Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Giới Thiệu

Thông tin du học

Website

 
Thông Tin Giới Thiệu - Điều kiện tự nhiên, lịch sử
 
Theo kết quả điều tra năm 1996 than bùn được tìm thấy ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười như Tân Lập - Mộc Hóa, Tân Lập - Thạnh Hóa (Tráp Rùng Rình), Tân Thạnh (Xã Tân Hòa), Đức Huệ (xã Mỹ Quý Tây, Trấp Mốp Xanh).  
 
Tỉnh Long An có địa hình đơn giản, bằng phẳng nhưng có xu thế thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam. Địa hình bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Phần lớn diện tích đất của tỉnh Long An được xếp vào vùng đất ngập nước.  
 
Long An, nằm ở rìa Đông Nam của đới Đà Lạt. Đây là đới kiến tạo - sinh khoáng tương đối độc lập, có móng là vỏ lục địa tiền CamBri, bị sụt lún trong Jura sớm - giữa và trải qua chế độ rìa lục địa vào Mesozoi muộn. Vào cuối Mesozoi và trong Kainozoi, đới Đà Lạt bị hoạt hóa mạnh mẽ. Trong Neogen - Đệ tứ phần lãnh thổ này tham gia vào bồn trũng MêKông bị sụt lún mạnh và lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên. 
 
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt của tỉnh Long An nối liền với sông Tiền và hệ thống sông Vàm Cỏ là các đường dẫn tải và tiêu nước quan trọng trong sản xuất cũng như cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư. 
 
Một phần của lưu vực ở Tây Ninh chảy qua Long An trên dòng Sông Vàm Cỏ Đông, qua nhiều năm bồi lắng ở cuối lưu vực một lượng cát xây dựng khá lớn. Theo điều tra trữ lượng cát khoảng 11 triệu m3 và phân bố trải dài 60 km từ xã Lộc Giang giáp tỉnh Tây Ninh đến bến đò Thuận Mỹ (Cần Đước). 
Khí hậu (28/11)
 
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng ĐBSCL lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông. 
 
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam. 
 
Nguồn xâm nhập mặn vào lãnh thổ Long An chủ yếu là từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 đến 3,9 m. Quá trình xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội địa và thời gian cũng dài hơn. Nguyên nhân là do hoạt động mạnh của triều, gió chướng, lượng nước thượng nguồn ít và nhất là khai thác nước mặt quá nhiều trong mùa kiệt. Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn khoảng 5 km, từ năm 1993 đến nay đã lên đến Vĩnh Hưng. Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 với mức 2 - 4 gam/lít. Sông Vàm Cỏ Đông do ảnh hưởng của Hồ Dầu Tiếng độ mặn giảm dần. 
 
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ I A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm.  
 
Long An là nơi tập trung đất phèn đến 208.449 ha, chiếm 69,8 % diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười và bằng 46,41 % diện tích tự nhiên của tỉnh. Hiện tồn tại 2 vùng thấp - rốn phèn ở Bắc Đông và Bo Bo - Mỏ Vẹt. Một năm có 2 chu kỳ nước chua là đầu mùa mưa (tháng 4 đến tháng 7) và cuối mùa mưa (tháng 11 đến tháng 1).  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Thông tin hành chính tỉnh Long AnThông tin hành chính tỉnh Long An
12/12/2014 11:00 SAĐã ban hành
Bảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnhBảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnh

1. Giá 1 tháng (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang1.500.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ1.200.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong700.000

2. Giá 1 năm (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang15.000.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ12.000.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong7.000.000

 

▪ Chính sách:

Để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tham gia quảng bá hình ảnh, thông tin về hoạt động và sản phẩm của doanh nghiệp, tổ chức mình, Cổng Thông tin điện tử Long An có chính sách như sau:

- Giảm 20% giá đặt liên kết của Banner/Logo thứ 2 đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 2 (sản phẩm thứ 2 của doanh nghiệp);

- Giảm 40% giá đặt liên kết của mỗi Banner/Logo thứ 3 trở lên đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 3 trở lên (sảm phẩm thứ 3 trở lên của doanh nghiệp).

▪ Thông tin liên hệ: 

- Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Điện thoại: 02723 552489 hoặc 0918 700 837.

- E-mail: webmaster@longan.gov.vn.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệpThư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệp

​THƯ NGỎ

Mời tham gia đặt banner liên kết đến website doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An tại địa chỉ www.longan.gov.vn

________

Với chức năng là cơ quan truyền thông đa phương tiện; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An luôn nỗ lực thực hiện sứ mệnh được giao, trong đó đặc biệt chú trọng chủ trương "đồng hành cùng doanh nghiệp" của lãnh đạo tỉnh bằng việc thông tin thường xuyên về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển tải kịp thời các chủ trương, chính sách phát triển cũng như tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Với nhiệm vụ là đầu mối thông tin điện tử, liên kết dịch vụ trực tuyến công của tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An là địa chỉ đáng tin cậy để doanh nghiệp truyền thông, quảng bá, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp.

Với thiện chí hợp tác cùng phát triển, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An cam kết cùng doanh nghiệp tạo nên những giá trị mới cho thương hiệu của doanh nghiệp và của tỉnh Long An. Đây là cơ hội để doanh nghiệp lựa chọn quảng bá thương hiệu, sản phẩm (kèm theo bảng giá đặt banner liên kết).

Rất mong nhận được sự hợp tác với quý công ty, doanh nghiệp./.

Tham khảo bảng giá tại đây.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hệ thống giao thông  Hệ thống giao thông 
 Từ năm 2010 đến nay, TW đã đầu tư nhiều tuyến đường quan trọng trên địa bàn tỉnh. Quốc lộ 50 đoạn qua Long An đã được nâng cấp, hoàn thiện. Đặc biệt là 2 đoạn tuyến tránh qua Thị trấn Cần Giuộc và Cần Đước đã hoàn thành đưa vào sử dụng vào cuối năm 2012. Quốc lộ N2, đoạn Tân Thạnh-Mỹ An cũng sắp hoàn thành đưa vào sử dụng trong tháng 7 năm 2013.

1/ Giao thông đường thủy:

   Mạng lưới giao thông thủy hầu như không tăng đến nay với quy mô 2.556,61 km với các tuyến đường thủy chính là Sông Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Rạch Cát.

   Ngoài ra các tuyến đường thủy nông thôn nhất là các huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười người dân có thể dùng ghe, tàu đi lại từ nhà này sang nhà khác, từ khu vực này sang khu vực khác và ghe tàu chính là phương tiện đi lại, làm ăn sinh sống của nhiều hộ gia đình vùng Đồng Tháp Mười. Các xã chưa có đường ô tô đến được trung tâm thì chủ yếu đi lại bằng đường thủy.

   Tuy nhiên hiện nay mạng lưới đường thủy vẫn chủ yếu dựa vào lợi thế tự nhiên, chưa khai thác được hết tiềm năng hiện có, hệ thống hỗ trợ như phao tiêu, báo hiệu đường thủy nội địa còn thiếu. Hiện tượng lấn chiếm dòng chảy, luồng chạy của tàu, vi phạm hành lang bảo vệ đường thủy nội địa như xây dựng nhà ở, các bến bãi chứa vật liệu xây dựng, họp chợ… chưa được ngăn chặn kịp thời. Nhiều tuyến đường thủy qua khai thác nhiều năm có độ bồi lắng lớn nhưng chưa được nạo vét làm ảnh hưởng đến khả năng đi lại của phương tiện.

  2/ Giao thông đường bộ:

   Đến tháng 5/2013, toàn tỉnh Long An có gần 5.824km đường giao thông bộ, trong đó đường cao tốc và quốc lộ hơn 217km, gồm: đường cao tốc Sài Gòn - Trung Lương, các quốc lộ: I, 50, 62 và N2. Tỉnh được Trung ương (TW) uỷ thác quản lý 77km quốc lộ 62. Đường tỉnh quản lý có hơn 904km, gồm 65 tuyến đường theo tên cũ, 50 tuyến theo tên mới (đường tỉnh được ký hiệu ĐT. và kèm theo số hiệu từ 816 đến 839, có thêm chữ B,C,D,E phía sau để chỉ các đường nhánh hoặc đường có hướng tuyến tương tự, Vd: ĐT.816 là tuyến đường từ Ngã tư Bình Nhựt, Bến Lức, giáp Quốc lộ I đến xã Bình Hoà Nam, Đức Huệ giáp với ĐT.839, trong đó: đường bê tông nhựa (BTN) hơn 86km, đường láng nhựa hơn 391km, đường bê tông xi măng (BTXM) 1,45 km và  đường cấp phối hơn 425km.

   Đường huyện, xã quản lý có hơn 4.700km, trong đó đường các huyện, thành phố quản lý (kể cả đường đô thị) có tổng chiều dài gần 1.279km, trong đó đường BTN hơn 142km, đường láng nhựa 269km, đường BTXM gần 30km, đường cấp phối hơn 747km và đường đất còn khoảng 90km. Đường đô thị có hơn 386km, trong đó bê tông nhựa hơn 122km, láng nhựa hơn 106km, bê tông xi măng hơn 18km, cấp phối hơn 130km và đường đất còn khoảng 9km.

   Đường xã quản lý có hơn 3.423km, trong đó láng nhựa gần 43km, bê tông xi măng hơn 306km, đường gạch, đá 31km, cấp phối gần 1.840 km và đường đất còn hơn 1.203km.

   Toàn tỉnh có 942chiếc cầu/32.601m, trong đó cầu bê tông cốt thép (BTCT) có 672chiếc/23.156m, cầu thép có 193chiếc/6.419m; cầu treo 8chiếc/848m; cầu gỗ 69 chiếc/2.178m.

   Cầu trên các trục đường tỉnh gồm 268chiếc/14.929,3m, trong đó: 11.658,52m/190chiếc bê tông dự ứng lực (BTDUL), 90,5m/4chiếc, cầu thép mặt thép 358,6m/5 chiếc, cầu thép mặt gỗ 2.245,68m/64chiếc và cầu treo còn 576m/5 chiếc.

   Từ năm 2010 đến nay, toàn tỉnh đã tăng thêm gần 800km đường mới, trong đó đường tỉnh có thêm 100km, đường huyện xã quản lý tăng thêm 700km. Đáng chú ý là  đường tỉnh được nhựa hoá đã tăng thêm hơn 190km. Đường huyện xã quản lý được nhựa hoá và bê tông hoá đã tăng thêm hơn 790km.

   Trong lĩnh vực xây dựng giao thông nông thôn, các địa phương trong tỉnh cũng đã huy động được hơn 1.605 tỷ đồng vốn xây dựng đường sá, cầu cống, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ gần 97 tỷ; ngân sách tỉnh hỗ trợ hơn 355 tỷ ; ngân sách huyện hơn  638 tỷ; ngân sách xã hơn 205 tỷ; tổ chức, doanh nghiệp đóng góp hơn 10 tỷ và  nhân dân đóng góp gần 298 tỷ. Đã xây dựng mới và nâng cấp được 2.423km đường, trong đó đường đô thị hơn 107km; đường huyện hơn 431km; đường xã hơn 1.011km; đường thôn (ấp) hơn 397km; đường ngõ, xóm hơn 476km. Ngoài ra còn xây dựng được 603 cây cầu các loại với tổng chiều dài hơn 15.716m.

   Có khá nhiều xã điển hình nổi bật đã phát động tốt phong trào xây dựng giao thông nông thôn như:

+/ Xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng đã huy động được 18,691 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 10,854 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 33,61km đường và 09 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 304m.

+/ Xã Long Trì, huyện Châu Thành đã huy động được 12,329 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 5,397 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 23,67km đường và 06 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 87m.

+/ Xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ đã huy động được 10,639 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 4,673 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 35,628km đường và 36 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 916m.

+/ Xã Quê Mỹ Thạnh, huyện Tân Trụ đã huy động được 7,940 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 4,331 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 21,03km đường.

+/ Xã An Nhật Tân, huyện Tân Trụ đã huy động được 6,373 tỷ đồng, trong đó  vốn nhân dân đóng góp 3,439 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 17,58km đường.

+/ Xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước đã huy động được 7,269 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp 1,166 tỷ; Xây dựng mới và nâng cấp được 25,897km đường và 02 cây cầu các loại với tổng chiều dài là: 60m.

  Để chuẩn bị tổng kết 5 năm phong trào huy động nguồn lực làm đường giao thông nông thôn, Sở GTVT đã đề xuất và được Ban Chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh thống nhất đề nghị Chính phủ tặng Bằng khen cho 1 Xã, Bộ GTVT tặng Bằng khen cho 2 Xã và Tỉnh tặng Bằng khen cho 5 Xã về xây dựng giao thông nông thôn. Qua đợt tổng kết này, sẽ có nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra, để công tác xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới sẽ được thực hiện tốt hơn.

   Mặc dù từ năm 2010 đến nay, kinh phí đầu tư của ngân sách TW và tỉnh không nhiều, bình quân mỗi năm khoảng 500 tỷ, nhưng với nỗ lực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, đặc biệt là phong trào hiến đất làm đường giao thông nông thôn, người dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần giá trị đất để nâng cấp, mở rộng đường, doanh nghiệp ứng trước vốn đầu tư xây dựng đường, toàn tỉnh đã huy động được hơn 1300 tỷ đồng.

  Cũng từ năm 2010 đến nay, TW đã đầu tư nhiều tuyến đường quan trọng trên địa bàn tỉnh. Quốc lộ 50 đoạn qua Long An đã được nâng cấp, hoàn thiện. Đặc biệt là 2 đoạn tuyến tránh qua Thị trấn Cần Giuộc và Cần Đước đã hoàn thành đưa vào sử dụng vào cuối năm 2012. Quốc lộ N2, đoạn Tân Thạnh-Mỹ An cũng sắp hoàn thành đưa vào sử dụng trong tháng 7 năm 2013. Các dự án Cầu Mỹ Lợi, Đường Hồ Chí Minh, Âu Tàu Rạch Chanh, nạo vét tuyến đường thuỷ Bến Lức - Thủ Thừa - Rạch Chanh, nâng cấp Cầu An Thạnh (Bến Lức), xây dựng mới Cầu An Hoà (Thủ Thừa) và đường cao tốc Bến Lức-Long Thành cũng đã được khởi động, giải phóng mặt bằng và khởi công xây dựng một số hạng mục.

   Tuy vậy, đã quá nữa chặng đường của nhiệm kỳ đại hội IX Đảng bộ tỉnh. Nhìn lại những chỉ tiêu quan trọng của ngành GTVT, vẫn còn quá nhiều trăn trở. Số km đường trải nhựa, các tuyến đường nông thôn được bê tông hoá, số lượng đường vào xóm ấp, khu dân cư sạch không lầy lội vào mùa mưa vẫn còn chưa nhiều theo mong muốn. Số tuyến đường mở mới, số km đường được nâng cấp đạt chuẩn vẫn còn ít so với khả năng và tiềm lực.

    Để có thể đạt được kết quả theo mong muốn, ngoài nỗ lực của ngành GTVT, cũng rất cần sự cảm thông, ủng hộ của các cấp lãnh đạo và xã hội. Ưu tiên bố trí các nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho công trình giao thông; Tăng tính khả thi của các dự án giao thông phù hợp với điều kiện thực tiễn như: Điều chỉnh qui mô, trước hết, bảo đảm các tuyến đường tỉnh đủ 2 làn xe ô tô chạy với tốc độ 40-60km/giờ; Các tuyến đường huyện  đáp ứng yêu cầu tối thiểu 1 làn xe ô tô có đoạn tránh xe; Đường liên ấp có mặt đường bằng bê tông xi măng dầy tối thiểu 12cm, chiều rộng mặt đường từ 2,5m - 3,5m, có đoạn tránh xe; Tăng cường huy động vốn từ nguồn lực ngoài nhà nước, trong đó chú trọng nguồn lực từ sức dân góp đất, góp công và có thể đóng góp kinh phí cho một phần vật liệu; Tạo điều kiện thật thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp, thông qua hình thức ứng trước kinh phí thi công xây dựng, thanh toán theo lộ trình và kế hoạch dài hạn; Tạo sự đồng thuận cao từ người dân, thông qua các hội, đoàn thể dưới sự lãnh đạo thống nhất của cấp uỷ, hội đồng nhân dân, mặt trận tổ quốc và chính quyền các cấp, là những biện pháp quan trọng và quyết định để ngành GTVT sớm hoàn thành các chỉ tiêu của nhiệm kỳ Đại hội IX Đảng bộ tỉnh 2010-2015.  

       Mỗi tuyến đường được xây dựng mang lại bao niềm vui, hạnh phúc đến cho nhiều người, nhiều nhà. Cũng có những con đường sẽ chắp cánh, cho bao ước mơ bay cao, bay xa. Và, nếu có bất cứ con đường, cây cầu được xây dựng xong, mở mới, nâng cấp cũng sẽ là nền tảng cho tương lai, cho đất nước phát triển, vững bền.

      Ngành GTVT Long An sẽ tiếp tục nỗ lực nhiều hơn nữa để cho những tuyến đường trải dài đến mọi miền, mọi nhà./.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Đặc điểm cấu trúc địa chất tỉnh Long An  Đặc điểm cấu trúc địa chất tỉnh Long An 
Long An, nằm ở rìa Đông Nam của đới Đà Lạt. Đây là đới kiến tạo - sinh khoáng tương đối độc lập, có móng là vỏ lục địa tiền CamBri, bị sụt lún trong Jura sớm - giữa và trải qua chế độ rìa lục địa vào Mesozoi muộn. Vào cuối Mesozoi và trong Kainozoi, đới Đà Lạt bị hoạt hóa mạnh mẽ. Trong Neogen - Đệ tứ phần lãnh thổ này tham gia vào bồn trũng MêKông bị sụt lún mạnh và lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên.

Trên địa bàn tỉnh Long An phát triển chủ yếu các thành tạo trầm tích Neogen - Đệ tứ:

- Các trầm tích cuội kết, cát kết, sét bột kết hệ tầng Cần Thơ (N21ct) có diện tích phân bố rộng.

 - Cuội sỏi kết, cát kết, bột kết, sét kết hệ tầng Năm Căn (N22nc) có diện tích phân bố rộng.

 - Các thành tạo trầm tích sông gồm cuội, sỏi, sạn, cát, sét, kaolin hệ tầng Củ Chi (aQ23cc) phân bố chủ yếu trên diện tích các xã Lộc Giang, Đức Lập Thượng, Mỹ Hạnh Bắc, Hòa Khánh Đông, An Ninh Tây thuộc huyện Đức Hòa.

 - Các thành tạo trầm tích sông biển gồm bột, sét ít thạch cao hệ tầng Mộc Hóa (amQ21mh) phân bố chủ yếu trên diện tích các huyện Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng.

 - Các thành tạo trầm tích sông gồm cuội, sỏi, sạn, cát, sét kaolin hệ tầng Hậu Giang (mQ21hg) phân bố chủ yếu trên diện tích các huyện Tân Thạnh, Mộc Hóa, Tân Hưng.

 - Các thành tạo trầm tích Holocen trung - thượng (aQ22-3) gồm các trầm tích sông (cát, bột, sét), sông - đầm lầy (bột, sét, di tích thực vật, than bùn), chúng là các trầm tích thềm, bãi bồi và tích tụ lòng sông phân bố hầu khắp trên diện tích các huyện thuộc tỉnh Long An.

Theo kết quả điều tra địa chất tỷ lệ 1:200.000 trên diện tỉnh ghi nhận 2 hệ thống đứt gãy chính theo phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam. Các hệ thống đứt gãy này được phát hiện theo các tài liệu địa vật lý và các dấu hiệu địa chất gián tiếp./.

(Theo tài liệu Cục Địa chất và Ksản VN 2006)

                                                                                        

Sở Tài nguyên và Môi trường

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Địa hình - Thổ nhưỡng  Địa hình - Thổ nhưỡng 
Tỉnh Long An có địa hình đơn giản, bằng phẳng nhưng có xu thế thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam. Địa hình bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Phần lớn diện tích đất của tỉnh Long An được xếp vào vùng đất ngập nước.

Khu vực tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc (Đức Huệ, Đức Hòa). Khu vực Đồng Tháp Mười địa hình thấp, trũng có diện tích gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Khu vực tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc (Đức Huệ, Đức Hòa). Khu vực Đồng Tháp Mười địa hình thấp, trũng có diện tích gần 66,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm. Khu vực Đức Hòa, một phần Đức Huệ, Bắc Vĩnh Hưng, thị xã Tân An có một số khu vực nền đất tốt, sức chịu tải cao, việc xử lý nền móng ít phức tạp. Còn lại hầu hết các vùng đất khác đều có nền đất yếu, sức chịu tải kém.
     Về phương diện địa chất - trầm tích thì chỉ có nhóm đất xám (phù sa cổ) thuộc trầm tích Pleistocene, phần còn lại có nguồn gốc từ lắng tụ của phù sa trẻ, trầm tích Holocene. phần lớn đất đai Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bời rời, tính chất cơ lý rất kém, các vùng thấp, trũng tích tụ nhiều độc tố làm cho đất trở nên chua phèn. Qua điều tra cơ bản, Long An có các nhóm đất chính :
      • Nhóm đất phù sa cổ: Phân bổ ở địa hình cao 2 - 6 m so với mặt biển, bao gồm các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng. Do địa hình cao thấp khác nhau nên chịu tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn.
      • Nhóm đất phù sa ngọt : Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, phân bổ chủ yếu ở các huyện, thị : Tân Thạnh, Thị xã Tân An, Tân Trụ, Cần Đước, Bến Lức, Châu Thành và Mộc Hóa.
      • Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: phân bố ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Tân Trụ. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thường bị nhiễm mặn trong mùa khô.
      • Nhóm đất phèn: phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười và kẹp giữa 2 dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Đất giàu chất hữu cơ, nồng độ độc tố trong đất cao (Cl-, Al3+, Fe2+ và SO42-), mất cân đối nghiêm trọng NPK.
      • Nhóm đất phèn nhiễm mặn: phần lớn phân bố trong vùng hạ tỉnh Long An và bị nhiễm mặn trong mùa khô.
      • Nhóm đất than bùn: phân bổ ở phía Nam huyện Đức Huệ, giáp với huyện Thạnh Hóa.
      Qua những đặc điểm về thổ nhưỡng cho thấy tỉnh Long An có nhiều bất lợi trong tổ chức sản xuất nông nghiệp. Vừa mang những nét đặc thù của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, vừa mang sắc thái riêng của vùng đất chua, phèn, mặn nên tỉnh cần có những giải pháp riêng định hướng phát triển vùng, nhất là sản xuất nông nghiệp.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Khí hậuKhí hậu
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng ĐBSCL lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông.

Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 -27,7 oC. Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9 oC, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2oC.
      Lượng mưa hàng năm biến động từ 966 -1325 mm. Mùa mưa chiếm trên 70 - 82% tổng lượng mưa cả năm. Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh thành phố Hồ Chí Minh xuống phía Tây và Tây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.
      Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 - 82 %.
     Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 - 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500 - 2.800 giờ. Tổng tích ôn năm 9.700 -10.100oC. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2-4oC.
      Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60-70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70%.
      Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa.
      Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp
.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-khihau.jpg
Di tích lịch sử "Chùa Tôn Thạnh" Di tích lịch sử "Chùa Tôn Thạnh"
        Nằm cạnh tỉnh lộ 835 thuộc địa phận xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc là một ngôi chùa đã nổi tiếng từ lâu trong lịch sử và văn học: Chùa Tôn Thạnh - một di tích lịch sử đã được Bộ VHTT xếp hạng cấp Quốc gia ngày 27/11/1997 (theo số quyết định 2890-VH/QĐ).

ChuaTonThanh.jpg

Chùa Tôn Thạnh ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được Thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808. Thiền sư có thế danh là Nguyễn Ngọc Dót, con của ông Nguyễn Ngọc Bình và bà Trà Thị Huệ ở làng Thanh Ba tổng Phước Điền Trung huyện Phước Lộc.

         Từ thuở còn niên thiếu ông đã có tâm mộ đạo và nhiều lần xin phép song thân xuất gia đầu Phật. Cha ông cố ngăn con mới bảo rằng: '' Nghe nói đạo Phật tất cả đều không, hà huống có thân, con muốn xuất gia theo Phật hãy cầm cục lửa than cho cha châm thuốc cha mới tin con quyết tâm theo Phật''. Ông liền vào nhà bếp cầm một cục than hồng vào tay trái lên, mặc không biến sắc. Cha ông thấy vậy đành để cho ông quy y.

Chùa Tôn Thạnh

 

       Ban đầu thiền sư tu học ở chùa Vĩnh Quang, gần chợ Trường Bình, được sư phụ đặt cho pháp danh là Viên Ngộ. Thuở ấy đường vào chợ Trường Bình cỏ cây rậm rạp, lầy lội khó đi, hùm beo, thú dữ thường ra làm hại người. 
       Thấy vậy thiền sư Viên Ngộ phát nguyện một mình chặt cây, đắp đường từ chợ Trường Bình xuống thôn Tích Đức và phường Hòa Thuận dài 250 trượng. Năm Gia Long thứ 7 (1808) sư Viên Ngộ đến làng Thanh Ba (nay thuộc xã Mỹ Lộc) cất chùa Lan Nhã - đó chính là chùa Tôn Thạnh hiện nay. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, đây là ngôi chùa ''rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng'' nổi tiếng ở đất Gia Định xưa. Thiền sư còn cho đúc tượng Điạ Tạng Bồ Tát bằng đồng để thờ trong chùa. Tương truyền, khi đúc lần đầu, tượng Bồ Tát bị khuyết, thiền sư Viên Ngộ đã chặt một ngón tay của mình cho vào nồi nước đồng để tượng đúc lần sau được viên mãn.      
     Ông không những là một người con chí hiếu mà còn là một người đầy lòng từ bi bác ái. Khi cha bị bệnh, thiền sư đã thề trước Phật đài là sẽ ''trường tọa'' 10 năm để kéo dài tuổi thọ cho cha. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong vùng có dịch đậu mùa, sư Viên Ngộ đã nguyện ''trì kinh niệm Phật, chung thân tịch cốc'' để cầu cho nhân dân thoát khỏi cơn tai ách. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), ông thấy mình đã xuất gia 40 năm mà chưa đắc đạo nên tịch thủy 49 ngày rồi viên tịch. Pháp thân của ông được tăng chúng an táng ở bảo tháp phía tây chùa Tôn Thạnh. Tưởng nhớ đến một thiền sư suốt đời hy sinh thân mình để đem lại điều lành cho chúng sinh, nhân dân đã gọi chùa Tôn Thạnh là chùa Tăng Ngộ hay chùa Ông Ngộ. Mười sáu năm sau khi thiền sư Viên Ngộ viên tịch, chùa Tôn Thạnh đã đi vào lịch sử nước nhà với bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Trong ba năm 1859-1861 nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và làm thuốc. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm Tân Du, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người ''dân ấp dân lân'', nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: ''Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ''.
     Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh ngày nay không còn nguyên vẹn cảnh ''rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng'' như xưa. Thay vào đó là một tổng thể kiến trúc bao gồm tiền điện, chánh điện, nhà giảng, đông lang, tây lang mái lợp ngói, tường gạch. Tuy nhiên chùa Tôn Thạnh vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX, và các hoành phi câu đối chữ hán sơn son thếp vàng. Bên phải chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Đến viếng chùa Tôn Thạnh, thăm lại một danh lam của đất Gia Định xưa, thắp nén nhang tưởng niệm trước bảo tháp của vị cao tăng Viên Ngộ và tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ngày nào đã từng ở nơi đây để viết nên những áng văn tuyệt tác, chắc hẳn chuyến tham quan của du khách sẽ rất thú vị và bổ ích.

04/08/2014 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/ChuaTonThanh.jpg
Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"
- Nhà Võ Công Tồn được xây dựng khoảng năm1910, theo kiểu chữ ''công'' (I) ba gian, hai chái với chất liệu bê tông, mái ngói. Năm 1984, do bị xuống cấp, ngôi nhà bị phá bỏ, chỉ tận dụng lại móng, nền, ngói để dựng ngôi nhà mới có diện tích 128m2. Trang trí bên trong nhà mang phong cách chung của các ngôi nhà khá giả cuối thế kỷ XIX với bao lam, hoành phi, câu đối. Nổi bật ở nhà Võ Công Tồn là bao lam với đề tài đa dạng được thể hiện sinh động bởi kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi, cẩn ốc xà cừ rất công phu và có giá trị về mặt điêu khắc, chạm gỗ.

 

Võ Công Tồn (1891 - 1942)

Địa thế nhà Võ Công Tồn rất tiện lợi để che mắt địch: cây cối rậm rạp, hàng rào cây xanh, hào sâu bao bọc và chỉ một cổng vào duy nhất là cầu bắt qua hào, đêm đến cầu được rút đi và có những chú chó tinh khôn canh gác. Cảnh quan di tích hiện nay vẫn không thay đổi nhiều. Nhân dân làng Long Hiệp vốn có truyền thống yêu nước, sẳn sàng chở che, đùm bọc cho những người yêu nước và các đảng viên Cộng sản, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng. Võ Công Tồn là một điển hình ấy. Ngôi nhà của ông là cơ sở tin cậy của các phong trào yêu nước:
- Thiên điạ hội, Hội kín Nguyễn An Ninh; nơi bác Tôn Đức Thắng tổ chức lớp học truyền bá tư tưởng cách mạng chống thực dân Pháp năm 1928; nơi sinh ra và lớn lên của nhà yêu nước Võ Công Tồn (1891-1942)- người đã cống hiến nhiều công, của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ Đảng còn non trẻ. Giáo sư Trần Văn Giàu đã ghi nhận: ''Võ Công Tồn cùng với Nguyễn An Ninh là hình ảnh của ''Núi Hai Vì'' hai tấm gương lớn về hoạt động cách mạng ở Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX''(1). HĐNN nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng ông Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1986; tên của ông được đặt cho một con đường tại tỉnh lỵ Long An.
- Khu Lò gạch Võ Công Tồn nằm về phía đông nam Nhà Võ Công Tồn, khoảng 1km. Trước kia khu Lò gạch có 3 lò sản xuất gạch ngói với hơn 300 công nhân. Hiện còn lại 1 lò gạch đã vỡ ¾ và một số nền móng sân nhà. Đây là nơi Võ Công Tồn sản xuất và kinh doanh gạch ngói tạo nguồn tài chính cung cấp cho Đảng, cơ sở tin cậy của Đảng bộ Chợ Lớn, Xứ ủy Nam kỳ và các phong trào yêu nước trước năm 1945; là nơi hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như Nguyễn An Ninh; nơi ra đời của chi Bộ Đảng ấp Lò Gạch năm 1935; nơi Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thị Minh Khai mở lớp học 20 ngày để tuyên truyền vận động cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin cho đông đảo công nhân Lò gạch năm 1936

''Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn'' đã được UBND tỉnh Long An đăng ký di tích lịch sử tại số 3639/QĐ-UB ngày 18/12/2000 và hiện nay (7-2003) đang trình Bộ VHTT nâng cấp thành di tích cấp quốc gia.
(1) : Trích bài phát biểu của Giáo sư Trần Văn Giàu trong hội thảo kỷ yếu của Võ Công Tồn 1995

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-upload-19 (1).JPG
Khoáng sản  Khoáng sản 
Theo kết quả điều tra năm 1996 than bùn được tìm thấy ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười như Tân Lập - Mộc Hóa, Tân Lập - Thạnh Hóa (Tráp Rùng Rình), Tân Thạnh (Xã Tân Hòa), Đức Huệ (xã Mỹ Quý Tây, Trấp Mốp Xanh).

Trữ lượng than thay đổi theo từng vùng và chiều dày lớp than từ 1,5 đến 6 mét. Cho đến nay chưa có tài liệu nghiên cứu nào xác định tương đối chính xác trữ lượng than bùn nhưng ước lượng có khoảng 2,5 triệu tấn.
     Than bùn là nguồn nguyên liệu khá tốt để chế biến ra nhiều loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Theo kết quả phân tích đánh giá về chất lượng cho thấy than bùn ở Long An có độ tro thấp, mùn cao, lượng khoáng cao, có thể sử dụng làm chất đốt và phân bón.
Việc khai thác than sẽ thúc đẩy quá trình oxy hóa và thủy phân tạo ra acid sulfuric, đây là chất độc ảnh hưởng đến cây trồng và môi trường sống.
     Ngoài than bùn, tỉnh còn có những mỏ đất sét (trữ lượng không lớn ở khu vực phía Bắc) có thể đáp ứng yêu cầu khai thác làm vật liệu xây dựng.
     Trong thời gian qua, do quản lý nhà nước chưa chặt chẽ nên một số tổ chức và cá nhân khai thác than bừa bãi ảnh hưởng đến môi trường khu vực xung quanh. Trong tương lai, cần phải tổ chức khai thác thận trọng hơn vừa đáp ứng ứng yêu cầu kinh tế nhưng không ảnh hưởng đến môi trường dân sinh.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Danh mục di tích lịch sử-văn hóa tỉnh Long An được Bộ Văn hóa -Thông tin xếp hạng cấp quốc gia Danh mục di tích lịch sử-văn hóa tỉnh Long An được Bộ Văn hóa -Thông tin xếp hạng cấp quốc gia
DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA TỈNH LONG AN ĐƯỢC BỘ VĂN HÓA-THÔNG TIN XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA (TÍNH ĐẾN 5/2013)

STT

TÊN DI TÍCH

SỐ QUYẾT ĐỊNH

ĐỊA CHỈ

 

THÀNH PHỐ TÂN AN         1 DT

 

 

1

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ QUẬN CÔNG NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

Số 534QĐ/BT,  ngày 11/5/1993

Phường  Khánh Hậu, thành phố Tân An

 

HUYỆN BẾN LỨC                 1 DT

 

 

2

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

Số 02/2004/QĐ-BVHTT, ngày 19/1/2004

Xã Long Hiệp, huyện Bến Lức

 

HUYỆN CẦN ĐƯỚC             3 DT

 

 

3

NHÀ TRĂM CỘT

Số 2890-VH/QĐ, ngày 27/9/1997

Xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước

4

VÀNH ĐAI DIỆT MỸ RẠCH KIẾN

Số 1460-QĐ/VH,  ngày 28/6/1996

Xã Long Hựu Hòa, huyện Cần Đước

5

CHÙA PHƯỚC LÂM

Số 53/2001-QĐ-BVHTT,  ngày 28/12/2001

Xã Tân Lân, huyện Cần Đước

 

 

HUYỆN CẦN GIUỘC        2 DT

 

 

6

CHÙA TÔN THẠNH

Số 2890-VH/QĐ,  ngày 27/9/1997

Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc

 

7

RẠCH NÚI

Số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/6/1999

Xã, Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc

 

 

 

HUYỆN ĐỨC HÒA    3 DT

 

 

8

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

Số 1570-VH/QĐ, ngày 5/9/1989

Xã Đức Hòa  Hạ, huyện Đức Hòa

9

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

Số 1570-VH/QĐ, ngày 5-9-1989

Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa

10

ĐỊA ĐIỂM AN SƠN

Số 324/QĐ-BHTTDL, ngày 26/1/2011.

Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa

 

 

HUYỆN ĐỨC HUỆ         1 DT

 

 

11

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

Số 3518/1998-QĐ-BVHTT,  ngày 4-12-1998

Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ

 

HUYỆN CHÂU THÀNH      2  DT

 

 

12

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

Số 04/2001-QĐ-BVHTT,  ngày 19/1/2001

Xã Phú Ngãi Trị,  huyện Châu Thành

13

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

Số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 3/8/2007.

Xã Thanh Phú Long,  huyện Châu Thành

 

 

HUYỆN VĨNH HƯNG   1 DT

 

 

14

GÒ Ô CHÙA

Số 02/2004/QĐ-BVHTT, ngày 19/1/2004

Xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng

 

HUYỆN TÂN THẠNH      1 DT

 

 

15

CĂN CƯ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN-HÀNH CHÁNH NAM BỘ

Số 42/2007/QĐ-BVHTT, ngày 3/8/2007.

Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh.

 

HUYỆN TÂN TRỤ         1 DT

Số 1460-QĐ/VH,  ngày 28/6/1996

Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ.

16

VÀM NHỰT TẢO

 

 

 

HUYỆN THỦ THỪA   1 DT

 

 

17

ĐÌNH VĨNH PHONG

Số 1811/1998-QĐ-BVHTT, ngày31/8/1998

Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa

 

04/08/2014 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/imagesas.jpg
Dân số Long An - Những cột mốc lịch sử quan trọngDân số Long An - Những cột mốc lịch sử quan trọng
Long An có lịch sử hình thành và phát triển trên 300 năm. Theo biến thiên của thời gian và lịch sử, từ những lưu dân đầu tiên khai phá vùng đất phương nam, vượt qua bao nhiêu khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ, đến nay cộng đồng dân cư Long an đã phát triển gần 1,5 triệu người. Người dân Long An luôn nêu cao truyền thống '' trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc'' trong chiến đấu và cần cù, sáng tạo trong lao động.

Cả cộng đồng đang tích cực xây dựng gia đình ít con. ấm no , hạnh phúc, cùng chung tay góp sức bảo vệ và xây dựng quê hương Long An giàu đẹp.

  image-upload-12.JPG
Đa dạng hóa công tác truyền thông dân
số-KHHGĐ bằng các hình thức hội thi.
Theo tài liệu ''Địa chí Long An'' (Thạch Phương và Lưu Quang Tuyến chủ biên, do nhà xuất bản Long An và Khoa học - Xã hội xuất bản năm 1989) thì tính đến nay, cộng đồng dân cư Long An, đã có một lịch sử hình thành và phát triển của dân số Long An diễn ra theo những cột mốc lịch sử quan trọng sau:
Vào năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định. Ông lập đất Nông Nại thành phủ Gia Định, phân làm hai huyện: Phước Long trên vùng đất Đồng Nai có lỵ sở là dinh Trấn Biên và Tân Bình trên vùng đất Sài Côn có lỵ sở là dinh Phiên Trấn. Huyện Tân Bình có 4 tổng: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc và Thuận An. Trong đó hai tổng Phước Lộc và Thuận An thuộc Long An ngày nay.

Hai tổng Phước Lộc và Thuận An nằm trong lưu vực của sông Vàm Cỏ và sông Rạch Cát, đất đai phì nhiêu màu mỡ dễ canh tác, hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi, có nguồn nước ngọt dồi dào nên đã thu hút nhiều người Việt đến đây khai phá, sinh sống. Vào khoảng thời gian này dân số của cả Gia Định là 4 vạn hộ với khoảng 200.000 người.

Vào thập kỷ 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Thuận An và Phước Lộc (tức phần đất Long An ngày nay) đã có khoảng 350 thôn với số dân đinh là 15.000 người. ước tính tổng dân số khoảng 75.000 người. Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn ánh (1777-1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân số ở khu vực Sài Gòn và các vùng phụ cận, trong đó có Long An. Trong sự nổ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ Nguyễn, Nguyễn ánh đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến với Tây Sơn. Từ năm 1790 Nguyễn ánh cũng đã lệnh cho quân đội vỡ thêm ruộng đất, đặt một số cơ sở đồn điền dọc theo hai bờ sông Vàm Cỏ để sản xuất lương thực. Từ đó hình thành nên các khu dân cư, trong đó giồng Cai Yến (Khánh Hậu) là một trong những điểm định cư tương đối sớm của lưu dân Long An.

Sang thế kỷ XIX, năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn ánh chấm dứt. Nhà Nguyễn đã có chủ trương khai hoang, di dân lập ấp, kéo theo các luồng lưu dân mới từ đàng ngoài đã bổ sung vào cộng đồng dân cư Long An     

  image-upload-21.JPG

 Ông Trần Hữu Phước-PCT.UBND tỉnh tặng
 quà lưu niệm cho những đại biểu xuất sắc
của phong trào bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
 trẻ em tỉnh

Năm 1868, nhà Nguyễn thăng tổng Thuận An thành huyện Thuận An (vùng Bến Lức, Thủ Thừa), thăng tổng Phước Lộc thành huyện Phước Lộc (vùng Cần Đước, Cần Giuộc). Năm 1841 đặt thêm huyện Tân Thạnh (vùng Vàm Cỏ và Thị xã). Việc đặt thêm các đơn vị hành chánh phản ánh một yêu cầu mới về mặt quản lý xã hội mà bộ máy cai trị cũ không đủ giải quyết khi dân số tăng lên, nên thời kỳ này dân số Long An đã tăng nhanh hơn trước.

Do nằm trên vị trí chiến lược nên trong quá trình phát triển, Long An có nhiều biến đổi về địa giới hành chánh và dân cư.

          Các thống kê dân số ở Long An từ năm 1900 đến 1930 cho thấy trong vòng 30 năm số dân Long An từ 265.000 lên 355.000 người. Số tăng bình quân hàng năm là 3.000 người.

Vào giai đoạn 15 năm cuối cùng của chế độ Thực dân Pháp (1930-1945), dân số Long An mỗi năm tăng trung bình 12.000 người, gấp 4 lần giai đoạn trước. Ngay trong thời kỳ này, về mặt phân bố dân cư trong địa bàn tỉnh ta cũng có vấn đề đặt ra gay gắt và chính quyền thực dân cũng đưa ra nhiều phương án giải quyết nhưng không hiệu quả. Đó là tình trạng chênh lệch dân số quá lớn ở các vùng. Theo ''bản phúc trình'' của viên Chánh Thanh biện tỉnh Tân An (16-8-1934) thì mật độ dân số ở các huyện phía Nam lúc bấy giờ là 170 người/km2, trong khi đó phía Bắc chỉ có 7 người/km2, chênh lệch gấp 24 lần. Bản phúc trình nêu rõ: ''Cần phải báo động dân số cả tỉnh tăng 3.000 người mỗi năm, nếu sự khai thác đất đai mới không phát triển theo tỷ lệ đó thì trong vài mươi năm nữa chúng ta sẽ ở vào tình trạng như Đồng bằng Bắc Kỳ rất màu mỡ, sản xuất lúa chỉ đủ cho nhân dân ăn''.

Vào thời kỳ Mỹ - Diệm, cuối năm 1956 với mưu đồ chia cắt nhỏ từng địa phương để chống phá cách mạng, chính quyền Ngô Đình Diệm phân Tân An thành 2 tỉnh Long An và Kiến Tường. Trong những năm 1955-1956, Ngô Đình Diệm còn chủ trương đưa 100.000 đồng bào công giáo di cư  vào cấm chốt sâu ở vùng Mộc Hóa, Tân Thạnh, Vĩnh Hưng với ý định lập 16  ''khu dinh điền'' và 5 xã mới dọc biên giới Camphuchia - Việt Nam, đồng thời Diệm cũng di dân từ miền Trung vào Đồng Tháp Mười, góp phần làm tăng thêm dân số khu vực này.

Sau ngày đất nước được thống nhất, địa giới Long An được định hình rõ ràng như ngày nay. Cuộc tổng điều tra dân số lần thứ nhất vào 0h ngày 01-10-1979 thì dân số Long An là 949.200 người. So với dân số cả nước thời đó thì dân số Long An chiếm tỷ lệ 1,8% đứng hàng thứ 8 ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

Nghị quyết của Đại hội tỉnh Đảng bộ Long An lần thứ 3 (1983) đã nêu quyết tâm khai thác tiềm năng Đồng Tháp Mười, trong đó có kế hoạch ''lắp kín'' Đồng Tháp Mười bằng cây lúa và cây tràm; đồng thời nêu những biện pháp cụ thể về điều phối lao động, di dân các huyện phía Nam lên phía Bắc, các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và các tỉnh miền Bắc vào xây dựng Đồng Tháp Mười. Từ nổ lực đã góp phần điều chỉnh dân số giữa các vùng trong tỉnh, xây dựng các khu dân cư mới, thu hút nhân dân đến sinh sống.

Vào 0h ngày 01-4-1989 Long An tiến hành tổng điều tra dân số lần thứ 2 lúc đó dân số cả tỉnh là 1.120.204 người.

Đến nay về mặt hành chánh Long An có 14 huyện, thị xã và 190 xã, phường. Kết quả tổng điều tra dân số lần 3 vào lúc 0h ngày 01-4-1999, dân số Long An đã tăng lên 1.306.202 người. Giữa 2 kỳ tổng điều tra (1989-1999) thì dân số Long An đã tăng lên 185.998 người trong 10 năm qua (tăng 16,6%), bình quân tăng mỗi năm 1,55%.

Trong giai đoạn từ 01-10-1979 đến 01-4-1989 dân số Long An tăng bình quân 1,75%. Trong giai đoạn từ 01-4-1989 đến 01-4-1999 dân số Long An tăng bình quân1,55%. Như vậy so với thập kỷ trước, thập kỷ 90 tỉnh ta giảm bình quân mỗi năm 2%o. Điều này khẳng định sự đóng góp tích cực của chương trình dân số-kế hoạch hoá gia đình trong thời gian qua.

Với những nổ lực trong công tác dân số- kế hoạch hoá gia đình, năm 1999, Việt Nam đã được Liên Hiệp Quốc trao tặng giải thưởng về dân số-  giải thưởng cao nhất dành cho đơn vị duy nhất có thành tích xuất sắc trong chương trình dân số được tổ chức mỗi năm một lần. Riêng Long An thì được Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng III về thành tích trong lĩnh vực dân số. Những năm 1999- 2000, cơ bản Long An đã đạt được mức sinh thay thế     ( bình quân trong toàn xã hội mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con).

Thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2001- 2010, công tác dân số đã chuyển hướng tiếp cận từ kế hoạch hoá gia đình sang sức khoẻ sinh sản theo tinh thần hội nghị Cai- Rô ( Ai- Cập) năm 1994. Bên cạnh duy trì mục tiêu giảm sinh, chương trình bắt đầu chú trọng đến chất lượng dân số mà chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản là giải pháp quan trọng. Trong giai đoạn này sự biến động về tổ chức( hợp nhất Uỷ ban DS- KHHGĐ và Uỷ ban BVCSGDTE thành Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em); cùng với nhận thức chưa đúng về Pháp lệnh dân số; cộng với tâm lý thoả mãn, chủ quan của một bộ phận cán bộ về những kết quả bước đầu của công tác dân số... đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả chương trình. Liên tục trong hai năm 2002 - 2003 tỷ suất sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tăng trở lại đã ảnh hưởng kết quả công tác dân số nói riêng và phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh nói riêng.

Sau hơn một thập kỷ thực hiện chính sách dân số, so với dự báo thì Long An đã hạn chế gần 100.000 trường hợp sinh.  Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một tỉnh nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Năm 2006, dân số trung bình là 1.426.497 người, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là9,9%, tỷ lệ phát triển dân số là 0,96%. Tình hình tăng sinh đã được khống chế. Hiện toàn tỉnh có 6 xã, gần 300 ấp đạt chuẩn không có người sinh con thứ 3 trở lên. Nhiều mô hình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và nâng cao chất lượng dân số cộng đồng được triển khai bước đầu có hiệu quả. Công tác dân số được lồng ghép vào các chương trình phát triển kinh tế- xã hội; mô hình gia đình có 1 hoặc 2 con đang được xã hội đồng thuận như một chuẩn mực mới trong văn hoá về hôn nhân và sinh sản.....Những kết quả trên đã góp phần rất quan trọng vào chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, tạo thuận lợi cho công tác xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân.

Phùng Tấn Tú
( Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh) 

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-21.JPG
Chùa Phước Lâm Chùa Phước Lâm
Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Vào năm 1880, một lương y kiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Vì có công với làng nên ông Minh khi mất được dân chúng tôn làm hậu hiền và đưa vào phối tự trong đình Tân Lân. Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là Phước Lâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (do lệ cử tên húy ông Minh). Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm 3 phần: Chánh điện -  hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu ''bánh ít'', có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vảy cá.

Toàn bộ cột chùa chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập Điện Diêm Vương, Thiện, Aùc, Hộ Pháp, Kim Cương…và nhiều bộ bao lam, hoành phi, liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ. Đa số tượng Phật có chất liệu gỗ, đồng được chế tác từ thế kỷ XIX với một phong cách nghệ thuật mang đậm nét văn hóa Phật giáo Nam Bộ.

     Có một pho tượng rất đặc biệt tạc một vị Bồ Tát mình mặc cà sa, tay cầm phất trần, ngồi trên long mã bằng gỗ. Những bộ bao lam, hoành phi, liễn đối đều được chạm trổ rất công phu và là sản phẩm của cánh nghệ nhân họ Đinh ở Tân Lân Cần Đước(1).

Đặc biệt nhất là bức hoành '' Pháp luân thường chuyển” chạm lộng nhiều lớp có dạng cuốn thư với chủ đề cúc trĩ. Chữ thọ được chạm nổi tách làm đôi ở hai đầu cuốn thư và 4 chữ pháp luân thường chuyển sơn đỏ trên nền vàng góp phần làm tăng đường nét tinh xảo, sinh động cho hoành phi.

Chùa Phước Lâm 

​      Đây là một trong những bức hoành đẹp nhất ở Long An chứng minh cho trình độ nghệ thuật điêu luyện của nghề chạm khắc gỗ ở Cần Đước đã phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Cũng như những ngôi chùa làng khác ở Nam Bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường theo đúng công thức ''Tiền Phật, Hậu Tổ''. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công- người lập chùa , và bàn thờ của họ Bùi. Phía Ðơng chánh điện là 4 ngôi mộ tháp khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật, cầu kinh như để xua đi bao nổi ưu phiền của cuộc sống đời thường và hòa đồng với nhau trong tình thương bao la của Phật. Nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên có viết: ''Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hình ảnh của một ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, nhưng tiếc rằng ngôi già lam thể hiện một mảng văn hóa Phật giáo Nam Bộ này lại đang bị hư hại trầm trọng theo sự tàn phá nhanh chóng của thời gian''. Vào năm 2001, chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia.Với tấm lòng quý yêu một di sản văn hóa của cha ông,trong tuong lai ngôi cổ tự này sẽ được các cơ quan chức năng và đồng bào phật tử hợp sức trùng tu, tôn tạo để mãi mãi là một danh lam, một niềm tự hào của nhân dân địa phương.

     (1) Cánh thợ họ Đinh ở Cần Đước làm nghề chạm gỗ đến nay đã 5 đời. Tổ của họ này là nghệ nhân Đinh Văn Trì (sinh khoảng 1841) đã truyền nghề cho các nghệ nhân nổi tiếng sau: Đinh Công Tùng, Đinh Công Cai (thế hệ thứ 2); Đinh Văn Tất, Đinh Công Tồn (thế hệ thứ 3); Đinh Văn Năm (thế hệ thứ tư) Cánh thợ họ Đinh đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng ở chùa Giác Lâm (TPHCM), Hội quán Nghĩa Nhuận, Xóm Nhà Giàu (Xã Thanh Phú Long -Châu Thành), nhà Ông Cai Bằng (Tân Ân - Cần Đước), nhà Bà Phủ Phải (Chợ Quán -TPHCM)

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/phuoclam.JPG
Tài nguyên rừng Tài nguyên rừng
     Năm 1976 diện tích đất rừng của tỉnh Long An là 93.902 ha, chủ yếu là rừng tràm tạo nên hệ cân bằng sinh thái cho toàn khu vực Đồng Tháp Mười. Đến năm 1999 diện tích rừng còn lại là 37.829 ha, chiếm 8,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Trong đó : rừng tự nhiên là 1.553 ha, rừng trồng là 36.276 ha tập trung chủ yếu là các huyện Đồng Tháp Mười (Tân Hưng 13.731 ha, Tân Thạnh 5.540 ha, Mộc Hóa 4.581 ha, Vĩnh Hưng 3.035 ha, Thạnh Hóa 2.850 ha, Đức Hòa 1.243 ha và Đức Huệ 1.072 ha).
     Năm 2000 diện tích rừng là 44.481 ha. Cây trồng chủ yếu là cây tràm, cây bạch đàn. Theo điều tra đến tháng 6/2003 tổng diện tích rừng trồng tập trung 64.462 ha.Tổng trữ lượng rừng khoảng 71.715 m3 gỗ bạch đàn và 29, 77 triệu cây cừ tràm. Ngoài ra Long An là một trong những địa phương có phong trào trồng cây phân tán rất mạnh. 
     Nguồn tài nguyên động thực vật của hệ sinh thái rừng tràm trên đất trũng phèn ở Long An đã bị khai thác và tàn phá nặng nề. Từ đó đã tạo ra những biến đổi về điều kiện sinh thái, gây ra ô nhiễm môi trường, những đổi thay môi trường sống tự nhiên của sinh vật, tác động đến quá trình phát triển bền vững. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc giảm sút rừng là do quá trình tổ chức và khai thác thiếu quy hoạch, phần lớn diện tích đất rừng chuyển sang đất trồng lúa. 
     Trong tương lai tỉnh cần có chủ trương khôi phục dần hệ sinh thái rừng tràm . . .Đồng thời cố gắng duy trì một số khu vực bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/TaiNguyenRung.jpg
Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Ngày  15/4/2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 1299/QĐ-UBND duyệt đồ án quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với nội dung như sau:

* Chủ đầu tư lập quy hoạch: Ban Quản lý Dự án Quy hoạch Xây dựng – Sở Xây dựng Long An.

* Đơn vị tư vấn: Công ty Cổ phần Nước và Môi trường Việt Nam.

1. Phạm vi quy hoạch

Bao gồm toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Long An.

2. Quan điểm quy hoạch

- Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 phù hợp với định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu cụm công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An.

- Phát triển hoạt động cấp nước bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch; cung cấp nước ổn định, bảo đảm chất lượng, dịch vụ tốt và hiệu quả.

- Phát triển hệ thống cấp nước tỉnh Long An trong mối quan hệ với hệ thống cấp nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; quy hoạch cấp nước Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

3. Mục tiêu quy hoạch

- Cụ thể hóa định hướng cấp nước trong quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An.

- Xác định nhu cầu sử dụng nước sạch; khai thác hợp lý các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm); xác định nhu cầu đầu tư và phát triển hệ thống cấp nước tỉnh Long An đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch từng giai đoạn.

- Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch đến năm 2030 đạt 100%.

- Giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch đến năm 2015 đạt 25%, đến năm 2025 đạt 15%.

4. Tiêu chuẩn cấp nước

- Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt đến năm 2015 đạt 85 lít/người/ngày, đến năm 2020 đạt 90 lít/người/ngày, đến năm 2030 đạt 100 lít/người/ngày.

- Tiêu chuẩn cấp nước công nghiệp bình quân 30m3/ha/ngày.

5. Dự báo nhu cầu dùng nước

- Tổng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2020 là 420.077m3/ngày, trong đó:

+ Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt: 98.750m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước công nghiệp: 240.667m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước các loại hình dịch vụ khác: 16.580m3/ngày.

+ Nước thất thoát: 64.080 m3/ngày.

- Tổng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2030 là 735.969m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt: 210.848m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước công nghiệp: 391.743m3/ngày.

+ Nhu cầu sử dụng nước các loại hình dịch vụ khác: 37.382m3/ngày.

+ Nước thất thoát: 95.996m3/ngày.

6. Nội dung quy hoạch

a) Các nhà máy nước và nguồn nước:

* Vùng 1: Bao gồm thành phố Tân An và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ, Thủ Thừa.

Nhà máy Nước Bình Ảnh:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  15.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 30.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 30.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ: Thành phố Tân An và thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

- Nhà máy Nước Tân An:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  15.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 10.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 10.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thành phố Tân An.

+ Phạm vi phục vụ:  Thành phố Tân An.

- Nhà máy Nước Bảo Định:

+ Nguồn nước:    Nước mặt sông Bảo Định.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

            . Năm 2020: 30.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 60.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ: Khu vực thành phố Tân An và huyện Thủ Thừa.

Nhà máy Nước Đức Hòa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 0.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa.

- Nhà máy Nước Hậu Nghĩa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 0.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

 

- Nhà máy Nước Tân Đức:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  5.000 m3/ngày đêm.

                                       . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa.

Nhà máy Nước Đức Hòa 3:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  15.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 10.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Khu công nghiệp Đức Hòa 3, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu công nghiệp Đức Hòa 3, huyện Đức Hòa.

- Nhà máy Nước Hòa Khánh Tây (Phú Mỹ Vinh I):

+ Nguồn nước:    Nước mặt hồ Dầu Tiếng (từ kênh Cầu Máng-N3).

+ Công suất:                . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

         . Năm 2020: 40.000 m3/ngày đêm.

        . Năm 2030: 80.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Các khu công nghiệp huyện Đức Hòa.

Nhà máy Nước Phú Mỹ Vinh II:

+ Nguồn nước:    Nước mặt hồ Dầu Tiếng (từ kênh Cầu Máng-N3).

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

            . Năm 2020: 200.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 300.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa.

+ Phạm vi phục vụ: Các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Thủ Thừa, Cần Đước, Cần Giuộc và Tân Trụ.

Nhà máy Nước Gò Đen:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  7.200 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 3.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Gò Đen, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu vực Gò Đen, huyện Bến Lức.

- Nhà máy Nước Bến Lức:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

- Nhà máy Nước Bến Lức 2:

+ Nguồn nước:    Nước mặt.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Đang thực hiện.

            . Năm 2020: 25.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 50.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã An Thạnh, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ: Đô thị và khu công nghiệp huyện Bến Lức (ranh giới thành phố Hồ Chí Minh đến cầu Bến Lức).

Nhà máy Nước Cần Đước:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    - Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            - Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            - Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước.

- Nhà máy Nước Hoàng Long:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  5.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

+ Phạm vi phục vụ: Khu công nghiệp Thuận Đạo, Cụm công nghiệp Long Định - Long Cang.

Nhà máy Nước Long Cang:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Cụm công nghiệp Long Cang, huyện Cần Đước.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Long Cang, huyện Cần Đước.

 

Nhà máy Nước Cần Giuộc:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc.

Nhà máy Nước Tân Kim:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Khu công nghiệp Tân Kim, huyện Cần Giuộc.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu công nghiệp Tân Kim, huyện Cần Giuộc.

Nhà máy Nước Long Hậu:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   5.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Khu công nghiệp Long Hậu, huyện Cần Giuộc.

+ Phạm vi phục vụ:  Khu công nghiệp Long Hậu, huyện Cần Giuộc.

Nhà máy nước Thủ Thừa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   1.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 1.000 m3/ngày đêm..

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

Nhà máy Nước Nguyễn Văn Thời:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   1.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa.

 

Nhà máy Nước Tân Trụ:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: Chuyển thành trạm bơm tăng áp.

+ Vị trí:                Thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ.

* Vùng 2: Bao gồm các huyện Đức Huệ, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Châu Thành, Tân Hưng và thị xã Kiến Tường.

Nhà máy Nước Tầm Vu:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành.

- Nhà máy Nước Thanh Vĩnh Đông:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2030: 5.000 m3/ ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Thanh Vĩnh Đông, huyện Châu Thành.

+ Phạm vi phục vụ: Dân cư, công nghiệp xã Thanh Vĩnh Đông, huyện Châu Thành.

Nhà máy Nước Thạnh Hóa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 2.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa.

Nhà máy Nước Thuận Nghĩa Hòa:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu: Dự kiến xây mới.    

. Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm.

                                       . Năm 2030: 8.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Thạnh Hóa và cụm công nghiệp Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa.

Nhà máy Nước Tân Tây:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu: Dự kiến xây mới.    

. Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm.

                                       . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Tân Tây, huyện Thạnh Hóa.

Nhà máy Nước Đông Thành:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  5.00 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 4.000 m3/ngày đêm..

+ Vị trí:                Thị trấn Đức Huệ, huyện Đức Huệ.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Đức Huệ, huyện Đức Huệ.

Nhà máy Nước Bình Hòa Bắc:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:   500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 2.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Bình Hòa Bắc, Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ.

Nhà máy Nước Mỹ Quý Đông:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2030: 2.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ.

+ Phạm vi phục vụ: Cụm công nghiệp Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ.

Nhà máy Nước Cát Cái:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  2.000 m3/ngày đêm.           

. Năm 2020: 12.000 m3/ngày đêm.         

. Năm 2030: 20.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị xã Kiến Tường.

+ Phạm vi phục vụ: Thị xã Kiến Tường.

Nhà máy Nước Bình Hiệp:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2020: 10.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 20.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường.

+ Phạm vi phục vụ:  Xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường.

Nhà máy Nước Tân Thạnh:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    - Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            - Năm 2020: 8.500 m3/ngày đêm.

            - Năm 2030: 17.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Tân Thạnh, huyện Tân Thạnh.

+ Phạm vi phục vụ: Thị trấn Tân Thạnh, huyện Tân Thạnh.

- Nhà máy Nước Tân Hưng:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.200 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 2.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm..

+ Vị trí:                Thị trấn Tân Hưng, huyện Tân Hưng.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Tân Hưng, huyện Tân Hưng.

- Nhà máy Nước Vĩnh Hưng:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  1.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2020: 3.000 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 6.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng.

+ Phạm vi phục vụ:  Thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng.

Nhà máy Nước Thái Bình Trung:

+ Nguồn nước:    Nước ngầm.

+ Công suất:                    . Hiện hữu:  Dự kiến xây mới.

            . Năm 2020: 3.500 m3/ngày đêm.

            . Năm 2030: 7.000 m3/ngày đêm.

+ Vị trí:                Xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng.

+ Phạm vi phục vụ: Dân cư, công nghiệp xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng.

b) Công nghệ xử lý:

- Công nghệ xử lý đối với nước ngầm và nước mặt đảm bảo chất lượng nước theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Đối với nước ngầm là làm thoáng - lắng - lọc - khử trùng, đối với nước mặt là làm keo tụ - lắng - lọc - khử trùng.

- Áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao hiệu quả của công tác khai thác, vận hành, quản lý cấp nước và tiết kiệm năng lượng.

c) Các công trình trong mạng lưới cấp nước vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh:

- Trạm bơm tăng áp số 1 (TA1) Lương Bình: Đặt tại vị trí cạnh đường tỉnh 830, tại xã Lương Bình, huyện Bến Lức. Cao độ trung bình khu vực là +0,8m. Công suất 220.000 m3/ngđ (năm 2030), trong đó 90.000 m3/ngđ giai đoạn 1 (năm 2020). Các hạng mục chính:

+ Bể chứa nước sạch: dung tích 20.000m3, chia thành 4 bể, 5.000 m3/bể. Giai đoạn 1 xây dựng 2 bể.

+ Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 6 bơm làm việc, 2 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=1.600 m3/h, H=60m. Giai đoạn 1 sử dụng 2 bơm làm việc, 1 dự phòng.

- Trạm bơm tăng áp số 2 (TA2) Bến Lức: Đặt tại vị trí gần đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, trong nhà máy nước Bến Lức 2 sẽ xây dựng theo dự án ODA của Nhật Bản, xã An Thạnh, huyện Bến Lức. Cao độ trung bình khu vực là +0,7m. Công suất 270.000 m3/ngđ (tính cả công suất nhà máy nước Bến Lức), trong đó 115.000 m3/ngđ giai đoạn 1. Các hạng mục chính:

+ Bể chứa nước sạch: dung tích 24.000m3, chia thành 4 bể, 6.000 m3/bể. Giai đoạn 1 xây dựng 2 bể.

+ Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 7 bơm làm việc, 2 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=1.600 m3/h, H=60m. Giai đoạn 1 sử dụng 3 bơm làm việc, 1 dự phòng.

- Trạm bơm tăng áp số 3 (TA3) Long Hòa: Đặt tại vị trí ngã tư Rạch Kiến, ấp 4, xã Long Hòa, huyện Cần Đước. Cao độ trung bình khu vực là +0,8m. Công suất 75.000 m3/ngđ. Các hạng mục chính:

 + Bể chứa nước sạch: dung tích 10.000m3, chia thành 2 bể, 5.000 m3/bể.

 + Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 2 bơm làm việc, 1 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=1.600 m3/h, H=60m.

- Trạm bơm tăng áp số 4 (TA4) Lạc Tấn: Đặt tại vị trí ngã tư đường tỉnh 833 và 833B, xã Lạc Tấn, huyện Tân Trụ. Cao độ trung bình khu vực là +0,8m. Công suất 30.000 m3/ngđ. Các hạng mục chính:

 + Bể chứa nước sạch: dung tích 5.000m3, chia thành 2 bể, 5.000 m3/bể.

+ Trạm bơm: Hoạt động theo chế độ Kh=1,0. Sử dụng 2 bơm làm việc, 1 dự phòng. Lưu lượng mỗi bơm Q=650 m3/h, H=60m.

- Tuyến ống chuyển tải nước sạch chính và nhánh:

+ Ống cấp nước sử dụng loại ống chuyên dùng theo quy định hiện hành.

+ Đoạn từ Nhà máy nước Hòa Khánh Tây (Phú Mỹ Vinh I) và Phú Mỹ Vinh II đến Trạm tăng áp TA1:

w Tuyến ống chuyển tải chính: Từ nhà máy nước theo đường tỉnh 824 đến đường tỉnh 825 đường kính D2.000; đoạn tuyến chạy dọc theo đường tỉnh 825 ra đường tỉnh 830 có đường kính D1.800, chiều dài 2,27km; tuyến từ giao lộ đường tỉnh 825 và đường tỉnh 830 đến TA1 có chiều dài 11,35km, giai đoạn 1 đường kính tuyến D1.200, giai đoạn 2 thêm 1 tuyến đường kính D1.200.

w Tuyến ống chuyển tải nhánh: 2 nhánh.

Nhánh 1: Từ nhà máy nước Phú Mỹ Vinh I và II theo đường tỉnh 822 và đường tỉnh 823 kết nối với dự án hệ thống cấp nước Kênh Đông và nhà máy nước Đức Hòa 3 cấp cho khu công nghiệp Đức Hòa 3. Một tuyến ống D300 theo đường tỉnh 822 cấp cho thị trấn Hiệp Hòa và một tuyến D300 cấp cho thị trấn Hậu Nghĩa.

Nhánh 2: Nối từ tuyến ống D2.000, đi dọc theo đường tỉnh 824 chiều dài 9,1km cấp cho Khu công nghiệp Xuyên Á và các cụm công nghiệp lân cận, đường kính ống D400 lắp đặt luôn cho cả 2 giai đoạn.

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA1 đến TA2: đặt dọc theo đường tỉnh 830, chiều dài 11,5km. Đường kính tuyến giai đoạn 1 D1.200; giai đoạn 2 thêm 1 tuyến D1.000.

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA2 đến TA3:

w Tuyến ống D1.000 từ giao lộ Quốc lộ 1 với đường tỉnh 830 chạy dọc theo Quốc lộ 1 và chia làm thành 2 nhánh. Một tuyến D900 đi theo đường tỉnh 835 về trạm biến áp 4 (Long Hòa), chiều dài 7,7km; một tuyến D300 đi theo đường tỉnh lộ 835B cấp nước cho Khu công nghiệp Cầu Tràm, chiều dài 7,6km.

w Các tuyến nhánh chuyển tải từ TA4 (Long Hòa) đến các khu vực dùng nước:

. Tuyến 1 có D500, chiều dài 10,33km dọc theo đường tỉnh 835 cấp nước cho thị trấn Cần Giuộc, các khu công nghiệp huyện Cần Giuộc.

. Tuyến 2 có D700, chiều dài 1,8km dọc theo đường tỉnh 826, sau đó chia làm 2 nhánh. Nhánh D400, chiều dài 8,9km cấp cho thị trấn Cần Đước và khu công nghiệp Cần Đước; nhánh D600, chiều dài 7,4km cấp cho khu công nghiệp Phú Long, Bắc Tân Tập và Cảng Long An.

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA2 đến TA4:

w Tuyến ống chuyển tải chính: Chiều dài 11,5km đặt dọc theo đường tỉnh 830 (Đường vành đai 4 dự kiến). Đường kính tuyến D1.000. Hành lang quản lý tuyến 10m.

w Tuyến ống chuyển tải nhánh: 3 nhánh.

. Nhánh 1: Từ đường vành đai 4 (dự kiến) đi theo đường Quốc lộ 1 kết nối với các nhà máy nước Bình Ảnh, Bảo Định (Nhị Thành) cấp nước cho thành phố Tân An và các khu công nghiệp với chiều dài tuyến 9,4km. Đường kính ống D1.000 lắp đặt luôn cho cả 2 giai đoạn.

. Nhánh 2: Tuyến D600 từ Quốc lộ 1 rẽ trái theo đường vào xã Mỹ Bình  và chia làm 2 nhánh. Một tuyến D300, chiều dài 5km cấp cho Khu công nghiệp An Nhựt Tân; một tuyến D600, chiều dài 5,3km dọc theo đường tỉnh 833 đến trạm bơm tăng áp Lạc Tấn.

. Nhánh 3: Tuyến D900 từ ngã ba Mỹ Bình đi dọc theo Quốc lộ 1, chiều dài 5,1km đấu nối với mạng lưới cấp nước thành phố Tân An (dự kiến lắp đặt phục vụ cho cả 2 giai đoạn).

+ Đoạn từ Trạm tăng áp TA4 đến thị trấn Tân Trụ: Tuyến ống D600, chiều dài 6,3km đặt dọc theo đường tỉnh 833 cấp cho thị trấn Tân Trụ.

Ngoài ra mạng lưới cấp nước của hệ thống cấp nước vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh có dự kiến kết nối với mạng lưới cấp nước của thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tiền Giang qua các ngõ Quốc lộ 1 và Đường tỉnh 825.

7. Các dự án ưu tiên đầu tư

- Dự án cấp nước Hòa Khánh Tây giai đoạn 1, công suất 40.000m3/ngày.

- Dự án cấp nước Phú Mỹ Vinh II, giai đoạn 1, công suất 50.000m3/ngày.

- Dự án xây dựng và phát triển mạng lưới phân phối (cấp 2, 3) tiếp nhận nước từ hệ thống cấp nước Phú Mỹ Vinh I và II.

- Dự án Nhà máy Nước ngầm Bình Ảnh, giai đoạn 1, công suất 30.000 m3/ngày.

- Dự án Nhà máy Nước mặt Bảo Định, giai đoạn 1, công suất 30.000 m3/ngày.

- Dự án Nhà máy Bến Lức 2, giai đoạn 1, công suất 25.000m3/ngày.

- Các dự án cấp Nước quy mô nhỏ tại các đô thị.

8. Khái toán kinh phí và nguồn vốn đầu tư

- Kinh phí đầu tư hệ thống cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 khoảng 12.900 tỷ đồng.

- Nguồn vốn đầu tư:

+ Vốn ngân sách nhà nước.

+ Vốn ODA, vốn tài trợ nước ngoài.

+ Vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

+ Các nguồn vốn hợp pháp khác.​

15/12/2014 3:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh
Xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Long An với các chỉ tiêu sau:

QHSDĐ LA 2020.jpg

1. Diện tích, cơ cấu các loại đất:

STT

Loại đất

Hiện trạng năm 2010

Quy hoạch đến năm 2020

Din tích (ha)

Cơ cấu (%)

Quốc gia phân b(ha)

Tỉnh xác định (ha)

Tổng số

Diện tích (ha)

Cơ cu (%)

 

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

449.235

100,00

 

 

449.235

100,00

1

Đất nông nghiệp

361.637

80,50

327.558

2.537

330.095

73,48

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

258.602

71,51

245.000

859

245.859

74,48

 

Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước (2 vụ trở lên)

232.499

 

243.280

661

243.941

 

1.2

Đất trồng cây lâu năm

17.138

4,74

 

10.041

10.041

3,04

1.3

Đất rừng phòng hộ

1.617

0,45

5.050

0

5.050

1,53

1.4

Đất rừng đặc dụng

2.000

0,55

4.200

0

4.200

1,27

1.5

Đất rừng sn xuất

40.253

11,13

40.825

0

40.825

12,37

1.6

Đất nuôi trồng thủysản

8.451

2,34

8.500

0

8.500

2,58

2

Đất phi nông nghiệp

87.598

19,50

121.677

 

119.140

26,52

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

2.1

Đt xây dựng trụ sở cơ quan, côngtrình sự nghiệp

381

0,43

 

809

809

0,68

2.2

Đất quốc phòng

329

0,38

972

0

972

0,82

2.3

Đất an ninh

477

0,54

2.027

0

2.027

1,70

2.4

Đất khu công nghiệp

8.370

9,56

11.964

3.154

15.118

12,69

-

Đất xây dựng khu công nghiệp

6.911

-

11.964

0

11.964

 

-

Đất xây dựng cụm công nghiệp

1.459

 

 

3.154

3.154

 

2.5

Đất cho hoạt động khoáng sản

205

0,23

 

0

 

 

2.6

Đất di tích danh thắng

117

0,13

1.430

-203

1.227

1,03

2.7

Đất bãi thải, xử lý chất thải

1.822

2,08

2.161

-80

2.081

1,75

2.8

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

234

0,27

 

240

240

0,20

2.9

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

1.080

1,23

 

1.362

1.362

1,14

2.10

Đất phát triển hạ tầng

29.354

33,51

39.400

793

40.193

33,74

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

-

Đất cơ sở văn hóa

1.110

 

1.123

488

1 .611

 

-

Đt cơ sở y tế

71

 

103

76

179

 

-

Đất cơ sở giáo dục - đào tạo

809

 

1.606

7

1.613

 

-

Đất cơ sở thể dục - thể thao

295

 

684

506

1.190

 

2.11

Đất ở tại đô thị

3.008

3,43

4.515

0

4.515

3,79

3

Đất chưa sử dụng

0

 

0

 

0

 

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

0

 

0

 

0

 

3.2

Diện tích đưa vào sử dụng

0

 

0

 

0

 

4

Đất đô thị

20.065

4,47

 

26.106

26.106

5,81

5

Đất khbảo tồn thiên nhiên

 

 

 

5.230

5.230

1,16

6

Đất khu du lịch

 

 

 

385

385

0,09

2. Diện tích chuyển mục đích sử dụng đất:

Đơn vị tính: ha

STT

Chỉ tiêu

Cả thời kỳ 2011-2020

Giai đoạn 2011-2015

Giađoạn 2016-2020

1

Đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp

31.741

17.128

14.613

1.1

Đất trồng lúa

12.232

6.957

5.275

1.2

Đất trồng cây lâu năm

5.364

3.336

2.028

1.3

Đất rừng sản xuất

2.954

1.394

1.560

1.4

Đất nuôi trồng thủy sản

336

197

139

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

 

 

2.1

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất lâm nghiệp

2.077

1.373

704

2.2

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

59

 

59

2.3

Đất rừng sản xuất chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

10

 

10

(Vị trí các loại đất trong quy hoạch sử dụng đất được thể hiện trên Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tỷ lệ 1/100.000 dỦy ban nhân dân tỉnh Long An xác lập ngày 15 tháng 01 năm 2013).

Xét duyệt kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của tỉnh Long An với các chỉ tiêu sau:

1. Phân bổ diện tích các loại đất trong kỳ kế hoạch:

Đơn vị nh: ha

STT

Chỉ tiêu

Hiện trạng năm 2010

Diện tích đến các năm

Năm 2011*

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

 

TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN

449.235

449.235

449.235

449.235

449.235

449.235

1

Đất nông nghiệp

361.637

360.243

357.070

354.507

351.445

344.663

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

258.602

257.800

256.603

255.059

253.655

250.283

 

Trong đó: đất chuyên trồng lúanước (2 vụ trở lên)

232.499

232.052

233.694

235.166

236.749

237.669

1.2

Đất trồng cây lâu năm

17.138

16.933

16.220

15.559

14.706

13.039

1.3

Đất rừng phòng hộ

1.617

1.617

2.066

2.615

3.089

3.834

1.4

Đất rừng đặc dụng

2.000

2.000

2.297

2.647

2.997

3.347

1.5

Đất rừng sản xuất

40.253

40.200

39.547

39.743

40.026

40.650

1.6

Đất nuôi trồng thủysản

8.451

8.462

8.473

8.484

8.396

8.463

2

Đất phi nông nghiệp

87.598

88.992

92.165

94.728

97.790

104.572

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

2.1

Đất xây dựng TSCQ, CTSN

381

414

441

484

519

614

2.2

Đất quốc phòng

329

329

336

475

516

868

2.3

Đất an ninh

477

477

1.947

1.973

1.987

2.015

2.4

Đất khu công nghiệp

8.370

8.370

8.343

8.879

9.472

11.057

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

-

Đất xây dựng khu công nghiệp

6.911

6.911

6.911

7.219

7.537

7.893

-

Đất xây dựng cụm công nghiệp

1.459

1.459

1.432

1.660

1.935

3.164

2.5

Đất cho hoạt động khoáng sản

205

205

 

 

 

 

2.6

Đất di tích danh thắng

117

117

227

227

227

962

2.7

Đất xử lý, chôn lấp chất thải

1.822

1.823

1.846

1.862

1.909

1.925

2.8

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

234

234

234

234

234

240

2.9

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

1.080

1.084

1.088

1.092

1.094

1.217

2.10

Đất phát triển hạ tầng

29.354

30.048

30.772

31.772

33.006

35.402

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

-

Đất cơ sở văn hóa

1.110

1.132

1.159

1.198

1.267

1.344

-

Đất cơ sở y tế

71

71

77

83

123

140

-

Đất cơ sở giáo dục - đào tạo

809

840

885

1.039

1.214

1.351

-

Đất cơ sở thể dục - thể thao

295

309

329

379

424

531

2.11

Đất ở tại đô thị

3.159

3.159

3.365

3.531

3.704

4.009

3

Đất chưa sử dụng

0

0

0

0

0

0

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

0

0

0

0

0

0

3.2

Diện tích đưa vào sử dụng

0

0

0

0

0

0

4

Đất đô thị

20.065

657

20.820

21.575

22.330

23.086

5

Đất khu bảo tồn thiên nhiên

 

 

 

 

 

5.230

6

Đất khu du lịch

 

 

 

 

 

385

Ghi chú: * Diện tích kế hoạch năm 2011 là số liệu ước thực hiện đến ngày 31 tháng 12 năm 2011

2. Kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất:

Đơn vị tính: ha

STT

Chỉ tiêu

Diện tích chuyển MĐSD trong kỳ

Diện tích đến các năm

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

1

Đt nông nghiệp chuyn sang đt phi nông nghiệp

17.128

1.394

3.173

2.563

3.121

6.877

1.1

Đất trồng lúa

6.957

791

995

1.245

1.129

2.797

1.2

Đất trồng cây lâu năm

3.336

205

563

511

653

1.404

1.3

Đất rừng sản xuất

1.394

53

928

129

84

200

1.4

Đất nuôi trồng thủy sản

197

 

 

 

158

39

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

 

 

 

 

 

2.1

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất lâm nghiệp

1.373

 

266

369

319

419

 

Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An có trách nhiệm:

1. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt; việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất chặt chẽ từ cấp tỉnh đến cấp xã; có giải pháp cụ thể để huy động vốn và các nguồn lực khác để thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Tỉnh;

2. Xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng cần bảvệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực giữ nhiều đất trồng lúa; khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm bù lại phần diện tích đất nông nghiệp do bị chuyển mục đích sử dụng;

3. Chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch, trong đó cần phải thu hồi cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để tạo nguồn vốn cho phát triển, tạo quỹ đất đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội; đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật. Đẩy mnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;

4. Quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng; giám sát chặt chẽ quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch nhằm ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các trường hp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng;

5. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật đất đai để người dân nắm vững các quy định của pháp luật, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững;

6. Định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân Tỉnh có báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để Chính phủ tổng hợp báo cáo Quốc hội.

 

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Di tích lịch sử khu lưu niệm Nguyễn Thông Di tích lịch sử khu lưu niệm Nguyễn Thông
  ''Khu lưu niệm Nguyễn Thông'' thuộc ấp Bình Trị II -xã Phú Ngãi Trị - huyện Châu Thành, là nơi lưu niệm danh nhân Nguyễn Thông: một trí thức yêu nước, nhà hoạt động văn hóa lớn của Nam kỳ lục tỉnh nửa cuối thế kỷ XIX.

'Khu lưu niệm Nguyễn Thông'' thuộc ấp Bình Trị II -xã Phú Ngãi Trị - huyện Châu Thành, là nơi lưu niệm danh nhân Nguyễn Thông: một trí thức yêu nước, nhà hoạt động văn hóa lớn của Nam kỳ lục tỉnh nửa cuối thế kỷ XIX.

 

     Nguyễn Thông (1827 - 1884)

     Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am, sinh năm 1827 trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Bình Thanh - tổng Thạnh Hội Hạ - huyện Tân Thạnh - phủ Tân An - Gia Định (nay là xã Phú Ngãi Trị - huyện Châu Thành- tỉnh Long An). Ông thi hương đổ cử nhân năm 22 tuổi, khi thi hội bài vấy mực nên bị đánh hỏng. Ông bắt đầu cuộc đời quan trường năm 1851 với chức Huấn đạo Phú Phong tỉnh An Giang.

 Suốt 35 năm làm quan với nhiều chức vụ như đốc học Vĩnh Long, Bố chánh Quảng Ngãi, Aùn sát Khánh Hòa, Doanh điền sứ Bình Thuận, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, hoạt động trên nhiều lĩnh vực thủy lợi, kinh tế, sử học, văn học, văn hóa, giáo dục.Nguyễn Thông tỏ ra là một nhà lãnh đạo có tài, luôn đấu tranh và đem lại quyền lợi cho nhân dân, một trí thức lớn, một nhà thơ yêu nước thương dân. 

Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định, trong khi vua quan triều đình Tự Đức bất lực, ông không do dự tòng quân vào Nam chiến đấu và trở thành trợ thủ đắc lực của Thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp.


Ngôi mộ Nguyễn Hanh do Nguyễn Thông lập 1868

 Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ (2.1861) ông về Tân An hoạt động chống Pháp trong phong trào Trương Định cùng với các thủ lĩnh nghĩa quân địa phương như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị. 

 Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ,ông đề đạt nhiều ý tưởng và kế hoạch độc đáo trong việc đồn khẩn vùng Tây Bắc Bình Thuận để kháng Pháp lâu dài,nhưng triều đình Huế bạc nhược đã ngăn cản kế hoạch trên.

Sau nhiều năm hoạt động gian khổ và tâm huyết cùng bao u uất trước vận nước lúc bấy giờ, ngày 27.8.1884 Nguyễn Thông mất tại Ngọa du sào- Phan Thiết (Bình Thuận), nơi sau này các con ông là Nguyễn Quý Anh và Nguyễn Trọng Lội đã tiếp nối truyền thống, thành lập Dục Thanh học hiệu mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh) đã ghé dạy học (3.1909) trên đường vào Nam tìm đường cứu nước.     

          Về mặt trước tác, Nguyễn Thông để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Ngọa du sào văn tập, Việt sử cương giám khảo lược. Theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong ''Nghiên cứu lịch sử'' số 221, Nguyễn Thông còn là tác giả sách ''Kỳ Xuyên thi sao'' mới tìm thấy ở miền Nam.

     Cuộc đời hoạt động và trước tác của Nguyễn Thông để lại đã khẳng định ông là một nhà hoạt động văn hóa lớn, một trí thức lớn đã thể hiện tấm lòng yêu nước một cách trọn vẹn trong thời kỳ lịch sử đầy biến động ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX.    
     Nguyễn Thông an nghĩ vĩnh viễn trên quê hương thứ hai Bình Thuận, nhưng nơi sinh ra ông, tên ông đã thành tên đường , tên trường học.Khu vườn nhà ông nay là khu lưu niệm.Đó là một quần thể (rộng 543m2) gồm công trình bia lưu niệm ( xây dựng năm 1984 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Thông), nền nhà cũ, mộ phần của bà nội và song thân của Nguyễn Thông bằng đá ong (laterit).Đặc biệt tại đây còn một bia đá cẩm thạch do chính ông tạo lập năm 1868, loại bia một mặt có kiểu dáng và trang trí mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn.Nội dung bia xác định vị trí các ngôi mộ, năm sinh ,năm mất và một bài minh ca ngợi công đức thân sinh ông là Nguyễn Hanh.Ngày nay,''Khu lưu niệm Nguyễn Thông'' là địa điểm tham quan ,thăm viếng,là địa chỉ về nguồn của học sinh,sinh viên.Bia đá do ông lập là di sản quí ở địa phương,là tư liệu góp phần tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Thông.
     Năm 2001 '' Khu lưu niệm Nguyễn Thông '' được Bộ văn Hóa - Thông tin công nhận là di tích Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19-01-2001).


18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/nguyenthong1.JPG
Di tích lịch sử Bình Thành Di tích lịch sử Bình Thành
Bình Thành là một vùng đất trũng thấp có nhiều bưng trấp xen lẫn với những giồng đất cao tạo nên một địa hình khá phức tạp thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Khu vực này nằm ở vị trí tiếp giáp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào nước bạn Campuchia. Với những điều kiện ấy, Bình Thành đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong 2 cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ.

​     Từ sau khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940), đã có hơn 100 nghĩa quân Tân An-Chợ Lớn dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Lưu Dự Châu, Lê Văn Tưởng đến khu vực Bình Thành lập nên căn cứ Mớp Xanh. Căn cứ này chỉ tồn tại được 8 tháng thì có lệnh giải tán của Xứ ủy, vì không có điều kiện khởi nghĩa lần 2. Tuy nhiên căn cứ Mớp Xanh đã tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của căn cứ Tỉnh ủy sau này.

binhthanh.JPG
Bình Thành

  Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực Bình Thành là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7 với tên gọi “Quân khu Đông Thành”. Các cơ quan cấp Nam Bộ như văn phòng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, các sở trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ cũng có thời gian đóng quân ở Quân khu Đông Thành. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các lực lượng cách mạng.
 

 

     Để bảo toàn lực lượng, một số cán bộ, đảng viên của hai tỉnh Tân An- Chợ Lớn đã rút lên Bình Thành. Trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang, những chiến sĩ cách mạng đóng tại Bình Thành đã lợi dụng danh nghĩa quân giáo phái để thành lập nên Bộ tư lệnh Trung Nam Bộ- lực lượng vũ trang đầu tiên của Khu 8 và Nam Bộ sau 1954. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sát nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn.
   Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn Bình Thành làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong khu vực Bình Thành, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc đứng chân hoạt động lâu nhất chính là Giồng Ông Bạn thuộc khu vực Bình Thành trong thời gian mở đầu và kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ(1960-1961)-(1973-1975).

      Từ căn cứ Bình Thành, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Với một diện tích không rộng, địa hình tuy có hiểm trở nhưng không thể hoàn toàn dựa vào đó để tồn tại và chống lại những phương tiện chiến tranh hiện đại của địch nhưng căn cứ Bình Thành vẫn kiên gan thách thức với kẻ thù. Đó là nhờ tấm lòng thương yêu đùm bọc của nhân dân, sự linh động, sáng tạo của Tỉnh ủy. Có thể nói căn cứ Bình Thành là căn cứ của lòng dân.

      Trải qua hai cuộc chiến tranh và tác động của tự nhiên, con người, đến nay khu căn cứ Tỉnh ủy đã thay đổi khá nhiều so với ban đầu. Ở Giồng Ông Bạn - nơi Tỉnh ủy đóng lâu nhất chỉ còn lại dấu vết của nhà cửa, cơ quan, hầm trú ẩn . . . và hàng chục hố bom lớn nhỏ. Đây đó xung quanh khu vực Bình Thành vẫn còn lại nhiều dấu tích, những địa danh vang bóng một thời phản ánh quá trình hoạt động của Đảng bộ và quân dân Long An trong hai thời kỳ kháng chiến như:

     - Giồng Dinh xã Mỹ Thạnh Tây - Nơi đặt tổng hành dinh của Trung tướng Nguyễn Bình.
     - Trấp tre - Nơi ra đời của Bộ tư lệnh Trung Nam Bộ.
     - Hội đồng Sầm: Nơi thành lập của Mật trận dân tộc giải phóng tỉnh Long An.
     - Giồng Ông Tưởng: Nơi thành lập Tiểu đoàn I ba lần được phong danh hiệu anh hùng.
     - Xóm công đoàn: Nơi nhân dân đào địa đạo dưới lòng đất để bám trụ căn cứ, ủng hộ cách mạng.

     Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, năm 1996 Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Long An các thời kỳ đã về lại Bình Thành, xác định những điểm mà Tỉnh ủy từng hoạt động năm xưa. Ban quản lý dự án xây dựng khu di tích lịch sử cách mạng cũng được thành lập với nhiệm vụ phục hồi tôn tạo lại di tích lịch sử căn cứ Bình Thành với quy mô ban đầu là 93 ha tại xã Bình Hòa Hưng-Đức Huệ. Năm 1998, Bộ VHTT đã ra quyết định xếp hạng Căn cứ Bình Thành là di tích lịch sử cấp quốc gia. Một dự án xây dựng các công trình tưởng niệm như đền thờ, bia, đài...và tái tạo các di tích gốc được vạch ra và từng bước thực hiện để trong tương lai khách tham quan có thể phần nào hiểu được hoàn cảnh sống, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta thời kỳ kháng chiến. Với sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Long An, di tích lịch sử căn cứ Bình Thành sẽ trở thành một công trình truyền thống lịch sử-văn hóa-du lịch quan trọng của tỉnh nhà

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hệ thống giáo dục tỉnh Long AnHệ thống giáo dục tỉnh Long An
Hiện nay, toàn ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các cuộc vận động  như : "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", phong trào "Dạy tốt, học tốt", phong trào "Giỏi việc nước đảm việc nhà", phong trào "Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" ...

Tính đến ngày 31/7/2014, trên địa bàn toàn tỉnh, có hơn 700 trường học ở cấp phổ trong đó có:

Trung học phổ thông 34 trường; THCS &THPT có 11 trường( trong đó có 1 trường ngoài công lập);  TH,THCS & THPT có 1 trường ngoài công lập; Trung học cơ sở có 132 trường, trong đó có 1 trường chuyên (Trường chuyên Long An)

Tiểu học có 255 trường, 4.464 lớp và 126.590 học sinh. Trong đó, có 144/255 trường đạt chuẩn quốc gia, tổ chức dạy 2 buổi/ngày cho 65.460/127.098 học sinh

Giáo dục mầm non có 196 trường gồm: 130 trường mẫu giáo và 66 trường mầm non (trong đó có 1985 trường công lập và 11 trường tư thục). Ngoài ra còn có 41 cơ sở mầm non tư thục và 148 nhóm trẻ tư thục. Có 125/192 đơn vị cấp xã đạt chuẩn Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, có 5/15 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi.

Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 1 TTGDTX cấp tỉnh, 01 TTKTTH-HN tỉnh, 15 TTGDTX huyện và thành phố, 5 trung tâm ngoại ngữ - tin học. 100% xã phường thị trấn đều có TTXHTT&HTCD9

Tỉnh có 1 trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật, 03 trường trung cấp chuyên nghiệp (Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Long An, Trường Trung cấp Y tế, Trường Trung cấp Việt Nhật), 01 trường cao đẳng chuyên nghiệp (Cao đẳng Sư phạm Long An), 02 trường đại học tư thục (đại học KTCN Long An, trường Đại học Tân Tạo), 30 cơ sở dạy nghề.

Có 80 xã, phường, thị trấn thực hiện đúng tiến độ Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi(đạt tỉ lệ 41,6%) và 1 huyện

Tổng số công chức, viên chức toàn ngành giáo dục 20.221 người, giáo viên THCS và THPT cơ bản đáp ứng hoạt động dạy học song chưa đồng bộ, còn thiếu giáo viên tiểu học và mầm non do nhu cầu dạy lớp 2 buổi ngày

Tổng số CC, VC toàn ngành: 20.432 người, đ
ội ngũ cán bộ, GV đã và đang được chuẩn hóa nghiệp vụ, đến nay tỉ lệ  GV đạt chuẩn và trên chuẩn tương đối cao: mầm non: 99,4%; Tiểu học: 99,5%; THCS: 99,7%; THPT: 98,8%. Toàn ngành có 52 thạc sĩ, 03 tiến sĩ

Hiện nay, toàn ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các cuộc vận động  như : "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", phong trào "Dạy tốt, học tốt", phong trào "Giỏi việc nước đảm việc nhà", phong trào "Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" ...

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngày 03 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực.

2. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

3. Phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, giảm dần tỷ lệ hộ nghèo; phát triển y tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

4. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; giữ vững quốc phòng an ninh với vị trí Long An là địa phương nằm trong khu vực biên giới của vùng đồng bằng sông Cửu Long và trong thế hội nhập kinh tế của khu vực Đông Nam Á và quốc tế.

II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

1. Mục tiêu tổng quát

- Xây dựng Long An trở thành tỉnh phát triển bền vững, hài hòa giữa khu vực đô thị và nông thôn; có trình độ công nghệ cao, hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; nguồn nhân lực có chất lượng; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; có nền quốc phòng - an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Phấn đấu đến năm 2020, tỉnh Long An cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2012 - 2030 đạt 12,5%/năm, trong đó giai đoạn 2012 - 2020 tăng 13%/năm.

- Đến năm 2015: GDP bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng/người/năm (khoảng 2.400 USD); tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu GDP tương ứng chiếm 28%, 41%, 31%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm 10% GDP; khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn thu ngân sách nhà nước chiếm 28,5%.

- Đến năm 2020: GDP bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm (khoảng 3.800 USD); tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu GDP tương ứng chiếm 15%, 45%, 40%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm 10,8% GDP; khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn thu ngân sách nhà nước chiếm 29,6%.

- Tầm nhìn đến năm 2030: GDP bình quân đầu người đạt 172 triệu đồng/người/năm (khoảng 8.000 USD); tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu GDP tương ứng chiếm 7%, 48%, 45%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm 10,8% GDP; khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn thu ngân sách nhà nước chiếm 29,6%.

b) Về xã hội:

- Đến năm 2015:

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,2%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 16%; 100% trạm y tế xã đạt chuẩn và 90% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; 40% - 50% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học; 50% trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia dưới 3%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 60%.

Phấn đấu có 20% (khoảng 36 xã) đạt tiêu chí xã nông thôn mới; 50% xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa, thể thao; có 30% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa; bảo đảm có 99% hộ gia đình đô thị và 95% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh và 99,25% hộ gia đình được sử dụng điện.

- Đến năm 2020:

Phấn đấu tỷ lệ sinh giảm còn 1,46%; tuổi thọ trung bình đạt 76 tuổi; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 12%; số giường bệnh/10.000 dân là 20 giường; số bác sĩ/xã tối thiểu có 1 bác sĩ và có 8 bác sĩ/10.000 dân;

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia còn 1%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 65%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 3%; cơ cấu lao động ở 3 khu vực I, II, III lần lượt là 28,1%, 37,8%, 34%; số lượng lao động qua đào tạo là 628.600 người và tạo việc làm cho 180.000 người;

Tỷ lệ tới trường đạt: tiểu học là 100%, trung học cơ sở là 95%, trung học phổ thông là 70%. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 70%; số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên /1000 dân là 170 người;

Phấn đấu có 50% (khoảng 83 xã) đạt tiêu chí xã nông thôn mới; có 90% nhà văn hóa ở tuyến tỉnh; đảm bảo 100% huyện, thành phố có trung tâm văn hóa, thể thao, 75% xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa, thể thao; bảo đảm có 100% hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh và 99,7% hộ gia đình được sử dụng điện.

- Tầm nhìn đến năm 2030:

Tỷ lệ sinh giảm còn khoảng 1,5%; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 78 tuổi; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khoảng 10%; số giường bệnh/10.000 dân là 30 giường; số bác sĩ/xã tối thiểu là 3 bác sĩ và có 10 bác sĩ/10.000 dân.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 2%; số lượng lao động qua đào tạo là 762.720 người và tạo việc làm cho 190.000 người;

Phấn đấu 100% trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên/1000 dân là 200 người; có 95% nhà văn hóa ở tuyến tỉnh.

c) Về bảo vệ môi trường:

- Đảm bảo tỷ lệ phủ xanh đến năm 2015 đạt 21% và duy trì đến năm 2020, 2030; nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 15% vào năm 2015 và lần lượt đạt 17%, 19% vào các năm 2020, 2030; diện tích ảnh hưởng lũ lụt (ngập trên 1m) vào các năm 2015, 2020, 2030 lần lượt là 25%, 23%, 20%.

- Phấn đấu đến năm 2015, 80% chất thải sinh hoạt, công nghiệp và 100% chất thải y tế được thu gom và xử lý; di dời 100% cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi các khu đô thị và khu dân cư; 100% doanh nghiệp thực hiện tốt cam kết bảo vệ môi trường.

- Đảm bảo ý thức trong cộng đồng và tăng cường năng lực của các bên liên quan về các vấn đề môi trường; bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường.

- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, kiềm chế sự gia tăng, tiến tới giảm dần các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

1. Phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản:

Phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,7%/năm giai đoạn 2011 - 2020 và đạt 4,8%/năm giai đoạn đến 2030; tỷ trọng của từng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lần lượt là 82% - 4% - 14% vào năm 2020 và 78% - 6% - 16% vào năm 2030.

- Nông nghiệp: xác định trọng tâm là sản xuất lúa gạo đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; phát triển theo hướng thâm canh và chuyên canh, ứng dụng công nghệ mới phù hợp, sử dụng giống có chất lượng cao nhằm gia tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác và đáp ứng nhu cầu của thị trường; đồng thời chú trọng khâu chế biến sau thu hoạch, nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu. Cải thiện hệ thống sản xuất các sản phẩm là thế mạnh của tỉnh như mía, rau quả đáp ứng các tiêu chuẩn tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; từng bước kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đảm bảo tăng trưởng nông nghiệp ổn định; tuân thủ các quy trình công nghệ từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ.

Phát triển chăn nuôi (lợn, bò, gia cầm) theo hướng tập trung có quy mô phù hợp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước; áp dụng công nghệ chăn nuôi tiên tiến, sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm; kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh và ô nhiễm môi trường do các hoạt động chăn nuôi.

- Lâm nghiệp: duy trì và bảo tồn các nguồn tài nguyên rừng hiện có nhằm đảm bảo phát triển rừng bền vững; bảo tồn môi sinh cho các loài động vật hoang dã, các nguồn gen quý hiếm kết hợp với phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt là rừng đặc dụng, trong đó khu vực Đồng Tháp Mười đóng vai trò quan trọng góp phần giảm thiểu tác động do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Bảo vệ và có chính sách hợp lý nhằm duy trì diện tích rừng phòng hộ, kết hợp phát triển rừng với an ninh quốc gia ở các huyện biên giới. Khai thác các nguồn tài nguyên rừng hợp lý, khuyến khích đầu tư sản xuất và phát triển rừng bền vững.

- Ngư nghiệp: Phát triển nuôi trồng thủy sản hàng hoá ở vùng Đồng Tháp Mười theo hướng kiểm soát và bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu xây dựng các mô hình tổ chức nuôi trồng phù hợp (câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ kinh tế, trang trại, v..v) nhằm đảm bảo lợi ích của các bên và thúc đẩy sản xuất hàng hóa; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để ứng dụng công nghệ trong nuôi trồng thủy hải sản.

2. Phát triển ngành công nghiệp

- Phát triển công nghiệp bền vững có khả năng tác động đến các ngành nông nghiệp, dịch vụ và trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 14,2%/năm vào năm 2015, đạt 14,4%/năm vào năm 2020 và 13,6%/năm vào 2030. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, xanh và sạch.

- Đảm bảo cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng phù hợp cho phát triển các ngành nghề, hoạt động kinh doanh có tính quốc tế; xây dựng các khu công nghiệp chất lượng cao để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài; thiết lập các chính sách phát triển công nghiệp hữu hiệu với cơ chế thực hiện cụ thể, phát huy được nguồn lực dồi dào; đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực đã qua đào tạo và có chất lượng cao với chi phí hợp lý; phát triển các ngành nghề mới giúp tạo ra ngành mũi nhọn cho phát triển công nghiệp tỉnh trên bình diện phát triển công nghiệp ở Việt Nam.

- Khuyến khích các ngành công nghiệp phù hợp với chính sách của tỉnh, bổ trợ cho các ngành đang có ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như: công nghệ cao, công nghệ tri thức, nghiên cứu và phát triển, môi trường, công nghiệp dựa trên công nghệ vật liệu mới, sản xuất điện tử và phần mềm, sản xuất khí hóa lỏng (GTL), chế tạo pin năng lượng mặt trời, hệ thống sản xuất điện từ khí hy-đrô... phát triển ngành công nghiệp sản xuất nông cụ dựa trên các ngành sản xuất nông nghiệp liên quan hiện có tại tỉnh.

- Tập trung phát triển nhanh, hiệu quả và đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp đã được thành lập, gắn liền với xây dựng các công trình xử lý chất thải, bảo đảm môi trường xanh, sạch.

3. Phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 17%/năm trong giai đoạn đến 2020 và đạt 15,3%/năm trong giai đoạn đến 2030.

- Thương mại, dịch vụ: Phát triển các dịch vụ chất lượng cao, đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân; cải thiện kết cấu hạ tầng các dịch vụ hướng đến các tiện ích hiện đại và thuận tiện với người sử dụng; cân bằng chất lượng dịch vụ giữa các khu vực đô thị và nông thôn.

Phát triển các trung tâm đô thị cạnh tranh được cung cấp dịch vụ phù hợp gắn kết với phát triển không gian. Thiết lập các trung tâm dịch vụ nhằm khai thác lợi thế là cửa ngõ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Tăng cường các dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ đô thị như dịch vụ kho vận, công nghệ thông tin, các tiện ích, nghiên cứu thị trường, dịch vụ tài chính,...

- Du lịch: Phát triển hệ thống du lịch toàn diện bao gồm cung cấp thông tin, hạ tầng và dịch vụ vận tải, nơi cư trú chất lượng cao, ẩm thực phong phú, đa dạng, đặc trưng; các khu giải trí, nguồn nhân lực phục vụ có chất lượng. Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, thực hiện liên kết phát triển du lịch với các địa phương trong Vùng, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bên kia biên giới Campuchia. Các mô hình phát triển du lịch: du lịch sinh thái, du lịch làng nghề với các giá trị văn hóa...

4. Các lĩnh vực xã hội

a) Giáo dục và đào tạo:

- Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất các trường từ cấp mầm non đến đại học, tăng cường mạng lưới trường, lớp học, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng xa, biên giới và các công trình phụ trợ phục vụ giáo dục và đào tạo và coi đây là một trong những mục tiêu ưu tiên của Tỉnh.

- Nâng cao trình độ, năng lực giáo viên, cải thiện các phương pháp dạy và học để có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng về kỹ năng và chất lượng cũng như để tạo nền tảng pháp lý và phát huy nội lực cho phát triển giáo dục.

- Nâng cao trình độ học sinh ở tất cả các cấp, cần tập trung phát triển giáo dục toàn diện trên các mặt trí tuệ, thể chất và đạo đức; tạo dựng cho học sinh trung học cơ sở các kiến thức cơ bản chung và kỹ năng sơ khởi về đào tạo hướng nghiệp; tiếp tục duy trì và phát huy những thành tích đã đạt được trong việc phổ cập trung học cơ sở.

- Xây dựng cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, đào tạo phải gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo; đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề theo hướng nâng cao chất lượng; chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, củng cố mạng lưới các trường dạy nghề; tăng cường hợp tác, liên kết về đào tạo với các địa phương khác trong cả nước và quốc tế.

b) Y tế:

- Phát triển đồng bộ mạng lưới y tế đến cơ sở; từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn và y đức cho đội ngũ cán bộ y tế; hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch; tiếp tục nâng cấp các trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện; đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút vốn đầu tư xây dựng các cơ sở khám, chữa bệnh gắn điều trị với nghỉ dưỡng;

- Chú trọng việc hình thành xã hội khỏe mạnh, tăng cường chất lượng hệ thống y tế dự phòng, xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân; nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm;

- Phấn đấu đạt mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân và các chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số.

c) Văn hóa, thể dục thể thao:

- Xây dựng nền văn hóa lành mạnh tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra được nhiều sản phẩm văn hóa chất lượng cao và đặc thù của địa phương; tập trung xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ các cấp, tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc;

- Quan tâm phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao; đẩy mạnh công tác xã hội hóa, tăng thêm nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao công tác giáo dục thể chất trong nhà trường.

d) Giảm nghèo, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội:

- Tiếp tục đầu tư vào hạ tầng nông thôn, từng bước hoàn thiện hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm xá, đường giao thông, trung tâm xã, điện, nước, thủy lợi cho các xã nghèo và các vùng khó khăn. Phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình, khôi phục và phát triển các làng nghề, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nhiều lao động tại nông thôn; gắn kết các chính sách vào phục vụ tạo việc làm và phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản.

- Thực hiện đồng bộ, toàn diện và hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo, xác định vai trò của các tổ chức chính quyền trong triển khai chương trình; xây dựng các giải pháp, mô hình giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất; có chính sách khuyến khích xã, hộ gia đình thoát nghèo, khuyến khích các doanh nghiệp dạy nghề, tạo việc làm cho người nghèo. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và đào tạo cần thiết cho những người phải hoặc muốn chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

đ) Khoa học và công nghệ

- Tăng cường công tác quản lý về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa và xây dựng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; mở rộng hợp tác về khoa học công nghệ; tiến hành tiêu chuẩn hóa các mặt hàng sản xuất nông sản chủ lực trên địa bàn tỉnh (lúa, thanh long, đậu phộng, tôm,...)

- Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới như công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, tạo bước đột phá về giống cây, con, có năng suất, giá trị cao; từng bước cơ giới hóa các công đoạn trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới và ứng dụng công nghệ trong các làng nghề truyền thống;

5. Phát triển kết cấu hạ tầng:

a) Giao thông

- Phát triển hạ tầng giao thông theo hướng hiện đại, tăng cường tính kết nối các trung tâm đô thị lớn, các trung tâm tăng trưởng và các khu vực trong tỉnh với nhau; đảm bảo vận chuyển hàng hóa, hành khách an toàn, hiệu quả cùng với bảo vệ môi trường, phòng tránh các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm không khí; thiết lập cơ chế tổ chức và thể chế phù hợp để tạo dựng và quản lý mạng lưới và dịch vụ vận tải một cách hữu hiệu.

- Phát triển mạng lưới giao thông (đường bộ và đường thủy) hiệu quả có tính cạnh tranh và gắn kết với mạng lưới giao thông vùng tạo điều kiện cho tỉnh Long An trở thành cửa ngõ thực sự nối kết giữa vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam; nâng cấp, cải tạo đường giao thông nông thôn, đảm bảo không bị ngập lụt và tạo điều kiện cho các phương tiện lưu thông an toàn và thông suốt; phát triển các dịch vụ vận tải công cộng phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân.

b) Thủy lợi

- Nâng cấp, cải tạo hệ thống thủy lợi ở các huyện Đức Hòa, Cần Đước và Cần Giuộc để tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp; xây dựng hệ thống kênh tiếp nhận nước bổ sung từ hồ Phước Hòa; nghiên cứu lập quy hoạch khai thác nguồn nước ngầm; quy hoạch khai thác nước kênh Hồng Ngự để cung cấp nước tưới cho lưu vực nằm giữa sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

- Nghiên cứu nạo vét, nâng cấp, cải tạo một số kênh trong lưu vực kênh Nguyễn Văn Tiếp với đa mục tiêu cấp thoát nước, thoát lũ, khai thác nước sông Tiền; tiếp tục hoàn thiện hệ thống đê và cống dọc hai bờ sông Vàm Cỏ nhằm điều tiết hợp lý việc trữ và xả nước; đồng thời nghiên cứu các biện pháp khả thi để đối phó với biến đổi khí hậu và ngăn chặn xâm nhập mặn.

- Xây dựng hệ thống kênh cấp 2, cấp 3 phục vụ công tác tưới, tiêu, thoát lũ và cải tạo đất chua phèn; hệ thống đê bao và các cống dưới đê để bảo vệ các thị trấn, trung tâm xã và các tuyến dân cư trong mùa lũ;

c) Cấp điện

- Cải tạo, xây dựng mạng lưới điện theo hướng đồng bộ, tăng công suất các trạm đầu mối để ổn định nguồn điện; nghiên cứu, xây dựng các dự án sử dụng các nguồn năng lượng khác như: điện gió, năng lượng ánh sáng mặt trời,... tại những khu vực thích hợp;

- Phát triển hệ thống phân phối điện đến các khu, cụm công nghiệp, du lịch, các điểm dân cư và các vùng sản xuất tập trung; từng bước ngầm hóa hệ thống lưới điện đô thị; chú trọng phát triển mạng lưới điện nông thôn.

d) Cấp, thoát nước và vệ sinh môi trường:

- Tập trung đầu tư nâng cấp, xây mới đồng bộ hệ thống cấp nước sinh hoạt cho các đô thị đảm bảo nhu cầu cấp nước sạch cho sinh hoạt, sản xuất của người dân; đối với khu vực dân cư nông thôn, đảm bảo được sử dụng nước hợp vệ sinh; căn cứ vào khả năng huy động các nguồn lực từng giai đoạn, xây dựng kế hoạch đầu tư nâng cấp, mở rộng các nhà máy xử lý nước, mạng lưới truyền dẫn và phân phối đồng bộ; thực hiện có hiệu quả chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

- Xây dựng đồng bộ hệ thống thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải, đặc biệt là tại khu đô thị, khu cụm công nghiệp, đảm bảo các đô thị không bị ngập úng; thu gom và xử lý rác thải y tế tại các bệnh viện, trạm xá; nghiên cứu xây dựng các bãi rác tập trung tại các khu đô thị.

đ) Thông tin truyền thông

- Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, kết hợp cung cấp dịch vụ mới. Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng hệ thống thiết bị giao ban trực tuyến từ thành phố xuống cấp huyện.

- Hiện đại hóa, mở rộng mạng lưới đi đôi với ứng dụng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông; đảm bảo an ninh thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

6. Bảo vệ tài nguyên và môi trường

- Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sạch vào các ngành kinh tế; khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường; bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.

- Quản lý bảo vệ chặt chẽ, có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, rừng và khoáng sản. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng và xử lý các loại hóa chất, chất thải gây ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình.

7. Quốc phòng, an ninh.

- Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân.

- Xây dựng và triển khai thực hiện tốt các phương án phòng thủ, quản lý chặt chẽ quân dự bị động viên đảm bảo về số lượng và chất lượng; gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án đầu tư phát triển.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN

1. Phát triển đô thị - nông thôn

a) Đô thị

- Phát triển khu đô thị gắn kết Tân An - Bến Lức nhằm hỗ trợ giao thông vận tải hiệu quả và phát triển đô thị dọc hành lang.

- Phát triển đô thị Đức Hòa với vai trò là trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Bắc; đô thị Cần Giuộc dự kiến sẽ cung cấp dịch vụ cho các cảng (Hiệp Phước và Long An) cũng như khu vực nội địa; hình thành đô thị Mộc Hóa được xác định là trung tâm phát triển của vùng Đồng Tháp Mười, phát triển kinh tế cửa khẩu nhằm đảm bảo cung cấp cơ sở hiệu quả cho thương mại và các hoạt động qua biên giới.

- Củng cố, nâng cấp các đô thị như Cần Đước, Tân Trụ, Thủ Thừa, Hậu Nghĩa, Đông Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Tân Hưng và Vĩnh Hưng.

b) Nông thôn

Phát triển các trung tâm đô thị nông thôn theo hướng gắn kết như: cụm đô thị Thạnh Hóa - Tân Thạnh; cụm đô thị Đông Thành - Hậu Nghĩa; cụm đô thị Mộc Hóa - Bình Hiệp, đảm bảo phát triển các dịch vụ đô thị chất lượng cao để cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn.

Phát triển hành lang sinh thái Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đảm bảo nguồn cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất và phục vụ giao thông trong tỉnh và còn tạo cơ hội phát triển các hoạt động sinh thái khác nhau, đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị, nông thôn và khách du lịch.

2. Phát triển vùng kinh tế:

- Vùng 1 (Vùng an ninh lương thực, du lịch và kinh tế cửa khẩu): bao gồm các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Châu Thành và một phần huyện Thủ Thừa, là vùng có lợi thế cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp và thu hút khách du lịch.

Định hướng phát triển mạnh về nông, lâm, ngư nghiệp và đảm bảo phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn; phát triển dịch vụ, công nghiệp tại khu kinh tế cửa khẩu; phát triển du lịch sinh thái; phát triển đô thị Mộc Hóa nhằm đảm bảo giao lưu thương mại, dịch vụ với vùng Đồng Tháp Mười và thành phố Tân An.

- Vùng 2 (Vùng đệm sinh thái): nằm giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Mục tiêu chính của Vùng được xác định là bảo vệ Vùng 1 khỏi tác động từ hoạt động phát triển đô thị và công nghiệp quá mức của Vùng 3; tạo cảnh quan đặc biệt về sử dụng đất bằng việc kết hợp giữa các đặc điểm đô thị và nông thôn; giảm thiểu ô nhiễm cho sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và bảo tồn không gian cho định hướng phát triển sau năm 2020.

Trước mắt, Vùng 2 được định hướng phát triển nông nghiệp, dành quỹ đất hợp lý cho phát triển công nghiệp, đô thị sinh thái, khu trung chuyển nội tỉnh. Xây dựng trung tâm Vùng là thị trấn Thủ Thừa nhằm kết nối các tiểu vùng kinh tế của tỉnh, giữa cửa khẩu đất liền và cảng biển. Chú trọng kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của vùng 2 và chỉ cho phép phát triển ở các khu vực đã quy định dọc các tuyến đường và ở một số khu vực chỉ định khác.

- Vùng 3 (Vùng phát triển đô thị và công nghiệp) bao gồm sông Vàm Cỏ Đông và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, một phần huyện Tân Trụ ở vùng Hạ, thành phố Tân An và một phần huyện Thủ Thừa.

Định hướng tập trung phát triển đô thị và công nghiệp tổng hợp, tạo thành hành lang phát triển đô thị trung tâm ở Bến Lức - Tân An và các đô thị công nghiệp đặc thù ở Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước.

DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU ĐẦU TƯ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030, TỈNH LONG AN 

I

CÁC DỰ ÁN DO TRUNG ƯƠNG ĐẦU TƯ

1

Đường Vành Đai 3

2

Đường Vành Đai 4

3

Đường cao tốc Bến Lức - Long Thành

4

Đường sắt thành phố Hồ Chí Minh - Mỹ Tho

5

Quốc lộ N1

6

Nâng cấp Quốc lộ 62

7

Dự án thủy lợi Phước Hòa

II

CÁC DƯ ÁN DO ĐỊA PHƯƠNG ĐẦU TƯ

8

Xây dựng mô hình cải thiện đồng bộ Vùng trồng lúa Đồng Tháp Mười

9

Dự án tăng cường phòng chống ô nhiễm môi trường

10

Thành lập Hệ thống Giám sát toàn diện các yếu tố môi trường

11

Phát triển phù hợp với tư cách “Nhà quản lý Kiểm soát Ô nhiễm môi trường đã được chứng nhận”

12

Chương trình đào tạo lãnh đạo Cộng đồng cho Quản lý Môi trường hướng tới Cộng đồng

13

Thành lập Ban chuyên trách xúc tiến đầu tư

14

Phát triển Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” tại các khu vực nông thôn của Long An

15

Xây dựng Trung tâm phát triển nguồn nhân lực

16

Nâng cấp cải tạo hệ thống kênh chính Cái Cơ - Long Khốt

17

Đường Tân Lập-Long Hậu, ĐT830, ĐT826B, đường dọc kênh 79, đường dọc sông Vàm Cỏ Tây, đường dọc sông Vàm Cỏ Đông

18

Đường Bến Lức (QL1) - Tân Tập

19

Đường Thủ Thừa - Bình Thành - Hòa Khánh

20

Đường tỉnh 831 (đoạn Vĩnh Bình - cửa khẩu Long Khát và đoạn Vĩnh Hưng - Tân Hưng - Tân Phước đi Đồng Tháp)

21

Đường Long Hậu - Tân Tập

22

Đường Quốc lộ 62 - Tân Hưng (cặp kênh 79)

23

Đường tỉnh 830

24

Bệnh viện chuyên khoa sản nhi

25

Bệnh viện tâm thần

III

CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT, KINH DOANH KÊU GỌI ĐẦU TƯ

26

Trung tâm Công nghệ sinh thái hàng đầu Long An (LALETEC)

27

Phát triển khu công nghiệp sạch, chất lượng cao có khả năng xử lý chất thải

28

Xây dựng Trung tâm Kho vận lương thực tại Vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An

29

Trung tâm y tế quốc tế chất lượng cao

30

Xây dựng trung tâm thương mại ngoại ô

31

Xây dựng trạm dừng nghỉ đường bộ

32

Thành lập Trung tâm kho vận

33

Phát triển gắn kết các khu đô thị Tân An - Bến Lức

34

Xây dựng khu làng sinh thái ven sông

35

Phát triển nhà tập thể giá phù hợp, chống được thiên tai, tiết kiệm năng lượng

36

Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

37

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Long An

38

Nhà máy cấp nước sử dụng nguồn nước từ dự án thủy lợi Phước Hòa

39

Nhà máy xử lý nước mặt ở Bến Lức

 

Ghi chú: Về vị trí, quy mô, diện tích đất sử dụng và tổng mức đầu tư của các công trình, dự án trong Danh mục nêu trên sẽ được tính toán, lựa chọn và xác định cụ thể trong từng giai đoạn lập và trình duyệt dự án đầu tư, tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng cân đối, huy động vốn đầu tư của từng thời kỳ.​

15/12/2014 2:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Ngày 09/9/2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 3185/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với các nội dung chủ yếu sau:

Ngày 09/9/2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 3185/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với các nội dung chủ yếu sau:

IQUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Long An phù hợp trong tổng thể phát triển công nghiệp của cả nước, vùng và tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An; thể hiện những thế mạnh và nét đặc thù riêng của một tỉnh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vừa thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. 

2. Phát triển nhanh nhưng phải bảo đảm tính đồng bộ, cân đối, hiệu quả giữa sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với xây dựng vùng nguyên liệu, cơ sở tồn trữ, thương mại hóa, đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp. Bảo đảm đồng bộ giữa đầu tư vào các vùng - lĩnh vực phát triển mới kết hợp với rà soát, điều chỉnh, sắp xếp, tái cấu trúc các vùng - lĩnh vực đã phát triển, giữa phát triển quy mô sản xuất và tăng cường hàm lượng công nghệ.

3. Phát huy tối đa nội lực (vốn, tay nghề, quản lý, nguyên liệu) kết hợp tích cực thu hút đầu tư ngoại lực nhằm tăng trưởng nhanh và thu hút vốn, công nghệ, mở rộng thị trường.

4. Ưu tiên thu hút đầu tư công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp tiên tiến, công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ. Phát triển công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp phải đảm bảo không làm thiệt hại và tổn thương đến môi trường, kinh tế nông nghiệp, du lịch và quốc phòng an ninh.

II. ĐỊNH HƯ­ỚNG PHÁT TRIỂN

1. Định hướng tổng quát tầm nhìn đến năm 2030

- Về hướng phát triển chính: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong kỳ quy hoạch phát triển với vị trí, vai trò là lĩnh vực kinh tế chủ đạo trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, với tốc độ tăng trưởng cao và hợp lý trong từng giai đoạn, hàm lượng công nghệ và độ thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng nhằm đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng chung của tỉnh, đến năm 2020 về cơ bản Long An là tỉnh công nghiệp và đến 2030 phù hợp với cơ cấu kinh tế định hướng của tỉnh là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.

- Về cơ cấu ngành: trên cơ sở phát triển phù hợp với vị trí địa lý, tiềm năng về tài nguyên, khả năng huy động nguyên liệu, nhân lực, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh của tỉnh và trên cơ sở tích cực thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả đầu tư về vốn, công nghệ, lao động chất lượng cao, định hướng tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống, cơ khí chế tác, hóa chất - nhựa, bao bì - in, điện - điện tử, vật liệu xây dựng, công nghiệp phục vụ logistics, công nghiệp năng lượng sạch với quy mô, tốc độ hợp lý, đặc biệt chú trọng phát triển đa dạng các loại hình công nghiệp hỗ trợ.

- Về nhiệm vụ trọng tâm: rà soát, quy hoạch hợp lý và đầu tư hoàn chỉnh các khu, cụm công nghiệp kết hợp với các khu dân cư, khu đô thị dịch vụ công nghiệp và các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; kết hợp với việc sắp xếp tái phân bố và cải thiện điều kiện sản xuất tại các tuyến công nghiệp hiện có. Đồng thời, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên các địa bàn còn lại theo hướng hỗ trợ, vệ tinh cho các vùng kinh tế công nghiệp động lực này.

- Về thu hút và vận dụng các nguồn lực phát triển: một mặt phát huy tối đa nội lực, vận động nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nói riêng; mặt khác tích cực tạo ra môi trường thu hút đầu tư thuận lợi cho phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các lĩnh vực hỗ trợ công nghiệp gắn liền với thị trường cả nước và quốc tế.

- Về định hướng phát triển đồng bộ với các ngành và lĩnh vực khác: tích cực ứng dụng triển khai công nghệ theo hướng sạch và xanh, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực, kiểm soát và hạn chế tối đa các tác động môi trường; xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu nhằm đảm bảo đồng bộ hóa nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là lúa, mía, đay, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản; tích cực phát triển ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ nhằm hỗ trợ hình thành các khu, cụm công nghiệp, các vùng kinh tế công nghiệp động lực và mở rộng quan hệ thị trường tiêu thụ; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội về giáo dục, y tế, văn hóa tại các khu dân cư và khu đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp.

2. Định hướng cụ thể đến năm 2020  

- Rà soát, quy hoạch phân bố lại các khu, cụm công nghiệp; phối hợp đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn của tỉnh; tổ chức xúc tiến đầu tư vào các khu cụm, ưu tiên cho ngành công nghiệp hỗ trợ. Tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, cơ khí phục vụ nông nghiệp và linh kiện máy chế biến nông sản thực phẩm, hóa chất - nhựa, công nghiệp hỗ trợ cho 6 lĩnh vực chính (cơ khí, nhựa, bao bì in, dệt, giày da, điện - điện tử); đồng thời tiếp tục cải thiện và tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tiến hành sắp xếp, tái phân bố và cải thiện điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại các tuyến công nghiệp hiện có, đặc biệt là tại huyện Bến Lức. Hạn chế việc xây dựng các cơ sở sản xuất ngoài khu, cụm nhằm thuận lợi hơn trong việc cung cấp kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả sản xuất và kiểm soát môi trường. Đồng thời quy hoạch phát triển các khu dân cư, khu đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp phục vụ cho phát triển các khu cụm công nghiệp trên.

- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ, quản lý chất lượng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm (ISO, SA, GMP, HACCP …), thu hút đầu tư các ngành lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao và thân thiện với môi trường. Sắp xếp, củng cố, cải tiến nâng cao hiệu quả sản xuất các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có. Đồng thời có kế hoạch, tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm trong khu vực đông dân cư ra các khu, cụm công nghiệp, kiểm tra và có biện pháp xử lý mạnh các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.

- Phát triển trung tâm khuyến công và các hoạt động khuyến công, năng động trong công tác hướng dẫn, phổ biến các thiết bị và công nghệ mới, hỗ trợ đổi mới trang thiết bị và công nghệ cho các cơ sở sản xuất. Phổ biến các thông tin về khoa học, kỹ thuật và thị trường; tạo điều kiện phát triển mạnh các dịch vụ tư vấn, thẩm định, cải tiến thích nghi và triển khai các công nghệ mới.

- Hỗ trợ xây dựng và quảng bá các thương hiệu mạnh về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; đẩy mạnh công tác quảng bá thương hiệu và xúc tiến đầu tư.

- Hỗ trợ xây dựng và phát triển các làng nghề theo nhiều hình thức đa dạng, tiếp tục vận động thành lập các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã các nghề thủ công truyền thống.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hút, đào tạo lao động các cấp đảm bảo trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý trong phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

- Tích cực huy động vốn từ nhiều nguồn (ngân sách, trong dân, nhà đầu tư, tín dụng, các tổ chức tài chính…) đầu tư vào phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các khu, cụm công nghiệp, các khu dân cư, khu đô thị vệ tinh. Trong đó, quan trọng nhất là xây dựng cơ chế chính sách và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các dự án lớn, có tính chất đòn bẩy phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh.

III. MC TIÊU

1. Mục tiêu chung

- Xây dựng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực động lực trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời hỗ trợ phát triển thương mại dịch vụ và nông nghiệp, thúc đẩy nhu cầu đào tạo và thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, đổi mới công nghệ và quản lý kinh tế - xã hội.

- Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp hướng đến phát triển bền vững hơn sau năm 2020 trên cơ sở tăng dần hàm lượng công nghệ và tri thức trong sản phẩm, đồng thời tích cực bảo vệ môi trường.

- Phân bố không gian và quy mô phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở liên kết thành khối phát triển công nghiệp – đô thị tương hỗ giữa các huyện, thị xã, thành phố, các vùng kinh tế của tỉnh và với các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Đến năm 2020:

- Về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu trong kinh tế chung: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm 14,2%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và 14,4%/năm trong giai đoạn 2016-2020, bình quân 14,3% trong 10 năm. Đến năm 2020, với định hướng Long An trở thành tỉnh công nghiệp, cơ cấu khu vực II đến năm này đạt 45% (trong đó công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 35%).

- Về cơ cấu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: phát huy lợi thế so sánh và khả năng thu hút đầu tư trên địa bàn, tập trung vào các nhóm ngành chủ lực đạt hiệu quả cao, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến lên trên 90% giá trị sản xuất vào năm 2020, trong đó các ngành chủ lực là công nghiệp sản xuất nông sản thực phẩm, công nghiệp cơ khí kết hợp chế tác, công nghiệp nhựa kết hợp bao bì - in, công nghiệp hóa chất; đồng thời giảm dần tỷ trọng của công nghiệp da giày, dệt may; chuẩn bị điều kiện phát triển mạnh hơn công nghiệp điện - điện tử, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp phục vụ logistics, công nghiệp năng lượng sạch. Phấn đấu đến năm 2020, chỉ tiêu giá trị gia tăng (VA) các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tiếp cận 35-40% tổng VA công nghiệp.

- Về hiệu quả đầu tư và hiệu quả sản xuất: phấn đấu tỷ lệ đầu tư thêm/VA dưới 30%, tỷ lệ VA/GO (tổng giá trị sản xuất) đạt trên 25%.

- Về năng suất lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: phấn đấu nâng giá trị tăng thêm bình quân/lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên 10.000 USD vào năm 2020.

- Về xây dựng khu, cụm công nghiệp: tổng diện tích đất quy hoạch cho khu, cụm công nghiệp trong khoảng 12.500 ha, phấn đấu xây dựng hoàn tất hạ tầng và lấp đầy trên 60% khu, cụm đã có đăng ký đầu tư.

- Về xây dựng đô thị công nghiệp và kết cấu hạ tầng công nghiệp: hình thành 05 khu kinh tế công nghiệp trọng điểm tại thành phố Tân An, huyện Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa với các đô thị hậu cần công nghiệp, đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp tương thích. Hoàn chỉnh hệ thống giao thông trục thủy bộ nối kết các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm, hệ thống giao thông nội bộ khu, cụm công nghiệp, hệ thống cấp điện nước, hệ thống thông tin liên lạc.

- Về xuất khẩu: tỷ trọng hàng chế tạo trong xuất khẩu đạt 50-55%.

- Về nguồn nhân lực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: thu hút và đào tạo lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp dưới nhiều hình thức (đào tạo nghề, đào tạo thích nghi, đào tạo truyền nghề, đào tạo nâng cao), phấn đấu đạt trên 75% lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp qua đào tạo, trong đó lao động trình độ cao tiếp cận 15%.

- Phấn đấu các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và trang thiết bị tăng 18-20%/năm.

- Về môi trường: tỷ trọng doanh nghiệp công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trên 95%; tỷ trọng rác thải công nghiệp được xử lý, tái chế 90-95%, trong đó bảo đảm các khu cụm công nghiệp thu gom và xử lý 100% chất thải.

b) Đến năm 2030:

- Cơ cấu khu vực II đạt 48-50% (trong đó công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm gần 40%).

- Tỷ trọng công nghiệp chế biến/tổng GO công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 95-96%; tỷ trọng VA/GO 32-35%.

- Tốc độ tăng các doanh nghiệp đổi mới công nghệ đạt 20-25%.

- Tỷ trọng hàng chế tạo trong xuất khẩu đạt 70%.

- Lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp qua đào tạo/tổng lao động đạt 80%; lao động trình độ cao/tổng lao động đạt 18-20%.

- Tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường xấp xỉ 100%; tỷ trọng rác thải công nghiệp được xử lý, tái chế tiếp cận 100%.

IV. ĐNH HƯNG PHÁT TRIN CÁC PHÂN NGÀNH CÔNG NGHIP – TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

1. Ngành chế biến thực phẩm và đồ uống

- Cải thiện điều kiện sản xuất các cơ sở hiện có, xây dựng mới, nâng cấp và mở rộng các cơ sở trong các khu, cụm công nghiệp, đồng thời phải tranh thủ thời cơ đầu tư phát triển mạnh các ngành chế biến.

- Tiếp tục mở rộng về số lượng và chủng loại các sản phẩm tinh chế bằng công nghệ tiên tiến. Ưu tiên phát triển các dự án chế biến có trình độ công nghệ cao, trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, sản phẩm đảm bảo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

- Đổi mới trang thiết bị, công nghệ, phát triển công nghệ sinh học trong sơ chế và chế biến nông sản phẩm.

- Phát huy thế mạnh về nguyên liệu, thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất, cải tiến công nghệ, xử lý môi trường.

2. Ngành hóa chất và các sản phẩm hóa chất

- Phát triển công nghiệp dược phẩm kể cả Đông, Tây y. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong, ngoài tỉnh và nước ngoài đầu tư sản xuất dược phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng và mẫu mã cạnh tranh với thị trường trong nước và thế giới.

- Đầu tư mở rộng các cơ sở sản xuất các sản phẩm tiêu dùng như sơn các loại, chất tẩy rửa, bột giặt.

- Đầu tư nâng cao sản lượng và chất lượng các sản phẩm hóa chất dùng trong nông nghiệp.

- Tập trung phát triển ngành sản xuất thuốc thú y.

3. Ngành sản xuất dệt - may

- Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại, phát triển sản xuất vải sợi cung cấp cho ngành trang phục.

- Chú trọng công tác thiết kế thời trang, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm phù hợp sức mua và tập quán tiêu dùng của các tầng lớp nhân dân.

- Tăng cường công tác tiếp thị, bán hàng để đảm bảo khả năng cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước.

4. Ngành sản xuất da và giả da

- Tăng cường khâu thiết kế thời trang nhằm tăng súc cạnh tranh trong và ngoài nước.

 

- Phát triển thêm ngành hàng túi xách có thương hiệu các loại phục vụ nhu cầu nội địa.

 

- Phát triển mạnh các sản phẩm hỗ trợ cho ngành da, giả da. Đối với ngành thuộc da để làm nguyên liệu, cần tập trung vào cải tiến công nghệ và đưa vào các khu công nghiệp nhằm giám sát môi trường chặt chẽ.

5. Ngành cơ khí

- Đầu tư mở rộng, nâng cấp các cơ sở cơ khí hiện có.

 

- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, gia công, chế tạo sản phẩm cơ khí phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp, máy xay xát, máy công cụ chế biến nông sản phẩm, linh kiện cho máy công cụ các ngành nhựa, vật liệu và công trình xây dựng, bao bì - in, hóa chất.

 

- Đầu tư xây dựng nhà máy sửa chữa và đóng tàu, sà lan phục vụ cho ngành vận tải, logistics, chú trọng liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước đóng các loại tàu có trọng tải lớn.

 

- Ứng dụng công nghệ tự động hóa, công nghệ mô phỏng, công nghệ điều khiển học, tiến đến phát triển sản xuất các chi tiết cơ kim khí chính xác phục vụ chế tác máy công cụ, y tế, đo lường, điện - điện tử, năng lượng sạch.

6. Ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại, vật liệu xây dựng

- Đối với cơ sở sản xuất gạch ngói, phấn đấu không còn sử dụng lò thủ công, chuyển sang công nghệ tuynel ít gây ô nhiễm môi trường.

 

- Thu hút đầu tư và phát triển các đa dạng mặt hàng vật liệu xây dựng mới, nhất là sản xuất gạch bằng công nghệ không nung.

 

- Phát triển các lĩnh vực mới: vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu xây dựng tiền chế, vật liệu xây dựng tương thích nội thất - thiết bị năng lượng sạch.

7. Ngành điện, điện tử

- Đầu tư mở rộng, xây dựng mới các cơ sở sản xuất các mặt hàng điện gia dụng và công nghiệp, động cơ điện các loại với chất lượng cao.

 

- Gia công lắp ráp các máy móc thiết bị điện tử với công nghệ cao, tiến đến chế tạo một số thiết bị phục vụ ngành điện, liên kết sản xuất các linh kiện điện, điện tử với ngành cơ khí chế tạo và ngành nhựa.

 

- Tích cực thu hút đầu tư các doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất hoặc tham gia vào chuỗi công nghiệp hỗ trợ điện - điện tử. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tham gia vào chuỗi công nghiệp hỗ trợ điện - điện tử.

 

- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tự động hóa, mô phỏng và điều khiển học trong quá trình lắp ráp, làm cơ sở phát triển lên một số thành phẩm điện tử có thương hiệu và thị trường ổn định sau 2020.

8. Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế và các sản phẩm khác

- Đầu tư cải tiến trang thiết bị và quy mô sản xuất, cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm.

 

- Phát triển các sản phẩm gỗ mỹ nghệ truyền thống.

9. Ngành nhựa

- Đầu tư cải tiến trang thiết bị và quy mô sản xuất.

 

- Đầu tư các cơ sở mới có công nghệ hiện đại cho các sản phẩm chất lượng cao.

 

- Phát triển các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ có liên quan đến ngành nhựa là thế mạnh trên địa bàn.

10. Ngành giấy

- Đầu tư cải tiến trang thiết bị và quy mô sản xuất các cơ sở hiện có trên cơ sở cân đối với vùng đay nguyên liệu, giám sát nghiêm ngặt môi trường.

 

- Đầu tư các cơ sở mới với công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bao bì, in.

11. Ngành sản xuất và phân phối điện

- Đảm bảo yêu cầu về điện cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo từng giai đoạn quy hoạch.

 

- Tăng và đảm bảo phụ tải, giảm tổn thất công suất, điện năng và tổn thất điện áp trên lưới.

 

- Phấn đấu đưa số hộ sử dụng điện tăng lên 99,25% năm 2015, 99,7% năm 2020; sản lượng điện tiêu thụ sẽ tăng lên 4.034 GWh vào năm 2015 và 8.158 GWh vào năm 2020. Điện thương phẩm bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.123 kWh/người và năm 2020 đạt 4.235 kWh/người.

12. Ngành sản xuất và phân phối nước

- Phấn đấu đạt tỷ lệ 97% dân số được cấp nước hợp vệ sinh vào năm 2015, và 100% vào năm 2020.

 

- Công suất của các nhà máy nước (kể cả công suất phục vụ cho các khu công nghiệp và các cụm điểm dân cư nhỏ) sẽ tăng từ 90.400 m3/ngày đêm năm 2010 lên 435.000 m3/ngày đêm năm 2020 và 661.000 m3/ngày đêm năm 2030.

13. Ngành công nghiệp liên quan đến tái chế

- Xử lý chất thải rắn kết hợp thu hồi điện năng.

 

- Tái chế nhựa, plastic.

 

- Xử lý chất thải rắn thành vật liệu xây dựng nhẹ.

14. Phát triển công nghiệp hỗ trợ

- Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 3 khu, cụm công nghiệp định hướng phát triển chuyên công nghiệp hỗ trợ.

 

- Xúc tiến thu hút đầu tư và liên kết hợp tác sản xuất với các doanh nghiệp hỗ trợ trong và ngoài địa bàn.

V. PHÁT TRIN CÁC KHU, CM CÔNG NGHIP

1. Mục tiêu chung

 

- Thu hút các nhà đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp; tổ chức xúc tiến đầu tư, thu hút các doanh nghiệp sản xuất đến đầu tư tại các khu, cụm công nghiệp.

 

- Tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung, tách biệt với các khu dân cư, khu văn hóa, du lịch.

 

- Các khu, cụm công nghiệp sẽ là hạt nhân hình thành các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm góp phần tích cực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.

 

- Đảm bảo thực hiện rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Khu kinh tế, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn thực hiện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành có liên quan.

 

a) Khu công nghiệp:

 

- Diện tích các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An sau khi rà soát còn lại là 28 khu công nghiệp với diện tích là 10.309,14 ha.

 

- Dự kiến Khu công nghiệp Thế Kỷ sẽ sát nhập vào Khu công nghiệp Hựu Thạnh do cùng chủ đầu tư hạ tầng và 2 khu này nằm kế cận nhau.

 

- Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 của tỉnh, đất khu công nghiệp là 11.964 ha, do đó đến năm 2015, tùy vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư, có thể điều chỉnh thêm 1.645 ha khu công nghiệp theo hạn mức cho phép.

 

b) Cụm công nghiệp:

 

Diện tích các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An sau khi rà soát, đã có quyết định thu hồi, đã đề nghị thu hồi và giảm diện tích còn lại 29 cụm diện tích khoảng 3.113,25 ha.

 

Ngoài ra, dự kiến thành lập thêm 05 cụm công nghiệp.

 

c) Các cụm, tuyến công nghiệp khác:

 

- Đối với khu cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp thuộc thị xã Kiến Tường và cửa khẩu quốc gia Mỹ Quý Tây thuộc huyện Đức Huệ, quy hoạch 2 cụm công nghiệp chuyên hoàn tất hoặc lắp ráp sản phẩm kết hợp với kho vận, khởi động sau năm 2015 và đi vào hoạt động sau năm 2020. Diện tích dự kiến 50 ha/cụm và có khả năng mở rộng lên đến 75 ha/cụm.

 

- Dự trù quỹ đất 2-5 ha/huyện, thị xã, thành phố làm điểm tập trung các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

 

- Đối với công nghiệp xay xát, đề nghị quy hoạch các cụm kết hợp tuyến  công nghiệp xay xát kết hợp hệ thống kho vựa tại các huyện như sau:

 

+ Huyện Vĩnh Hưng: cụm kết hợp tuyến công nghiệp xay xát tại xã Tuyên Bình, Tuyên Bình Tây, Khánh Hưng.

 

+ Huyện Tân Hưng: cụm kết hợp tuyến công nghiệp xay xát dọc kênh Trung Ương.

 

+ Huyện Thạnh Hóa: cụm kết hợp tuyến công nghiệp dọc kênh Dương văn Dương.

 

+ Huyện Tân Thạnh cụm kết hợp tuyến công nghiệp xay xát kênh Dương văn Dương và kênh 12.

 

Mỗi cụm kết hợp tuyến xay xát như trên có quy mô định hình 50 ha. Riêng tại thành phố Tân An, dự trù 5-10 ha dọc sông Bảo Định tại phường Tân Khánh để di dời các doanh nghiệp xay xát.

 

- Sau năm 2020, phát triển 1 cụm công nghiệp chuyên công nghệ cao tại  thành phố Tân An (xã Nhơn Thạnh Trung). Diện tích 50 ha và có khả năng mở rộng lên đến 75 ha.

 

Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 của tỉnh, đất cụm công nghiệp là 3.154 ha. Do đó đến năm 2015, tùy vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư, có thể điều chỉnh thêm 730 ha cụm công nghiệp theo hạn mức cho phép.

 

d) Các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm:

 

Hệ quả sự hình thành các khu, cụm công nghiệp và các đô thị hậu cần, đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu và tổ chức giao lưu vận chuyển mua bán nguyên liệu, thành phẩm công nghiệp sẽ hình thành các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm trên các địa bàn cụ thể như sau:

 

- Huyện Bến Lức: bao gồm 06 khu công nghiệp (Thuận Đạo, Nhựt Chánh, Vĩnh Lộc 2, Thịnh Phát, Phú An Thạnh, Phúc Long) và 05 cụm công nghiệp (Chế biến thực phẩm Vissan, Nhựt Chánh 2, Hiệp Thành, Phong Phú, Quốc Quang). Tổng diện tích quy hoạch sau khi rà soát các khu công nghiệp 1.309 ha, và 277 ha cụm công nghiệp.

 

- Huyện Đức Hòa: bao gồm 10 khu công nghiệp (Đức Hòa 1, Tân Đức, Xuyên Á, Đức Hòa 3, Thế Kỷ, Tân Phú, Hựu Thạnh, Tân Đô, Hải Sơn, Đại Lộc) và 10 cụm công nghiệp (Liên Hưng, Nhựa Đức Hòa, Hải Sơn, Liên Minh, Hoàng Gia, Đức Thuận, Đức Mỹ, ATAD, Sao Vàng, Liên Á). Tổng diện tích quy hoạch sau khi rà soát các khu công nghiệp 4.340 ha, và 711,67 ha cụm công nghiệp.

 

- Huyện Cần Giuộc: bao gồm 05 Khu công nghiệp (Tân Kim, Long Hậu, Bắc Tân Tập, Nam Tân Tập, Long Hậu 3) và 05 cụm công nghiệp (Nam Hoa, Tân Phú Thịnh, Hải Sơn, Phát Hải, Caric-Hồng Lĩnh). Tổng diện tích quy hoạch các khu công nghiệp 2.633 ha và 558,6 ha cụm công nghiệp.

 

- Thành phố Tân An: 01 cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn, diện tích quy hoạch 88 ha. Phát triển thêm 01 cụm công nghiệp chuyên công nghệ cao tại thành phố Tân An (xã Nhơn Thạnh Trung), được nâng cấp từ vườn ươm doanh nghiệp với chức năng: trung tâm chuyển giao công nghệ mới kết hợp với các doanh nghiệp sản xuất sạch và xanh.

 

- Huyện Cần Đước: bao gồm 03 khu công nghiệp (Thuận Đạo mở rộng, Cầu Tràm, Cầu cảng Phước Đông) và 05 cụm công nghiệp (Long Cang, Long Cang mở rộng, Cảng nước sâu, Bình Tây, Thiên Lộc Thành). Tổng diện tích quy hoạch các khu công nghiệp là 397 ha và các cụm công nghiệp là 1.415,03 ha.

 

đ) Phát triển tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn và làng nghề:

 

- Đối với tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn: hỗ trợ phát triển quỹ đất, thu hút phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại khu vực nông thôn. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế về tiềm năng nguyên liệu, thị trường và tay nghề.

 

- Đối với làng nghề: ổn định quy mô và nâng cao hiệu quả, chất lượng, mẫu mã các làng nghề; sắp xếp, tổ chức lại theo mô hình hợp tác xã, nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động kinh tế tập thể, tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trong các làng nghề.

VINHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ

- Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2011-2020 là: 91.917 tỷ đồng theo giá hiện hành, trong đó:

+ Giai đoạn 2011-2015 là 37.251 tỷ đồng;

+ Giai đoạn 2016-2020 là 54.666 tỷ đồng.

- Tổng nhu cầu vốn đầu tư phân theo lĩnh vực đầu tư:

+ Phát triển các khu công nghiệp giai đoạn 2011-2020 là 20.143 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 là 7.971 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 là 12.172 tỷ đồng.

+ Phát triển các cụm công nghiệp giai đoạn 2011-2020 là 4.228 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 là 1.808 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 là 2.420 tỷ đồng.

+ Các phân ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 là 67.546 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn 2011 - 2015 là 27.472 tỷ đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 40.074 tỷ đồng.

 

ANH MỤC CÁC DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THU HÚT, ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

 

STT

Tên dự án

Dự án mới

Công suất

Dự án mở rộng

Công suất

1

Nâng cấp các Nhà máy xay xát xuất khẩu

2011-2015

270.000 Tấn/năm

2017-2020

270.000 Tấn/năm

2

Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi

2013-2015

300.000 Tấn/năm

2016-2020

600.000 Tấn/năm

3

Nhà máy giết mổ gia súc

2016-2018

540.000 con

 

 

4

Nhà máy chế biến thủy sản

2013-2016

10.000 Tấn/năm

2017-2020

20.000 Tấn/năm

5

Nhà máy chế biến súc sản xuất khẩu

2015-2017

25.000 Tấn/năm

2017-2018

25.000 Tấn/năm

6

Nhà máy nước quả cô đặc và purê

2016-2018

3.000 Tấn/năm

2020-2022

3.000 Tấn/năm

7

Nhà máy rau quả đóng hộp

2013-2015

5.000 Tấn/năm

2016-2018

10.000 Tấn/năm

8

Nhà máy thực phẩm đóng hộp

2014-2015

10.000 Tấn/năm

2017-2018

10.000 Tấn/năm

9

Nhà máy sản xuất ván ép MDF

2007-2008

80.000 m2/năm

2013-2014

80.000 m2/năm

10

Nhà máy sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn

2016-2017

20.000 m3/năm

2018-2019

20.000 m3/năm

11

Nhà máy sản xuất phụ liệu ngành may

2014-2016

40 Triệu sản phẩm/năm

2017-2019

40 Triệu sản phẩm/năm

12

Nhà máy sản xuất bao bì các loại

2014-2015

125.000 Tấn/năm

2014-2015

125.000 Tấn/năm

13

Nhà máy sản xuất sản phẩm nhựa cao cấp

2015-2017

80.000 Tấn/năm

2017-2018

80.000 Tấn/năm

14

Nhà máy đóng và sửa chữa tàu

2015-2017

60 chiếc/năm

 

 

15

Nhà máy sản xuất các sản phẩm cơ khí

2013-2016

25.000 Tấn/năm

2013-2016

25.000 Tấn/năm

16

Nhà máy cơ khí chính xác

2015-2016

6,5 Triệu sản phẩm/năm

2015-2016

6,5 Triệu sản phẩm/năm

17

Nhà máy sản xuất dụng cụ, linh kiện điện

2014-2016

4 triệu sản phẩm/năm

2014-2016

4 triệu sản phẩm/năm

18

Nhà máy lắp ráp và chế tạo hàng điện tử

2013-2015

60.000 sản phẩm/năm

2016-2017

60.000 sản phẩm/năm

19

Nhà máy sản xuất phân bón

2014-2015

5.000 Tấn/năm

2017-2018

5.000 Tấn/năm

20

Nhà máy sản xuất thuốc thú y

2013-2014

7,5 Triệu sản phẩm/năm

2018-2019

7,5 Triệu sản phẩm/năm

21

Nhà máy sản xuất sơn các loại

2014-2015

20.000 Tấn/năm

2016-2017

20.000 Tấn/năm

22

Nhà máy dược phẩm

2015-2016

1500 Tấn/năm

2017-2018

1500 Tấn/năm

23

Nhà máy sản xuất dụng cụ y tế

2015-2016

10 Triệu sản phẩm/năm

2018-2019

10 Triệu sản phẩm/năm​

15/12/2014 3:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Chủ tịch UBND tỉnh-Đỗ Hữu Lâm đã ký Quyết định số 3097/QĐ-UBND ngày 04/9/2013 phê duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH LONG AN ĐẾN NĂM 2020

1. Quan điểm phát triển

- Phát triển thương mại tỉnh Long An phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh; quy hoạch phát triển thương mại cả nước; phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng để thương mại trở thành ngành kinh tế quan trọng;đẩy mạnh xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế bền vững.

  - Phát triển ngành thương mại theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình tổ chức thương mại, các phương thức giao dịch và dịch vụ hỗ trợ, vừa phát triển các loại hình dịch vụ chất lượng cao, vừa kế thừa, cải tạo các loại hình truyền thống.

  - Khuyến khích và thu hút mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong xã hội, kinh tế nước ngoài đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại và các loại hình dịch vụ phân phối hiện đại.

- Phát triển thương mại phù hợp với trình độ sản xuất của các ngành kinh tế coi trọng cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng.

- Quy hoạch phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh cần đặc biệt chú trọng đến yêu cầu nâng cao năng lực và vai trò quản lý nhà nước đối với các hoạt động thương mại của địa phương, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật và tạo ra cơ hội cho các chủ thể kinh doanh phát triển linh hoạt, năng động.

2. Mục tiêu phát triển thương mại

- Xây dựng ngành thương mại phát triển bền vững theo hướng văn minh, hiện đại; tăng tỷ trọng trong cơ cấu GDP của tỉnh. Phát huy vai trò của thương mại trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, tổ chức tiêu thụ tốt sản phẩm cho nông nghiệp, nông dân; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và tăng trưởng kinh tế.

- Đẩy mạnh xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; mở rộng thị trường và đa dạng hóa ngành hàng xuất khẩu, phát triển các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn; tăng cường xuất khẩu dịch vụ.

- Tích cực thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước để phát triển cơ sở hạ tầng thương mại theo hướng văn minh, hiện đại.

- Phát triển thị trường nội tỉnh trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển thị trường trong vùng và cả nước với thị trường nước ngoài; gắn hiệu quả kinh doanh thương mại với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 

II. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐẾN NĂM 2020

1. Định hướng phát triển

a) Định hướng phát triển không gian thương mại

- Thị trường đô thị

Phát triển nhanh hệ thống phân phối hiện đại gồm: các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị, các cửa hàng tiện lợi (trước mắt, tập trung tại thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường, thị trấn Bến Lức, Đức Hòa...) thuộc nhiều loại hình phân phối với quy mô thích hợp từng bước tiến tới quy mô lớn.

Khuyến khích các doanh nghiệp phân phối phát triển hệ thống phân phối theo “chuỗi” (chuỗi trung tâm thương mại, chuỗi siêu thị, chuỗi các cửa hàng tiện lợi). Kết hợp hài hòa giữa loại hình thương mại truyền thống với thương mại hiện đại trên địa bàn đô thị. Tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp trong tỉnh với các nhà phân phối của các tỉnh, thành phố khác (đặc biệt liên kết với các doanh nghiệp lớn của Thành phố Hồ Chí Minh) để tăng cường tiềm lực, mở rộng mạng lưới, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

Đẩy mạnh phát triển loại hình dịch vụ logicstics với sự hình thành các kho bán buôn, trung tâm phân phối hàng hóa có trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại làm đầu mối phát luồng cho mạng lưới bán lẻ ở thành phố Tân An và các vùng phụ cận...

Nâng cấp cải tạo các chợ ở thành phố Tân An thành một số chợ trung tâm, sắp xếp lại các chợ phường, liên phường, từng bước chuyển hóa một số chợ thành  siêu thị.

Từng bước phát triển thương mại điện tử, khuyến khích các giao dịch mua bán, thanh toán qua mạng; tích cực đầu tư kết cấu hạ tầng để thương mại điện tử trở thành phương thức giao dịch phổ biến trong trong thương mại - dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020.

Hình thành các khu phố thương mại trên cơ sở khuyến khích thương nhân đầu tư phát triển các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi.

Định hướng tổ chức thương mại trên thị trường đô thị

+ Hình thành và phát triển các tổng công ty kinh doanh chuyên ngành, đa ngành với hệ thống phân phối hợp lý để liên kết các khâu trong quá trình lưu thông đáp ứng nhu cầu của thị trường trên địa bàn; khuyến khích thương nhân phát triển các công ty bán lẻ tổng hợp với hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi; phát triển các công ty kinh doanh bán buôn với hệ thống kho hàng, trung tâm phân phối theo phương thức hiện đại, cung cấp hàng hóa cho hệ thống bán lẻ trên địa bàn.

+ Quy hoạch và xây dựng hệ thống chợ với quy mô phù hợp trên từng địa bàn, hình thành các dãy phố xung quanh chợ.

Phát triển một số siêu thị chuyên doanh hoặc tổng hợp có quy mô phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

- Thị trường nông thôn

- Lấy thị trấn huyện và trung tâm cụm xã làm trung tâm, từ đó hình thành các cụm kinh tế thương mại – dịch vụ. Tại khu vực này phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, cơ sở chế biến, dịch vụ sửa chữa, thương mại, ăn uống và các dịch vụ khác.

- Hệ thống chợ và cửa hàng mua bán truyền thống là kênh lưu thông hàng hóa chủ yếu của khu vực nông thôn trong suốt thời kỳ đến năm 2020.

Tập trung nâng cấp và xây mới các chợ ở trung tâm các huyện, hình thành các chợ đầu mối bán buôn nông sản, rau quả... xây mới chợ ở một số xã có nhu cầu nhưng chưa có chợ.

- Hình thành và phát triển Hợp tác xã thương mại - dịch vụ, tập trung thực hiện dịch vụ “đầu vào” cho sản xuất và tổ chức “đầu ra” tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

b) Định hướng phát triển các kênh lưu thông hàng hóa

- Tổ chức kênh lưu thông hàng nông sản, thực phẩm

+ Hướng tổ chức kênh này là Hợp tác xã thương mại - dịch vụ và các doanh nghiệp thương mại tổ chức thu mua sản phẩm của các hộ sản xuất, các trang trại theo hợp đồng kinh tế đồng thời tổ chức tiêu thụ hàng nông sản, thực phẩm thông qua hệ thống đại lý, cửa hàng độc lập, thương nhân ở các chợ và hệ thống  siêu thị…

+ Phát triển hệ thống chợ nông thôn để tổ chức tiêu thụ tại chỗ đồng thời khởi đầu cho kênh tiêu thụ nông sản hàng hóa.

+ Thiết lập chợ đầu mối tại vùng sản xuất tập trung để thu gom nông sản thực phẩm, tổ chức nguồn hàng phát luồng cho các chợ trên địa bàn  tỉnh.

- Kênh lưu thông hàng công nghiệp tiêu dùng

Hướng tổ chức kênh phân phối chung đối với hàng công nghiệp tiêu dùng là:

+ Hàng hóa sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất trong tỉnh được tiêu thụ qua mạng lưới phân phối, bán buôn, bán lẻ của chính doanh nghiệp sản xuất, hoặc qua hệ thống đại lý tiêu thụ, hoặc xuất khẩu;

+ Hàng hóa từ nguồn ngoài tỉnh mang về được các doanh nghiệp thương mại tổ chức tiêu thụ thông qua mạng lưới phân phối: Hệ thống đại lý