự hợp tác với quý công ty, doanh nghiệp./.

Tham khảo bảng giá tại đây.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Di tích lịch sử "Khu vực ngã tư Đức Hoà" Di tích lịch sử "Khu vực ngã tư Đức Hoà"
Ngã tư Đức Hòa tọa lạc tại trung tâm thị trấn Đức Hòa, được tạo thành bởi sự giao nhau của hai con lộ 9 và 10, cách TPHCM khoảng 22 km và cách thị xã Tân An hơn 40 km về hướng Nam. Tại đây, vào ngày 4/6/1930, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm- Bí thư Liên Tỉnh ủy Gia Định-Chợ Lớn và đồng chí Võ Văn Tần - Bí thư Huyện ủy Đức Hòa, khoảng 5000 đồng bào các xã trong huyện đã tham gia cuộc biểu tình hô vang khẩu hiệu đòi quyền dân sinh dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống lính vào làng đàn áp nhân dân.

     Xuất phát trên những ngã đường khác nhau từ các xã Bình Hòa, Thạnh Lợi, Hoà Khánh, Hựu Thạnh, Lương Hòa, Đức Hòa, Đức Lập, Mỹ Hạnh và các hướng còn lại, các đoàn gặp nhau tại khu vực ngã tư Đức Hòa vào lúc 17 giờ, và cùng tiến về phía Dinh Quận, đòi gặp quận trưởng Huỳnh Văn Đẩu (còn gọi quận Sành) để giải quyết các yêu sách của ta.

Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, quận Sành rất khiếp sợ không dám trực diện với nhân dân.Để đối phó với tình hình trên, địch phải xin điều binh tiếp viện. Đến 20 giờ được sự tiếp viện của địch từ hướng Chợ Lớn kéo đến- trong đó có cả cảnh sát Hóc Môn, Chợ Lớn và 20 lính mã tà của Sở cảnh sát Sài Gòn do tên cò Dreuil chỉ huy - quận Sành ra lệnh giải tán đoàn biểu tình, đe dọa quần chúng. Chúng tìm cách truy xét để tìm người cầm đầu cuộc biểu tình. Tất cả bọn lính đều được vũ trang, sẳn sàng dùng bạo lực để đàn áp đoàn người.

Khu vực Ngã tư Đức Hoà

​     Trước sự hung hăng của kẻ định, tinh thần của quần chúng không hề nao núng, đồng bào vẫn tiếp tục xiết chặt tay nhau tiến lên. Tên cò Dreuil ra lệnh bắn xả vào đoàn người, vài người đi đầu đã ngã xuống trước tầm súng địch trong tiếng la thét phẩn nộ của quần chúng. Trong tình thế căng thẳng trên, đồng chí Châu Văn Liêm nhanh chóng tiến lên phía trước gặp tên cò Dreuil để đưa bản yêu sách, đồng thời trực tiếp tranh luận vạch trần những hành động dã man và biết bao tội ác của địch bằng vốn tiếng Pháp thông thạo. Cuộc tranh luận kéo dài khoảng 15 phút, thì bất ngờ tên cò Dreuil rút súng lục bắn trúng vào giữa ngực đồng chí Châu Văn Liêm. Bọn lính vẫn ngoan cố tiếp tục nã súng vào đoàn biểu tình, làm thêm nhiều người chết và bị thương, cách dinh quận không đầy 100m. Đoàn biểu tình chựng lại, tản ra nhưng chưa hẳn giải tán. Mãi đến khi địch điều thêm lực lượng, bắt đi khoảng 100 người với sự thị thực của Thống đốc Nam Kỳ và Chủ tỉnh Chợ Lớn Renault thì cuộc biểu tình mới chấm dứt. Cuộc biểu tình bị dìm trong biển máu, nhưng nó đã gây chấn động lớn thời bấy giờ: Lần đầu tiên trong một vùng thôn quê yên tĩnh, đã nổ ra cuộc chạm trán quyết tử với kẻ thù vì lợi sống còn của hàng vạn người dân bị áp bức bóc lột từ bao đời nay. Cuộc biểu tình ngày 4/6/1930 ở Đức Hòa được xem là đỉnh cao của phong trào cách mạng tỉnh Tân An- Chợ Lớn năm 1930. Nó chứng minh cho khả năng lãnh đạo, vận động quần chúng đấu tranh của Đảng, và niềm tin một lòng theo Đảng của người dân Đức Hòa.

     Sang những năm 1940-1941, người dân Đức Hòa tiếp tục hưởng ứng và tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do Đảng lãnh đạo ngay chính trên quê hương mình. Sau Nam Kỳ khởi nghĩa, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của quần chúng. Cũng trong thời điểm này, ở thị trấn Đức Hòa một đài xử bắn được lập nên để hành hình những chiến sĩ tham gia cuộc khởi nghĩa. Đài xử bắn được đắp hình cung (mang vóc dáng hình móng ngựa), chổ cao nhất tới 3m, dày 1m, phía trước chôn từ 4 đến 5 cọc gỗ để trói những chiến sĩ cách mạng trước khi xử bắn. Tại đây, trong 3 ngày 7-8-9/7/1941, bọn chúng đã liên tiếp xử bắn các đồng chí: Nguyễn Văn Dương (tự Vườn), Nguyễn Văn Nai, Trần Văn Móng, Phạm Văn Tuội, Nguyễn Văn Giỗ, Lê Văn Lao, Đỗ Văn Mộc, Ngô Văn Diệp, Đỗ Văn Tiệp, Nguyễn Văn Sáu, Đỗ Văn Bá. Súng nổ, máu đỏ cả trường bắn. Các chiến sĩ ta hy sinh trong sự tiếc thương của bà con khắp thị trấn Đức Hòa hôm đó.

     Khu vực Ngã tư Đức Hòa với những địa điểm như: Dinh Quận gắn với cuộc biểu tình ngày 4/6/1930 của hơn 5000 nhân dân Đức Hòa; Đài xử bắn các chiến sĩ tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940-1941…là những chứng tích lịch sử tố cáo tội ác của bọn thực dân xâm lược, và là niềm tự hào của người dân Đức Hòa nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung về tinh thần đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy nền độc lập tự do. Ngày 5/9/1989, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định số 1570-VH/QĐ công nhận Khu vực Ngã tư Đức Hòa là di tích lịch sử cấp Quốc gia.

19/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/ngatuduchoa.JPG
Di tích nghệ thuật đình Vĩnh Phong Di tích nghệ thuật đình Vĩnh Phong
Có dịp xuôi dòng kinh Trà Cú, đến vàm Rạch Cây Gáo du khách sẽ nhìn thấy một ngôi đình cổ nằm soi bóng bên dòng nước - đó là đình Vĩnh Phong, nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa, người đã có công khai cơ lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của Thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

      Khoảng cuối thế kỷ XVIII, ông Mai Tự Thừa đến làng Bình Lương Tây khai khẩn một dây đất 4 mẩu dọc theo kinh Trà Cú (kinh Thủ Thừa) và cất một ngôi quán nhỏ ở bờ kinh để buôn bán. Do quán của ông ở ngay giáp nước kinh Trà Cú nên ghe thương hồ tụ hội mua bán, trao đổi rất đông, dân cư tìm đến sinh sống ngày một nhiều. Vì thế ông Mai Tự Thừa đã đắp đường, làm bến ghe và lập một cái chợ bằng lá để có nơi mua bán, đó chính là chợ Thủ Thừa ngày nay. 

Đình Vĩnh Phong

      Dần dần, dân số xung quanh khu vực chợ phát triển, ông Mai Tự Thừa liền làm đơn xin tách khỏi làng Bình Lương Tây, lập làng mới lấy tên là làng Bình Thạnh. Ông còn hiến một khoảnh đất để cất đình làng - đó chính là tiền thân của đình Vĩnh Phong ngày nay. Tương truyền, ông Mai Tự Thừa đã đóng góp nhiều công của trong việc nạo vét kinh Trà Cú vào năm 1829 và tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi rồi mất tích. Vì thế, tài sản của ông gồm cái chợ và ruộng đất bị triều đình sung công và phát mãi, vợ con ông cũng bị lưu đày. Làng Bình Thạnh do ông lập cũng bị đổi tên thành làng Vĩnh Phong, đình làng cũng bị dời đi nơi khác. Mãi sau này khi Thực dân Pháp chiếm Nam Bộ, Triều Nguyễn không còn thế lực ở phương Nam nên đồng  bào quanh chợ Thủ Thừa mới quyên tiền xây cất lại đình Vĩnh Phong năm 1886 và đưa bài vị ông Mai Tự Thừa vào thờ với 7 chử hán: ''Tiền hiền Mai Tự Thừa – Chủ thị''.

      Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất vào năm 1998, đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Hiện tại đình Vĩnh Phong nằm trong khuôn viên 1132m2 với 3 lớp nhà: võ ca, võ quy, chánh điện trông ra kinh Thủ Thừa. Chánh điện đình Vĩnh Phong được xây dựng theo lối cổ với kết cấu cột tứ trụ, mái lợp ngói âm dương, trên nóc có đôi rồng bằng sành trong tư thế lưỡng long tranh châu. Bên trong chánh điện được bài trí rất trang nghiêm với 2 lớp bao lam, 3 bàn thờ, Long Đình và Lỗ Bộ. Bao lam bên ngoài là tuyệt tác của cánh thợ Thủ Dầu Một có niên đại Mậu Ngọ (1918). Các nghệ nhân đã thể hiện trên bao lam này các đề tài truyền thống như Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Tứ hữu (Mai, Lan, Cúc, Trúc), Bá điểu quy sào. Bên trên bao lam có những khung gỗ kết cấu theo kiểu ô hộc chạm long hình tượng Long Mã, Mai Lộc, Cuốn thư, Cá hóa Long, Dơi, hết sức tinh xảo. Trước bàn thờ chính là bộ bao lam cổ có niên đại Bính Tuất (1886). Vẫn là đề tài tứ hữu, nhưng các chi tiết trên bộ bao lam này được tạo dáng to khỏe mang phong cách cuối thế kỷ XIX. Nét đặc biệt ở bao lam này là nghệ thuật sơn son thếp vàng hết sức tinh xảo. Trải qua thời gian hơn 100 năm mà bộ bao lam này vẫn còn nguyên vẻ rực rở như buổi ban đầu. Chánh điện đình Vĩnh Phong hiện còn 2 bức hoành phi cổ cùng 8 cặp liễn đối có giá trị niên đại Bính Tuất (1886) và Bính Thìn (1916). Đa số các câu đối đều viết theo lối quán thủ (2 chữ đầu của 2 câu đối ghép lại thành tên Đình hoặc tên Thủ Thừa). Đặc biệt cặp liển ở bàn thờ ông Mai Tự Thừa:

''Tiền chấn anh linh ư bách thế
Hiền lưu danh dự tại thiên thu''

đã nêu bật được công lao to lớn của ông và tấm lòng tri ân sâu sắc của nhân dân Thủ Thừa đối với ông. Chính vì lẽ đó mà ngày nay hàng loạt địa danh ở Long An được đặt là Thủ Thừa như kinh Thủ Thừa (kinh Trà Cú), chợ Thủ Thừa, quận Thủ Thừa (có từ năm 1922). Trên mảnh đất ngày xưa ông Mai Tự Thừa đã quy dân, lập chợ, lập làng, vét kinh, đắp lộ, ngày nay là một thị trấn dân cư đông đúc, kinh tế thịnh vượng, đình Vĩnh Phong vẫn còn đó như nhắc nhở cho chúng ta về một thời đã qua. Đến với đình Vĩnh Phong, chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân thời trước, hiểu thêm về những đóng góp lớn lao của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta. Với ý nghĩa ấy, đình Vĩnh Phong đã được Bộ VHTT ra quyết định xếp hạng là di tích Quốc gia vào ngày 31/8/1998.

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/vinhphong.JPG
Khu di tích khảo cổ học Bình Tả  Khu di tích khảo cổ học Bình Tả 
Khu di tích khảo cổ học Bình Tả , xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa , tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thị xã Tân An, cách Tân An 40 Km theo lộ trình Tân An- Bến Lức- thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 824 (tình lộ 9 cũ) tám trăm mét về phía đông.

  Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được 
 

Hiện vật vàng phát hiện tại Gò Xoài : 2 bông sen vàng và 1 mề đay nạm ngọc.

khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 16 di tích kiến trúc phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Từ phát hiện đầu tiên của nhà khảo cổ học người Pháp - H. Parmentier vào năm 1910;Năm 1931 J.Y. Claeys khai quật một di tích kiến trúc được xây bằng gạch ở phía tây nam cụm di tích này (Gò Tháp Lấp), đến nay di tích này đã bị hủy hoại , di vật bị thất lạc. Trong 2 năm 1987-1988, Sở Văn Hóa Thông tin phối hợp với Viện Khoa Học Xã Hội tại thành phố Hồ Chí Minh khai quật 3 di tích trong khu vực này.
     1.Di tích Gò Đồn 
: là loại kiến trúc đền tháp xây bằng gạch , chiều dài đông- tây 78,5 mét; chiều ngang chỗ rộng nhất đo được 60 mét (chiều bắc- nam), toàn bộ kiến trúc trước khi khai quật đều nằm trong lòng đất , chỗ gần mặt đất nhất là 0,4 mét. Cuộc khai quật đã thu thập được nhiều hiện vật bằng đá như tượng thần Dvarapala (thần giữ đền), đầu tượng thần Ganesa (phúc thần), nhiều vật thờ như linga, yoni, mi cửa chạm trổ hoa văn hình hoa lá, máng dẫn nước thiêng (somasutra)…và nhiều đồ gốm cổ . Trong hố thờ trung tâm của di tích sâu khoảng 3 mét còn có một linh vật yoni đã vỡ và nhiều viên đá cuội – được đoán định là đá thờ.
     Với kiểu dáng kiến trúc và những linh vật được phát hiện trong lòng di tích, có thể xác định Gò Đồn là một di tích kiến trúc Ấn Độ Giáo , thuộc văn hóa Óc Eo.

     2.Di tích Gò Xoài
 : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch , có dạng gần vuông với mỗi cạnh dài khoảng 20 mét , nền móng của kiến trúc có cấu tạo rất chắc chắn và phức tạp , gồm nhiều loại vật liệu khác nhau như cuội basalt (badan), sỏi đỏ, cát trắng, cát hồng…Kiến trúc Gò Xoài có hố thờ hình vuông ,cạnh 2,2 mét; sâu trên 2,5 mét, ở gần đáy hố thờ đã phát hiện được tro xương và một sưu tập hiện vật quý giá gồm nhiều mảnh vàng nhỏ, mỏng khắc chạm hình những linh vật như rùa, rắn, voi, những chiếc nhẫn và mề đay nạm đá quý và một bản văn minh Sanskrit-Pail gồm 5 dòng : dòng thứ nhất ghi một đoạn Pháp Thân Kệ, dòng thứ hai ghi một đoạn Kinh Pháp Cú (cả hai đoạn minh văn trên đều thuộc về Phật Giáo), dạng mẫu tự trên minh văn này được nhận định thuộc loại mẫu tự Nam ấn ( Deccan ), thếkỷ VIII-IX Công nguyên. Qua phát hiện trên, kiến trúc Gò Xoài được nhận định là một di tích stupa của Phật Giáo, có niên đại sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.
    3. Di tích Gò Năm Tước : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch, dài 17,20 mét; rộng 11,10 mét, phần trên của kiến trúc đã bị mất nhưng ở phần nền móng còn giữ được những đặc điểm của kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo như cấu trúc bẻ góc, các đường móng gạch rất thẳng, tam quan hình bán nguyệt hướng về phía đông … là cơ sở để nhận định đây là một kiến trúc đền thờ Ấn Độ Giáo.
Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực- tôn giáo của người xưa. Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối của hai chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ , phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (khu Bình Tả) : 1.588 ±56 năm cách ngày nay.
     Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa- Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích : Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Prei Kuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Kampuchia. Khu di tích khảo cổ học Bình Tả đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại quyết định số 1570/VH-QĐ ngày 5/9/1989./.
18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-new.JPG
Di tích lịch sử Bình Thành Di tích lịch sử Bình Thành
Bình Thành là một vùng đất trũng thấp có nhiều bưng trấp xen lẫn với những giồng đất cao tạo nên một địa hình khá phức tạp thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Khu vực này nằm ở vị trí tiếp giáp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào nước bạn Campuchia. Với những điều kiện ấy, Bình Thành đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong 2 cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ.

​     Từ sau khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940), đã có hơn 100 nghĩa quân Tân An-Chợ Lớn dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Lưu Dự Châu, Lê Văn Tưởng đến khu vực Bình Thành lập nên căn cứ Mớp Xanh. Căn cứ này chỉ tồn tại được 8 tháng thì có lệnh giải tán của Xứ ủy, vì không có điều kiện khởi nghĩa lần 2. Tuy nhiên căn cứ Mớp Xanh đã tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của căn cứ Tỉnh ủy sau này.

binhthanh.JPG
Bình Thành

  Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực Bình Thành là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7 với tên gọi “Quân khu Đông Thành”. Các cơ quan cấp Nam Bộ như văn phòng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, các sở trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ cũng có thời gian đóng quân ở Quân khu Đông Thành. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các lực lượng cách mạng.
 

 

     Để bảo toàn lực lượng, một số cán bộ, đảng viên của hai tỉnh Tân An- Chợ Lớn đã rút lên Bình Thành. Trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang, những chiến sĩ cách mạng đóng tại Bình Thành đã lợi dụng danh nghĩa quân giáo phái để thành lập nên Bộ tư lệnh Trung Nam Bộ- lực lượng vũ trang đầu tiên của Khu 8 và Nam Bộ sau 1954. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sát nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn.
   Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn Bình Thành làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong khu vực Bình Thành, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc đứng chân hoạt động lâu nhất chính là Giồng Ông Bạn thuộc khu vực Bình Thành trong thời gian mở đầu và kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ(1960-1961)-(1973-1975).

      Từ căn cứ Bình Thành, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Với một diện tích không rộng, địa hình tuy có hiểm trở nhưng không thể hoàn toàn dựa vào đó để tồn tại và chống lại những phương tiện chiến tranh hiện đại của địch nhưng căn cứ Bình Thành vẫn kiên gan thách thức với kẻ thù. Đó là nhờ tấm lòng thương yêu đùm bọc của nhân dân, sự linh động, sáng tạo của Tỉnh ủy. Có thể nói căn cứ Bình Thành là căn cứ của lòng dân.

      Trải qua hai cuộc chiến tranh và tác động của tự nhiên, con người, đến nay khu căn cứ Tỉnh ủy đã thay đổi khá nhiều so với ban đầu. Ở Giồng Ông Bạn - nơi Tỉnh ủy đóng lâu nhất chỉ còn lại dấu vết của nhà cửa, cơ quan, hầm trú ẩn . . . và hàng chục hố bom lớn nhỏ. Đây đó xung quanh khu vực Bình Thành vẫn còn lại nhiều dấu tích, những địa danh vang bóng một thời phản ánh quá trình hoạt động của Đảng bộ và quân dân Long An trong hai thời kỳ kháng chiến như:

     - Giồng Dinh xã Mỹ Thạnh Tây - Nơi đặt tổng hành dinh của Trung tướng Nguyễn Bình.
     - Trấp tre - Nơi ra đời của Bộ tư lệnh Trung Nam Bộ.
     - Hội đồng Sầm: Nơi thành lập của Mật trận dân tộc giải phóng tỉnh Long An.
     - Giồng Ông Tưởng: Nơi thành lập Tiểu đoàn I ba lần được phong danh hiệu anh hùng.
     - Xóm công đoàn: Nơi nhân dân đào địa đạo dưới lòng đất để bám trụ căn cứ, ủng hộ cách mạng.

     Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, năm 1996 Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Long An các thời kỳ đã về lại Bình Thành, xác định những điểm mà Tỉnh ủy từng hoạt động năm xưa. Ban quản lý dự án xây dựng khu di tích lịch sử cách mạng cũng được thành lập với nhiệm vụ phục hồi tôn tạo lại di tích lịch sử căn cứ Bình Thành với quy mô ban đầu là 93 ha tại xã Bình Hòa Hưng-Đức Huệ. Năm 1998, Bộ VHTT đã ra quyết định xếp hạng Căn cứ Bình Thành là di tích lịch sử cấp quốc gia. Một dự án xây dựng các công trình tưởng niệm như đền thờ, bia, đài...và tái tạo các di tích gốc được vạch ra và từng bước thực hiện để trong tương lai khách tham quan có thể phần nào hiểu được hoàn cảnh sống, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta thời kỳ kháng chiến. Với sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Long An, di tích lịch sử căn cứ Bình Thành sẽ trở thành một công trình truyền thống lịch sử-văn hóa-du lịch quan trọng của tỉnh nhà

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Bảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnhBảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnh

1. Giá 1 tháng (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang1.500.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ1.200.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong700.000

2. Giá 1 năm (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang15.000.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ12.000.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong7.000.000

 

▪ Chính sách:

Để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tham gia quảng bá hình ảnh, thông tin về hoạt động và sản phẩm của doanh nghiệp, tổ chức mình, Cổng Thông tin điện tử Long An có chính sách như sau:

- Giảm 20% giá đặt liên kết của Banner/Logo thứ 2 đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 2 (sản phẩm thứ 2 của doanh nghiệp);

- Giảm 40% giá đặt liên kết của mỗi Banner/Logo thứ 3 trở lên đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 3 trở lên (sảm phẩm thứ 3 trở lên của doanh nghiệp).

▪ Thông tin liên hệ: 

- Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Điện thoại: 0723 552489 hoặc 0918 700 837.

- E-mail: webmaster@longan.gov.vn.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020  Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020 
Với mục tiêu phát huy lợi thế tiềm năng của các lĩnh vực sản xuất  thủy sản trên địa bàn tỉnh và phát triển ngành thủy sản theo hướng ổn định và bền vững. Chuyển dịch và phát triển một cách có hiệu quả các lĩnh vực sản xuất thủy sản theo hướng tập trung tại các huyện vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh, cân đối phát triển thủy sản tại vùng hạ phù hợp với tiến trình phát triển công nghiệp, đô thị của tỉnh.

Đồng thời, xây dựng được các phương án phát triển đến các năm mốc 2015 và 2020 của ngành thủy sản dựa trên những phân tích, đánh giá các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến ngành thủy sản của tỉnh và các giải pháp có tính khả thi để thực hiện được các phương án quy hoạch. Hướng ngành thủy sản của tỉnh phát triển ổn định và bền vững.

Ngày 01/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 2224/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu cụ thể của quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị gia tăng ngành thủy sản (Nuôi trồng thủy sản và Khai thác thủy sản) thời kỳ 2012-2020 là 3,7%/năm; trong đó, giai đoạn 2012 – 2015 đạt 2,5%/năm và giai đoạn 2016 – 2020 đạt  4,5%/năm.

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tăng bình quân 4,1%/năm thời kỳ 2012 – 2020; trong đó giai đoạn 2012 – 2015 tăng 2,6%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 5,0%/năm.

Vùng 1 (vùng Đồng Tháp Mười): Đây là vùng nước ngọt quanh năm, bao gồm một phần các huyện Đồng Tháp Mười: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Đức Huệ, TX. Kiến Tường, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 2.790 ha tăng lên 5.777 ha (2020). Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 16.948 tấn tăng lên 32.552 tấn (2020), với các đối tượng nuôi chủ lực: Tôm càng xanh, cá lóc, cá tra, cá điêu hồng, cá rô đầu vuông, cá rô phi đơn tính, cá chạch lấu.

Vùng 2 (Vùng giữa): Bao gồm các huyện phía Đông Bắc của tỉnh: Đức Hòa, Bến Lức và TP. Tân An, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 585 ha tăng lên 734 ha (2020). Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 7.191 tấn tăng lên 10.365 tấn (2020), các đối tượng nuôi chính: Cá nước ngọt truyền thống, chủ lực là nuôi cá tra ở huyện Đức Hòa.

Vùng 3 (Vùng hạ): Vùng sinh thái mặn lợ bao gồm các huyện Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành và Tân Trụ, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 4.551 ha và đến năm 2020 là 4.769 ha. Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 13.384 tấn tăng nhẹ lên 15.743 tấn (2020), các đối tượng nuôi chính: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển, cá mặn lợ (cá chẽm, cá kèo, cá chim).

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực khai thác thủy sản tăng bình quân 1,2%/năm thời kỳ 2012 – 2020; trong đó giai đoạn 2012 – 2015 tăng 1,3%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 1,1%/năm.

Quy hoạch các khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản: Huyện Vĩnh Hưng (Khu Bàu Biển – xã Vĩnh Trị với diện tích 100 ha, khu đất trũng hai bên sông Lò Gạch – xã Vĩnh Trị có diện tích 54 ha và rạch Tà Me 85 ha); Huyện Tân Hưng (Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen với đặc thù là vùng trũng nên khu bảo tồn này là nơi cư trú lý tưởng của nhiều loài thủy sản, trong đó có những loài thủy sản quý hiếm như cá Tra Dầu, đồng thời cũng là bãi đẻ của nhiều loài thủy sản cung cấp một sản lượng giống tự nhiên lớn cho vùng Đồng Tháp Mười).

Việc phát triển thủy sản của tỉnh phải đặt trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến tiêu thụ, khai thác phải đi đôi với bảo vệ nguồn lợi, tiếp tục mở mang thị trường tiêu thụ cho xuất khẩu, đặc biệt chú trọng cung cấp các loại thủy sản nuôi tươi sống cho thị trường trong nước, nhất là nội tỉnh và TP. Hồ Chí Minh, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Và phát triển thủy sản của tỉnh phải gắn với việc tổ chức lại sản xuất dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ mới, tiên tiến, nhằm tăng năng suất, chất lượng và thân thiện với môi trường.

TV

09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành
Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh
Xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Long An với các chỉ tiêu sau:

QHSDĐ LA 2020.jpg

1. Diện tích, cơ cấu các loại đất:

STT

Loại đất

Hiện trạng năm 2010

Quy hoạch đến năm 2020

Din tích (ha)

Cơ cấu (%)

Quốc gia phân b(ha)

Tỉnh xác định (ha)

Tổng số

Diện tích (ha)

Cơ cu (%)

 

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

449.235

100,00

 

 

449.235

100,00

1

Đất nông nghiệp

361.637

80,50

327.558

2.537

330.095

73,48

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

258.602

71,51

245.000

859

245.859

74,48

 

Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước (2 vụ trở lên)

232.499

 

243.280

661

243.941

 

1.2

Đất trồng cây lâu năm

17.138

4,74

 

10.041

10.041

3,04

1.3

Đất rừng phòng hộ

1.617

0,45

5.050

0

5.050

1,53

1.4

Đất rừng đặc dụng

2.000

0,55

4.200

0

4.200

1,27

1.5

Đất rừng sn xuất

40.253

11,13

40.825

0

40.825

12,37

1.6

Đất nuôi trồng thủysản

8.451

2,34

8.500

0

8.500

2,58

2

Đất phi nông nghiệp

87.598

19,50

121.677

 

119.140

26,52

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

2.1

Đt xây dựng trụ sở cơ quan, côngtrình sự nghiệp

381

0,43

 

809

809

0,68

2.2

Đất quốc phòng

329

0,38

972

0

972

0,82

2.3

Đất an ninh

477

0,54

2.027

0

2.027

1,70

2.4

Đất khu công nghiệp

8.370

9,56

11.964

3.154

15.118

12,69

-

Đất xây dựng khu công nghiệp

6.911

-

11.964

0

11.964

 

-

Đất xây dựng cụm công nghiệp

1.459

 

 

3.154

3.154

 

2.5

Đất cho hoạt động khoáng sản

205

0,23

 

0

 

 

2.6

Đất di tích danh thắng

117

0,13

1.430

-203

1.227

1,03

2.7

Đất bãi thải, xử lý chất thải

1.822

2,08

2.161

-80

2.081

1,75

2.8

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

234

0,27

 

240

240

0,20

2.9

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

1.080

1,23

 

1.362

1.362

1,14

2.10

Đất phát triển hạ tầng

29.354

33,51

39.400

793

40.193

33,74

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

-

Đất cơ sở văn hóa

1.110

 

1.123

488

1 .611

 

-

Đt cơ sở y tế

71

 

103

76

179

 

-

Đất cơ sở giáo dục - đào tạo

809

 

1.606

7

1.613

 

-

Đất cơ sở thể dục - thể thao

295

 

684

506

1.190

 

2.11

Đất ở tại đô thị

3.008

3,43

4.515

0

4.515

3,79

3

Đất chưa sử dụng

0

 

0

 

0

 

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

0

 

0

 

0

 

3.2

Diện tích đưa vào sử dụng

0

 

0

 

0

 

4

Đất đô thị

20.065

4,47

 

26.106

26.106

5,81

5

Đất khbảo tồn thiên nhiên

 

 

 

5.230

5.230

1,16

6

Đất khu du lịch

 

 

 

385

385

0,09

2. Diện tích chuyển mục đích sử dụng đất:

Đơn vị tính: ha

STT

Chỉ tiêu

Cả thời kỳ 2011-2020

Giai đoạn 2011-2015

Giađoạn 2016-2020

1

Đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp

31.741

17.128

14.613

1.1

Đất trồng lúa

12.232

6.957

5.275

1.2

Đất trồng cây lâu năm

5.364

3.336

2.028

1.3

Đất rừng sản xuất

2.954

1.394

1.560

1.4

Đất nuôi trồng thủy sản

336

197

139

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

 

 

2.1

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất lâm nghiệp

2.077

1.373

704

2.2

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

59

 

59

2.3

Đất rừng sản xuất chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

10

 

10

(Vị trí các loại đất trong quy hoạch sử dụng đất được thể hiện trên Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tỷ lệ 1/100.000 dỦy ban nhân dân tỉnh Long An xác lập ngày 15 tháng 01 năm 2013).

Xét duyệt kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của tỉnh Long An với các chỉ tiêu sau:

1. Phân bổ diện tích các loại đất trong kỳ kế hoạch:

Đơn vị nh: ha

STT

Chỉ tiêu

Hiện trạng năm 2010

Diện tích đến các năm

Năm 2011*

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

 

TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN

449.235

449.235

449.235

449.235

449.235

449.235

1

Đất nông nghiệp

361.637

360.243

357.070

354.507

351.445

344.663

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

258.602

257.800

256.603

255.059

253.655

250.283

 

Trong đó: đất chuyên trồng lúanước (2 vụ trở lên)

232.499

232.052

233.694

235.166

236.749

237.669

1.2

Đất trồng cây lâu năm

17.138

16.933

16.220

15.559

14.706

13.039

1.3

Đất rừng phòng hộ

1.617

1.617

2.066

2.615

3.089

3.834

1.4

Đất rừng đặc dụng

2.000

2.000

2.297

2.647

2.997

3.347

1.5

Đất rừng sản xuất

40.253

40.200

39.547

39.743

40.026

40.650

1.6

Đất nuôi trồng thủysản

8.451

8.462

8.473

8.484

8.396

8.463

2

Đất phi nông nghiệp

87.598

88.992

92.165

94.728

97.790

104.572

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

2.1

Đất xây dựng TSCQ, CTSN

381

414

441

484

519

614

2.2

Đất quốc phòng

329

329

336

475

516

868

2.3

Đất an ninh

477

477

1.947

1.973

1.987

2.015

2.4

Đất khu công nghiệp

8.370

8.370

8.343

8.879

9.472

11.057

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

-

Đất xây dựng khu công nghiệp

6.911

6.911

6.911

7.219

7.537

7.893

-

Đất xây dựng cụm công nghiệp

1.459

1.459

1.432

1.660

1.935

3.164

2.5

Đất cho hoạt động khoáng sản

205

205

 

 

 

 

2.6

Đất di tích danh thắng

117

117

227

227

227

962

2.7

Đất xử lý, chôn lấp chất thải

1.822

1.823

1.846

1.862

1.909

1.925

2.8

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

234

234

234

234

234

240

2.9

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

1.080

1.084

1.088

1.092

1.094

1.217

2.10

Đất phát triển hạ tầng

29.354

30.048

30.772

31.772

33.006

35.402

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

-

Đất cơ sở văn hóa

1.110

1.132

1.159

1.198

1.267

1.344

-

Đất cơ sở y tế

71

71

77

83

123

140

-

Đất cơ sở giáo dục - đào tạo

809

840

885

1.039

1.214

1.351

-

Đất cơ sở thể dục - thể thao

295

309

329

379

424

531

2.11

Đất ở tại đô thị

3.159

3.159

3.365

3.531

3.704

4.009

3

Đất chưa sử dụng

0

0

0

0

0

0

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

0

0

0

0

0

0

3.2

Diện tích đưa vào sử dụng

0

0

0

0

0

0

4

Đất đô thị

20.065

657

20.820

21.575

22.330

23.086

5

Đất khu bảo tồn thiên nhiên

 

 

 

 

 

5.230

6

Đất khu du lịch

 

 

 

 

 

385

Ghi chú: * Diện tích kế hoạch năm 2011 là số liệu ước thực hiện đến ngày 31 tháng 12 năm 2011

2. Kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất:

Đơn vị tính: ha

STT

Chỉ tiêu

Diện tích chuyển MĐSD trong kỳ

Diện tích đến các năm

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

1

Đt nông nghiệp chuyn sang đt phi nông nghiệp

17.128

1.394

3.173

2.563

3.121

6.877

1.1

Đất trồng lúa

6.957

791

995

1.245

1.129

2.797

1.2

Đất trồng cây lâu năm

3.336

205

563

511

653

1.404

1.3

Đất rừng sản xuất

1.394

53

928

129

84

200

1.4

Đất nuôi trồng thủy sản

197

 

 

 

158

39

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

 

 

 

 

 

2.1

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất lâm nghiệp

1.373

 

266

369

319

419

 

Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An có trách nhiệm:

1. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt; việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất chặt chẽ từ cấp tỉnh đến cấp xã; có giải pháp cụ thể để huy động vốn và các nguồn lực khác để thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Tỉnh;

2. Xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng cần bảvệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực giữ nhiều đất trồng lúa; khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm bù lại phần diện tích đất nông nghiệp do bị chuyển mục đích sử dụng;

3. Chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch, trong đó cần phải thu hồi cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để tạo nguồn vốn cho phát triển, tạo quỹ đất đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội; đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật. Đẩy mnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;

4. Quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng; giám sát chặt chẽ quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch nhằm ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các trường hp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng;

5. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật đất đai để người dân nắm vững các quy định của pháp luật, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững;

6. Định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân Tỉnh có báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để Chính phủ tổng hợp báo cáo Quốc hội.

 

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Khu công nghiệp Thuận ĐạoKhu công nghiệp Thuận Đạo
Khu công nghiệp Thuận Đạo tọa lạc tại trung tâm thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Tỉnh Long An được xem là "sân sau" của Tp. HCM và là cửa ngõ giao thương chính yếu duy nhất giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long.

http://www.longan.gov.vn/Documents/1-Ban%20do.jpg 

THÔNG TIN KHU CÔNG NGHIỆP THUẬN ĐẠO

I.      TỔNG QUAN KHU CÔNG NGHIỆP

  1. Chủ đầu tư:

    CÔNG TY CỔ PHẦN KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG TÂM

    -      Địa chỉ  : KCN Thuận Đạo, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

    -      Điện thoại         : +84 72 387 2233                      Fax        : +84 72 387 2696

    -      Email         : sales@thuandao.com             Website : www.thuandao.com
  1. Quy mô: 189.843 ha
  2. Sản phẩm:

    -      Đất công nghiệp cho thuê.

    -      Đất dịch vụ thương mại: Nhà hàng, trung tâm thể dục thể thao…

    -      NX – VP cho thuê (nhà xưởng tiêu chuẩn hoặc thiết kế theo yêu cầu Khách hàng).
  1. Thời gian sử dụng đất: 50 năm (đến 09/2061)
  2. 09 lợi ích cho Nhà đầu tư khi đầu tư vào KCN Thuận Đạo:

    1)     Vị trí thuận lợi: Khu công nghiệp Thuận Đạo tọa lạc tại trung tâm thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

    Tỉnh Long An được xem là "sân sau" của Tp. HCM và là cửa ngõ giao thương chính yếu duy nhất giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long.

    2)     Thuận tiện giao thông: KCN Thuận Đạo kết nối hệ thống giao thông quốc gia dễ dàng và thuận tiện:

    -      Đường bộ: Quốc lộ 1A, Đường Vành đai 3, Vành đai 4, Đường cao tốc Tp. Hồ Chí Minh – Trung Lương – Cần Thơ, Tỉnh lộ 19.

    -      Đường thủy: Cảng Bourbon Bến Lức, Cảng Quốc tế Long An – tỉnh Long An, Cảng Hiệp Phước; Cảng Cát Lái – Tp. HCM

    -      Đường hàng không: Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất – Tp. HCM. Sân bay Quốc tế Long Thành – Đồng Nai;

    3)     Thời gian sử dụng đất: Nhà đầu tư được sử dụng đất 50 năm và không phải trả tiền sử dụng đất hàng năm.

    4)     Nhân lực – Đào tạo: KCN hỗ trợ Nhà đầu tư tuyển dụng nguồn nhân lực. Cán bộ quản lý cao cấp, nhân viên kỹ thuật, tuyển dụng từ Tp. Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Công nhân kỹ thuật được đào tạo tại các trường kỹ thuật (Trung cấp Việt Nhật, Trung cấp Kỹ thuật Long An, Cao đẳng nghề Long An). Lao động phổ thông tuyển dụng tại địa phương và khu vực lân cận.

    5)     Thủ tục "Một cửa một dấu": Nhà đầu tư được phục vụ các thủ tục một cửa, một dấu nhanh chóng và không tốn chi phí: cấp phép đầu tư, mã số thuế, con dấu, …

    6)     Dịch vụ tư vấn miễn phí: Nhà đầu tư được cung cấp miễn phí các dịch vụ tư vấn hồ sơ môi trường, thiết kế, xây dựng, hoàn công, sở hữu công trình, thủ tục hải quan, thuế, ngân hàng, kế toán, vay vốn Ngân hàng đầu tư xây dựng nhà xưởng và máy móc thiết bị …

    7)     Giá ưu đãi các sản phẩm vật liệu xây dựng: Nhà đầu tư được cung cấp với giá ưu đãi các sản phẩm vật liệu xây dựng từ hệ thống DongTam Group như: Bê tông tươi, cống ly tâm, gạch ốp lát, ngói, sơn, cửa nhựa lõi thép, thiết bị vệ sinh.

    8)     Tiện ích: Nhà đầu tư được sử dụng các dịch vụ & tiện tích gia tăng như điện, nước, nhiên liệu (khí thiên nhiên CNG) được cung cấp đến tận nhà máy với giá cả cạnh tranh và các tiện ích khác như: nhà lưu trú công nhân, chuyên gia; trung tâm thể dục thể thao, Văn phòng Hải quan, Kho ngoại quan, Ngân hàng, …

    9)     Môi trường Khu công nghiệp: KCN Thuận Đạo là một trong những khu công nghiệp tư nhân đầu tiên tại Việt Nam được tổ chức JICA – Nhật Bản chọn thí điểm tài trợ vốn phát triển dịch vụ tiện ích gia tăng, đảm bảo xử lý triệt để ô nhiễm môi trường từ ngành xi mạ, dệt nhuộm.

    F.    Tiếp nhận các ngành nghề:

    1)     Nhóm các dự án về cơ khí, xi mạ.

    2)     Nhóm các dự án về dệt nhuộm và may mặc.

    3)     Nhóm các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, ngoại trừ tấm lợp fibro xi măng

    4)     Nhóm các dự án về giao thông: Dự án sản xuất bê tông nhựa nóng.

    5)     Nhóm các dự án về năng lượng, phóng xạ: Dự án sản xuất dây, cáp điện

    6)     Nhóm các dự án điện tử, viễn thông.

    7)     Nhóm các dự án về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.

    8)     Nhóm các dự án về xử lý chất thải:  Dự án xây dựng cơ sở xử lý, tiêu hủy chất thải công nghiệp không nguy hại.

    9)     Nhóm các dự án chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm sứ.

    10)  Nhóm các dự án chế biến thực phẩm.

    11)  Nhóm các dự án chế biến nông sản.

    12)  Nhóm các dự án chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản, ngoại trừ dự án xây dựng cơ sở chế biến bột cá.

    13)  Nhóm dự án sản xuất phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, ngoại trừ dự án sang chiết đóng gói thuốc bảo vệ thực vật.

    14)  Nhóm các dự án về hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm.

    15)  Nhóm các dự án sản xuất giấy và văn phòng phẩm.

    16)  Nhóm các dự án khác, ngoại trừ thuộc da từ da tươi, chế biến cao su, mủ cao su.

    II.    CƠ SỞ HẠ TẦNG TRONG VÀ NGOÀI KHU CÔNG NGHIỆP

    A.    Đường trong KCN:

    Đường bê tông nhựa nóng, thiết kế theo tiêu chuẩn Việt Nam H30. Lộ giới đường nội bộ từ 16m đến 30m.

    B.    Đường ngoài KCN:

    -      Đường Nguyễn Trung Trực lộ giới 30 m nối KCN vào Quốc lộ 1A và thị trấn Bến Lức.

    -      Đường Long Cang – Long Định lộ giới 24m nối KCN vào thị trấn Bến Lức.

    -      Tỉnh lộ 16 lộ giới 24m nối KCN vào thị trấn Cần Đước và Quốc lộ 50 đi Cảng Long An và Cảng Hiệp Phước – Tp. HCM.

    C.    Hệ thống cung cấp điện

    -          Trạm biến thế Bến Lức, nguồn 110/22KV, công suất 40 + 63 MVA.

    -          Trạm biến thế Rạch Chanh – Cần Đước, công suất 40 MVA.

    -          Trạm biến thế Khu công nghiệp, công suất 65 MVA (liên doanh với Cty Kobelco  Eco– Solution thực hiện do Jica tài trợ vốn)

    D.    Cung cấp nhiên liệu (khí gas CNG):

    Trạm cung cấp khí ga thiên nhiên CNG cho các DN trong KCN. Công suất thiết kế Min 6.000m3/giờ (1m3 = 0,717 kg).

    E.    Hệ thống phòng cháy chữa cháy:

    Đội ngũ nhân viên PCCC KCN và các doanh nghiệp được đào tạo và có phương án diễn tập. Có xe chữa cháy trong KCN. Hệ thống trụ nước PCCC dọc theo các đường 150m/trụ, F 114 mm.

    F.    Hệ thống cấp nước:

    Khu công nghiệp Thuận Đạo được nhà máy cung cấp nước:

    -          Xí nghiệp cấp nước Gò Đen cung cấp 7.200m2/ngày đêm.

    -          Nhà máy nước Hoàng Long cung cấp 10.000m3/ngày đêm.

    -          Nhà máy nước KCN Thuận Đạo cung cấp 3.600m3/ngày đêm.

    Hệ thống ống chính Ф 250mm và ống nhánh Ф 200 - 150mm.

    Chất lượng nước theo QCVN 01:2009:BYT

    F.    Hệ thống xử lý nước thải

    -      Diện tích khu đất nhà máy xử lý nước thải 15.000m2.

    -      Công suất giai đoạn 1: 4.800 m3/ngày, giai đoạn 2: 6.000 m3/ngày.

    -      Đường ống Ф 600 – 800.

    Doanh nghiệp xử lý nội bộ nước thải theo tiêu chuẩn B – QCVN 40:2011/BTNMT KCN xử lý nước thải theo tiêu chuẩn A – QCVN 40:2011/BTNMT.

    KCN đầu tư trạm quan trắc tự động kiểm tra nước thải trước khi xả ra Rạch Chanh

    G.    Hệ thống thu gom rác thải:

    -      Bãi thu gom rác thải tập trung, diện tích 8.600m2, cạnh nhà máy nước thải.

    -      Đội xe thu gom và vận chuyển rác hàng ngày.

    -      Rác công nghiệp và rác thải nguy hại: Đơn vị dịch vụ: Công ty Môi trường Đô thị thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm xử lý.

    H.    Hệ thống thoát nước mưa và chống ngập lụt:

    -      Nước mưa chảy qua hệ thống cống hộp, mương có nắp đậy, van một chiều ra Rạch Chanh và vào sông Vàm Cỏ.

    -      Khu vực không bị ngập nước.

    Theo dự báo thủy văn sông Vàm Cỏ: Tháng 10 hàng năm, nước cao +1,40m, cứ 100 năm 1 lần nước cao +1,65m. Cao độ KCN + 2,1m. Cao độ nhà xưởng thấp nhất là +2,3m, vượt hệ số an toàn cho phép (2,3m – 1,65m = 0,65m > 0,5m)

    I.      Hệ thống thông tin liên lạc:

    Thiết lập mạng lưới bưu chính viễn thông hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế như dự kiến trang bị MDF, hệ thống điện thoại và đường truyền internet tốc độ cao do Công ty VNPT Long An lắp đặt, có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu của nhà đầu tư.

    III.   THÔNG TIN NGUỒN NHÂN LỰC

    A.    Nguồn lao động:

    Dân số tỉnh: 1.356.096 người. Trong độ tuổi lao động (từ 18 đến 54 tuổi) 834.555 người, chiếm 62% dân số. Nam 419.080 người, đạt tỉ lệ 31%, nữ 415.475 người.

    -      Huyện Bến Lức: 148.621 người, chiếm 11% dân số, trong đó trong độ tuổi lao động 90.262 người, nam 44.517 người, nữ 45.745 người.

    -      Huyện Cần Đước: 168.730 người, chiếm 12,5% dân số, trong đó trong độ tuổi lao động 84.890 người, nam 47.892 người, nữ 46.998 người

    B.    Đào tạo và dạy nghề:

    Tỉnh Long An có: 02 trường Đại học, 03 trường Cao đẳng nghề; 06 trường trung cấp; 02 trường trung cấp nghề; 7 trung tâm dạy nghề; 14 Trung tâm GD KTTH – hướng nghiệp; 06 TT giới thiệu việc làm; 35 trường PHTH.

    Hàng năm, có khoảng hơn 10.000 học viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng, trung cấp nghề  (Theo báo cáo "Kết quả 5 năm  xây dựng xã hội học tập tỉnh Long An giai đoạn 2005-2010")

    C.    Thu nhập trung bình của người lao động (tham khảo)

    Mức lương tối thiểu vùng: 2,100,000 đồng/tháng  (vùng II – nghị định 103/2012/NĐ–CP, ngày 04/12/2012, áp dụng từ ngày 20/01/2013)

    Thu nhập trung bình người lao động trong Khu công nghiệp (chưa tính tăng ca và các khoản phúc lợi khác):

    -      Lao động phổ thông                  2.300.000 2.700.000 đồng/tháng.

    -      Lao động có tay nghề               2.500.000 3.500.000 đồng /tháng

    -      Lao động kỹ thuật cao               4.000.000 5.500.000 đồng /tháng

    -      Quản lý                                                 5.000.000 10.000.000 đồng /tháng

    -      Quản lý cao cấp                                    từ 20 triệu trở lên

    D.    Bảo hiểm:

    -      Người lao động đóng 9,5%; Doanh nghiệp đóng 21% , gồm:

    -      Bảo hiểm xã hội           : Người lao động đóng 7%;          Doanh nghiệp đóng: 17%

    -      Bảo hiểm y tế   : Người lao động đóng 1,5%;                Doanh nghiệp đóng: 3%

    -      Bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động đóng 1%;          Doanh nghiệp đóng: 1%.

    E.    Khác:

    -      Thời gian thử việc        :  Lao động phổ thông 06 ngày. Lao động có tay nghề 30 ngày. Lao động trình độ chuyên môn cao 60 ngày.

    -      Khẩu phần ăn trưa       : từ 12.000 20.000 VNĐ/phần 

    -      Trợ cấp đi lại               : từ 50.000 200.000 VNĐ/tháng

    IV.   CÁC HỖ TRỢ CỦA KCN THUẬN ĐẠO

    A.    Thủ tục xin giấy phép:

    Giấy chứng nhận ĐKDN, giấy chứng nhận đầu tư, Con dấu, mã số thuế. Bố cáo thành lập DN. Giấy ĐK nhân sự quản lý.

    Thời gian cấp giấy: ĐKDN - 05 ngày làm việc; ĐKĐT: 15 ngày làm việc.

    B.    Hỗ trợ: Tuyển dụng và đào tạo lao động.

    C.    Tư vấn: Thiết kế nhà xưởng, xây dựng, kế toán, hải quan, xuất nhập khẩu, thuế vay vốn ngân hàng … thủ tục xin giấy phép xây dựng, thẩm định thiết kế, thẩm duyệt PCCC, hoàn công, sở hữu công trình xây dựng.

    Thời gian cấp giấy: Môi trường: 5 ngày làm việc, thẩm duyệt PCCC: 20 ngày. Xây dựng: 20 ngày. Sở hữu công trình: 30 ngày.

    D.    Cung cấp vật liệu xây dựng: Bê tông tươi, cống, cọc, gạch lát nền, gạch ốp tường, ngói, thiết bị vệ sinh, cửa nhựa lõi thép, sơn nước … giá cạnh tranh

    V.    THÔNG TIN LIÊN HỆ:

    PHÒNG KINH DOANH – TIẾP THỊ  

    -      Địa chỉ     : số 07, KP 06, Quốc lộ 1A, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức tỉnh Long An   

    -      Điện thoại: +84 72 387 2233 (105, 111, 168)          Fax: +84 72 387 2696

    -      Hotline    : 0909 82 1368;    0935 82 1368

    -      Email      : sales@thuandao.com  
09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/20131023112626_slide 10.jpg
Di tích lịch sử "Vàm Nhựt Tảo" Di tích lịch sử "Vàm Nhựt Tảo"
Là nơi giao hội giửa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, Vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nước phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nhưng vào ngày 10/12/1861, vàm Nhựt Tảo đã dậy sóng căm hờn nhấn chìm tàu L' Espérance của quân xâm lược Pháp. Người đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là ''oanh thiên địa'' ấy chính là người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực.

 Ông sinh năm 1839 tại xóm Nghề, làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, ông đã tham gia vào đội nghĩa binh kháng chiến dưới quyền chỉ huy của Trương Định và được cử về hoạt động chống Pháp trên địa bàn phủ Tân An.  

Được sự giúp đở của hương chức làng Nhựt Tảo ông đã bố trí một kế hoạch táo bạo, thông minh để đánh tàu L' Espérance, một tiểu hạm chủa Pháp đang hoành hành trên vùng sông nước huyện Cửu An.Sáng ngày 10/12/1861, sau khi bố trí lực lượng phục kích trên bờ và dụ cho một bộ phận địch rời khỏi tàu, Nguyễn Trung Trực đã cùng 59 nghĩa quân lên 5 chiếc ghe giả làm ghe buôn lúa tiến sát tàu địch.

Vàm Nhựt Tảo
Vàm Nhựt Tảo

​     Trong lúc trình giấy thông hành, ông đã bất ngờ giết tên lính Pháp rồi cùng nghĩa quân tấn công lính Pháp trên tàu L' Espérance. Không kịp trở tay, toàn bộ địch trên tàu bị tiêu diệt ( chỉ có 5 tên chạy thoát). Nghĩa quân dùng dầu và đồ dẩn hỏa đốt cháy tàu L' Espérance. Ngọn lửa bốc cao từ từ nhấn chìm tàu xuống đáy sông sâu. Tin chiến thắng Nhựt Tảo bay đi làm nức lòng quân dân cả nước. Triều đình Huế đã thăng Nguyễn Trung Trực lên chức Quản Cơ, hậu thưởng cho nghĩa quân, cấp tử tuất và hổ trợ tiền cho làng Nhựt Tảo (bị quân Pháp triệt hạ).      
     Thực dân Pháp cũng hết sức bàng hoàng vì chúng không thể ngờ rằng nghĩa quân có thể gây cho chúng tổn thất lớn như thế. Để ghi dấu kỷ niệm ''đau thương'' này, Thực dân Pháp đã cho xây dựng một bia tưởng niệm bên bờ sông Nhựt Tảo .Thời gian lặng lẽ trôi, vàm Nhựt Tảo vẫn còn đó như gợi lại trong lòng khách vãng lai một niềm hoài cổ. Tàu L' Espérance sau gần 120 năm nằm yên dưới đáy sông sâu đã được khai quật. Tổng số hiện vật thu được là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 hiện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu như cong đà, be, lườn, cột buồm. Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhưng tàu L' Espérance vẩn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã được bảo quản và trưng bày tại Bảo Tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ.
     Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhựt Tân, du khách sẽ được ngắm nhìn vùng sông nước hữu tình vàm Nhựt Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nước trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dưới rặng dừa nước và một số loài cây hoang dại như vẹt, bần, đước, mắm. Cách vàm 200m là chiếc cầu treo bắc qua sông Nhựt Tảo nối liền 2 xã An Nhựt Tân và Bình Trinh Đông. Những buổi bình minh đứng trên cầu treo nhìn ra vàm sông ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp như tranh nơi đây. Sương tan là đà trên mặt sông dài như được nhuốm hồng bởi ánh bình minh, đó đây văng vẳng tiếng hò khoan dìu đặt của người dân chài lưới. Gần vàm là ngôi chợ khá lâu đời, hiện vẩn còn 2 dãy phố lợp ngói khá cổ kính. Đối diện chợ là trụ sở ủy ban nhân dân xã An Nhựt Tân. Khuôn viên ủy ban có bia kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo được xây dựng năm 1980. Nói chung dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- người đầu tiên duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lược bằng mưu trí và lòng dũng cảm dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những người ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lược. 135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó. Một dự án tôn tạo di tích quy mô đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và bước đầu thực hiện. Trong tương lai, đền thờ, tượng đài anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực và những hạng mục công trình khác sẽ được xây dựng bên bờ vàm Nhựt Tảo, sẽ làm cho vùng sông nước nên thơ này không những có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị tham quan du lịch.

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/nhattao.JPG
Thông tin hành chính tỉnh Long AnThông tin hành chính tỉnh Long An
12/12/2014 11:00 SAĐã ban hành
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngày 03 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực.

2. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

3. Phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, giảm dần tỷ lệ hộ nghèo; phát triển y tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

4. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; giữ vững quốc phòng an ninh với vị trí Long An là địa phương nằm trong khu vực biên giới của vùng đồng bằng sông Cửu Long và trong thế hội nhập kinh tế của khu vực Đông Nam Á và quốc tế.

II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

1. Mục tiêu tổng quát

- Xây dựng Long An trở thành tỉnh phát triển bền vững, hài hòa giữa khu vực đô thị và nông thôn; có trình độ công nghệ cao, hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; nguồn nhân lực có chất lượng; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; có nền quốc phòng - an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Phấn đấu đến năm 2020, tỉnh Long An cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2012 - 2030 đạt 12,5%/năm, trong đó giai đoạn 2012 - 2020 tăng 13%/năm.

- Đến năm 2015: GDP bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng/người/năm (khoảng 2.400 USD); tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu GDP tương ứng chiếm 28%, 41%, 31%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm 10% GDP; khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn thu ngân sách nhà nước chiếm 28,5%.

- Đến năm 2020: GDP bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm (khoảng 3.800 USD); tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu GDP tương ứng chiếm 15%, 45%, 40%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm 10,8% GDP; khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn thu ngân sách nhà nước chiếm 29,6%.

- Tầm nhìn đến năm 2030: GDP bình quân đầu người đạt 172 triệu đồng/người/năm (khoảng 8.000 USD); tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu GDP tương ứng chiếm 7%, 48%, 45%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm 10,8% GDP; khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn thu ngân sách nhà nước chiếm 29,6%.

b) Về xã hội:

- Đến năm 2015:

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,2%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 16%; 100% trạm y tế xã đạt chuẩn và 90% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; 40% - 50% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học; 50% trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia dưới 3%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 60%.

Phấn đấu có 20% (khoảng 36 xã) đạt tiêu chí xã nông thôn mới; 50% xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa, thể thao; có 30% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa; bảo đảm có 99% hộ gia đình đô thị và 95% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh và 99,25% hộ gia đình được sử dụng điện.

- Đến năm 2020:

Phấn đấu tỷ lệ sinh giảm còn 1,46%; tuổi thọ trung bình đạt 76 tuổi; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 12%; số giường bệnh/10.000 dân là 20 giường; số bác sĩ/xã tối thiểu có 1 bác sĩ và có 8 bác sĩ/10.000 dân;

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia còn 1%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 65%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 3%; cơ cấu lao động ở 3 khu vực I, II, III lần lượt là 28,1%, 37,8%, 34%; số lượng lao động qua đào tạo là 628.600 người và tạo việc làm cho 180.000 người;

Tỷ lệ tới trường đạt: tiểu học là 100%, trung học cơ sở là 95%, trung học phổ thông là 70%. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 70%; số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên /1000 dân là 170 người;

Phấn đấu có 50% (khoảng 83 xã) đạt tiêu chí xã nông thôn mới; có 90% nhà văn hóa ở tuyến tỉnh; đảm bảo 100% huyện, thành phố có trung tâm văn hóa, thể thao, 75% xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa, thể thao; bảo đảm có 100% hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh và 99,7% hộ gia đình được sử dụng điện.

- Tầm nhìn đến năm 2030:

Tỷ lệ sinh giảm còn khoảng 1,5%; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 78 tuổi; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khoảng 10%; số giường bệnh/10.000 dân là 30 giường; số bác sĩ/xã tối thiểu là 3 bác sĩ và có 10 bác sĩ/10.000 dân.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 2%; số lượng lao động qua đào tạo là 762.720 người và tạo việc làm cho 190.000 người;

Phấn đấu 100% trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên/1000 dân là 200 người; có 95% nhà văn hóa ở tuyến tỉnh.

c) Về bảo vệ môi trường:

- Đảm bảo tỷ lệ phủ xanh đến năm 2015 đạt 21% và duy trì đến năm 2020, 2030; nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 15% vào năm 2015 và lần lượt đạt 17%, 19% vào các năm 2020, 2030; diện tích ảnh hưởng lũ lụt (ngập trên 1m) vào các năm 2015, 2020, 2030 lần lượt là 25%, 23%, 20%.

- Phấn đấu đến năm 2015, 80% chất thải sinh hoạt, công nghiệp và 100% chất thải y tế được thu gom và xử lý; di dời 100% cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi các khu đô thị và khu dân cư; 100% doanh nghiệp thực hiện tốt cam kết bảo vệ môi trường.

- Đảm bảo ý thức trong cộng đồng và tăng cường năng lực của các bên liên quan về các vấn đề môi trường; bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường.

- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, kiềm chế sự gia tăng, tiến tới giảm dần các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

1. Phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản:

Phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,7%/năm giai đoạn 2011 - 2020 và đạt 4,8%/năm giai đoạn đến 2030; tỷ trọng của từng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lần lượt là 82% - 4% - 14% vào năm 2020 và 78% - 6% - 16% vào năm 2030.

- Nông nghiệp: xác định trọng tâm là sản xuất lúa gạo đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; phát triển theo hướng thâm canh và chuyên canh, ứng dụng công nghệ mới phù hợp, sử dụng giống có chất lượng cao nhằm gia tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác và đáp ứng nhu cầu của thị trường; đồng thời chú trọng khâu chế biến sau thu hoạch, nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu. Cải thiện hệ thống sản xuất các sản phẩm là thế mạnh của tỉnh như mía, rau quả đáp ứng các tiêu chuẩn tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; từng bước kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đảm bảo tăng trưởng nông nghiệp ổn định; tuân thủ các quy trình công nghệ từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ.

Phát triển chăn nuôi (lợn, bò, gia cầm) theo hướng tập trung có quy mô phù hợp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước; áp dụng công nghệ chăn nuôi tiên tiến, sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm; kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh và ô nhiễm môi trường do các hoạt động chăn nuôi.

- Lâm nghiệp: duy trì và bảo tồn các nguồn tài nguyên rừng hiện có nhằm đảm bảo phát triển rừng bền vững; bảo tồn môi sinh cho các loài động vật hoang dã, các nguồn gen quý hiếm kết hợp với phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt là rừng đặc dụng, trong đó khu vực Đồng Tháp Mười đóng vai trò quan trọng góp phần giảm thiểu tác động do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Bảo vệ và có chính sách hợp lý nhằm duy trì diện tích rừng phòng hộ, kết hợp phát triển rừng với an ninh quốc gia ở các huyện biên giới. Khai thác các nguồn tài nguyên rừng hợp lý, khuyến khích đầu tư sản xuất và phát triển rừng bền vững.

- Ngư nghiệp: Phát triển nuôi trồng thủy sản hàng hoá ở vùng Đồng Tháp Mười theo hướng kiểm soát và bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu xây dựng các mô hình tổ chức nuôi trồng phù hợp (câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ kinh tế, trang trại, v..v) nhằm đảm bảo lợi ích của các bên và thúc đẩy sản xuất hàng hóa; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để ứng dụng công nghệ trong nuôi trồng thủy hải sản.

2. Phát triển ngành công nghiệp

- Phát triển công nghiệp bền vững có khả năng tác động đến các ngành nông nghiệp, dịch vụ và trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 14,2%/năm vào năm 2015, đạt 14,4%/năm vào năm 2020 và 13,6%/năm vào 2030. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, xanh và sạch.

- Đảm bảo cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng phù hợp cho phát triển các ngành nghề, hoạt động kinh doanh có tính quốc tế; xây dựng các khu công nghiệp chất lượng cao để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài; thiết lập các chính sách phát triển công nghiệp hữu hiệu với cơ chế thực hiện cụ thể, phát huy được nguồn lực dồi dào; đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực đã qua đào tạo và có chất lượng cao với chi phí hợp lý; phát triển các ngành nghề mới giúp tạo ra ngành mũi nhọn cho phát triển công nghiệp tỉnh trên bình diện phát triển công nghiệp ở Việt Nam.

- Khuyến khích các ngành công nghiệp phù hợp với chính sách của tỉnh, bổ trợ cho các ngành đang có ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như: công nghệ cao, công nghệ tri thức, nghiên cứu và phát triển, môi trường, công nghiệp dựa trên công nghệ vật liệu mới, sản xuất điện tử và phần mềm, sản xuất khí hóa lỏng (GTL), chế tạo pin năng lượng mặt trời, hệ thống sản xuất điện từ khí hy-đrô... phát triển ngành công nghiệp sản xuất nông cụ dựa trên các ngành sản xuất nông nghiệp liên quan hiện có tại tỉnh.

- Tập trung phát triển nhanh, hiệu quả và đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp đã được thành lập, gắn liền với xây dựng các công trình xử lý chất thải, bảo đảm môi trường xanh, sạch.

3. Phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 17%/năm trong giai đoạn đến 2020 và đạt 15,3%/năm trong giai đoạn đến 2030.

- Thương mại, dịch vụ: Phát triển các dịch vụ chất lượng cao, đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân; cải thiện kết cấu hạ tầng các dịch vụ hướng đến các tiện ích hiện đại và thuận tiện với người sử dụng; cân bằng chất lượng dịch vụ giữa các khu vực đô thị và nông thôn.

Phát triển các trung tâm đô thị cạnh tranh được cung cấp dịch vụ phù hợp gắn kết với phát triển không gian. Thiết lập các trung tâm dịch vụ nhằm khai thác lợi thế là cửa ngõ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Tăng cường các dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ đô thị như dịch vụ kho vận, công nghệ thông tin, các tiện ích, nghiên cứu thị trường, dịch vụ tài chính,...

- Du lịch: Phát triển hệ thống du lịch toàn diện bao gồm cung cấp thông tin, hạ tầng và dịch vụ vận tải, nơi cư trú chất lượng cao, ẩm thực phong phú, đa dạng, đặc trưng; các khu giải trí, nguồn nhân lực phục vụ có chất lượng. Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, thực hiện liên kết phát triển du lịch với các địa phương trong Vùng, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bên kia biên giới Campuchia. Các mô hình phát triển du lịch: du lịch sinh thái, du lịch làng nghề với các giá trị văn hóa...

4. Các lĩnh vực xã hội

a) Giáo dục và đào tạo:

- Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất các trường từ cấp mầm non đến đại học, tăng cường mạng lưới trường, lớp học, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng xa, biên giới và các công trình phụ trợ phục vụ giáo dục và đào tạo và coi đây là một trong những mục tiêu ưu tiên của Tỉnh.

- Nâng cao trình độ, năng lực giáo viên, cải thiện các phương pháp dạy và học để có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng về kỹ năng và chất lượng cũng như để tạo nền tảng pháp lý và phát huy nội lực cho phát triển giáo dục.

- Nâng cao trình độ học sinh ở tất cả các cấp, cần tập trung phát triển giáo dục toàn diện trên các mặt trí tuệ, thể chất và đạo đức; tạo dựng cho học sinh trung học cơ sở các kiến thức cơ bản chung và kỹ năng sơ khởi về đào tạo hướng nghiệp; tiếp tục duy trì và phát huy những thành tích đã đạt được trong việc phổ cập trung học cơ sở.

- Xây dựng cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, đào tạo phải gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo; đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề theo hướng nâng cao chất lượng; chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, củng cố mạng lưới các trường dạy nghề; tăng cường hợp tác, liên kết về đào tạo với các địa phương khác trong cả nước và quốc tế.

b) Y tế:

- Phát triển đồng bộ mạng lưới y tế đến cơ sở; từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn và y đức cho đội ngũ cán bộ y tế; hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch; tiếp tục nâng cấp các trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện; đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút vốn đầu tư xây dựng các cơ sở khám, chữa bệnh gắn điều trị với nghỉ dưỡng;

- Chú trọng việc hình thành xã hội khỏe mạnh, tăng cường chất lượng hệ thống y tế dự phòng, xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân; nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm;

- Phấn đấu đạt mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân và các chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số.

c) Văn hóa, thể dục thể thao:

- Xây dựng nền văn hóa lành mạnh tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra được nhiều sản phẩm văn hóa chất lượng cao và đặc thù của địa phương; tập trung xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ các cấp, tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc;

- Quan tâm phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao; đẩy mạnh công tác xã hội hóa, tăng thêm nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao công tác giáo dục thể chất trong nhà trường.

d) Giảm nghèo, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội:

- Tiếp tục đầu tư vào hạ tầng nông thôn, từng bước hoàn thiện hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm xá, đường giao thông, trung tâm xã, điện, nước, thủy lợi cho các xã nghèo và các vùng khó khăn. Phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình, khôi phục và phát triển các làng nghề, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nhiều lao động tại nông thôn; gắn kết các chính sách vào phục vụ tạo việc làm và phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản.

- Thực hiện đồng bộ, toàn diện và hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo, xác định vai trò của các tổ chức chính quyền trong triển khai chương trình; xây dựng các giải pháp, mô hình giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất; có chính sách khuyến khích xã, hộ gia đình thoát nghèo, khuyến khích các doanh nghiệp dạy nghề, tạo việc làm cho người nghèo. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và đào tạo cần thiết cho những người phải hoặc muốn chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

đ) Khoa học và công nghệ

- Tăng cường công tác quản lý về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa và xây dựng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; mở rộng hợp tác về khoa học công nghệ; tiến hành tiêu chuẩn hóa các mặt hàng sản xuất nông sản chủ lực trên địa bàn tỉnh (lúa, thanh long, đậu phộng, tôm,...)

- Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới như công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, tạo bước đột phá về giống cây, con, có năng suất, giá trị cao; từng bước cơ giới hóa các công đoạn trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới và ứng dụng công nghệ trong các làng nghề truyền thống;

5. Phát triển kết cấu hạ tầng:

a) Giao thông

- Phát triển hạ tầng giao thông theo hướng hiện đại, tăng cường tính kết nối các trung tâm đô thị lớn, các trung tâm tăng trưởng và các khu vực trong tỉnh với nhau; đảm bảo vận chuyển hàng hóa, hành khách an toàn, hiệu quả cùng với bảo vệ môi trường, phòng tránh các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm không khí; thiết lập cơ chế tổ chức và thể chế phù hợp để tạo dựng và quản lý mạng lưới và dịch vụ vận tải một cách hữu hiệu.

- Phát triển mạng lưới giao thông (đường bộ và đường thủy) hiệu quả có tính cạnh tranh và gắn kết với mạng lưới giao thông vùng tạo điều kiện cho tỉnh Long An trở thành cửa ngõ thực sự nối kết giữa vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam; nâng cấp, cải tạo đường giao thông nông thôn, đảm bảo không bị ngập lụt và tạo điều kiện cho các phương tiện lưu thông an toàn và thông suốt; phát triển các dịch vụ vận tải công cộng phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân.

b) Thủy lợi

- Nâng cấp, cải tạo hệ thống thủy lợi ở các huyện Đức Hòa, Cần Đước và Cần Giuộc để tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp; xây dựng hệ thống kênh tiếp nhận nước bổ sung từ hồ Phước Hòa; nghiên cứu lập quy hoạch khai thác nguồn nước ngầm; quy hoạch khai thác nước kênh Hồng Ngự để cung cấp nước tưới cho lưu vực nằm giữa sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

- Nghiên cứu nạo vét, nâng cấp, cải tạo một số kênh trong lưu vực kênh Nguyễn Văn Tiếp với đa mục tiêu cấp thoát nước, thoát lũ, khai thác nước sông Tiền; tiếp tục hoàn thiện hệ thống đê và cống dọc hai bờ sông Vàm Cỏ nhằm điều tiết hợp lý việc trữ và xả nước; đồng thời nghiên cứu các biện pháp khả thi để đối phó với biến đổi khí hậu và ngăn chặn xâm nhập mặn.

- Xây dựng hệ thống kênh cấp 2, cấp 3 phục vụ công tác tưới, tiêu, thoát lũ và cải tạo đất chua phèn; hệ thống đê bao và các cống dưới đê để bảo vệ các thị trấn, trung tâm xã và các tuyến dân cư trong mùa lũ;

c) Cấp điện

- Cải tạo, xây dựng mạng lưới điện theo hướng đồng bộ, tăng công suất các trạm đầu mối để ổn định nguồn điện; nghiên cứu, xây dựng các dự án sử dụng các nguồn năng lượng khác như: điện gió, năng lượng ánh sáng mặt trời,... tại những khu vực thích hợp;

- Phát triển hệ thống phân phối điện đến các khu, cụm công nghiệp, du lịch, các điểm dân cư và các vùng sản xuất tập trung; từng bước ngầm hóa hệ thống lưới điện đô thị; chú trọng phát triển mạng lưới điện nông thôn.

d) Cấp, thoát nước và vệ sinh môi trường:

- Tập trung đầu tư nâng cấp, xây mới đồng bộ hệ thống cấp nước sinh hoạt cho các đô thị đảm bảo nhu cầu cấp nước sạch cho sinh hoạt, sản xuất của người dân; đối với khu vực dân cư nông thôn, đảm bảo được sử dụng nước hợp vệ sinh; căn cứ vào khả năng huy động các nguồn lực từng giai đoạn, xây dựng kế hoạch đầu tư nâng cấp, mở rộng các nhà máy xử lý nước, mạng lưới truyền dẫn và phân phối đồng bộ; thực hiện có hiệu quả chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

- Xây dựng đồng bộ hệ thống thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải, đặc biệt là tại khu đô thị, khu cụm công nghiệp, đảm bảo các đô thị không bị ngập úng; thu gom và xử lý rác thải y tế tại các bệnh viện, trạm xá; nghiên cứu xây dựng các bãi rác tập trung tại các khu đô thị.

đ) Thông tin truyền thông

- Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, kết hợp cung cấp dịch vụ mới. Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng hệ thống thiết bị giao ban trực tuyến từ thành phố xuống cấp huyện.

- Hiện đại hóa, mở rộng mạng lưới đi đôi với ứng dụng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông; đảm bảo an ninh thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

6. Bảo vệ tài nguyên và môi trường

- Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sạch vào các ngành kinh tế; khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường; bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.

- Quản lý bảo vệ chặt chẽ, có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, rừng và khoáng sản. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng và xử lý các loại hóa chất, chất thải gây ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình.

7. Quốc phòng, an ninh.

- Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân.

- Xây dựng và triển khai thực hiện tốt các phương án phòng thủ, quản lý chặt chẽ quân dự bị động viên đảm bảo về số lượng và chất lượng; gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án đầu tư phát triển.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN

1. Phát triển đô thị - nông thôn

a) Đô thị

- Phát triển khu đô thị gắn kết Tân An - Bến Lức nhằm hỗ trợ giao thông vận tải hiệu quả và phát triển đô thị dọc hành lang.

- Phát triển đô thị Đức Hòa với vai trò là trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Bắc; đô thị Cần Giuộc dự kiến sẽ cung cấp dịch vụ cho các cảng (Hiệp Phước và Long An) cũng như khu vực nội địa; hình thành đô thị Mộc Hóa được xác định là trung tâm phát triển của vùng Đồng Tháp Mười, phát triển kinh tế cửa khẩu nhằm đảm bảo cung cấp cơ sở hiệu quả cho thương mại và các hoạt động qua biên giới.

- Củng cố, nâng cấp các đô thị như Cần Đước, Tân Trụ, Thủ Thừa, Hậu Nghĩa, Đông Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Tân Hưng và Vĩnh Hưng.

b) Nông thôn

Phát triển các trung tâm đô thị nông thôn theo hướng gắn kết như: cụm đô thị Thạnh Hóa - Tân Thạnh; cụm đô thị Đông Thành - Hậu Nghĩa; cụm đô thị Mộc Hóa - Bình Hiệp, đảm bảo phát triển các dịch vụ đô thị chất lượng cao để cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn.

Phát triển hành lang sinh thái Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đảm bảo nguồn cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất và phục vụ giao thông trong tỉnh và còn tạo cơ hội phát triển các hoạt động sinh thái khác nhau, đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị, nông thôn và khách du lịch.

2. Phát triển vùng kinh tế:

- Vùng 1 (Vùng an ninh lương thực, du lịch và kinh tế cửa khẩu): bao gồm các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Châu Thành và một phần huyện Thủ Thừa, là vùng có lợi thế cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp và thu hút khách du lịch.

Định hướng phát triển mạnh về nông, lâm, ngư nghiệp và đảm bảo phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn; phát triển dịch vụ, công nghiệp tại khu kinh tế cửa khẩu; phát triển du lịch sinh thái; phát triển đô thị Mộc Hóa nhằm đảm bảo giao lưu thương mại, dịch vụ với vùng Đồng Tháp Mười và thành phố Tân An.

- Vùng 2 (Vùng đệm sinh thái): nằm giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Mục tiêu chính của Vùng được xác định là bảo vệ Vùng 1 khỏi tác động từ hoạt động phát triển đô thị và công nghiệp quá mức của Vùng 3; tạo cảnh quan đặc biệt về sử dụng đất bằng việc kết hợp giữa các đặc điểm đô thị và nông thôn; giảm thiểu ô nhiễm cho sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và bảo tồn không gian cho định hướng phát triển sau năm 2020.

Trước mắt, Vùng 2 được định hướng phát triển nông nghiệp, dành quỹ đất hợp lý cho phát triển công nghiệp, đô thị sinh thái, khu trung chuyển nội tỉnh. Xây dựng trung tâm Vùng là thị trấn Thủ Thừa nhằm kết nối các tiểu vùng kinh tế của tỉnh, giữa cửa khẩu đất liền và cảng biển. Chú trọng kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của vùng 2 và chỉ cho phép phát triển ở các khu vực đã quy định dọc các tuyến đường và ở một số khu vực chỉ định khác.

- Vùng 3 (Vùng phát triển đô thị và công nghiệp) bao gồm sông Vàm Cỏ Đông và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, một phần huyện Tân Trụ ở vùng Hạ, thành phố Tân An và một phần huyện Thủ Thừa.

Định hướng tập trung phát triển đô thị và công nghiệp tổng hợp, tạo thành hành lang phát triển đô thị trung tâm ở Bến Lức - Tân An và các đô thị công nghiệp đặc thù ở Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước.

DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU ĐẦU TƯ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030, TỈNH LONG AN 

I

CÁC DỰ ÁN DO TRUNG ƯƠNG ĐẦU TƯ

1

Đường Vành Đai 3

2

Đường Vành Đai 4

3

Đường cao tốc Bến Lức - Long Thành

4

Đường sắt thành phố Hồ Chí Minh - Mỹ Tho

5

Quốc lộ N1

6

Nâng cấp Quốc lộ 62

7

Dự án thủy lợi Phước Hòa

II

CÁC DƯ ÁN DO ĐỊA PHƯƠNG ĐẦU TƯ

8

Xây dựng mô hình cải thiện đồng bộ Vùng trồng lúa Đồng Tháp Mười

9

Dự án tăng cường phòng chống ô nhiễm môi trường

10

Thành lập Hệ thống Giám sát toàn diện các yếu tố môi trường

11

Phát triển phù hợp với tư cách “Nhà quản lý Kiểm soát Ô nhiễm môi trường đã được chứng nhận”

12

Chương trình đào tạo lãnh đạo Cộng đồng cho Quản lý Môi trường hướng tới Cộng đồng

13

Thành lập Ban chuyên trách xúc tiến đầu tư

14

Phát triển Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” tại các khu vực nông thôn của Long An

15

Xây dựng Trung tâm phát triển nguồn nhân lực

16

Nâng cấp cải tạo hệ thống kênh chính Cái Cơ - Long Khốt

17

Đường Tân Lập-Long Hậu, ĐT830, ĐT826B, đường dọc kênh 79, đường dọc sông Vàm Cỏ Tây, đường dọc sông Vàm Cỏ Đông

18

Đường Bến Lức (QL1) - Tân Tập

19

Đường Thủ Thừa - Bình Thành - Hòa Khánh

20

Đường tỉnh 831 (đoạn Vĩnh Bình - cửa khẩu Long Khát và đoạn Vĩnh Hưng - Tân Hưng - Tân Phước đi Đồng Tháp)

21

Đường Long Hậu - Tân Tập

22

Đường Quốc lộ 62 - Tân Hưng (cặp kênh 79)

23

Đường tỉnh 830

24

Bệnh viện chuyên khoa sản nhi

25

Bệnh viện tâm thần

III

CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT, KINH DOANH KÊU GỌI ĐẦU TƯ

26

Trung tâm Công nghệ sinh thái hàng đầu Long An (LALETEC)

27

Phát triển khu công nghiệp sạch, chất lượng cao có khả năng xử lý chất thải

28

Xây dựng Trung tâm Kho vận lương thực tại Vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An

29

Trung tâm y tế quốc tế chất lượng cao

30

Xây dựng trung tâm thương mại ngoại ô

31

Xây dựng trạm dừng nghỉ đường bộ

32

Thành lập Trung tâm kho vận

33

Phát triển gắn kết các khu đô thị Tân An - Bến Lức

34

Xây dựng khu làng sinh thái ven sông

35

Phát triển nhà tập thể giá phù hợp, chống được thiên tai, tiết kiệm năng lượng

36

Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

37

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Long An

38

Nhà máy cấp nước sử dụng nguồn nước từ dự án thủy lợi Phước Hòa

39

Nhà máy xử lý nước mặt ở Bến Lức

 

Ghi chú: Về vị trí, quy mô, diện tích đất sử dụng và tổng mức đầu tư của các công trình, dự án trong Danh mục nêu trên sẽ được tính toán, lựa chọn và xác định cụ thể trong từng giai đoạn lập và trình duyệt dự án đầu tư, tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng cân đối, huy động vốn đầu tư của từng thời kỳ.​

15/12/2014 2:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngày 30/12/2013, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4666/QĐ-UBND phê duyệt đồ án Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.pdf​  với các nội dung sau:

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Long An là 449.235 ha, quy mô dân số đến năm 2020 là 1.600.000 người, trong đó dân số đô thị khoảng 600.000 người; đến năm 2020 là 1.800.000 người, trong đó dân số đô thị khoảng 1.000.000 người.

Dự báo đất xây dựng đô thị đến năm 2020 vào khoảng 10.000 - 13.000ha; đến năm 2030 vào khoảng khoảng 20.000 - 22.000ha.

Không gian xây dựng đô thị Long An được chia làm 3 vùng phát triển như sau:

Vùng trung tâm bao gồm: Vùng thành phố Tân An, Bến Lức, Cần Giuộc và cảng Long An. Trong đó, thành phố Tân An là đô thị hạt nhân của tỉnh và vùng trung tâm, đô thị Bến Lức là đô thị trung tâm tiểu vùng phía Tây Bắc và đô thị Cần Giuộc là trung tâm tiểu vùng phía Đông.

Vùng đô thị phía Bắc bao gồm: Vùng đô thị Đức Hòa và đô thị Hậu Nghĩa là vùng đô thị động lực phía Bắc; vùng đô thị thị trấn Mỹ Hạnh, thị trấn Hiệp Hòa, thị trấn Đông Thành và đô thị Mỹ Quý. Đô thị Hậu Nghĩa là trung tâm vùng phía Bắc.

Vùng đô thị phía Tây bao gồm: Vùng đô thị Kiến Tườ​​ng gắn với Khu kinh tế cửa khẩu Long An, đô thị Bình Phong Thạnh (Mộc Hóa), thị trấn Tân Thạnh, thị trấn Thạnh Hóa và đô thị Hậu Thạnh Đông, vùng đô thị thị trấn Vĩnh Hưng và thị trấn Tân Hưng. Đô thị Kiến Tường là trung tâm vùng phía Tây.

Tỉnh Long An có phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp.

​ 

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hệ thống giáo dục tỉnh Long AnHệ thống giáo dục tỉnh Long An
Hiện nay, toàn ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các cuộc vận động  như : "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", phong trào "Dạy tốt, học tốt", phong trào "Giỏi việc nước đảm việc nhà", phong trào "Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" ...

Tính đến ngày 31/7/2014, trên địa bàn toàn tỉnh, có hơn 700 trường học ở cấp phổ trong đó có:

Trung học phổ thông 34 trường; THCS &THPT có 11 trường( trong đó có 1 trường ngoài công lập);  TH,THCS & THPT có 1 trường ngoài công lập; Trung học cơ sở có 132 trường, trong đó có 1 trường chuyên (Trường chuyên Long An)

Tiểu học có 255 trường, 4.464 lớp và 126.590 học sinh. Trong đó, có 144/255 trường đạt chuẩn quốc gia, tổ chức dạy 2 buổi/ngày cho 65.460/127.098 học sinh

Giáo dục mầm non có 196 trường gồm: 130 trường mẫu giáo và 66 trường mầm non (trong đó có 1985 trường công lập và 11 trường tư thục). Ngoài ra còn có 41 cơ sở mầm non tư thục và 148 nhóm trẻ tư thục. Có 125/192 đơn vị cấp xã đạt chuẩn Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, có 5/15 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi.

Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 1 TTGDTX cấp tỉnh, 01 TTKTTH-HN tỉnh, 15 TTGDTX huyện và thành phố, 5 trung tâm ngoại ngữ - tin học. 100% xã phường thị trấn đều có TTXHTT&HTCD9

Tỉnh có 1 trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật, 03 trường trung cấp chuyên nghiệp (Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Long An, Trường Trung cấp Y tế, Trường Trung cấp Việt Nhật), 01 trường cao đẳng chuyên nghiệp (Cao đẳng Sư phạm Long An), 02 trường đại học tư thục (đại học KTCN Long An, trường Đại học Tân Tạo), 30 cơ sở dạy nghề.

Có 80 xã, phường, thị trấn thực hiện đúng tiến độ Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi(đạt tỉ lệ 41,6%) và 1 huyện

Tổng số công chức, viên chức toàn ngành giáo dục 20.221 người, giáo viên THCS và THPT cơ bản đáp ứng hoạt động dạy học song chưa đồng bộ, còn thiếu giáo viên tiểu học và mầm non do nhu cầu dạy lớp 2 buổi ngày

Tổng số CC, VC toàn ngành: 20.432 người, đ
ội ngũ cán bộ, GV đã và đang được chuẩn hóa nghiệp vụ, đến nay tỉ lệ  GV đạt chuẩn và trên chuẩn tương đối cao: mầm non: 99,4%; Tiểu học: 99,5%; THCS: 99,7%; THPT: 98,8%. Toàn ngành có 52 thạc sĩ, 03 tiến sĩ

Hiện nay, toàn ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các cuộc vận động  như : "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", phong trào "Dạy tốt, học tốt", phong trào "Giỏi việc nước đảm việc nhà", phong trào "Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" ...

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Chủ tịch UBND tỉnh-Đỗ Hữu Lâm đã ký Quyết định số 3097/QĐ-UBND ngày 04/9/2013 phê duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH LONG AN ĐẾN NĂM 2020

1. Quan điểm phát triển

- Phát triển thương mại tỉnh Long An phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh; quy hoạch phát triển thương mại cả nước; phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng để thương mại trở thành ngành kinh tế quan trọng;đẩy mạnh xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế bền vững.

  - Phát triển ngành thương mại theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình tổ chức thương mại, các phương thức giao dịch và dịch vụ hỗ trợ, vừa phát triển các loại hình dịch vụ chất lượng cao, vừa kế thừa, cải tạo các loại hình truyền thống.

  - Khuyến khích và thu hút mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong xã hội, kinh tế nước ngoài đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại và các loại hình dịch vụ phân phối hiện đại.

- Phát triển thương mại phù hợp với trình độ sản xuất của các ngành kinh tế coi trọng cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng.

- Quy hoạch phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh cần đặc biệt chú trọng đến yêu cầu nâng cao năng lực và vai trò quản lý nhà nước đối với các hoạt động thương mại của địa phương, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật và tạo ra cơ hội cho các chủ thể kinh doanh phát triển linh hoạt, năng động.

2. Mục tiêu phát triển thương mại

- Xây dựng ngành thương mại phát triển bền vững theo hướng văn minh, hiện đại; tăng tỷ trọng trong cơ cấu GDP của tỉnh. Phát huy vai trò của thương mại trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, tổ chức tiêu thụ tốt sản phẩm cho nông nghiệp, nông dân; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và tăng trưởng kinh tế.

- Đẩy mạnh xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; mở rộng thị trường và đa dạng hóa ngành hàng xuất khẩu, phát triển các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn; tăng cường xuất khẩu dịch vụ.

- Tích cực thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước để phát triển cơ sở hạ tầng thương mại theo hướng văn minh, hiện đại.

- Phát triển thị trường nội tỉnh trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển thị trường trong vùng và cả nước với thị trường nước ngoài; gắn hiệu quả kinh doanh thương mại với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 

II. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐẾN NĂM 2020

1. Định hướng phát triển

a) Định hướng phát triển không gian thương mại

- Thị trường đô thị

Phát triển nhanh hệ thống phân phối hiện đại gồm: các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị, các cửa hàng tiện lợi (trước mắt, tập trung tại thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường, thị trấn Bến Lức, Đức Hòa...) thuộc nhiều loại hình phân phối với quy mô thích hợp từng bước tiến tới quy mô lớn.

Khuyến khích các doanh nghiệp phân phối phát triển hệ thống phân phối theo “chuỗi” (chuỗi trung tâm thương mại, chuỗi siêu thị, chuỗi các cửa hàng tiện lợi). Kết hợp hài hòa giữa loại hình thương mại truyền thống với thương mại hiện đại trên địa bàn đô thị. Tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp trong tỉnh với các nhà phân phối của các tỉnh, thành phố khác (đặc biệt liên kết với các doanh nghiệp lớn của Thành phố Hồ Chí Minh) để tăng cường tiềm lực, mở rộng mạng lưới, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

Đẩy mạnh phát triển loại hình dịch vụ logicstics với sự hình thành các kho bán buôn, trung tâm phân phối hàng hóa có trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại làm đầu mối phát luồng cho mạng lưới bán lẻ ở thành phố Tân An và các vùng phụ cận...

Nâng cấp cải tạo các chợ ở thành phố Tân An thành một số chợ trung tâm, sắp xếp lại các chợ phường, liên phường, từng bước chuyển hóa một số chợ thành  siêu thị.

Từng bước phát triển thương mại điện tử, khuyến khích các giao dịch mua bán, thanh toán qua mạng; tích cực đầu tư kết cấu hạ tầng để thương mại điện tử trở thành phương thức giao dịch phổ biến trong trong thương mại - dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020.

Hình thành các khu phố thương mại trên cơ sở khuyến khích thương nhân đầu tư phát triển các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi.

Định hướng tổ chức thương mại trên thị trường đô thị

+ Hình thành và phát triển các tổng công ty kinh doanh chuyên ngành, đa ngành với hệ thống phân phối hợp lý để liên kết các khâu trong quá trình lưu thông đáp ứng nhu cầu của thị trường trên địa bàn; khuyến khích thương nhân phát triển các công ty bán lẻ tổng hợp với hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi; phát triển các công ty kinh doanh bán buôn với hệ thống kho hàng, trung tâm phân phối theo phương thức hiện đại, cung cấp hàng hóa cho hệ thống bán lẻ trên địa bàn.

+ Quy hoạch và xây dựng hệ thống chợ với quy mô phù hợp trên từng địa bàn, hình thành các dãy phố xung quanh chợ.

Phát triển một số siêu thị chuyên doanh hoặc tổng hợp có quy mô phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

- Thị trường nông thôn

- Lấy thị trấn huyện và trung tâm cụm xã làm trung tâm, từ đó hình thành các cụm kinh tế thương mại – dịch vụ. Tại khu vực này phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, cơ sở chế biến, dịch vụ sửa chữa, thương mại, ăn uống và các dịch vụ khác.

- Hệ thống chợ và cửa hàng mua bán truyền thống là kênh lưu thông hàng hóa chủ yếu của khu vực nông thôn trong suốt thời kỳ đến năm 2020.

Tập trung nâng cấp và xây mới các chợ ở trung tâm các huyện, hình thành các chợ đầu mối bán buôn nông sản, rau quả... xây mới chợ ở một số xã có nhu cầu nhưng chưa có chợ.

- Hình thành và phát triển Hợp tác xã thương mại - dịch vụ, tập trung thực hiện dịch vụ “đầu vào” cho sản xuất và tổ chức “đầu ra” tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

b) Định hướng phát triển các kênh lưu thông hàng hóa

- Tổ chức kênh lưu thông hàng nông sản, thực phẩm

+ Hướng tổ chức kênh này là Hợp tác xã thương mại - dịch vụ và các doanh nghiệp thương mại tổ chức thu mua sản phẩm của các hộ sản xuất, các trang trại theo hợp đồng kinh tế đồng thời tổ chức tiêu thụ hàng nông sản, thực phẩm thông qua hệ thống đại lý, cửa hàng độc lập, thương nhân ở các chợ và hệ thống  siêu thị…

+ Phát triển hệ thống chợ nông thôn để tổ chức tiêu thụ tại chỗ đồng thời khởi đầu cho kênh tiêu thụ nông sản hàng hóa.

+ Thiết lập chợ đầu mối tại vùng sản xuất tập trung để thu gom nông sản thực phẩm, tổ chức nguồn hàng phát luồng cho các chợ trên địa bàn  tỉnh.

- Kênh lưu thông hàng công nghiệp tiêu dùng

Hướng tổ chức kênh phân phối chung đối với hàng công nghiệp tiêu dùng là:

+ Hàng hóa sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất trong tỉnh được tiêu thụ qua mạng lưới phân phối, bán buôn, bán lẻ của chính doanh nghiệp sản xuất, hoặc qua hệ thống đại lý tiêu thụ, hoặc xuất khẩu;

+ Hàng hóa từ nguồn ngoài tỉnh mang về được các doanh nghiệp thương mại tổ chức tiêu thụ thông qua mạng lưới phân phối: Hệ thống đại lý, các cửa hàng độc lập, Trung tâm thương mại, các siêu thị…

- Tổ chức lưu thông các ngành hàng thuộc diện đặc thù

Các ngành hàng quan trọng mang tính đặc thù như: Xi măng, sắt thép, xăng dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dược phẩm, hóa chất… là những mặt hàng kinh doanh có điều kiện phải  tổ chức lưu thông theo quy hoạch chuyên ngành và quy định của nhà nước.

c) Định hướng phát triển kinh doanh xuất - nhập khẩu

Mở rộng và đa dạng hóa thị trường, giữ vững thị trường truyền thống. Tích cực mở rộng thị trường EU, Hoa Kỳ, Đông Bắc Á (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc…).

Tăng cường các hoạt động đối ngoại tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp khai thác thị trường xuất khẩu.

Thực hiện linh hoạt chính sách khuyến khích mở rộng thị trường phù hợp với những thay đổi về nhu cầu và luật pháp của nước nhập khẩu.

Tích cực đầu tư phát triển ngành hàng mới, mặt hàng mới; trong đó cần quan tâm xây dựng chiến lược đầu tư phát triển các ngành công nghệ cao như điện tử - tin học, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác và một số sản phẩm công nghiệp phụ trợ.

Cần xây dựng cơ chế phối hợp tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ thuộc các thành phần kinh tế được tham gia tổ chức nguồn hàng, xây dựng các đầu mối thu mua, thu gom hàng xuất khẩu;

d) Định hướng phát triển các thành phần kinh tế tham gia hoạt độngthương mại trên địa bàn

- Các doanh nghiệp thương mại cổ phần có vốn nhà nước

+ Các doanh nghiệp thương mại có vốn nhà nước đủ năng lực kinh doanh được giữ lại cần có định hướng phát triển chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức cung ứng những mặt hàng thiết yếu, khai thác và tiêu thụ nông sản, thuỷ sản với quy mô vừa và lớn.

+ Tổ chức doanh nghiệp thương mại nhà nước theo mô hình mạng liên kết trong đó doanh nghiệp nhà nước là hạt nhân và có nhiều đầu mối thuộc các thành phần kinh tế khác, ở các khu vực thị trường trọng điểm cả trong và ngoài tỉnh.

+ Các doanh nghiệp có vốn nhà nước liên kết để hình thành các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế kinh tế lớn kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực đủ năng lực hướng dẫn và chi phối thị trường; là lực lượng tiên phong đưa chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước vào cuộc sống. 

- Thương mại thuộc các thành phần kinh tế khác

Đối với các thành phần kinh tế khác nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển ngành nghề; đồng thời ưu tiên phát triển hệ thống Hợp tác xã thương mại - dịch vụ nhằn đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nông sản, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

đ) Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng thương mại

Tập trung hình thành và xây dựng một số hạng mục chủ yếu tại các Trung tâm thương mại lớn (thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường, huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức) và một số khu thương mại - dịch vụ; ở các địa bàn trọng điểm hình thành các tụ điểm thương mại đa quy mô, đa loại hình, có thể đáp ứng được nhiều hình thức hoạt động thương mại. Khuyến khích thương nhân đầu tư phát triển trung tâm thương mại và siêu thị tại các địa bàn trọng điểm, trước hết cần hình thành tại thành phố Tân An và các thị trấn lớn.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thương mại. Đối với hệ thống chợ ở những nơi đặc biệt khó khăn nhà nước đầu tư từ nguồn vốn ngân sách; đối với những chợ có khả năng sinh lợi nhà nước khuyến khích thương nhân đầu tư thông qua các hình thức đấu thầu, giao thầu… 

Đầu tư hệ thống kho tàng, bến bãi và cung cấp các loại hình dịch vụ tại các trung tâm logistics để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất và tổ chức phân phối, tiêu thụ sản phẩm.

e) Định hướng phát triển thương mại biên giới

Nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp trao đổi hàng hóa tại cửa khẩu. Phối hợp với các cơ quan phía Campuchia tổ chức hội chợ đường biên để giới thiệu, quảng bá sản phẩm, hàng hóa.

Khuyến khích các doanh nghiệp của tỉnh đầu tư, trồng trọt tại các tỉnh biên giới  nhập khẩu nông sản về tỉnh làm nguyên liệu sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng các trung tâm trung chuyển hàng hóa, các kho thương mại chuyên ngành tại cửa khẩu biên giới, trong đó cần tập trung ưu tiên tại cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp.

Tỉnh sẽ nghiên cứu chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sâu vào thị trường nội địa Campuchia để mở rộng kinh doanh và phát triển bền vững, v.v...

g) Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển ngành thương mại

- Tổng mức và cơ cấu lưu chuyển bán lẻ hàng hóa xã hội.

Trên cơ sở thực trạng tổng mức và cơ cấu lưu chuyển bán lẻ hàng hóa xã hội của tỉnh giai đoạn 2001 - 2010, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển thương mại của tỉnh, dự báo tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa hàng hóa thị trường tỉnh Long An theo phương án chọn như sau:

 Theo phương án chọn, năm 2010 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tỉnh Long An là 17.773,84 tỷ đồng; dự kiến năm 2015 đạt 52.500 tỷ đồng và năm 2020 là 102.400 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 là 24,18%, giai đoạn 2016 - 2020 là 14,30% và cả thời kỳ 2011 - 2020 là 19,15%/năm.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa bình quân đầu người đạt 12,31 triệu đồng trong năm 2010, tăng lên 35 triệu đồng vào năm 2015 và 64 triệu đồng vào năm 2020.

Trong phương án được chọn, tốc độ tăng trưởng bình quân được tính toán dựa trên việc tham khảo tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 và cân đối chung với sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thời kỳ đến 2020. Mặt khác, cùng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường thế giới, nhất là khi Việt Nam đã hội nhập đầy đủ với khu vực và thế giới, thì phương án chọn thể hiện tính tích cực và có tính khả thi cao.

2. Quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh

a) Định hướng phát triển Trung tâm thương mại

Tại thành phố Tân An phát triển 01 trung tâm thương mại cấp tỉnh; trong đó cần lựa chọn phát triển các hạng mục công trình phù hợp với quy mô trung tâm thương mại hạng 3. Trung tâm thương mại của tỉnh vừa làm nhiệm vụ bán buôn, phát luồng vừa tổ chức bán lẻ và đáp ứng các nhu cầu dịch vụ khác trên địa bàn. Trung tâm thương mại là hạt nhân thúc đẩy các liên kết kinh tế và thương mại trong tỉnh, trong  các vùng kinh tế, trong cả nước và với nước ngoài.

Dự kiến tập trung phát triển hệ thống trung tâm thương mại, trước hết tại thành phố Tân An và một số thị trấn trung tâm các huyện. Từ nay đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh quy hoạch phát triển 01 trung tâm thương mại tại phường 2, thành phố Tân An; giai đoạn sau 2020 sẽ phát triển một số trung tâm thương mại phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội ở một số thị xã, thị trấn huyện lỵ.

Định hướng đến 2030: Dự kiến đến năm 2020 sau khi hoàn chỉnh trung tâm thương mại thành phố Tân An, xem xét hiệu quả và nhu cầu của thị trường sẽ phát triển thêm một số trung tâm thương mại tại thị xã Kiến Tường, thị trấn huyện Đức Hòa, Bến Lức.

b) Trung tâm mua sắm

Từ nay đến năm 2020 phát triển 01 trung tâm mua sắm hạng 3 tại thành phố Tân An (Địa điểm dự kiến cặp đường tránh, thuộc phường 4 - 6 thành phố Tân An).

Sau năm 2020 sẽ phát triển thêm một số trung tâm mua sắm ở các địa bàn có điều kiện kinh tế phát triển.

c) Quy hoạch các trung tâm logistics

Từ nay đến 2020 quy hoạch mới 04 trung tâm dịch vụ logistics tại các địa chỉ sau:

- Khu vực Cảng Long An, huyện Cần Giuộc.

- Khu vực gần điểm giao của đường Vành đai 4 với đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, huyện Bến Lức.

- Trung tâm dịch vụ logistics tại khu Kinh tế cửa khẩu Long An (cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp).

- Trung tâm dịch vụ logistics tại cửa khẩu quốc gia Mỹ Quý Tây.

d) Quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị

- Căn cứ vào quy hoạch đô thị và công nghiệp, khu dân cư của tỉnh, đồng thời tham khảo quy hoạch hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị cả nước theo Quyết định số 6184/QĐ-BCT ngày 19/10/2012 của Bộ Công Thương phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại cả nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; dự kiến trong kỳ quy hoạch đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh phát triển mới 6 siêu thị tại các địa phương sau: Thị xã Kiến Tường và các thị trấn Đức Hoà, Hậu Nghĩa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc.

- Định hướng sau năm 2020 sẽ phát triển siêu thị ở các thị trấn còn lại.

đ) Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ

- Chợ đô thị:

+ Hạn chế xây dựng thêm chợ mới ở khu vực nội thị.

+ Nâng cấp, cải tạo các chợ trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn có quy mô lớn (diện tích đất >10.000 m2) có cơ sở vật chất kỹ thuật khang trang và hiện đại.

 + Sắp xếp lại các chợ dân sinh ở các phường, liên phường (diện tích đất > 3.000 m2) thành chợ bán lẻ tổng hợp.

+ Phát triển một số chợ chuyên doanh bán các mặt hàng như: Điện máy, vải sợi, quần áo, vàng bạc đá quý…

- Chợ nông thôn:

+ Cải tạo, di dời, xây mới để đảm bảo có đủ chợ dân sinh quy mô hạng III ở các xã, đáp ứng nhu cầu mua bán và tiêu thụ hàng hóa của nông dân.

+ Cải tạo, nâng cấp chợ ở các thị trấn thành chợ trung tâm huyện hoặc trung tâm cụm xã (quy mô hạng II, diện tích đất từ 5.000-10.000m2). Lấy chợ làm hạt nhân, tổ chức quanh khu vực ảnh hưởng của chợ các loại hình thương mại, dịch vụ khác để hình thành các khu thương mại - dịch vụ tổng hợp ở các địa bàn.

 

e) Định hướng phát triển thương mại điện tử

- Trong những năm tới, tỉnh cần  tiếp tục đầu tư  phát triển thương mại điện tử phù hợp với chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại điện tử quốc gia của nhà nước. Thường xuyên cập nhật thông tin và cung cấp thông tin, cơ hội giao thương để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia Sàn giao dịch có cơ hội mở rộng thị trường và đối tác đầu tư;

- Trước mắt cần đẩy mạnh khâu xúc tiến hoạt động kinh doanh, dưới hình thức mở trang web quảng cáo trên mạng, tìm kiếm thông tin về thị trường và bán hàng trên mạng, tiến hành các giao dịch trước khi ký kết hợp đồng và sử dụng cho các mục đích quản trị trong doanh nghiệp;

- Khi cơ sở hạ tầng và điều kiện pháp lý cho phép thì tiến tới ký kết hợp đồng và thực hiện thanh toán qua mạng;

- Xây dựng bộ phận chuyên trách về thương mại điện tử của tỉnh;

- Tổ chức thu thập, chọn lọc và hình thành kho dữ liệu thông tin và tổ chức cung cấp thông tin về hàng hóa, thị trường, giá cả… cho doanh nghiệp; đẩy mạnh hoạt động thương mại của tỉnh với thị trường ngoài tỉnh, ngoài nước.

III. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ

Từ nay đến 2020, tỉnh chú trọng tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng và huy động tối đa khả năng đầu tư từ các nguồn vốn khác nhau cho các công trình thương mại với ưu tiên đầu tư hợp lý. Trước hết cần ưu tiên triển khai đầu tư các chương trình dự án sau:

- Thứ nhất: Thành phố Tân An cần lập quy hoạch chi tiết dự án đầu tư: Trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm tại thành phố Tân An. Phối hợp với Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường chọn địa điểm, chuẩn bị quỹ đất sạch để lập dự án mời gọi đầu tư các hạng mục công trình trong các Trung tâm thương mại;

- Thứ hai: Ban Chỉ đạo phát triển chợ phối hợp với các huyện rà soát nhu cầu đối với những xã có nhu cầu xây chợ,  lập dự án đầu tư  mới và nâng cấp chợ. Căn cứ Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ và Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ để lập kế hoạch huy động vốn đầu tư phát triển chợ;

- Thứ ba: Thị xã Kiến Tường, các huyện  Bến Lức, Đức Hoà, Cần Đước, Cần Giuộc lập dự án đầu tư siêu thị trình UBND tỉnh phê duyệt;

- Thứ tư: Triển khai “Kế hoạch triển khai chương trình hành động thực hiện Chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hóa  thời kỳ 2011- 2020,  định hướng đến năm 2030”.

- Thứ năm: Lập đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh.

 

IV. NHU CẦU VỐN ĐẤT VÀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI

1. Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển thương mại 

- Tổng vốn đầu tư phát triển ngành thương mại Long An giai đoạn 2011-2020 khoảng 89.923 tỷ đồng (theo giá 2010):

+ Giai đoạn 2011-2015: 27.112 tỷ đồng (bình quân 5.422 tỷ đồng/năm);

+ Giai đoạn 2016-2020: 62.811 tỷ đồng (bình quân 12.562 tỷ đồng/năm).

Cơ cấu nguồn vốn dự kiến giai đoạn 2011-2020

- Dự kiến nguồn ngân sách hỗ trợ 2% = 1.789 tỷ đồng (bình quân 180-190 tỷ đồng/năm);

- Nguồn vốn khác (vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, vốn FDI, vốn trong dân,…) khoảng 98% bằng 88.134 tỷ đồng (bình quân 8.814 tỷ đồng/năm).

2. Nhu cầu đất và vốn đầu tư xây dựng cho các công trình hạ tầng thương mại thời kỳ 2011-2020

Dự kiến trong thời kỳ 2011-2020 nhu cầu đất để xây dựng các công trình thương mại chủ yếu khoảng 89,5 ha; trong đó xây dựng Trung tâm thương mại, Trung tâm mua sắm  tại thành phố Tân An: 11ha; 6 siêu thị: 3,5 ha; hệ thống chợ: 35 ha. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chủ yếu của ngành thương mại là 1.941,10 tỷ đồng gồm; Trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm: 450 tỷ đồng Siêu thị: 340 tỷ đồng, hệ thống chợ: 751,10 tỷ đồng, Trung tâm logistics: 400 tỷ đồng.

Nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng thương mại chủ yếu giai đoạn 2011- 2015: 925,10 tỷ đồng; giai đoạn 2016-2020: 1.016 tỷ đồng.

3. Nguồn vốn và cơ cấu vốn đầu tư hạ tầng thương mại 2011-2020

Dự kiến nguồn vốn huy động để đầu tư kết cấu hạ tầng thương mại trong giai đoạn 2011-2020  khoảng 1.941,10 tỷ đồng bao gồm:

- Nguồn vốn ngân sách đầu tư cho phát triển hạ tầng thương mại khoảng 10% với tổng vốn đầu tư là 194,11 tỷ đồng;

- Vốn huy động từ thương nhân khoảng 30% với số tiền là 582,33 tỷ đồng;

- Nguồn vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh (kể cả đầu tư nước ngoài) khoảng 60% với số tiền khoảng 1.164,66 tỷ đồng.

V. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH

1. Chính sách và giải pháp phát triển thương mại

1.1. Chính sách và cơ chế khuyến khích phát triển xuất khẩu

Nhà nước có kế hoạch đầu tư cho những khu công nghiệp sản xuất, chế biến, chế tạo hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.

- Thực hiện các quy hoạch, chương trình, dự án phát triển vùng sản xuất hàng xuất khẩu tập trung, các làng nghề, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực với sản lượng lớn, chất lượng cao, từ đó quyết định hướng đầu tư phù hợp.

- Đổi mới chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu nhằm hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập.

- Xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp, mở rộng khả năng thu thập và xử lý thông tin thị trường trong nước và thế giới để cung cấp cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp mở rộng hợp tác quốc tế,  thâm nhập sản phẩm vào thị trường mới.

- Thực hiện tốt các nội dung cơ bản của hoạt động xúc tiến thương mại như: tư vấn cho doanh nghiệp về thị trường; tìm kiếm bạn hàng; tổ chức hội chợ triển lãm, giới thiệu, quảng cáo hàng hoá; liên kết với các Trung tâm thương mại ở nước ngoài, giúp các doanh nghiệp lập văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc thành lập công ty/cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài.

- Hỗ trợ cho doanh nghiệp về nâng cao khả năng cạnh tranh của  hàng hoá xuất khẩu.

- Sắp xếp lại doanh nghiệp, ngành nghề; nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn; hỗ trợ tín dụng, tài chính đối với các nhà sản xuất thuộc những ngành công nghiệp mới cần bảo hộ.

1.2. Chính sách khuyến khích phát triển các loại hình thương mại truyền thống và hiện đại

- Tích cực thúc đẩy phát triển các phương thức dịch vụ và hình thức tổ chức kinh doanh theo dạng chuỗi, nhượng quyền kinh doanh, đại lý, vận tải liên vận đa phương thức, thương mại điện tử…vv. Khuyến khích áp dụng các phương thức lưu thông hiện đại và thay đổi các phương thức truyền thống. Khuyến khích các doanh nghiệp thương mại phát triển liên minh mua bán hàng hoá, nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh nhờ mở rộng quy mô.

- Thúc đẩy các doanh nghiệp thương mại thực thi chiến lược phát triển thương hiệu, lựa chọn các doanh nghiệp thương mại có năng lực cạnh tranh để hình thành các doanh nghiệp thương mại có ưu thế, có thương hiệu dịch vụ nổi tiếng và đa dạng chủ thể đầu tư.

Sở Công Thương  phối hợp với các cơ quan hữu quan khác của địa phương hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp thương mại áp dụng công nghệ thông tin phù hợp với nhu cầu thực tế và trình độ phát triển của doanh nghiệp.

Khi thực hiện việc điều chỉnh chuyển đổi mục đích sử dụng đất, Sở Công thương cần  đề xuất với cơ quan có thẩm quyền dành ưu tiên cho các dự án của doanh nghiệp thương mại phù hợp với quy hoạch.

- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ trở thành các doanh nghiệp chủ yếu hướng dẫn nông dân tham gia vào các hệ thống thị trường nông sản.

2. Nhóm giải pháp và chính sách huy động vốn đầu tư

2.1. Giải pháp và chính sách đầu tư

a) Đầu tư xây dựng mới chợ

- Nguồn vốn đầu tư phát triển chợ được huy động từ các nguồn:

+ Ngân sách nhà nước (Trung ương và tỉnh) hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các chợ  theo quy định của nghị định 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 và quyết định 23/QĐ-TTg ngày 6/1/2010.

+ Các nguồn vốn khác đầu tư xây dựng chợ được huy động từ:

- Thương nhân đầu tư xây dựng, kinh doanh chợ.

- Vốn huy động từ các hộ tham gia kinh doanh trong chợ thông qua hình thức bán, cho thuê mặt bằng kinh doanh trong chợ có thời hạn; vốn góp cổ phần hợp tác đầu tư xây dựng kinh doanh chợ.

b) Đầu tư cải tạo và nâng cấp hệ thống chợ

- Nguồn thu từ việc cho thuê mặt bằng kinh doanh, các khoản phí, lệ phí và các hoạt động dịch vụ trong chợ;

- Nguồn huy động từ các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong chợ vàcác hộ kinh doanh  cùng góp vốn với nhà nước để cải tạo, nâng cấp chợ theo quy hoạch, kế hoạch;

- Đối với những chợ dân sinh ở vùng đặc biệt khó khăn các khoản thu không đủ bù đắp chi phí quản lý chợ, ngân sách Nhà nước sẽ xem xét hỗ trợ kinh phí tu bổ, sửa chữa, nâng cấp chợ.

c) Đầu tư phát triển các công trình thương mại hiện đại

- Đề nghị ngân sách nhà nước đầu tư mặt bằng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các công trình thương mại và tổ chức kinh doanh, khai thác theo quy định của luật đầu tư;

- Đối với các siêu thị độc lập Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ chủ đầu tư thực hiện theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật.

d) Giải pháp thu hút vốn nước ngoài: Các công trình hiện đại có nhu cầu vốn lớn có thể mời gọi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư;

2.2. Chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư

Để tăng cường khả năng huy động các nguồn vốn xã hội vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh, ngoài các chính sách ưu đãi chung áp dụng đối với các chủ đầu tư  xây dựng chợ thuộc các thành phần kinh tế được hưởng theo quy định tại điều 27 và điều 28 Luật Đầu tư, tỉnh có thể ban hành các chính sách ưu đãi riêng (không trái với quy định của pháp luật) để khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch.

3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

- Công tác đào tạo cần tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, có tính kế thừa và đảm bảo thường xuyên, liên tục.

 - Cần xây dựng hoàn chỉnh hệ thống tiêu chuẩn các chức danh trên cơ sở có khung điều chỉnh những điều cần thiết cho phù hợp từng giai đoạn, trong đó chú ý những tiêu chuẩn về kỹ năng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

- Khuyến khích và có chính sách ưu tiên đối với các địa phương, các doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân lực.

- Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ  các sinh viên, học sinh giỏi tạo điều kiện để họ theo học các ngành nghề có nhu cầu sử dụng đồng thời ký thỏa thuận hợp đồng để họ yên tâm trở về phục vụ tại địa phương khi hoàn thành chương trình đào tạo.

- Yêu cầu phát triển trung tâm thương mại, siêu thị đòi hỏi phải có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, vì vậy phải phát triển lực lượng này thông qua tăng cường đào tạo, phổ biến cho cán bộ quản lý trung tâm thương mại, siêu thị về kiến thức và kỹ năng kinh doanh, kiến thức về pháp luật.

- Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng, cần tăng cường hoạt động thông tin để nâng cao kiến thức, hiểu biết mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật,...) cho nhân dân.

- Triển khai các chương trình đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh. Bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước; ngoài các tiêu chuẩn chung của cán bộ công chức, các cán bộ, công chức trong ngành phải hiểu biết pháp luật chuyên ngành và cập nhật các kiến thức có liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế;

- Hàng năm Sở Công Thương cần phối hợp với các trường nghiệp vụ mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngoại thương nhằm đáp ứng yêu cầu kinh doanh và hội nhập.

- Nhà nước quan tâm việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến các doanh nghiệp, thương nhân thông qua hội nghị, hội thảo, tập huấn… tạo điều kiện cho người kinh doanh thực hiện tốt quy định của pháp luật; bảo đảm quyền và nghĩa vụ của thương nhân, tạo môi trường kinh doanh công khai, minh bạch. 

4. Giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế và các địa phương trong nước

Đẩy mạnh liên kết giữa thị trường Long An với thị trường các tỉnh khác và với thị trường nước ngoài trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh là một trong những giải pháp quan trọng để ổn định thị trường một cách vững chắc trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều biến động.

Thực hiện tốt việc liên kết, hợp tác sẽ vừa tạo khả năng cho Long An nâng cao trình độ phát triển các quan hệ thị trường, vừa thu được những lợi ích kinh tế ổn định và bền vững.

4.1. Giải pháp thúc đẩy liên kết giữa Long An với các thị trường ngoài nước có tính chiến lược

- Đối với thị trường ngoài nước có tính chiến lược của Long An (thị trường xuất nhập khẩu Châu Á, ASEAN, EU, Hoa Kỳ), cần chủ động trong việc tạo lập các mối liên kết song phương với nhiều cấp độ và hình thức khác nhau;

- Khi phê duyệt các dự án đầu tư, cần chú trọng tới cấp độ công nghệ và xuất xứ công nghệ theo hướng sản phẩm tạo ra phải đạt tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với thị trường xuất khẩu và được hưởng ưu đãi mậu dịch do xuất xứ công nghệ mang lại;

- Có chính sách khuyến khích các hoạt động môi giới, trợ giúp tiếp cận thâm nhập thị trường mới;

- Khuyến khích khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp của tỉnh xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hiện đại, từ đó tăng cường khả năng mở rộng thị trường cho các sản phẩm hàng hóa có lợi thế của tỉnh;

4.2. Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả liên kết giữa thị trường Long An với thị trường các địa phương trong nước

- Phát triển các mối liên kết giữa thương nhân Long An với các doanh nghiệp sản xuất của các tỉnh theo từng ngành sản phẩm chủ lực để đẩy mạnh quá trình tập trung hóa nguồn lực và mạng lưới kinh doanh hình thành các chuỗi cung ứng, phân phối chuyên doanh.

- Tổ chức nghiên cứu thị trường và hoạt động xúc tiến thương mại với các thị trường trọng điểm (đặc biệt là thị trường thành phố Hồ Chí Minh), thị trường cáctỉnh lân cận để xác định lợi thế so sánh và khả năng giao lưu thương mại nhằm điều chỉnh phù hợp cơ cấu sản xuất và thương mại của tỉnh.

- Nghiên cứu đưa ra các điều kiện ưu đãi cho các địa phương có mối quan hệ liên kết thương mại với Long An. Các điều kiện ưu đãi có thể áp dụng như bán hàng trả chậm, ưu tiên sử dụng đất và địa điểm kinh doanh...

- Trong giai đoạn trước mắt, cần đẩy mạnh mối liên kết giữa Long An với các tỉnh trong Vùng đồng bằng sông Cửu Long trong việc đẩy mạnh cung ứng, tiêu thụ hàng nông sản, rau quả và thuỷ sản với số lượng lớn.

5. Giải pháp đổi mới và tăng cường năng lực quản lý nhà nước về thương mại

- Xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược và quy hoạch, chương trình, kế hoạch phát triển thương mại của tỉnh.

- Xây dựng và phát triển các hệ thống thị trường hàng hóa trên địa bàn.

- Phối hợp liên ngành để tăng hiệu lực quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

- Đẩy mạnh việc thực hiện cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn; từng bước tách dần chức năng quản lý hành chính với chức năng cung cấp dịch vụ công; phân định và làm rõ các quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành, các cấp chính quyền đảm bảo tính thống nhất theo mục tiêu phát triển ngành thương mại của tỉnh và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thương mại; thực hiện tốt việc phân cấp quản lý thương mại đi đôi với công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, hậu kiểm đối với các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

- Tăng cường công tác quản lý thị trường chống gian lận thương mại đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng.

- Tổ chức mạng lưới thông tin và công tác dự báo thị trường là biện pháp quan trọng để giúp hoạt động thương mại có hiệu quả. Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ lao động thương mại.

Tích cực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước.

6Giải pháp về chính sách phát triển khoa học công nghệ

Tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ tiến hành đổi mới công nghệ, phương thức kinh doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng.

- Thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước về hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới khoa học công nghệ. Căn cứ vào các chính sách hỗ trợ có liên quan, đưa ra giải pháp hỗ trợ có hiệu quả nhằm đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp;

- Tích cực nghiên cứu thị trường, đầu tư công nghệ chế biến sản phẩm mới, đổi mới công nghệ trong chế biến hàng xuất khẩu nhằm tăng giá trị hàng xuất khẩu và tăng hiệu quả kinh tế;

- Vận dụng các chính sách  tài chính nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại tiến hành điều chỉnh cơ cấu, mở rộng quy mô kinh doanh và phát triển các phương thức phân phối hiện đại. Nhà nước cần hỗ trợ về đất đai, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp kinh doanh theo dạng chuỗi, xây dựng mạng lưới từ thành thị đến nông thôn, chỉ đạo các doanh nghiệp đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin; tổ chức bán hàng trên mạng; thay thế các nghiệp vụ mua bán thủ công bằng việc áp dụng kỹ thuật quản lý theo mạng, nâng cao hiệu suất quản lý, hạ thấp chi phí lưu thông, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin khuyến khích các doanh nghiệp phát triển thương mại điện tử.​

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.​

​Chịu trách nhiệm chính: ông MAI VĂN NHIỀU - Chánh Văn phòng. 

Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 0723. 830 833 (trực Cổng TTĐT).

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.