Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Giới Thiệu

Thông tin du học

Website

ban do viet nam - One Central - The River Thủ Thiêm - Stella En Tropic - sữa tăng cân cho bé - Bản đồ thế giới - Grand marina Saigon - y2metacảm biến áp suất - https://inoxtrihieu.com/ - Incontinet Việt Nam - https://vinh-cat.com.vn/ - west lakes golf & villas - grand marina saigon - Căn hộ Bình Dương
danangsale - https://vabuta.webflow.io/
Novaworld Đà Lạt - Grand Marina - Trung tâm đào tạo SEO vietmoz - việc làm bình dương - WikiGlocal - Giặt rèm cửa chất lượng GIDIVI - Luật sư tư vấn ly hôn - Xem Lịch Âm - lắp mạng fpt - UpAnh123 - kí tự đặc biệt - máy khoan pin - cáp mạng - centralreal.vn - everon - cửa cuốn đài loan - Lắp internet FPT - thiết kế logo - Chuyển nhà trọn gói - Dịch vụ chuyển nhà - Dịch vụ chuyển nhà - danhthucvedeptunhien.comin catalogue - vinhomes - Nội thất UMA - canhovinhomesquan9.com.vn
https://century-city.vn/ - BeeCostbatdongsanexpress.vn123Muawww.novalandagent.com.vn - xe đạp tập gym - két sắt mini - Hà đô charm villas An Khánh - Vnrep - novaworldvietnam - beat nha dat - chuyển văn phòng trọn gói - dịch vụ chuyển nhà - invert.vn - Bảo hiểm xã hội điện tử - phutungotochinhhang.vn - in card visitvăn phòng luật - Du lịch Sapa - Du thuyền Hạ Long - Tour Hạ Long - nệm dunlopillo - ghế sofa hiện đại - khosim.com - giặt nệm tại nhà Aplite - atvstp.org.vn - vé máy baydịch vụ chuyển nhà trọn gói - két sắt việt tiệp - Blog SEO VietmozDịch vụ chuyển nhà - Dịch vụ chuyển nhà - https://kythuatdienviet.com/ - Cảm biến nhiệt độ - Ổ cắm công nghiệp - Cảm biến đo ẩm đất - Cảm biến đo ẩmIn tem bao hanh - sim so dep simgiagoc
kientrucnoithatamg.com/amg/thiet-ke-kien-truc/ - HAKAWAChuyển nhà trọn gói Đồng hồ đo áp suấtDịch vụ chuyển văn phòng trọn góiChuyển nhà trọn góiDịch vụ chuyển nhà trọn góiChuyển văn phòngISO 9001Quạt trần - Cảm biến đo áp suất -  Đồ phượt giá rẻ - Chứng chỉ năng lực xây dựng - Đăng ký thương hiệu - Biệt thự west lakes golf & villas -  Thành lập công tyThiết bị cảm biếnVăn phò​ng phẩm​ - ISO 22000​​ ​- Đấu thầu qua mạng​ - Century City - Lan Anh 7 - NovaWorld Hồ Tràm - Aqua City

 
Thông Tin Giới Thiệu
 
Huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An có địa thế chiến lược đặc biệt quan trọng, nằm án ngữ tuyến đường hành lang biên giới Việt Nam – Campuchia, nối miền Đông và miền Tây Nam Bộ, dựa lưng vào nước bạn Campuchia nên rất tiện lợi trong việc phòng thủ, tấn công địch ở khu vực biên giới. Trong đó, khu vực Long Khốt nằm về hướng Đông Bắc thị trấn Vĩnh Hưng, sát biên giới Campuchia, là điểm trọng yếu chiến lược hàng đầu trên tuyến hành lang biên giới của huyện. Chính vì vậy, trong suốt giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, khu vực Long Khốt là chiến trường ác liệt giữa ta và địch. Trong quá trình đó, có 3 trận đánh tiêu biểu nhất là: 
 
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam. 
 
1. Giá 1 tháng (đã bao gồm thuế VAT)STTVị tríĐơn giá (VNĐ)1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang1.500.0002Banner, Logo đặt ở Trang chủ1.200.0003Banner, Logo đặt ở Trang trong700.000​2. Giá 1 năm (đã bao gồm thuế VAT)STTVị tríĐơn giá (VNĐ)1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang15.000.0002Banner, Logo đặt ở Trang chủ12.000.0003Banner, Logo đặt ở Trang trong7.000.000 ▪ Chính sách:Để khuyến khích ... 
 
​THƯ NGỎMời tham gia đặt banner liên kết đến website doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An tại địa chỉ www.longan.gov.vn________Với chức năng là cơ quan truyền thông đa phương tiện; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An luôn nỗ lực thực hiện sứ mệnh được giao, trong đó đặc biệt chú trọng chủ trương "đ... 
 
​ Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa, tọa lạc tại xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, cách biên giới Việt Nam- Campuchia khoảng 2 km. 
 
Có dịp xuôi dòng kinh Trà Cú, đến vàm Rạch Cây Gáo du khách sẽ nhìn thấy một ngôi đình cổ nằm soi bóng bên dòng nước - đó là đình Vĩnh Phong, nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa, người đã có công khai cơ lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của Thị trấn Thủ Thừa ngày nay. 
 
Bình Thành là một vùng đất trũng thấp có nhiều bưng trấp xen lẫn với những giồng đất cao tạo nên một địa hình khá phức tạp thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Khu vực này nằm ở vị trí tiếp giáp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào nước bạn Campuchia. Với những điều kiện ấy, Bình Thành đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong 2 cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. 
 
Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Vào năm 1880, một lương y kiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Vì có công với làng nên ông Minh khi mất được dân chúng tôn làm hậu hiền và đưa vào phối tự trong đình Tân Lân. Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là Phước Lâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (do lệ cử tên húy ông Minh). Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm 3 phần: Chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu ''bánh ít'', có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vảy cá.  
 
Ngả Tư Rạch Kiến là giao lộ 18 và 19 tại trung tâm xã Long Hòa, huyện Cần Đước.Nơi đây, trong không gian khoảng 1km2,đây đó những sân bay dã chiến,bãi pháo, câu lạc bộ sĩ quan, khu trại quân sự ... của căn cứ Mỹ gợi lại một thời gian khổ và hào hùng trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến - một thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo thể hiện ý chí và sáng tạo của Đảng bộ và quân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 
 
Ngã tư Đức Hòa tọa lạc tại trung tâm thị trấn Đức Hòa, được tạo thành bởi sự giao nhau của hai con lộ 9 và 10, cách TPHCM khoảng 22 km và cách thị xã Tân An hơn 40 km về hướng Nam. Tại đây, vào ngày 4/6/1930, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm- Bí thư Liên Tỉnh ủy Gia Định-Chợ Lớn và đồng chí Võ Văn Tần - Bí thư Huyện ủy Đức Hòa, khoảng 5000 đồng bào các xã trong huyện đã tham gia cuộc biểu tình hô vang khẩu hiệu đòi quyền dân sinh dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống lính vào làng đàn áp nhân dân. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Bảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnhBảng giá đặt banner/logo liên kết trên Cổng thông tin điện tử tỉnh

1. Giá 1 tháng (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang1.500.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ1.200.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong700.000

2. Giá 1 năm (đã bao gồm thuế VAT)

STTVị tríĐơn giá (VNĐ)
1Banner, Logo đặt ở tất cả các trang15.000.000
2Banner, Logo đặt ở Trang chủ12.000.000
3Banner, Logo đặt ở Trang trong7.000.000

 

▪ Chính sách:

Để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tham gia quảng bá hình ảnh, thông tin về hoạt động và sản phẩm của doanh nghiệp, tổ chức mình, Cổng Thông tin điện tử Long An có chính sách như sau:

- Giảm 20% giá đặt liên kết của Banner/Logo thứ 2 đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 2 (sản phẩm thứ 2 của doanh nghiệp);

- Giảm 40% giá đặt liên kết của mỗi Banner/Logo thứ 3 trở lên đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hợp đồng Banner/Logo thứ 3 trở lên (sảm phẩm thứ 3 trở lên của doanh nghiệp).

▪ Thông tin liên hệ: 

- Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Điện thoại: 02723 552489 hoặc 0918 700 837.

- E-mail: webmaster@longan.gov.vn.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Di tích lịch sử "Chùa Tôn Thạnh" Di tích lịch sử "Chùa Tôn Thạnh"
        Nằm cạnh tỉnh lộ 835 thuộc địa phận xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc là một ngôi chùa đã nổi tiếng từ lâu trong lịch sử và văn học: Chùa Tôn Thạnh - một di tích lịch sử đã được Bộ VHTT xếp hạng cấp Quốc gia ngày 27/11/1997 (theo số quyết định 2890-VH/QĐ).

ChuaTonThanh.jpg

Chùa Tôn Thạnh ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được Thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808. Thiền sư có thế danh là Nguyễn Ngọc Dót, con của ông Nguyễn Ngọc Bình và bà Trà Thị Huệ ở làng Thanh Ba tổng Phước Điền Trung huyện Phước Lộc.

         Từ thuở còn niên thiếu ông đã có tâm mộ đạo và nhiều lần xin phép song thân xuất gia đầu Phật. Cha ông cố ngăn con mới bảo rằng: '' Nghe nói đạo Phật tất cả đều không, hà huống có thân, con muốn xuất gia theo Phật hãy cầm cục lửa than cho cha châm thuốc cha mới tin con quyết tâm theo Phật''. Ông liền vào nhà bếp cầm một cục than hồng vào tay trái lên, mặc không biến sắc. Cha ông thấy vậy đành để cho ông quy y.

Chùa Tôn Thạnh

 

       Ban đầu thiền sư tu học ở chùa Vĩnh Quang, gần chợ Trường Bình, được sư phụ đặt cho pháp danh là Viên Ngộ. Thuở ấy đường vào chợ Trường Bình cỏ cây rậm rạp, lầy lội khó đi, hùm beo, thú dữ thường ra làm hại người. 
       Thấy vậy thiền sư Viên Ngộ phát nguyện một mình chặt cây, đắp đường từ chợ Trường Bình xuống thôn Tích Đức và phường Hòa Thuận dài 250 trượng. Năm Gia Long thứ 7 (1808) sư Viên Ngộ đến làng Thanh Ba (nay thuộc xã Mỹ Lộc) cất chùa Lan Nhã - đó chính là chùa Tôn Thạnh hiện nay. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, đây là ngôi chùa ''rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng'' nổi tiếng ở đất Gia Định xưa. Thiền sư còn cho đúc tượng Điạ Tạng Bồ Tát bằng đồng để thờ trong chùa. Tương truyền, khi đúc lần đầu, tượng Bồ Tát bị khuyết, thiền sư Viên Ngộ đã chặt một ngón tay của mình cho vào nồi nước đồng để tượng đúc lần sau được viên mãn.      
     Ông không những là một người con chí hiếu mà còn là một người đầy lòng từ bi bác ái. Khi cha bị bệnh, thiền sư đã thề trước Phật đài là sẽ ''trường tọa'' 10 năm để kéo dài tuổi thọ cho cha. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong vùng có dịch đậu mùa, sư Viên Ngộ đã nguyện ''trì kinh niệm Phật, chung thân tịch cốc'' để cầu cho nhân dân thoát khỏi cơn tai ách. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), ông thấy mình đã xuất gia 40 năm mà chưa đắc đạo nên tịch thủy 49 ngày rồi viên tịch. Pháp thân của ông được tăng chúng an táng ở bảo tháp phía tây chùa Tôn Thạnh. Tưởng nhớ đến một thiền sư suốt đời hy sinh thân mình để đem lại điều lành cho chúng sinh, nhân dân đã gọi chùa Tôn Thạnh là chùa Tăng Ngộ hay chùa Ông Ngộ. Mười sáu năm sau khi thiền sư Viên Ngộ viên tịch, chùa Tôn Thạnh đã đi vào lịch sử nước nhà với bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Trong ba năm 1859-1861 nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và làm thuốc. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm Tân Du, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người ''dân ấp dân lân'', nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: ''Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ''.
     Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh ngày nay không còn nguyên vẹn cảnh ''rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng'' như xưa. Thay vào đó là một tổng thể kiến trúc bao gồm tiền điện, chánh điện, nhà giảng, đông lang, tây lang mái lợp ngói, tường gạch. Tuy nhiên chùa Tôn Thạnh vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX, và các hoành phi câu đối chữ hán sơn son thếp vàng. Bên phải chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Đến viếng chùa Tôn Thạnh, thăm lại một danh lam của đất Gia Định xưa, thắp nén nhang tưởng niệm trước bảo tháp của vị cao tăng Viên Ngộ và tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ngày nào đã từng ở nơi đây để viết nên những áng văn tuyệt tác, chắc hẳn chuyến tham quan của du khách sẽ rất thú vị và bổ ích.

04/08/2014 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/ChuaTonThanh.jpg
Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngày 30/12/2013, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4666/QĐ-UBND phê duyệt đồ án Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.pdf​  với các nội dung sau:

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Long An là 449.235 ha, quy mô dân số đến năm 2020 là 1.600.000 người, trong đó dân số đô thị khoảng 600.000 người; đến năm 2020 là 1.800.000 người, trong đó dân số đô thị khoảng 1.000.000 người.

Dự báo đất xây dựng đô thị đến năm 2020 vào khoảng 10.000 - 13.000ha; đến năm 2030 vào khoảng khoảng 20.000 - 22.000ha.

Không gian xây dựng đô thị Long An được chia làm 3 vùng phát triển như sau:

Vùng trung tâm bao gồm: Vùng thành phố Tân An, Bến Lức, Cần Giuộc và cảng Long An. Trong đó, thành phố Tân An là đô thị hạt nhân của tỉnh và vùng trung tâm, đô thị Bến Lức là đô thị trung tâm tiểu vùng phía Tây Bắc và đô thị Cần Giuộc là trung tâm tiểu vùng phía Đông.

Vùng đô thị phía Bắc bao gồm: Vùng đô thị Đức Hòa và đô thị Hậu Nghĩa là vùng đô thị động lực phía Bắc; vùng đô thị thị trấn Mỹ Hạnh, thị trấn Hiệp Hòa, thị trấn Đông Thành và đô thị Mỹ Quý. Đô thị Hậu Nghĩa là trung tâm vùng phía Bắc.

Vùng đô thị phía Tây bao gồm: Vùng đô thị Kiến Tườ​​ng gắn với Khu kinh tế cửa khẩu Long An, đô thị Bình Phong Thạnh (Mộc Hóa), thị trấn Tân Thạnh, thị trấn Thạnh Hóa và đô thị Hậu Thạnh Đông, vùng đô thị thị trấn Vĩnh Hưng và thị trấn Tân Hưng. Đô thị Kiến Tường là trung tâm vùng phía Tây.

Tỉnh Long An có phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp.

​ 

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thông tin hành chính tỉnh Long AnThông tin hành chính tỉnh Long An
12/12/2014 11:00 SAĐã ban hành
Tình trạng thuỷ triều Tình trạng thuỷ triều
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ I A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm.

Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô khi nước bổ sung đầu nguồn cho 2 sông Vàm Cỏ rất ít. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm tại Tân An và từ 60 - 85 cm tại Mộc Hóa. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe dọa xâm nhập mặn vào vùng phía Nam. Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven 2 sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Danh mục di tích lịch sử-văn hóa tỉnh Long An được Bộ Văn hóa -Thông tin xếp hạng cấp quốc gia Danh mục di tích lịch sử-văn hóa tỉnh Long An được Bộ Văn hóa -Thông tin xếp hạng cấp quốc gia
DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA TỈNH LONG AN ĐƯỢC BỘ VĂN HÓA-THÔNG TIN XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA (TÍNH ĐẾN 5/2013)

STT

TÊN DI TÍCH

SỐ QUYẾT ĐỊNH

ĐỊA CHỈ

 

THÀNH PHỐ TÂN AN         1 DT

 

 

1

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ QUẬN CÔNG NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

Số 534QĐ/BT,  ngày 11/5/1993

Phường  Khánh Hậu, thành phố Tân An

 

HUYỆN BẾN LỨC                 1 DT

 

 

2

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

Số 02/2004/QĐ-BVHTT, ngày 19/1/2004

Xã Long Hiệp, huyện Bến Lức

 

HUYỆN CẦN ĐƯỚC             3 DT

 

 

3

NHÀ TRĂM CỘT

Số 2890-VH/QĐ, ngày 27/9/1997

Xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước

4

VÀNH ĐAI DIỆT MỸ RẠCH KIẾN

Số 1460-QĐ/VH,  ngày 28/6/1996

Xã Long Hựu Hòa, huyện Cần Đước

5

CHÙA PHƯỚC LÂM

Số 53/2001-QĐ-BVHTT,  ngày 28/12/2001

Xã Tân Lân, huyện Cần Đước

 

 

HUYỆN CẦN GIUỘC        2 DT

 

 

6

CHÙA TÔN THẠNH

Số 2890-VH/QĐ,  ngày 27/9/1997

Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc

 

7

RẠCH NÚI

Số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/6/1999

Xã, Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc

 

 

 

HUYỆN ĐỨC HÒA    3 DT

 

 

8

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

Số 1570-VH/QĐ, ngày 5/9/1989

Xã Đức Hòa  Hạ, huyện Đức Hòa

9

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

Số 1570-VH/QĐ, ngày 5-9-1989

Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa

10

ĐỊA ĐIỂM AN SƠN

Số 324/QĐ-BHTTDL, ngày 26/1/2011.

Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa

 

 

HUYỆN ĐỨC HUỆ         1 DT

 

 

11

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

Số 3518/1998-QĐ-BVHTT,  ngày 4-12-1998

Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ

 

HUYỆN CHÂU THÀNH      2  DT

 

 

12

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

Số 04/2001-QĐ-BVHTT,  ngày 19/1/2001

Xã Phú Ngãi Trị,  huyện Châu Thành

13

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

Số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 3/8/2007.

Xã Thanh Phú Long,  huyện Châu Thành

 

 

HUYỆN VĨNH HƯNG   1 DT

 

 

14

GÒ Ô CHÙA

Số 02/2004/QĐ-BVHTT, ngày 19/1/2004

Xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng

 

HUYỆN TÂN THẠNH      1 DT

 

 

15

CĂN CƯ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN-HÀNH CHÁNH NAM BỘ

Số 42/2007/QĐ-BVHTT, ngày 3/8/2007.

Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh.

 

HUYỆN TÂN TRỤ         1 DT

Số 1460-QĐ/VH,  ngày 28/6/1996

Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ.

16

VÀM NHỰT TẢO

 

 

 

HUYỆN THỦ THỪA   1 DT

 

 

17

ĐÌNH VĨNH PHONG

Số 1811/1998-QĐ-BVHTT, ngày31/8/1998

Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa

 

04/08/2014 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/imagesas.jpg
Hệ thống cấp nước Hệ thống cấp nước
Long An có sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt nối với sông Tiền là đường dẫn tải và tiêu nước chính. Song nguồn nước này tương đối ít và bị nhiễm mặn, nhiễm phèn nên không đáp ứng được các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.

Nguồn nước:

 

Long An có sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt nối với sông Tiền là đường dẫn tải và tiêu nước chính. Song nguồn nước này tương đối ít và bị nhiễm mặn, nhiễm phèn nên không đáp ứng được các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.

 

Trữ lượng nước ngầm của Long An không mấy dồi dào và chất lượng tương đối kém, chủ yếu ở độ sâu trên 200 m, trong nước có nhiều ion làm nước cứng, chất lượng thấp. Nguồn nước sử dụng chủ yếu hiện nay là ngồn nước mặt của sông hồ. Chương trình nước sạch do UNICEF tài trợ đã giúp khoan được một số giếng tại những điểm thiếu nước sạch.

 

Cấp nước:

 

Hệ thống cấp nước tự nhiên của Long An qua dòng chảy của sông Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây trong tình trạng nhiễm phèn và nhiễm mặn.

 

Cung cấp nước sạch cho Long An ngoài nhà máy nước Tân An có công suất 15.000 m3 /ngày đêm, cung cấp cho dân khu vực trung tâm của thành phố Tân An và vùng phụ cận. Đến nay bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như vốn ngân sách Nhà nước (vốn chương trình mục tiêu, chương trình 135), vốn vay, vốn Unicef, vốn OECF, các thị trấn trong tỉnh đều có nước máy. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch chiếm 77%, tổng số người được cấp nước là 1.085.634 người.

 

Ở các vùng nông thôn nước sinh hoạt phụ thuộc vào các nguồn nước sẵn có, nước không qua xử lý nên chưa bảo đảm chất lượng vệ sinh. Chương trình nước sạch của UNICEF mới chỉ đảm bảo cho hơn 50% số dân trong tỉnh được dùng nước sạch.

 

Thoát nước:

 

Phần lớn các đô thị và các cụm dân cư chưa có hệ thống thoát nước hoàn chỉnh. Nước sinh hoạt cùng với nước mưa được thải thẳng theo nguồn nước mặt qua hệ thống cống giao thông. Tỉnh chưa xây dựng được đường thoát nước sinh hoạt riêng và hệ thống xử lý nước thải. Tổng số km đường ống nước chỉ bằng 10,5% tổng chiều dài các tuyến đường. Nhu cầu đầu tư trong tương lai cho hệ thống thoát nước trời và nước thải là rất lớn, nhất là thành phố Tân An, thị trấn, thị tứ và các trung tâm sinh hoạt khác của tỉnh.

 

Chương trình huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước phục vụ phát triển công nghiệp được tỉnh Long An triển khai đồng bộ giữa các cấp, ngành.

 

Tiến độ thực hiện các dự án cấp nước:

 

1. Các dự án thuộc danh mục Kế hoạch huy động mọi nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước phục vụ phát triển công nghiệp:

 

- Nhà máy nước Hòa Khánh Tây, vị trí xây dựng tại xã Đức Hòa Thượng, công suất giai đoạn 1 là 40.000m³/ngày, giai đoạn 2 là 80.000m³/ngày, dự kiến khởi công xây dựng vào đầu tháng 8/2013.

 

- Hệ thống cấp nước Phú Mỹ Vinh 2: vị trí xây dựng tại xã Đức Hòa Thượng, công suất giai đoạn 1 là 50.000m³/ngày, giai đoạn 2 là 200.000m³/ngày, nhà đầu tư đang lập báo cáo đầu tư.

 

- Nhà máy nước Tân Tạo: hiện đang xem xét chỉ tiêu sử dụng đất do điều chỉnh vị trí từ xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ sang  xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa.

 

- Hệ thống cấp nước kênh Đông: do Công ty Phú Mỹ Vinh thực hiện, tuy nhiên theo nhà đầu tư báo cáo thì mạng lưới cấp nước của Công ty sẽ không lấy nước từ Kênh Đông mà sử dụng nước từ nhà máy tại Khu công nghiệp Đức Hòa III – Việt Hóa và nhà máy nước Hòa Khánh Tây.

 

- Nhà máy nước ngầm Tân Kim do Công ty TNHH Cấp nước Hà Lan đầu tư, đang hoạt động với công suất khai thác là 1.500m³/ngày (ngoài ra tại xã Trường Bình thì Công ty này cũng có dự án đang hoạt động với công suất 2.000m³/ngày).

 

- Nhà máy nước ngầm Phước Vĩnh Đông: hiện đang kêu gọi đầu tư.

 

2. Các dự án khác:

 

+ Dự án Nhà máy nước Bảo Định, vị trí xây dựng tại xã Nhị Thành, công suất đầu tư dự kiến 60.000m³/ngày, Công ty TNHH MTV Cấp nước Long An đang lập lập báo cáo đầu tư.

 

+ Dự án cấp nước của Công ty TNHH Cấp nước Đức Hòa lấy nước sạch từ thành phố Hồ Chí Minh theo đường tỉnh 825 cấp cho khu công nghiệp Tân Đô: công suất dự kiến giai đoạn 1 là 15.000m³/ngày, giai đoạn 2 là 40.000m³/ngày, nhà đầu tư đang lập dự án đầu tư.

 

* Đề ra phương hướng thực hiện đến năm 2015:

 

- Tiếp tục hỗ trợ các nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn vướng mắc, hỗ trợ thúc đẩy tiến độ đầu tư các nhà máy cấp nước.

 

- Tổ chức thực hiện tốt Quy định về quản lý và phân cấp quản lý sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Long An sau khi được UBND tỉnh ban hành.

 

- Có kế hoạch thực hiện Quy hoạch cấp nước vùng tỉnh đã được phê duyệt.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệpThư ngỏ đồng hành cùng doanh nghiệp

​THƯ NGỎ

Mời tham gia đặt banner liên kết đến website doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An tại địa chỉ www.longan.gov.vn

________

Với chức năng là cơ quan truyền thông đa phương tiện; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An luôn nỗ lực thực hiện sứ mệnh được giao, trong đó đặc biệt chú trọng chủ trương "đồng hành cùng doanh nghiệp" của lãnh đạo tỉnh bằng việc thông tin thường xuyên về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển tải kịp thời các chủ trương, chính sách phát triển cũng như tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Với nhiệm vụ là đầu mối thông tin điện tử, liên kết dịch vụ trực tuyến công của tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An là địa chỉ đáng tin cậy để doanh nghiệp truyền thông, quảng bá, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp.

Với thiện chí hợp tác cùng phát triển, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An cam kết cùng doanh nghiệp tạo nên những giá trị mới cho thương hiệu của doanh nghiệp và của tỉnh Long An. Đây là cơ hội để doanh nghiệp lựa chọn quảng bá thương hiệu, sản phẩm (kèm theo bảng giá đặt banner liên kết).

Rất mong nhận được sự hợp tác với quý công ty, doanh nghiệp./.

Tham khảo bảng giá tại đây.

07/04/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Khu di tích khảo cổ học Bình Tả  Khu di tích khảo cổ học Bình Tả 
Khu di tích khảo cổ học Bình Tả , xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa , tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thị xã Tân An, cách Tân An 40 Km theo lộ trình Tân An- Bến Lức- thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 824 (tình lộ 9 cũ) tám trăm mét về phía đông.

  Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được 
 

Hiện vật vàng phát hiện tại Gò Xoài : 2 bông sen vàng và 1 mề đay nạm ngọc.

khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 16 di tích kiến trúc phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Từ phát hiện đầu tiên của nhà khảo cổ học người Pháp - H. Parmentier vào năm 1910;Năm 1931 J.Y. Claeys khai quật một di tích kiến trúc được xây bằng gạch ở phía tây nam cụm di tích này (Gò Tháp Lấp), đến nay di tích này đã bị hủy hoại , di vật bị thất lạc. Trong 2 năm 1987-1988, Sở Văn Hóa Thông tin phối hợp với Viện Khoa Học Xã Hội tại thành phố Hồ Chí Minh khai quật 3 di tích trong khu vực này.
     1.Di tích Gò Đồn 
: là loại kiến trúc đền tháp xây bằng gạch , chiều dài đông- tây 78,5 mét; chiều ngang chỗ rộng nhất đo được 60 mét (chiều bắc- nam), toàn bộ kiến trúc trước khi khai quật đều nằm trong lòng đất , chỗ gần mặt đất nhất là 0,4 mét. Cuộc khai quật đã thu thập được nhiều hiện vật bằng đá như tượng thần Dvarapala (thần giữ đền), đầu tượng thần Ganesa (phúc thần), nhiều vật thờ như linga, yoni, mi cửa chạm trổ hoa văn hình hoa lá, máng dẫn nước thiêng (somasutra)…và nhiều đồ gốm cổ . Trong hố thờ trung tâm của di tích sâu khoảng 3 mét còn có một linh vật yoni đã vỡ và nhiều viên đá cuội – được đoán định là đá thờ.
     Với kiểu dáng kiến trúc và những linh vật được phát hiện trong lòng di tích, có thể xác định Gò Đồn là một di tích kiến trúc Ấn Độ Giáo , thuộc văn hóa Óc Eo.

     2.Di tích Gò Xoài
 : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch , có dạng gần vuông với mỗi cạnh dài khoảng 20 mét , nền móng của kiến trúc có cấu tạo rất chắc chắn và phức tạp , gồm nhiều loại vật liệu khác nhau như cuội basalt (badan), sỏi đỏ, cát trắng, cát hồng…Kiến trúc Gò Xoài có hố thờ hình vuông ,cạnh 2,2 mét; sâu trên 2,5 mét, ở gần đáy hố thờ đã phát hiện được tro xương và một sưu tập hiện vật quý giá gồm nhiều mảnh vàng nhỏ, mỏng khắc chạm hình những linh vật như rùa, rắn, voi, những chiếc nhẫn và mề đay nạm đá quý và một bản văn minh Sanskrit-Pail gồm 5 dòng : dòng thứ nhất ghi một đoạn Pháp Thân Kệ, dòng thứ hai ghi một đoạn Kinh Pháp Cú (cả hai đoạn minh văn trên đều thuộc về Phật Giáo), dạng mẫu tự trên minh văn này được nhận định thuộc loại mẫu tự Nam ấn ( Deccan ), thếkỷ VIII-IX Công nguyên. Qua phát hiện trên, kiến trúc Gò Xoài được nhận định là một di tích stupa của Phật Giáo, có niên đại sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.
    3. Di tích Gò Năm Tước : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch, dài 17,20 mét; rộng 11,10 mét, phần trên của kiến trúc đã bị mất nhưng ở phần nền móng còn giữ được những đặc điểm của kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo như cấu trúc bẻ góc, các đường móng gạch rất thẳng, tam quan hình bán nguyệt hướng về phía đông … là cơ sở để nhận định đây là một kiến trúc đền thờ Ấn Độ Giáo.
Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực- tôn giáo của người xưa. Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối của hai chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ , phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (khu Bình Tả) : 1.588 ±56 năm cách ngày nay.
     Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa- Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích : Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Prei Kuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Kampuchia. Khu di tích khảo cổ học Bình Tả đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại quyết định số 1570/VH-QĐ ngày 5/9/1989./.
18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-new.JPG
Vị trí địa lýVị trí địa lý
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam.

- Tỉnh Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng ĐBSCL song lại thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam (VPTKTTĐPN), được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam. Long An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài: 132,977 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) và Tho Mo (Đức Huệ). Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với ĐBSCL, nhất là có chung đường ranh giới với TP. Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như : quốc lộ 1A, quốc lộ 50, . . . các đường tỉnh lộ : ĐT.823, ĐT.824, ĐT.825 v.v . . . Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới, tạo động lực và cơ hội mới cho phát triển. Ngoài ra, Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai.
- Là tỉnh nằm cận kề với TP.HCM có mối liên hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với Vùng Phát Triển Kinh Tế Trọng Điểm Phía Nam (VPTKTTĐPN), nhất là Thành phố Hồ Chí Minh một vùng quan trọng phía Nam đã cung cấp 50% sản lượng công nghiệp cả nước và là đối tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).
- Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 449.194,49 ha, dân số 1.542.606 (theo số liệu dân số tính đến tháng 5 năm 2013)Tọa độ địa lý : 105030' 30'' đến 106047' 02'' kinh độ Đông và 10023' 40'' đến 11002' 00'' vĩ độ Bắc.

- Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các huyện: Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An; có 188 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 161 xã, 12 phường và 15 thị trấn.

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/ban_do_hanh_chinh_long_an_large.jpg
Tài nguyên cátTài nguyên cát
Một phần của lưu vực ở Tây Ninh chảy qua Long An trên dòng Sông Vàm Cỏ Đông, qua nhiều năm bồi lắng ở cuối lưu vực một lượng cát xây dựng khá lớn. Theo điều tra trữ lượng cát khoảng 11 triệu m3 và phân bố trải dài 60 km từ xã Lộc Giang giáp tỉnh Tây Ninh đến bến đò Thuận Mỹ (Cần Đước).

Việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực khai thác tài nguyên cát còn lỏng lẽo, chưa tạo được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ.
     Thời gian qua, một số tổ chức kinh tế đã khai thác được một khối lượng khá lớn cát, đáp ứng yêu cầu xây dựng trong vùng. Tuy nhiên, cần kiểm tra kỹ thuật khai thác, an toàn lao động và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo tính bền vững, chống nguy cơ sạt lỡ là do thay đổi dòng chảy và đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
     Do trữ lượng cát lấp có hạn nên tỉnh cần quy định hướng khai thác và sử dụng có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu san lấp nền trong đầu tư xây dựng.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-6.jpg
Tình hình lũ lụt Tình hình lũ lụt
Lũ đến hàng năm đổ về trước tiên là các huyện phía Bắc thuộc khu vực ĐTM, bắt đầu từ đầu hoặc trung tuần tháng 8 và kéo dài đến tháng 11. Trong thời gian này mưa tập trung với lưu lượng và cường độ lớn nhất trong năm gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Lũ đến tỉnh Long An chậm và mức ngập không sâu như đầu nguồn nhưng thời gian ngâm lũ lâu hơn.

Tần suất lũ lớn có xu hướng rút ngắn lại từ 8 - 10 năm 1 lần trước đây, nay xuống còn 3 - 4 năm 1 lần (1961, 1966, 1978, 1984, 1991) và liên tiếp trong 3 năm lũ lớn liên tục xảy ra (1994, 1995, 1996) và đặc biệt là năm 2000 lũ rất lớn. 
     - Mức ngập nước theo diện tích tự nhiên năm 1996 như sau :
      + Dưới 50 cm với diện tích ngập 50.294 ha, chiếm 13,2 % diện tích tự nhiên(DTTN).
      + Từ 50 - 100 cm với diện tích ngập 72.360 ha, chiếm 18,99% DTTN.
      + Từ 100 -150 cm với diện tích ngập 63.830 ha, chiếm 16,75% DTTN.
      + Từ 150 - 200 cm với diện tích ngập 94.840 ha, chiếm 24,88% DTTN.
      + Từ 200 - 250 cm với diện tích ngập 66.720 ha, chiếm 17,50% DTTN.
      + Ngập trên 250 cm với diện tích ngập 33.070 ha, chiếm 8,68% DTTN.
   - Thời gian ngập lũ :
      + Dưới 3 tháng 305.757 ha, chiếm 69,91% diện tích tự nhiên.
      + Từ 3 - 5 tháng 64.724 ha, chiếm 30,09 % diện tích tự nhiên.
    Đặc biệt là trong năm 2000 lũ lớn nhất trong nhiều thập niên qua và thời gian ngâm lũ kéo dài gây thiệt hại rất lớn đến sản xuất và đời sống dân cư. Mực nước cao nhất xuất hiện tại Mộc Hóa (Long An) là 3,27 mét, cao hơn 41 cm so với đỉnh lũ 1978. lũ đổ mạnh về phía Nam cộng hưởng với đợt triều cường gây ngập sâu và trên diện rộng gần 300.000 ha tự nhiên, bao gồm 132/188 xã phường, tương ứng 12/14 huyện thị của tỉnh. Độ ngập bình quân từ 1,5 - 2 mét, có vùng ngập sâu trên 3 mét. Tổng thiệt hại về vật chất gần 650 tỷ đồng. 
    Hiện nay tỉnh đang phối hợp với các dự án kiểm soát lũ của Trung ương để xây dựng hệ thống cống đập nhằm kiểm soát lũ một cách chặt chẽ và hữu hiệu hơn, lũ nhỏ cố gắng giữ nước, lũ lớn cho rữa trôi phèn, cải tạo đất. Đầu tư xây dựng 186 cụm, tuyến dân cư nhằm đảm bảo cho người dân chung sống vững chắc và ổn định trong mùa lũ. Trong đầu tư xây dựng chọn cao trình vượt mức ngập lũ năm 2000.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/LuLut.jpg
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030  Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 1390/QĐ-UBND ngày 23/4/2013, với những nội dung chủ yếu sau:

1. Tên quy hoạch: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

2. Chủ đầu tư: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

3. Đơn vị thực hiện: Viện Du lịch Bền vững Việt Nam.

4. Quan điểm phát triển

- Phát triển du lịch Long An nhanh, tương xứng với tiềm năng, nguồn lực phát triển du lịch của tỉnh;

- Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội;

- Phát triển du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững;

- Phát triển du lịch dựa trên sự phát huy nội lực, sức mạnh tổng hợp của các ngành, các thành phần kinh tế, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho ngành du lịch nhằm phát huy các tiềm năng, lợi thế  của tỉnh;

- Phát triển du lịch có trọng tâm trọng điểm, chú trọng hiệu quả gắn với xây dựng thương hiệu, nâng cao tính chuyên nghiệp và năng lực cạnh tranh của du lịch Long An;

- Phát triển du lịch gắn với gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc;

- Phát triển du lịch Long An phải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển du lịch các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là mối quan hệ với thành phố Hồ Chí Minh nhằm tạo nên những sản phẩm du lịch đặc thù hấp dẫn khách du lịch.

5. Mục tiêu phát triển

a) Mục tiêu chung:

Phấn đấu đến năm 2020, du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng của Long An và Long An trở thành điểm đến du lịch vệ tinh hàng đầu của thành phố Hồ Chí Minh ở vùng du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long với hình ảnh đặc trưng là sông Vàm Cỏ trên nền cảnh quan sinh thái Đồng Tháp Mười và thiên đường vui chơi giải trí.

b) Mục tiêu cụ thể:

- Đến năm 2015: đón 12 ngàn lượt khách quốc tế; 540 ngàn lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 34 triệu USD; tỷ lệ đóng góp du lịch trong tổng GDP của tỉnh đạt 5,29%; tạo việc làm cho gần 7.000 lao động;

- Đến năm 2020: đón 45 ngàn lượt khách quốc tế; 1,0 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt 100 triệu USD; tỷ lệ đóng góp du lịch trong tổng GDP của tỉnh đạt 8,23%; tạo việc làm cho trên 15.000 lao động;

- Đến năm 2030: đón 180 ngàn lượt khách quốc tế; 2,0 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt gần 300 triệu USD; tỷ lệ đóng góp du lịch trong tổng GDP của tỉnh đạt 7,43%; tạo việc làm cho gần 40.000 lao động.

6. Các định hướng phát triển chủ yếu

a) Định hướng phát triển thị trường:

- Thị trường nước ngoài gồm: thị trường các nước khu vực ASEAN, Tây Âu, Úc, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

- Thị trường trong nước gồm: thị trường khách du lịch từ thành phố Hồ Chí Minh và khách quá cảnh từ thành phố Hồ Chí Minh đến Đồng bằng Sông Cửu Long.

b) Định hướng phát triển sản phẩm du lịch:

- Các sản phẩm du lịch đặc thù:

+ Du lịch đường thủy sông Vàm Cỏ với trọng tâm là sông Vàm Cỏ Đông.

+ Du lịch sinh thái điển hình vùng Đồng Tháp Mười với trọng tâm là du lịch Láng Sen.

+ Du lịch vui chơi giải trí với trọng tâm là khu du lịch “Happy Land”.

- Các sản phẩm du lịch chính:

+ Du lịch cuối tuần (khu du lịch Phước Lộc Thọ, sân golf, Lâm viên Thanh niên, v.v...).

+ Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng.

+ Du lịch nông thôn (trang trại, làng nghề).

- Các sản phẩm du lịch bổ trợ:

+ Du lịch quá cảnh với trọng tâm du lịch qua cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp.

+ Du lịch tham quan mùa nước nổi với trọng tâm vùng trũng Đồng Tháp Mười.

+ Du lịch tham quan nghiên cứu với trọng tâm là di tích khảo cổ Bình Tả.

c) Tổ chức không gian lãnh thổ du lịch:

* Các không gian phát triển du lịch chính:

-  Không gian du lịch TP. Tân An và phụ cận -  thị trấn Cần Đước với trung tâm du lịch là TP. Tân An.

Tập trung phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch vui chơi giải trí gắn với tham quan cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông; Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa;Du lịch tham quan làng nghề; Du lịch tham quan nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn; Du lịch tham quan trang trại - miệt vườn.

- Không gian du lịch Mộc Hóa - Tân Hưng với trung tâm du lịch là thị trấn Mộc Hóa:

Tập trung phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch sinh thái và tham quan cảnh quan hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười; Du lịch quá cảnh qua cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp; Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa; Du lịch tham quan cảnh quan sông Vàm Cỏ Tây.

- Không gian du lịch Đức Hòa - Đức Huệ với trung tâm du lịch là thị trấn Đức Hòa:

Tập trung phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch tham quan các di tích lịch sử cách mạng, di tích văn hóa; Du lịch tham quan cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông; Du lịch vui chơi giải trí cuối tuần; Du lịch tham quan nghiên cứu di tích khảo cổ.

* Các địa bàn trọng điểm du lịch đóng vai trò động lực phát triển du lịch:

- Thành phố Tân An - thị trấn Bến Lức.

- Khu vực Tân Lập - cửa khẩu Bình Hiệp.

- Khu vực khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen.

- Khu vực thị trấn Đức Hòa và phụ cận.

* Các điểm du lịch chính:

- Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế: Tổ hợp vui chơi giải trí du lịch ”Happy Land”; Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen; Khu sinh thái Làng nổi Tân Lập; Khu di tích lịch sử Cách mạng Long An; Khu phế tích kiến trúc khảo cổ Bình Tả; Khu thương mại du lịch cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp.

- Các điểm du lịch có ý nghĩa vùng và địa phương: Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười;Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức; Bảo tàng Long An; Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự); Đình Vĩnh Phong; Chùa Tôn Thạnh; Chùa Linh Sơn; Khu di tích Vàm Nhựt Tảo; Khu di tích Căn cứ xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ; Nhà Trăm Cột; Đồn Rạch Cát; Khu di tích Ngã tư Đức Hòa; Khu vui chơi giải trí Hồ Khánh Hậu; Núi Đất - Mộc Hóa.

* Các tuyến du lịch chính:

-  Tuyến du lịch nội tỉnh:

+ Tuyến TP. Tân An - Mộc Hóa - Láng Sen;

+ Tuyến TP. Tân An - Đức Hòa - Đức Huệ;

+ Tuyến TP.Tân An - Cần Đước - Cần Giuộc;

+ Tuyến du lịch đường sông: dọc theo sông Vàm Cỏ Đông (đoạn từ Đức Hòa - Hiệp Hòa và từ Bến Lức - Tân Trụ) và Vàm Cỏ Tây (đoạn từ Tân Lập - Mộc Hóa - chùa Nổi).

- Tuyến du lịch liên tỉnh:

+ Tuyến TP. Tân An - TP. Hồ Chí Minh;

+ Tuyến TP. Tân An - Cần Thơ - các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long;

+ Tuyến TP. Tân An - Tây Ninh.

- Các tuyến du lịch quốc tế qua cửa khẩu Bình Hiệp: đây là tuyến du lịch quan trọng nhằm không chỉ đưa khách du lịch Việt Nam đi du lịch Campuchia và qua đó đến các nước ASEAN bằng đường bộ mà ngược lại thu hút khách du lịch quốc tế, trước hết là khách du lịch Campuchia, Thái Lan, ASEAN đến với Long An và Việt Nam.

d) Định hướng phát triển hệ thống các công trình cơ sở vật chất du lịch:

- Phát triển hệ thống lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 1-2 sao trên các địa bàn trọng điểm du lịch gắn với các trung tâm du lịch. Các khách sạn trung và cao cấp từ 3 đến 5 sao chủ yếu tập trung gắn với các khu vui chơi giải trí cao cấp “Happy Land” (Bến Lức), khu du lịch Phước Lộc Thọ và sân golf Đức Hòa.

- Phát triển hệ thống các cơ sở vật chất phục vụ du lịch MICE như trung tâm hội nghị, hội thảo, triển lãm, ... tại khu vực thành phố Tân An và khu du lịch “Happy Land” (Bến Lức).

- Phát triển hệ thống cơ sở vui chơi giải trí - thể thao tại các khu vực đô thị lớn như thành phố Tân An, thị trấn Đức Hòa.

- Phát triển hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị, hệ thống cửa hàng, khu chợ đêm và khu ẩm thực tại khu vực thành phố Tân An, thị trấn Bến Lức, Mộc Hóa dọc quốc lộ 1A, quốc lộ 62, ... phục vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch.

đ) Định hướng đầu tư du lịch:

- Lĩnh vực ưu tiên đầu tư:

+ Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng, đặc biệt là giao thông phục vụ phát triển du lịch.

+ Đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù.

+ Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở lưu trú, các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao và mua sắm phục vụ du lịch.

+ Đầu tư tu bổ, tôn tạo và bảo vệ các di tích văn hóa - lịch sử và phát triển các làng nghề truyền thống phục vụ du lịch.

+ Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch.

- Các nguồn vốn đầu tư:

+ Vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư các hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, các dự án tu bổ tôn tạo di tích, tuyên truyền quảng bá chung...

+ Nguồn vốn ngoài ngân sách (vốn tích luỹ của các doanh nghiệp du lịch, vốn vay ngân hàng, vốn đầu tư tư nhân, vốn đầu tư FDI, ODA) là nguồn vốn chính đầu tư phát triển du lịch Long An.

7. Một số giải pháp chủ yếu

a) Giải pháp về tăng cường công tác quản lý quy hoạch:

Rà soát, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các quy hoạch du lịch chi tiết, các dự án du lịch đã được phê duyệt; tiếp tục xây dựng quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch đã được lựa chọn, xác định và cắm mốc chỉ giới phạm vi sử dụng đất, quản lý và thực hiện có hiệu quả việc đầu tư theo quy hoạch.

Các sở, ban, ngành chức năng khi xây dựng quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực cần tính đến các yếu tố hỗ trợ phát triển du lịch. UBND các huyện và thành phố Tân An trên cơ sở quy hoạch này xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch trên địa bàn.

b) Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch:

Tập trung vốn ngân sách đầu tư đồng bộ có trọng tâm, trọng điểm để kích thích xã hội hoá đầu tư du lịch. Trước mắt ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng tại các khu, điểm du lịch trọng điểm du lịch của tỉnh.

Thực hiện xã hội hoá đầu tư phát triển du lịch, tạo các điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, dịch vụ hỗ trợ đầu tư để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch. Mở rộng các hình thức thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước như hình thức BT, BOT, BTO,...

c) Giải pháp về chính sách phát triển du lịch:

Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng nghiên cứu hoàn thiện và áp dụng hệ thống các cơ chế chính sách đặc thù trong các lĩnh vực về thuế, về đầu tư, về đào tạo nhân lực, thị trường,...nhằm tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Long An

d) Giải pháp về xúc tiến, tuyên truyền quảng bá:

Tăng cường công tác xúc tiến, tuyên truyền quảng bá. Xây dựng thương hiệu và hình ảnh du lịch Long An theo chủ đề: Du lịch sông nước Vàm Cỏ và Thiên đường giải trí. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức du lịch trong cộng đồng dân cư. Triển khai thực hiện đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền quảng bá, các kênh quảng bá đến các thị trường du lịch trong và ngoài nước, trước mắt là thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Lồng ghép hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch với các sự kiện văn hoá, thể thao lớn của tỉnh. Xây dựng hệ thống các trung tâm hướng dẫn và cung cấp thông tin về du lịch tỉnh ở những đầu mối giao thông quan trọng, ở các trọng điểm du lịch. Nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của Trung tâm xúc tiến du lịch Long An. Đặt văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm trong và ngoài nước.

đ) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực:

Rà soát và bồi dưỡng đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có, thực hiện chính sách thu hút nhân tài trong lĩnh vực du lịch. Từng bước áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam. Khuyến khích các doanh nghiệp du lịch tham gia các chương trình đào tạo bồi dưỡng nhân lực. Tư vấn, hướng dẫn, bồi dưỡng cộng đồng dân cư nghiệp vụ làm du lịch. Xây dựng và thu hút đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo du lịch hoặc có ngành nghề du lịch. Hướng đến lồng ghép bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch trong các chương trình giáo dục phổ thông của tỉnh. Trước mắt ưu tiên tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng hình thành đội ngũ hướng dẫn viên tại các điểm di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng trọng điểm.

e) Giải pháp về liên kết, hợp tác về du lịch:

Mở rộng, tăng cường hợp tác liên kết phát triển du lịch với các địa phương trên cả nước, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong phát triển du lịch Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) và với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để phát triển du lịch trên tuyến du lịch xuyên Á quathành phố Hồ Chí Minh. Tăng cường hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi để các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đầu tư phát triển du lịch Long An, trước mắt là các đối tác đã và đang đầu tư vào khu du lịch quốc gia “Happy Land” trên địa bàn tỉnh Long An.Thường xuyên đối thoại với doanh nghiệp du lịch để cùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động kinh doanh với việc thực hiện tốt các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực du lịch.

g) Giải pháp về bảo vệ môi trường:

Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ môi trường chung của tỉnh với môi trường du lịch. Cụ thể hoá Luật du lịch, Luật bảo vệ môi trường và quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Có nội quy công khai và phương tiện bảo vệ môi trường từng điểm đến. Tăng cường nhận thức về bảo vệ môi trường tới cộng đồng dân cư. Kiện toàn và tổ chức bộ máy quản lý môi trường du lịch từ tỉnh đến cơ sở. Có cơ chế khuyến khích áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào bảo vệ môi trường. Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế trong việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ bảo vệ môi trường chung cũng như môi trường du lịch nói riêng của tỉnh.​

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020  Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020 
Với mục tiêu phát huy lợi thế tiềm năng của các lĩnh vực sản xuất  thủy sản trên địa bàn tỉnh và phát triển ngành thủy sản theo hướng ổn định và bền vững. Chuyển dịch và phát triển một cách có hiệu quả các lĩnh vực sản xuất thủy sản theo hướng tập trung tại các huyện vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh, cân đối phát triển thủy sản tại vùng hạ phù hợp với tiến trình phát triển công nghiệp, đô thị của tỉnh.

Đồng thời, xây dựng được các phương án phát triển đến các năm mốc 2015 và 2020 của ngành thủy sản dựa trên những phân tích, đánh giá các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến ngành thủy sản của tỉnh và các giải pháp có tính khả thi để thực hiện được các phương án quy hoạch. Hướng ngành thủy sản của tỉnh phát triển ổn định và bền vững.

Ngày 01/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 2224/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu cụ thể của quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Long An đến năm 2020tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị gia tăng ngành thủy sản (Nuôi trồng thủy sản và Khai thác thủy sản) thời kỳ 2012-2020 là 3,7%/năm; trong đó, giai đoạn 2012 – 2015 đạt 2,5%/năm và giai đoạn 2016 – 2020 đạt  4,5%/năm.

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tăng bình quân 4,1%/năm thời kỳ 2012 – 2020; trong đó giai đoạn 2012 – 2015 tăng 2,6%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 5,0%/năm.

Vùng 1 (vùng Đồng Tháp Mười): Đây là vùng nước ngọt quanh năm, bao gồm một phần các huyện Đồng Tháp Mười: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Đức Huệ, TX. Kiến Tường, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 2.790 ha tăng lên 5.777 ha (2020). Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 16.948 tấn tăng lên 32.552 tấn (2020), với các đối tượng nuôi chủ lực: Tôm càng xanh, cá lóc, cá tra, cá điêu hồng, cá rô đầu vuông, cá rô phi đơn tính, cá chạch lấu.

Vùng 2 (Vùng giữa): Bao gồm các huyện phía Đông Bắc của tỉnh: Đức Hòa, Bến Lức và TP. Tân An, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 585 ha tăng lên 734 ha (2020). Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 7.191 tấn tăng lên 10.365 tấn (2020), các đối tượng nuôi chính: Cá nước ngọt truyền thống, chủ lực là nuôi cá tra ở huyện Đức Hòa.

Vùng 3 (Vùng hạ): Vùng sinh thái mặn lợ bao gồm các huyện Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành và Tân Trụ, với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 4.551 ha và đến năm 2020 là 4.769 ha. Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn vùng đến năm 2015 là 13.384 tấn tăng nhẹ lên 15.743 tấn (2020), các đối tượng nuôi chính: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển, cá mặn lợ (cá chẽm, cá kèo, cá chim).

Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực khai thác thủy sản tăng bình quân 1,2%/năm thời kỳ 2012 – 2020; trong đó giai đoạn 2012 – 2015 tăng 1,3%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 1,1%/năm.

Quy hoạch các khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản: Huyện Vĩnh Hưng (Khu Bàu Biển – xã Vĩnh Trị với diện tích 100 ha, khu đất trũng hai bên sông Lò Gạch – xã Vĩnh Trị có diện tích 54 ha và rạch Tà Me 85 ha); Huyện Tân Hưng (Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen với đặc thù là vùng trũng nên khu bảo tồn này là nơi cư trú lý tưởng của nhiều loài thủy sản, trong đó có những loài thủy sản quý hiếm như cá Tra Dầu, đồng thời cũng là bãi đẻ của nhiều loài thủy sản cung cấp một sản lượng giống tự nhiên lớn cho vùng Đồng Tháp Mười).

Việc phát triển thủy sản của tỉnh phải đặt trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến tiêu thụ, khai thác phải đi đôi với bảo vệ nguồn lợi, tiếp tục mở mang thị trường tiêu thụ cho xuất khẩu, đặc biệt chú trọng cung cấp các loại thủy sản nuôi tươi sống cho thị trường trong nước, nhất là nội tỉnh và TP. Hồ Chí Minh, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Và phát triển thủy sản của tỉnh phải gắn với việc tổ chức lại sản xuất dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ mới, tiên tiến, nhằm tăng năng suất, chất lượng và thân thiện với môi trường.

TV

09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành
Chùa Phước Lâm Chùa Phước Lâm
Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Vào năm 1880, một lương y kiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Vì có công với làng nên ông Minh khi mất được dân chúng tôn làm hậu hiền và đưa vào phối tự trong đình Tân Lân. Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là Phước Lâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (do lệ cử tên húy ông Minh). Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm 3 phần: Chánh điện -  hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu ''bánh ít'', có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vảy cá.

Toàn bộ cột chùa chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập Điện Diêm Vương, Thiện, Aùc, Hộ Pháp, Kim Cương…và nhiều bộ bao lam, hoành phi, liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ. Đa số tượng Phật có chất liệu gỗ, đồng được chế tác từ thế kỷ XIX với một phong cách nghệ thuật mang đậm nét văn hóa Phật giáo Nam Bộ.

     Có một pho tượng rất đặc biệt tạc một vị Bồ Tát mình mặc cà sa, tay cầm phất trần, ngồi trên long mã bằng gỗ. Những bộ bao lam, hoành phi, liễn đối đều được chạm trổ rất công phu và là sản phẩm của cánh nghệ nhân họ Đinh ở Tân Lân Cần Đước(1).

Đặc biệt nhất là bức hoành '' Pháp luân thường chuyển” chạm lộng nhiều lớp có dạng cuốn thư với chủ đề cúc trĩ. Chữ thọ được chạm nổi tách làm đôi ở hai đầu cuốn thư và 4 chữ pháp luân thường chuyển sơn đỏ trên nền vàng góp phần làm tăng đường nét tinh xảo, sinh động cho hoành phi.

Chùa Phước Lâm 

​      Đây là một trong những bức hoành đẹp nhất ở Long An chứng minh cho trình độ nghệ thuật điêu luyện của nghề chạm khắc gỗ ở Cần Đước đã phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Cũng như những ngôi chùa làng khác ở Nam Bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường theo đúng công thức ''Tiền Phật, Hậu Tổ''. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công- người lập chùa , và bàn thờ của họ Bùi. Phía Ðơng chánh điện là 4 ngôi mộ tháp khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật, cầu kinh như để xua đi bao nổi ưu phiền của cuộc sống đời thường và hòa đồng với nhau trong tình thương bao la của Phật. Nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên có viết: ''Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hình ảnh của một ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, nhưng tiếc rằng ngôi già lam thể hiện một mảng văn hóa Phật giáo Nam Bộ này lại đang bị hư hại trầm trọng theo sự tàn phá nhanh chóng của thời gian''. Vào năm 2001, chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia.Với tấm lòng quý yêu một di sản văn hóa của cha ông,trong tuong lai ngôi cổ tự này sẽ được các cơ quan chức năng và đồng bào phật tử hợp sức trùng tu, tôn tạo để mãi mãi là một danh lam, một niềm tự hào của nhân dân địa phương.

     (1) Cánh thợ họ Đinh ở Cần Đước làm nghề chạm gỗ đến nay đã 5 đời. Tổ của họ này là nghệ nhân Đinh Văn Trì (sinh khoảng 1841) đã truyền nghề cho các nghệ nhân nổi tiếng sau: Đinh Công Tùng, Đinh Công Cai (thế hệ thứ 2); Đinh Văn Tất, Đinh Công Tồn (thế hệ thứ 3); Đinh Văn Năm (thế hệ thứ tư) Cánh thợ họ Đinh đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng ở chùa Giác Lâm (TPHCM), Hội quán Nghĩa Nhuận, Xóm Nhà Giàu (Xã Thanh Phú Long -Châu Thành), nhà Ông Cai Bằng (Tân Ân - Cần Đước), nhà Bà Phủ Phải (Chợ Quán -TPHCM)

19/12/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/phuoclam.JPG
Tình trạng chua phèn Tình trạng chua phèn
Long An là nơi tập trung đất phèn đến 208.449 ha, chiếm 69,8 % diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười và bằng 46,41 % diện tích tự nhiên của tỉnh. Hiện tồn tại 2 vùng thấp - rốn phèn ở Bắc Đông và Bo Bo - Mỏ Vẹt. Một năm có 2 chu kỳ nước chua là đầu mùa mưa (tháng 4 đến tháng 7) và cuối mùa mưa (tháng 11 đến tháng 1).

Để hạn chế bất lợi cho sản xuất nông nghiệp cần tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi tạo nguồn, nghiên cứu áp dụng các phương pháp canh tác, giống cây con . . . cho phù hợp điều kiện tự nhiên và cơ chế thị trường. Trong khai hoang cần tính toán chặt chẽ việc đẩy nguồn nước chua phèn xuống khu vực hạ lưu gây tác hại cho sản xuất của khu vực ven sông.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/ChuaPhen.jpg
Di tích lịch sử khu lưu niệm Nguyễn Thông Di tích lịch sử khu lưu niệm Nguyễn Thông
  ''Khu lưu niệm Nguyễn Thông'' thuộc ấp Bình Trị II -xã Phú Ngãi Trị - huyện Châu Thành, là nơi lưu niệm danh nhân Nguyễn Thông: một trí thức yêu nước, nhà hoạt động văn hóa lớn của Nam kỳ lục tỉnh nửa cuối thế kỷ XIX.

'Khu lưu niệm Nguyễn Thông'' thuộc ấp Bình Trị II -xã Phú Ngãi Trị - huyện Châu Thành, là nơi lưu niệm danh nhân Nguyễn Thông: một trí thức yêu nước, nhà hoạt động văn hóa lớn của Nam kỳ lục tỉnh nửa cuối thế kỷ XIX.

 

     Nguyễn Thông (1827 - 1884)

     Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am, sinh năm 1827 trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Bình Thanh - tổng Thạnh Hội Hạ - huyện Tân Thạnh - phủ Tân An - Gia Định (nay là xã Phú Ngãi Trị - huyện Châu Thành- tỉnh Long An). Ông thi hương đổ cử nhân năm 22 tuổi, khi thi hội bài vấy mực nên bị đánh hỏng. Ông bắt đầu cuộc đời quan trường năm 1851 với chức Huấn đạo Phú Phong tỉnh An Giang.

 Suốt 35 năm làm quan với nhiều chức vụ như đốc học Vĩnh Long, Bố chánh Quảng Ngãi, Aùn sát Khánh Hòa, Doanh điền sứ Bình Thuận, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, hoạt động trên nhiều lĩnh vực thủy lợi, kinh tế, sử học, văn học, văn hóa, giáo dục.Nguyễn Thông tỏ ra là một nhà lãnh đạo có tài, luôn đấu tranh và đem lại quyền lợi cho nhân dân, một trí thức lớn, một nhà thơ yêu nước thương dân. 

Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định, trong khi vua quan triều đình Tự Đức bất lực, ông không do dự tòng quân vào Nam chiến đấu và trở thành trợ thủ đắc lực của Thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp.


Ngôi mộ Nguyễn Hanh do Nguyễn Thông lập 1868

 Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ (2.1861) ông về Tân An hoạt động chống Pháp trong phong trào Trương Định cùng với các thủ lĩnh nghĩa quân địa phương như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị. 

 Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ,ông đề đạt nhiều ý tưởng và kế hoạch độc đáo trong việc đồn khẩn vùng Tây Bắc Bình Thuận để kháng Pháp lâu dài,nhưng triều đình Huế bạc nhược đã ngăn cản kế hoạch trên.

Sau nhiều năm hoạt động gian khổ và tâm huyết cùng bao u uất trước vận nước lúc bấy giờ, ngày 27.8.1884 Nguyễn Thông mất tại Ngọa du sào- Phan Thiết (Bình Thuận), nơi sau này các con ông là Nguyễn Quý Anh và Nguyễn Trọng Lội đã tiếp nối truyền thống, thành lập Dục Thanh học hiệu mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh) đã ghé dạy học (3.1909) trên đường vào Nam tìm đường cứu nước.     

          Về mặt trước tác, Nguyễn Thông để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Ngọa du sào văn tập, Việt sử cương giám khảo lược. Theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong ''Nghiên cứu lịch sử'' số 221, Nguyễn Thông còn là tác giả sách ''Kỳ Xuyên thi sao'' mới tìm thấy ở miền Nam.

     Cuộc đời hoạt động và trước tác của Nguyễn Thông để lại đã khẳng định ông là một nhà hoạt động văn hóa lớn, một trí thức lớn đã thể hiện tấm lòng yêu nước một cách trọn vẹn trong thời kỳ lịch sử đầy biến động ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX.    
     Nguyễn Thông an nghĩ vĩnh viễn trên quê hương thứ hai Bình Thuận, nhưng nơi sinh ra ông, tên ông đã thành tên đường , tên trường học.Khu vườn nhà ông nay là khu lưu niệm.Đó là một quần thể (rộng 543m2) gồm công trình bia lưu niệm ( xây dựng năm 1984 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Thông), nền nhà cũ, mộ phần của bà nội và song thân của Nguyễn Thông bằng đá ong (laterit).Đặc biệt tại đây còn một bia đá cẩm thạch do chính ông tạo lập năm 1868, loại bia một mặt có kiểu dáng và trang trí mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn.Nội dung bia xác định vị trí các ngôi mộ, năm sinh ,năm mất và một bài minh ca ngợi công đức thân sinh ông là Nguyễn Hanh.Ngày nay,''Khu lưu niệm Nguyễn Thông'' là địa điểm tham quan ,thăm viếng,là địa chỉ về nguồn của học sinh,sinh viên.Bia đá do ông lập là di sản quí ở địa phương,là tư liệu góp phần tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Thông.
     Năm 2001 '' Khu lưu niệm Nguyễn Thông '' được Bộ văn Hóa - Thông tin công nhận là di tích Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19-01-2001).


18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/nguyenthong1.JPG
Di tích khảo cổ học Rạch Núi Di tích khảo cổ học Rạch Núi
 Di tích khảo cổ học Rạch Núi là một gò đất rộng khoảng 1 hecta, bình diện gần tròn , đường kính trung bình khoảng 100 mét , cao hơn 6 mét so với mặt đất tự nhiên , xung quanh có rạch bao bọc. Trên mặt gò có nhiều cây cổ thụ , bao quanh gò là Rạch Núi , là một con rạch nhỏ - nhánh của sông Cần Giuộc (sông Rạch Cát). Do địa thế cao giữa khu vực đồng bằng nên còn được gọi theo dân gian là gò Núi Đất (hay Thổ Sơn).
      

Năm 1867 (Đinh Mão) có vị sư Nguyễn Quới (thường gọi là thầy Rau) trên đường vân du đến đây , thấy địa thế tốt nên ở lại và xây dựng chùa trên đỉnh gò để tu hành .

 

Cảnh quang di tích Rạch Núi (1978)

     Tên hiệu của chùa là Linh Sơn Tự hay còn được gọi là Chùa Núi. Hiện nay, di tích khảo cổ học Rạch Núi thuộc ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc (Long An). 

     Tên hiệu của chùa là Linh Sơn Tự hay còn được gọi là Chùa Núi. Hiện nay, di tích khảo cổ học Rạch Núi thuộc ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc (Long An).    
     Năm 1978, Sở Văn Hóa - Thông Tin Long An phối hợp với Viện Khoa Học Xã Hội tại thành phố Hồ Chí Minh khai quật di tích Rạch Núi lần thứ nhất, ghi nhận rằng di tích nầy có tầng văn hóa dày đến 5 m , có tính chất liên tục , không gián đoạn ; hiện vật thu thập được rất phong phú , đa dạng, gồm có : những công cụ bằng đá , bằng xương, các loại đồ dùng bằng đất nung, đồ gốm (có đến hàng vạn mảnh). Nhóm hiện vật đặc trưng nhất ở đây là bộ sưu tập công cụ có vai làm bằng yếm rùa lần đầu tiên được phát hiện ở nước ta. Ngoài ra, cuộc khai quật còn phát hiện di cốt nhiều loại động vật và vỏ các loại nhuyến thể (sò ,ốc), theo giám định cho biết có các loài động vật như khỉ, vọc, chó, mèo, báo, chồn, heo rừng, heo nhà và chó nhà; bên cạnh đó là các loài động vật sống trong nước mặn và nước lợ như cá, sò - ốc, chem chép, rùa và cua biển. Trong tầng văn hóa của di tích còn có nhiều lớp than tro, màu sắc khác nhau nằm xen kẻ ,thể hiện rằng đây là những bếp lửa cổ của cư dân thuở ấy.

     Cuộc khai quật di tích Rạch Núi lần đầu trên quy mô nhỏ, diện tích 60 m2 nhưng cũng đã thu được nhiều tài liệu có giá trị cho việc nghiên cứu đặc điểm - tính chất xã hội cổ trong vùng đất phía nam lưu vực sông Đồng Nai.

     Về niên đại khảo cổ của di tích Rạch Núi, các nhà khảo cổ học nhận định rằng đây là di tích thời đại ''hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng''. Một chỉ số niên đại carbon phóng xạ (C14) duy nhất do G. Délibrias phân tích là 2.400 ±100 năm cách ngày nay (mẫu lấy ở độ sâu 2 m).

     Cuộc khai quật di tích Rạch Núi lần thứ hai từ tháng 1-tháng 2, năm 2003, do Bảo tàng Long An hợp tác với Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam, đã có thêm những phát hiện mới về di vật như rìu vai, vòng tay bằng yếm rùa, đồ trang sức bằng vỏ sò ốc; nhiều công cụ chế tác đá như hòn ghè, bàn mài, hàng vạn mảnh gốm cổ, trong đó có những mẫu gốm thể hiện mối quan hệ với gốm ở các di tích tiền sử thuộc khu vực đất xám trên phù sa cổ An Sơn, Lộc Giang (Đức Hoà).

    Dựa trên tư liệu và hiện vật phát hiện được từ hai cuộc khai quật trên, có thể nhận định rằng di tích khảo cổ học Rạch Núi có thề đã được khởi dựng cách nay khoảng 3.000 năm. Từ trên một vùng gò thấp ven biển , xung quanh là đầm lầy, rừng ngập mặn, những chủ nhân đầu tiên của vùng đất nầy đã tụ cư và thể hiện nhiều sáng tạo trong việc khai thác mọi nguồn sản vật tự nhiên từ sông - biển , để lại những tầng lớp văn hóa vật chất , những bếp lửa sinh hoạt thời tiền sử, những kiểu công cụ lao động đặc sắc, có giá trị khoa học. Trải qua vài trăm năm, nơi cư trú của những cộng đồng cư dân cổ ở đây đã trở thành một gò ''núi đất'' giữa cánh đồng phù sa trủng thấp, chứa đựng những thông tin khoa học quan trọng về một nền văn minh cổ thời đại ''hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng'' ở lưu vực sông Đồng Nai - Vàm Cỏ.

    Trong khu di tích này còn có hai địa điểm có ý nghĩa lịch sử, đó là : 
        - Ngôi mộ của Nguyễn Văn Mỹ - Quan thần đại phu chính trị thời Kiến Hưng Quốc ( đời nhà Lê), tọa lạc ở phía đông nam chân gò Rạch Núi, đang được bảo tồn nguyên trạng.
       - Ngôi chùa Linh Sơn Tự (Chùa Núi), tọa lạc ngay trên đỉnh gò, được xây dựng lần đầu tiên năm Đinh Mão (1867), đến nay đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn lưu giữ được những yếu tố kiến trúc cổ truyền và hệ thống đồ thờ tự quý hiếm ; Đây còn là nơi cán bộ cách mạng ở địa phương dùng làm cơ sở hoạt động - là một địa chỉ đỏ xuyên suốt hai thời kỳ kháng chiến.

    Di tích Rạch Núi nằm trong hệ thống các di tích khảo cổ học ở Long An, với giá trị lịch sử - văn hóa , ý nghĩa khoa học và nhân văn, nơi ghi dấu đậm nét quá trình mở đất dựng nghiệp của người xưa trên vùng đất sình lầy ven biển , đã được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận di tích lịch sử- văn hóa quốc gia tại quyết định số 38/1999-QĐ-BVHTT ngày 11-6-1999./.​

 .

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-upload_rachnui.JPG
Hệ thống giáo dục tỉnh Long AnHệ thống giáo dục tỉnh Long An
Hiện nay, toàn ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các cuộc vận động  như : "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", phong trào "Dạy tốt, học tốt", phong trào "Giỏi việc nước đảm việc nhà", phong trào "Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" ...

Tính đến ngày 31/7/2014, trên địa bàn toàn tỉnh, có hơn 700 trường học ở cấp phổ trong đó có:

Trung học phổ thông 34 trường; THCS &THPT có 11 trường( trong đó có 1 trường ngoài công lập);  TH,THCS & THPT có 1 trường ngoài công lập; Trung học cơ sở có 132 trường, trong đó có 1 trường chuyên (Trường chuyên Long An)

Tiểu học có 255 trường, 4.464 lớp và 126.590 học sinh. Trong đó, có 144/255 trường đạt chuẩn quốc gia, tổ chức dạy 2 buổi/ngày cho 65.460/127.098 học sinh

Giáo dục mầm non có 196 trường gồm: 130 trường mẫu giáo và 66 trường mầm non (trong đó có 1985 trường công lập và 11 trường tư thục). Ngoài ra còn có 41 cơ sở mầm non tư thục và 148 nhóm trẻ tư thục. Có 125/192 đơn vị cấp xã đạt chuẩn Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, có 5/15 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi.

Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 1 TTGDTX cấp tỉnh, 01 TTKTTH-HN tỉnh, 15 TTGDTX huyện và thành phố, 5 trung tâm ngoại ngữ - tin học. 100% xã phường thị trấn đều có TTXHTT&HTCD9

Tỉnh có 1 trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật, 03 trường trung cấp chuyên nghiệp (Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Long An, Trường Trung cấp Y tế, Trường Trung cấp Việt Nhật), 01 trường cao đẳng chuyên nghiệp (Cao đẳng Sư phạm Long An), 02 trường đại học tư thục (đại học KTCN Long An, trường Đại học Tân Tạo), 30 cơ sở dạy nghề.

Có 80 xã, phường, thị trấn thực hiện đúng tiến độ Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi(đạt tỉ lệ 41,6%) và 1 huyện

Tổng số công chức, viên chức toàn ngành giáo dục 20.221 người, giáo viên THCS và THPT cơ bản đáp ứng hoạt động dạy học song chưa đồng bộ, còn thiếu giáo viên tiểu học và mầm non do nhu cầu dạy lớp 2 buổi ngày

Tổng số CC, VC toàn ngành: 20.432 người, đ
ội ngũ cán bộ, GV đã và đang được chuẩn hóa nghiệp vụ, đến nay tỉ lệ  GV đạt chuẩn và trên chuẩn tương đối cao: mầm non: 99,4%; Tiểu học: 99,5%; THCS: 99,7%; THPT: 98,8%. Toàn ngành có 52 thạc sĩ, 03 tiến sĩ

Hiện nay, toàn ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả, sáng tạo việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các cuộc vận động  như : "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", phong trào "Dạy tốt, học tốt", phong trào "Giỏi việc nước đảm việc nhà", phong trào "Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" ...

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hệ thống y tế tỉnh Long AnHệ thống y tế tỉnh Long An
Tính đến tháng 8/2013, toàn tỉnh có 20 bệnh viện trên địa bàn toàn tỉnh
                

 BV Long An.jpg

Trong đó:

- 03 bệnh viện tuyến tỉnh (Bệnh viện Đa khoa tỉnh ( 900 giường bệnh), Bệnh viện Y học cổ truyền (110 giường bệnh), Bệnh viện Lao và Bệnh phổi (70 giường bệnh)

- 03 bệnh viện đa khoa khu vực (Bệnh viện ĐKKV Hậu Nghĩa (250 giường bệnh), Bệnh viện ĐKKV Đồng Tháp Mười (140 giường bệnh),Bệnh viện ĐKKV Cần Giuộc (250 giường bệnh).

- 14 Trung tâm y tế và phòng khám khu vực tuyến huyện bao gồm:

* TTYT Bến Lức (120 giường bệnh).

* TTYT Cần Đước (100 giường bệnh).

* TTYT Đức Huệ (90 giường bệnh).

* TTYT Thủ Thừa (70 giường bệnh).

* TTYT Châu Thành (80 giường bệnh).

* TTYT Tân Trụ (80 giường bệnh).

* TTYT Thạnh Hóa (90 giường bệnh).

* TTYT Tân Thạnh (80 giường bệnh).

* TTYT Tân Hưng (110 giường bệnh).

* TTYT Vĩnh Hưng (90 giường bệnh).

* PKKV Đức Hòa (40 giường bệnh).

* PKKV Huỳnh Việt Thanh (25 giường bệnh).

* PKKV Gò Đen (35 giường bệnh).

* PKKV Rạch Kiến (50 giường bệnh).

- Trạm Y tế: 192/192 xã, phường, thị trấn có trạm y tế

- 15/15 huyện, thị xã, thành phố có trung tâm Dân số KHHGĐ

- Tổng số cán bộ, viên chức ngành Y tế: 5.011 cán bộ, viên chức ngành Y tế.

- Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân: 5 bác sĩ/vạn dân.

- Tỷ lệ dược sĩ đại học/vạn dân: 0,32 dược sĩ đại học/vạn dân.

09/07/2014 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/BV Long An.jpg
Khoáng sản  Khoáng sản 
Theo kết quả điều tra năm 1996 than bùn được tìm thấy ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười như Tân Lập - Mộc Hóa, Tân Lập - Thạnh Hóa (Tráp Rùng Rình), Tân Thạnh (Xã Tân Hòa), Đức Huệ (xã Mỹ Quý Tây, Trấp Mốp Xanh).

Trữ lượng than thay đổi theo từng vùng và chiều dày lớp than từ 1,5 đến 6 mét. Cho đến nay chưa có tài liệu nghiên cứu nào xác định tương đối chính xác trữ lượng than bùn nhưng ước lượng có khoảng 2,5 triệu tấn.
     Than bùn là nguồn nguyên liệu khá tốt để chế biến ra nhiều loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Theo kết quả phân tích đánh giá về chất lượng cho thấy than bùn ở Long An có độ tro thấp, mùn cao, lượng khoáng cao, có thể sử dụng làm chất đốt và phân bón.
Việc khai thác than sẽ thúc đẩy quá trình oxy hóa và thủy phân tạo ra acid sulfuric, đây là chất độc ảnh hưởng đến cây trồng và môi trường sống.
     Ngoài than bùn, tỉnh còn có những mỏ đất sét (trữ lượng không lớn ở khu vực phía Bắc) có thể đáp ứng yêu cầu khai thác làm vật liệu xây dựng.
     Trong thời gian qua, do quản lý nhà nước chưa chặt chẽ nên một số tổ chức và cá nhân khai thác than bừa bãi ảnh hưởng đến môi trường khu vực xung quanh. Trong tương lai, cần phải tổ chức khai thác thận trọng hơn vừa đáp ứng ứng yêu cầu kinh tế nhưng không ảnh hưởng đến môi trường dân sinh.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Ngày 09/9/2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 3185/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với các nội dung chủ yếu sau:

Ngày 09/9/2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 3185/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với các nội dung chủ yếu sau:

IQUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Long An phù hợp trong tổng thể phát triển công nghiệp của cả nước, vùng và tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An; thể hiện những thế mạnh và nét đặc thù riêng của một tỉnh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vừa thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. 

2. Phát triển nhanh nhưng phải bảo đảm tính đồng bộ, cân đối, hiệu quả giữa sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với xây dựng vùng nguyên liệu, cơ sở tồn trữ, thương mại hóa, đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp. Bảo đảm đồng bộ giữa đầu tư vào các vùng - lĩnh vực phát triển mới kết hợp với rà soát, điều chỉnh, sắp xếp, tái cấu trúc các vùng - lĩnh vực đã phát triển, giữa phát triển quy mô sản xuất và tăng cường hàm lượng công nghệ.

3. Phát huy tối đa nội lực (vốn, tay nghề, quản lý, nguyên liệu) kết hợp tích cực thu hút đầu tư ngoại lực nhằm tăng trưởng nhanh và thu hút vốn, công nghệ, mở rộng thị trường.

4. Ưu tiên thu hút đầu tư công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp tiên tiến, công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ. Phát triển công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp phải đảm bảo không làm thiệt hại và tổn thương đến môi trường, kinh tế nông nghiệp, du lịch và quốc phòng an ninh.

II. ĐỊNH HƯ­ỚNG PHÁT TRIỂN

1. Định hướng tổng quát tầm nhìn đến năm 2030

- Về hướng phát triển chính: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong kỳ quy hoạch phát triển với vị trí, vai trò là lĩnh vực kinh tế chủ đạo trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, với tốc độ tăng trưởng cao và hợp lý trong từng giai đoạn, hàm lượng công nghệ và độ thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng nhằm đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng chung của tỉnh, đến năm 2020 về cơ bản Long An là tỉnh công nghiệp và đến 2030 phù hợp với cơ cấu kinh tế định hướng của tỉnh là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.

- Về cơ cấu ngành: trên cơ sở phát triển phù hợp với vị trí địa lý, tiềm năng về tài nguyên, khả năng huy động nguyên liệu, nhân lực, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh của tỉnh và trên cơ sở tích cực thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả đầu tư về vốn, công nghệ, lao động chất lượng cao, định hướng tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống, cơ khí chế tác, hóa chất - nhựa, bao bì - in, điện - điện tử, vật liệu xây dựng, công nghiệp phục vụ logistics, công nghiệp năng lượng sạch với quy mô, tốc độ hợp lý, đặc biệt chú trọng phát triển đa dạng các loại hình công nghiệp hỗ trợ.

- Về nhiệm vụ trọng tâm: rà soát, quy hoạch hợp lý và đầu tư hoàn chỉnh các khu, cụm công nghiệp kết hợp với các khu dân cư, khu đô thị dịch vụ công nghiệp và các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; kết hợp với việc sắp xếp tái phân bố và cải thiện điều kiện sản xuất tại các tuyến công nghiệp hiện có. Đồng thời, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên các địa bàn còn lại theo hướng hỗ trợ, vệ tinh cho các vùng kinh tế công nghiệp động lực này.

- Về thu hút và vận dụng các nguồn lực phát triển: một mặt phát huy tối đa nội lực, vận động nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nói riêng; mặt khác tích cực tạo ra môi trường thu hút đầu tư thuận lợi cho phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các lĩnh vực hỗ trợ công nghiệp gắn liền với thị trường cả nước và quốc tế.

- Về định hướng phát triển đồng bộ với các ngành và lĩnh vực khác: tích cực ứng dụng triển khai công nghệ theo hướng sạch và xanh, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực, kiểm soát và hạn chế tối đa các tác động môi trường; xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu nhằm đảm bảo đồng bộ hóa nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là lúa, mía, đay, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản; tích cực phát triển ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ nhằm hỗ trợ hình thành các khu, cụm công nghiệp, các vùng kinh tế công nghiệp động lực và mở rộng quan hệ thị trường tiêu thụ; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội về giáo dục, y tế, văn hóa tại các khu dân cư và khu đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp.

2. Định hướng cụ thể đến năm 2020  

- Rà soát, quy hoạch phân bố lại các khu, cụm công nghiệp; phối hợp đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn của tỉnh; tổ chức xúc tiến đầu tư vào các khu cụm, ưu tiên cho ngành công nghiệp hỗ trợ. Tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, cơ khí phục vụ nông nghiệp và linh kiện máy chế biến nông sản thực phẩm, hóa chất - nhựa, công nghiệp hỗ trợ cho 6 lĩnh vực chính (cơ khí, nhựa, bao bì in, dệt, giày da, điện - điện tử); đồng thời tiếp tục cải thiện và tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tiến hành sắp xếp, tái phân bố và cải thiện điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại các tuyến công nghiệp hiện có, đặc biệt là tại huyện Bến Lức. Hạn chế việc xây dựng các cơ sở sản xuất ngoài khu, cụm nhằm thuận lợi hơn trong việc cung cấp kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả sản xuất và kiểm soát môi trường. Đồng thời quy hoạch phát triển các khu dân cư, khu đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp phục vụ cho phát triển các khu cụm công nghiệp trên.

- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ, quản lý chất lượng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm (ISO, SA, GMP, HACCP …), thu hút đầu tư các ngành lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao và thân thiện với môi trường. Sắp xếp, củng cố, cải tiến nâng cao hiệu quả sản xuất các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có. Đồng thời có kế hoạch, tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm trong khu vực đông dân cư ra các khu, cụm công nghiệp, kiểm tra và có biện pháp xử lý mạnh các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.

- Phát triển trung tâm khuyến công và các hoạt động khuyến công, năng động trong công tác hướng dẫn, phổ biến các thiết bị và công nghệ mới, hỗ trợ đổi mới trang thiết bị và công nghệ cho các cơ sở sản xuất. Phổ biến các thông tin về khoa học, kỹ thuật và thị trường; tạo điều kiện phát triển mạnh các dịch vụ tư vấn, thẩm định, cải tiến thích nghi và triển khai các công nghệ mới.

- Hỗ trợ xây dựng và quảng bá các thương hiệu mạnh về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; đẩy mạnh công tác quảng bá thương hiệu và xúc tiến đầu tư.

- Hỗ trợ xây dựng và phát triển các làng nghề theo nhiều hình thức đa dạng, tiếp tục vận động thành lập các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã các nghề thủ công truyền thống.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hút, đào tạo lao động các cấp đảm bảo trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý trong phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

- Tích cực huy động vốn từ nhiều nguồn (ngân sách, trong dân, nhà đầu tư, tín dụng, các tổ chức tài chính…) đầu tư vào phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các khu, cụm công nghiệp, các khu dân cư, khu đô thị vệ tinh. Trong đó, quan trọng nhất là xây dựng cơ chế chính sách và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các dự án lớn, có tính chất đòn bẩy phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh.

III. MC TIÊU

1. Mục tiêu chung

- Xây dựng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực động lực trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời hỗ trợ phát triển thương mại dịch vụ và nông nghiệp, thúc đẩy nhu cầu đào tạo và thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, đổi mới công nghệ và quản lý kinh tế - xã hội.

- Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp hướng đến phát triển bền vững hơn sau năm 2020 trên cơ sở tăng dần hàm lượng công nghệ và tri thức trong sản phẩm, đồng thời tích cực bảo vệ môi trường.

- Phân bố không gian và quy mô phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở liên kết thành khối phát triển công nghiệp – đô thị tương hỗ giữa các huyện, thị xã, thành phố, các vùng kinh tế của tỉnh và với các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Đến năm 2020:

- Về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu trong kinh tế chung: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm 14,2%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và 14,4%/năm trong giai đoạn 2016-2020, bình quân 14,3% trong 10 năm. Đến năm 2020, với định hướng Long An trở thành tỉnh công nghiệp, cơ cấu khu vực II đến năm này đạt 45% (trong đó công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 35%).

- Về cơ cấu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: phát huy lợi thế so sánh và khả năng thu hút đầu tư trên địa bàn, tập trung vào các nhóm ngành chủ lực đạt hiệu quả cao, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến lên trên 90% giá trị sản xuất vào năm 2020, trong đó các ngành chủ lực là công nghiệp sản xuất nông sản thực phẩm, công nghiệp cơ khí kết hợp chế tác, công nghiệp nhựa kết hợp bao bì - in, công nghiệp hóa chất; đồng thời giảm dần tỷ trọng của công nghiệp da giày, dệt may; chuẩn bị điều kiện phát triển mạnh hơn công nghiệp điện - điện tử, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp phục vụ logistics, công nghiệp năng lượng sạch. Phấn đấu đến năm 2020, chỉ tiêu giá trị gia tăng (VA) các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tiếp cận 35-40% tổng VA công nghiệp.

- Về hiệu quả đầu tư và hiệu quả sản xuất: phấn đấu tỷ lệ đầu tư thêm/VA dưới 30%, tỷ lệ VA/GO (tổng giá trị sản xuất) đạt trên 25%.

- Về năng suất lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: phấn đấu nâng giá trị tăng thêm bình quân/lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên 10.000 USD vào năm 2020.

- Về xây dựng khu, cụm công nghiệp: tổng diện tích đất quy hoạch cho khu, cụm công nghiệp trong khoảng 12.500 ha, phấn đấu xây dựng hoàn tất hạ tầng và lấp đầy trên 60% khu, cụm đã có đăng ký đầu tư.

- Về xây dựng đô thị công nghiệp và kết cấu hạ tầng công nghiệp: hình thành 05 khu kinh tế công nghiệp trọng điểm tại thành phố Tân An, huyện Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa với các đô thị hậu cần công nghiệp, đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp tương thích. Hoàn chỉnh hệ thống giao thông trục thủy bộ nối kết các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm, hệ thống giao thông nội bộ khu, cụm công nghiệp, hệ thống cấp điện nước, hệ thống thông tin liên lạc.

- Về xuất khẩu: tỷ trọng hàng chế tạo trong xuất khẩu đạt 50-55%.

- Về nguồn nhân lực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: thu hút và đào tạo lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp dưới nhiều hình thức (đào tạo nghề, đào tạo thích nghi, đào tạo truyền nghề, đào tạo nâng cao), phấn đấu đạt trên 75% lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp qua đào tạo, trong đó lao động trình độ cao tiếp cận 15%.

- Phấn đấu các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và trang thiết bị tăng 18-20%/năm.

- Về môi trường: tỷ trọng doanh nghiệp công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trên 95%; tỷ trọng rác thải công nghiệp được xử lý, tái chế 90-95%, trong đó bảo đảm các khu cụm công nghiệp thu gom và xử lý 100% chất thải.

b) Đến năm 2030:

- Cơ cấu khu vực II đạt 48-50% (trong đó công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm gần 40%).

- Tỷ trọng công nghiệp chế biến/tổng GO công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 95-96%; tỷ trọng VA/GO 32-35%.

- Tốc độ tăng các doanh nghiệp đổi mới công nghệ đạt 20-25%.

- Tỷ trọng hàng chế tạo trong xuất khẩu đạt 70%.

- Lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp qua đào tạo/tổng lao động đạt 80%; lao động trình độ cao/tổng lao động đạt 18-20%.

- Tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường xấp xỉ 100%; tỷ trọng rác thải công nghiệp được xử lý, tái chế tiếp cận 100%.

IV. ĐNH HƯNG PHÁT TRIN CÁC PHÂN NGÀNH CÔNG NGHIP – TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

1. Ngành chế biến thực phẩm và đồ uống

- Cải thiện điều kiện sản xuất các cơ sở hiện có, xây dựng mới, nâng cấp và mở rộng các cơ sở trong các khu, cụm công nghiệp, đồng thời phải tranh thủ thời cơ đầu tư phát triển mạnh các ngành chế biến.

- Tiếp tục mở rộng về số lượng và chủng loại các sản phẩm tinh chế bằng công nghệ tiên tiến. Ưu tiên phát triển các dự án chế biến có trình độ công nghệ cao, trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, sản phẩm đảm bảo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

- Đổi mới trang thiết bị, công nghệ, phát triển công nghệ sinh học trong sơ chế và chế biến nông sản phẩm.

- Phát huy thế mạnh về nguyên liệu, thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất, cải tiến công nghệ, xử lý môi trường.

2. Ngành hóa chất và các sản phẩm hóa chất

- Phát triển công nghiệp dược phẩm kể cả Đông, Tây y. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong, ngoài tỉnh và nước ngoài đầu tư sản xuất dược phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng và mẫu mã cạnh tranh với thị trường trong nước và thế giới.

- Đầu tư mở rộng các cơ sở sản xuất các sản phẩm tiêu dùng như sơn các loại, chất tẩy rửa, bột giặt.

- Đầu tư nâng cao sản lượng và chất lượng các sản phẩm hóa chất dùng trong nông nghiệp.

- Tập trung phát triển ngành sản xuất thuốc thú y.

3. Ngành sản xuất dệt - may

- Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại, phát triển sản xuất vải sợi cung cấp cho ngành trang phục.

- Chú trọng công tác thiết kế thời trang, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm phù hợp sức mua và tập quán tiêu dùng của các tầng lớp nhân dân.

- Tăng cường công tác tiếp thị, bán hàng để đảm bảo khả năng cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước.

4. Ngành sản xuất da và giả da

- Tăng cường khâu thiết kế thời trang nhằm tăng súc cạnh tranh trong và ngoài nước.

 

- Phát triển thêm ngành hàng túi xách có thương hiệu các loại phục vụ nhu cầu nội địa.

 

- Phát triển mạnh các sản phẩm hỗ trợ cho ngành da, giả da. Đối với ngành thuộc da để làm nguyên liệu, cần tập trung vào cải tiến công nghệ và đưa vào các khu công nghiệp nhằm giám sát môi trường chặt chẽ.

5. Ngành cơ khí

- Đầu tư mở rộng, nâng cấp các cơ sở cơ khí hiện có.

 

- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, gia công, chế tạo sản phẩm cơ khí phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp, máy xay xát, máy công cụ chế biến nông sản phẩm, linh kiện cho máy công cụ các ngành nhựa, vật liệu và công trình xây dựng, bao bì - in, hóa chất.

 

- Đầu tư xây dựng nhà máy sửa chữa và đóng tàu, sà lan phục vụ cho ngành vận tải, logistics, chú trọng liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước đóng các loại tàu có trọng tải lớn.

 

- Ứng dụng công nghệ tự động hóa, công nghệ mô phỏng, công nghệ điều khiển học, tiến đến phát triển sản xuất các chi tiết cơ kim khí chính xác phục vụ chế tác máy công cụ, y tế, đo lường, điện - điện tử, năng lượng sạch.

6. Ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại, vật liệu xây dựng

- Đối với cơ sở sản xuất gạch ngói, phấn đấu không còn sử dụng lò thủ công, chuyển sang công nghệ tuynel ít gây ô nhiễm môi trường.

 

- Thu hút đầu tư và phát triển các đa dạng mặt hàng vật liệu xây dựng mới, nhất là sản xuất gạch bằng công nghệ không nung.

 

- Phát triển các lĩnh vực mới: vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu xây dựng tiền chế, vật liệu xây dựng tương thích nội thất - thiết bị năng lượng sạch.

7. Ngành điện, điện tử

- Đầu tư mở rộng, xây dựng mới các cơ sở sản xuất các mặt hàng điện gia dụng và công nghiệp, động cơ điện các loại với chất lượng cao.

 

- Gia công lắp ráp các máy móc thiết bị điện tử với công nghệ cao, tiến đến chế tạo một số thiết bị phục vụ ngành điện, liên kết sản xuất các linh kiện điện, điện tử với ngành cơ khí chế tạo và ngành nhựa.

 

- Tích cực thu hút đầu tư các doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất hoặc tham gia vào chuỗi công nghiệp hỗ trợ điện - điện tử. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tham gia vào chuỗi công nghiệp hỗ trợ điện - điện tử.

 

- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tự động hóa, mô phỏng và điều khiển học trong quá trình lắp ráp, làm cơ sở phát triển lên một số thành phẩm điện tử có thương hiệu và thị trường ổn định sau 2020.

8. Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế và các sản phẩm khác

- Đầu tư cải tiến trang thiết bị và quy mô sản xuất, cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm.

 

- Phát triển các sản phẩm gỗ mỹ nghệ truyền thống.

9. Ngành nhựa

- Đầu tư cải tiến trang thiết bị và quy mô sản xuất.

 

- Đầu tư các cơ sở mới có công nghệ hiện đại cho các sản phẩm chất lượng cao.

 

- Phát triển các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ có liên quan đến ngành nhựa là thế mạnh trên địa bàn.

10. Ngành giấy

- Đầu tư cải tiến trang thiết bị và quy mô sản xuất các cơ sở hiện có trên cơ sở cân đối với vùng đay nguyên liệu, giám sát nghiêm ngặt môi trường.

 

- Đầu tư các cơ sở mới với công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bao bì, in.

11. Ngành sản xuất và phân phối điện

- Đảm bảo yêu cầu về điện cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo từng giai đoạn quy hoạch.

 

- Tăng và đảm bảo phụ tải, giảm tổn thất công suất, điện năng và tổn thất điện áp trên lưới.

 

- Phấn đấu đưa số hộ sử dụng điện tăng lên 99,25% năm 2015, 99,7% năm 2020; sản lượng điện tiêu thụ sẽ tăng lên 4.034 GWh vào năm 2015 và 8.158 GWh vào năm 2020. Điện thương phẩm bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.123 kWh/người và năm 2020 đạt 4.235 kWh/người.

12. Ngành sản xuất và phân phối nước

- Phấn đấu đạt tỷ lệ 97% dân số được cấp nước hợp vệ sinh vào năm 2015, và 100% vào năm 2020.

 

- Công suất của các nhà máy nước (kể cả công suất phục vụ cho các khu công nghiệp và các cụm điểm dân cư nhỏ) sẽ tăng từ 90.400 m3/ngày đêm năm 2010 lên 435.000 m3/ngày đêm năm 2020 và 661.000 m3/ngày đêm năm 2030.

13. Ngành công nghiệp liên quan đến tái chế

- Xử lý chất thải rắn kết hợp thu hồi điện năng.

 

- Tái chế nhựa, plastic.

 

- Xử lý chất thải rắn thành vật liệu xây dựng nhẹ.

14. Phát triển công nghiệp hỗ trợ

- Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 3 khu, cụm công nghiệp định hướng phát triển chuyên công nghiệp hỗ trợ.

 

- Xúc tiến thu hút đầu tư và liên kết hợp tác sản xuất với các doanh nghiệp hỗ trợ trong và ngoài địa bàn.

V. PHÁT TRIN CÁC KHU, CM CÔNG NGHIP

1. Mục tiêu chung

 

- Thu hút các nhà đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp; tổ chức xúc tiến đầu tư, thu hút các doanh nghiệp sản xuất đến đầu tư tại các khu, cụm công nghiệp.

 

- Tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung, tách biệt với các khu dân cư, khu văn hóa, du lịch.

 

- Các khu, cụm công nghiệp sẽ là hạt nhân hình thành các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm góp phần tích cực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.

 

- Đảm bảo thực hiện rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Khu kinh tế, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn thực hiện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành có liên quan.

 

a) Khu công nghiệp:

 

- Diện tích các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An sau khi rà soát còn lại là 28 khu công nghiệp với diện tích là 10.309,14 ha.

 

- Dự kiến Khu công nghiệp Thế Kỷ sẽ sát nhập vào Khu công nghiệp Hựu Thạnh do cùng chủ đầu tư hạ tầng và 2 khu này nằm kế cận nhau.

 

- Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 của tỉnh, đất khu công nghiệp là 11.964 ha, do đó đến năm 2015, tùy vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư, có thể điều chỉnh thêm 1.645 ha khu công nghiệp theo hạn mức cho phép.

 

b) Cụm công nghiệp:

 

Diện tích các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An sau khi rà soát, đã có quyết định thu hồi, đã đề nghị thu hồi và giảm diện tích còn lại 29 cụm diện tích khoảng 3.113,25 ha.

 

Ngoài ra, dự kiến thành lập thêm 05 cụm công nghiệp.

 

c) Các cụm, tuyến công nghiệp khác:

 

- Đối với khu cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp thuộc thị xã Kiến Tường và cửa khẩu quốc gia Mỹ Quý Tây thuộc huyện Đức Huệ, quy hoạch 2 cụm công nghiệp chuyên hoàn tất hoặc lắp ráp sản phẩm kết hợp với kho vận, khởi động sau năm 2015 và đi vào hoạt động sau năm 2020. Diện tích dự kiến 50 ha/cụm và có khả năng mở rộng lên đến 75 ha/cụm.

 

- Dự trù quỹ đất 2-5 ha/huyện, thị xã, thành phố làm điểm tập trung các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

 

- Đối với công nghiệp xay xát, đề nghị quy hoạch các cụm kết hợp tuyến  công nghiệp xay xát kết hợp hệ thống kho vựa tại các huyện như sau:

 

+ Huyện Vĩnh Hưng: cụm kết hợp tuyến công nghiệp xay xát tại xã Tuyên Bình, Tuyên Bình Tây, Khánh Hưng.

 

+ Huyện Tân Hưng: cụm kết hợp tuyến công nghiệp xay xát dọc kênh Trung Ương.

 

+ Huyện Thạnh Hóa: cụm kết hợp tuyến công nghiệp dọc kênh Dương văn Dương.

 

+ Huyện Tân Thạnh cụm kết hợp tuyến công nghiệp xay xát kênh Dương văn Dương và kênh 12.

 

Mỗi cụm kết hợp tuyến xay xát như trên có quy mô định hình 50 ha. Riêng tại thành phố Tân An, dự trù 5-10 ha dọc sông Bảo Định tại phường Tân Khánh để di dời các doanh nghiệp xay xát.

 

- Sau năm 2020, phát triển 1 cụm công nghiệp chuyên công nghệ cao tại  thành phố Tân An (xã Nhơn Thạnh Trung). Diện tích 50 ha và có khả năng mở rộng lên đến 75 ha.

 

Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 của tỉnh, đất cụm công nghiệp là 3.154 ha. Do đó đến năm 2015, tùy vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư, có thể điều chỉnh thêm 730 ha cụm công nghiệp theo hạn mức cho phép.

 

d) Các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm:

 

Hệ quả sự hình thành các khu, cụm công nghiệp và các đô thị hậu cần, đô thị vệ tinh dịch vụ công nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu và tổ chức giao lưu vận chuyển mua bán nguyên liệu, thành phẩm công nghiệp sẽ hình thành các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm trên các địa bàn cụ thể như sau:

 

- Huyện Bến Lức: bao gồm 06 khu công nghiệp (Thuận Đạo, Nhựt Chánh, Vĩnh Lộc 2, Thịnh Phát, Phú An Thạnh, Phúc Long) và 05 cụm công nghiệp (Chế biến thực phẩm Vissan, Nhựt Chánh 2, Hiệp Thành, Phong Phú, Quốc Quang). Tổng diện tích quy hoạch sau khi rà soát các khu công nghiệp 1.309 ha, và 277 ha cụm công nghiệp.

 

- Huyện Đức Hòa: bao gồm 10 khu công nghiệp (Đức Hòa 1, Tân Đức, Xuyên Á, Đức Hòa 3, Thế Kỷ, Tân Phú, Hựu Thạnh, Tân Đô, Hải Sơn, Đại Lộc) và 10 cụm công nghiệp (Liên Hưng, Nhựa Đức Hòa, Hải Sơn, Liên Minh, Hoàng Gia, Đức Thuận, Đức Mỹ, ATAD, Sao Vàng, Liên Á). Tổng diện tích quy hoạch sau khi rà soát các khu công nghiệp 4.340 ha, và 711,67 ha cụm công nghiệp.

 

- Huyện Cần Giuộc: bao gồm 05 Khu công nghiệp (Tân Kim, Long Hậu, Bắc Tân Tập, Nam Tân Tập, Long Hậu 3) và 05 cụm công nghiệp (Nam Hoa, Tân Phú Thịnh, Hải Sơn, Phát Hải, Caric-Hồng Lĩnh). Tổng diện tích quy hoạch các khu công nghiệp 2.633 ha và 558,6 ha cụm công nghiệp.

 

- Thành phố Tân An: 01 cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn, diện tích quy hoạch 88 ha. Phát triển thêm 01 cụm công nghiệp chuyên công nghệ cao tại thành phố Tân An (xã Nhơn Thạnh Trung), được nâng cấp từ vườn ươm doanh nghiệp với chức năng: trung tâm chuyển giao công nghệ mới kết hợp với các doanh nghiệp sản xuất sạch và xanh.

 

- Huyện Cần Đước: bao gồm 03 khu công nghiệp (Thuận Đạo mở rộng, Cầu Tràm, Cầu cảng Phước Đông) và 05 cụm công nghiệp (Long Cang, Long Cang mở rộng, Cảng nước sâu, Bình Tây, Thiên Lộc Thành). Tổng diện tích quy hoạch các khu công nghiệp là 397 ha và các cụm công nghiệp là 1.415,03 ha.

 

đ) Phát triển tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn và làng nghề:

 

- Đối với tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn: hỗ trợ phát triển quỹ đất, thu hút phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại khu vực nông thôn. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế về tiềm năng nguyên liệu, thị trường và tay nghề.

 

- Đối với làng nghề: ổn định quy mô và nâng cao hiệu quả, chất lượng, mẫu mã các làng nghề; sắp xếp, tổ chức lại theo mô hình hợp tác xã, nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động kinh tế tập thể, tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trong các làng nghề.

VINHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ

- Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2011-2020 là: 91.917 tỷ đồng theo giá hiện hành, trong đó:

+ Giai đoạn 2011-2015 là 37.251 tỷ đồng;

+ Giai đoạn 2016-2020 là 54.666 tỷ đồng.

- Tổng nhu cầu vốn đầu tư phân theo lĩnh vực đầu tư:

+ Phát triển các khu công nghiệp giai đoạn 2011-2020 là 20.143 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 là 7.971 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 là 12.172 tỷ đồng.

+ Phát triển các cụm công nghiệp giai đoạn 2011-2020 là 4.228 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 là 1.808 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 là 2.420 tỷ đồng.

+ Các phân ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 là 67.546 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn 2011 - 2015 là 27.472 tỷ đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 40.074 tỷ đồng.

 

ANH MỤC CÁC DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THU HÚT, ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

 

STT

Tên dự án

Dự án mới

Công suất

Dự án mở rộng

Công suất

1

Nâng cấp các Nhà máy xay xát xuất khẩu

2011-2015

270.000 Tấn/năm

2017-2020

270.000 Tấn/năm

2

Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi

2013-2015

300.000 Tấn/năm

2016-2020

600.000 Tấn/năm

3

Nhà máy giết mổ gia súc

2016-2018

540.000 con

 

 

4

Nhà máy chế biến thủy sản

2013-2016

10.000 Tấn/năm

2017-2020

20.000 Tấn/năm

5

Nhà máy chế biến súc sản xuất khẩu

2015-2017

25.000 Tấn/năm

2017-2018

25.000 Tấn/năm

6

Nhà máy nước quả cô đặc và purê

2016-2018

3.000 Tấn/năm

2020-2022

3.000 Tấn/năm

7

Nhà máy rau quả đóng hộp

2013-2015

5.000 Tấn/năm

2016-2018

10.000 Tấn/năm

8

Nhà máy thực phẩm đóng hộp

2014-2015

10.000 Tấn/năm

2017-2018

10.000 Tấn/năm

9

Nhà máy sản xuất ván ép MDF

2007-2008

80.000 m2/năm

2013-2014

80.000 m2/năm

10

Nhà máy sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn

2016-2017

20.000 m3/năm

2018-2019

20.000 m3/năm

11

Nhà máy sản xuất phụ liệu ngành may

2014-2016

40 Triệu sản phẩm/năm

2017-2019

40 Triệu sản phẩm/năm

12

Nhà máy sản xuất bao bì các loại

2014-2015

125.000 Tấn/năm

2014-2015

125.000 Tấn/năm

13

Nhà máy sản xuất sản phẩm nhựa cao cấp

2015-2017

80.000 Tấn/năm

2017-2018

80.000 Tấn/năm

14

Nhà máy đóng và sửa chữa tàu

2015-2017

60 chiếc/năm

 

 

15

Nhà máy sản xuất các sản phẩm cơ khí

2013-2016

25.000 Tấn/năm

2013-2016

25.000 Tấn/năm

16

Nhà máy cơ khí chính xác

2015-2016

6,5 Triệu sản phẩm/năm

2015-2016

6,5 Triệu sản phẩm/năm

17

Nhà máy sản xuất dụng cụ, linh kiện điện

2014-2016

4 triệu sản phẩm/năm

2014-2016

4 triệu sản phẩm/năm

18

Nhà máy lắp ráp và chế tạo hàng điện tử

2013-2015

60.000 sản phẩm/năm

2016-2017

60.000 sản phẩm/năm

19

Nhà máy sản xuất phân bón

2014-2015

5.000 Tấn/năm

2017-2018

5.000 Tấn/năm

20

Nhà máy sản xuất thuốc thú y

2013-2014

7,5 Triệu sản phẩm/năm

2018-2019

7,5 Triệu sản phẩm/năm

21

Nhà máy sản xuất sơn các loại

2014-2015

20.000 Tấn/năm

2016-2017

20.000 Tấn/năm

22

Nhà máy dược phẩm

2015-2016

1500 Tấn/năm

2017-2018

1500 Tấn/năm

23

Nhà máy sản xuất dụng cụ y tế

2015-2016

10 Triệu sản phẩm/năm

2018-2019

10 Triệu sản phẩm/năm​

15/12/2014 3:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"Di tích lịch sử "Nhà và lò gạch Võ Công Tồn"
- Nhà Võ Công Tồn được xây dựng khoảng năm1910, theo kiểu chữ ''công'' (I) ba gian, hai chái với chất liệu bê tông, mái ngói. Năm 1984, do bị xuống cấp, ngôi nhà bị phá bỏ, chỉ tận dụng lại móng, nền, ngói để dựng ngôi nhà mới có diện tích 128m2. Trang trí bên trong nhà mang phong cách chung của các ngôi nhà khá giả cuối thế kỷ XIX với bao lam, hoành phi, câu đối. Nổi bật ở nhà Võ Công Tồn là bao lam với đề tài đa dạng được thể hiện sinh động bởi kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi, cẩn ốc xà cừ rất công phu và có giá trị về mặt điêu khắc, chạm gỗ.

 

Võ Công Tồn (1891 - 1942)

Địa thế nhà Võ Công Tồn rất tiện lợi để che mắt địch: cây cối rậm rạp, hàng rào cây xanh, hào sâu bao bọc và chỉ một cổng vào duy nhất là cầu bắt qua hào, đêm đến cầu được rút đi và có những chú chó tinh khôn canh gác. Cảnh quan di tích hiện nay vẫn không thay đổi nhiều. Nhân dân làng Long Hiệp vốn có truyền thống yêu nước, sẳn sàng chở che, đùm bọc cho những người yêu nước và các đảng viên Cộng sản, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng. Võ Công Tồn là một điển hình ấy. Ngôi nhà của ông là cơ sở tin cậy của các phong trào yêu nước:
- Thiên điạ hội, Hội kín Nguyễn An Ninh; nơi bác Tôn Đức Thắng tổ chức lớp học truyền bá tư tưởng cách mạng chống thực dân Pháp năm 1928; nơi sinh ra và lớn lên của nhà yêu nước Võ Công Tồn (1891-1942)- người đã cống hiến nhiều công, của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ Đảng còn non trẻ. Giáo sư Trần Văn Giàu đã ghi nhận: ''Võ Công Tồn cùng với Nguyễn An Ninh là hình ảnh của ''Núi Hai Vì'' hai tấm gương lớn về hoạt động cách mạng ở Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX''(1). HĐNN nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng ông Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1986; tên của ông được đặt cho một con đường tại tỉnh lỵ Long An.
- Khu Lò gạch Võ Công Tồn nằm về phía đông nam Nhà Võ Công Tồn, khoảng 1km. Trước kia khu Lò gạch có 3 lò sản xuất gạch ngói với hơn 300 công nhân. Hiện còn lại 1 lò gạch đã vỡ ¾ và một số nền móng sân nhà. Đây là nơi Võ Công Tồn sản xuất và kinh doanh gạch ngói tạo nguồn tài chính cung cấp cho Đảng, cơ sở tin cậy của Đảng bộ Chợ Lớn, Xứ ủy Nam kỳ và các phong trào yêu nước trước năm 1945; là nơi hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như Nguyễn An Ninh; nơi ra đời của chi Bộ Đảng ấp Lò Gạch năm 1935; nơi Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thị Minh Khai mở lớp học 20 ngày để tuyên truyền vận động cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin cho đông đảo công nhân Lò gạch năm 1936

''Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn'' đã được UBND tỉnh Long An đăng ký di tích lịch sử tại số 3639/QĐ-UB ngày 18/12/2000 và hiện nay (7-2003) đang trình Bộ VHTT nâng cấp thành di tích cấp quốc gia.
(1) : Trích bài phát biểu của Giáo sư Trần Văn Giàu trong hội thảo kỷ yếu của Võ Công Tồn 1995

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/image-upload-19 (1).JPG
Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh
Xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Long An với các chỉ tiêu sau:

QHSDĐ LA 2020.jpg

1. Diện tích, cơ cấu các loại đất:

STT

Loại đất

Hiện trạng năm 2010

Quy hoạch đến năm 2020

Din tích (ha)

Cơ cấu (%)

Quốc gia phân b(ha)

Tỉnh xác định (ha)

Tổng số

Diện tích (ha)

Cơ cu (%)

 

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

449.235

100,00

 

 

449.235

100,00

1

Đất nông nghiệp

361.637

80,50

327.558

2.537

330.095

73,48

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

258.602

71,51

245.000

859

245.859

74,48

 

Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước (2 vụ trở lên)

232.499

 

243.280

661

243.941

 

1.2

Đất trồng cây lâu năm

17.138

4,74

 

10.041

10.041

3,04

1.3

Đất rừng phòng hộ

1.617

0,45

5.050

0

5.050

1,53

1.4

Đất rừng đặc dụng

2.000

0,55

4.200

0

4.200

1,27

1.5

Đất rừng sn xuất

40.253

11,13

40.825

0

40.825

12,37

1.6

Đất nuôi trồng thủysản

8.451

2,34

8.500

0

8.500

2,58

2

Đất phi nông nghiệp

87.598

19,50

121.677

 

119.140

26,52

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

2.1

Đt xây dựng trụ sở cơ quan, côngtrình sự nghiệp

381

0,43

 

809

809

0,68

2.2

Đất quốc phòng

329

0,38

972

0

972

0,82

2.3

Đất an ninh

477

0,54

2.027

0

2.027

1,70

2.4

Đất khu công nghiệp

8.370

9,56

11.964

3.154

15.118

12,69

-

Đất xây dựng khu công nghiệp

6.911

-

11.964

0

11.964

 

-

Đất xây dựng cụm công nghiệp

1.459

 

 

3.154

3.154

 

2.5

Đất cho hoạt động khoáng sản

205

0,23

 

0

 

 

2.6

Đất di tích danh thắng

117

0,13

1.430

-203

1.227

1,03

2.7

Đất bãi thải, xử lý chất thải

1.822

2,08

2.161

-80

2.081

1,75

2.8

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

234

0,27

 

240

240

0,20

2.9

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

1.080

1,23

 

1.362

1.362

1,14

2.10

Đất phát triển hạ tầng

29.354

33,51

39.400

793

40.193

33,74

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

-

Đất cơ sở văn hóa

1.110

 

1.123

488

1 .611

 

-

Đt cơ sở y tế

71

 

103

76

179

 

-

Đất cơ sở giáo dục - đào tạo

809

 

1.606

7

1.613

 

-

Đất cơ sở thể dục - thể thao

295

 

684

506

1.190

 

2.11

Đất ở tại đô thị

3.008

3,43

4.515

0

4.515

3,79

3

Đất chưa sử dụng

0

 

0

 

0

 

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

0

 

0

 

0

 

3.2

Diện tích đưa vào sử dụng

0

 

0

 

0

 

4

Đất đô thị

20.065

4,47

 

26.106

26.106

5,81

5

Đất khbảo tồn thiên nhiên

 

 

 

5.230

5.230

1,16

6

Đất khu du lịch

 

 

 

385

385

0,09

2. Diện tích chuyển mục đích sử dụng đất:

Đơn vị tính: ha

STT

Chỉ tiêu

Cả thời kỳ 2011-2020

Giai đoạn 2011-2015

Giađoạn 2016-2020

1

Đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp

31.741

17.128

14.613

1.1

Đất trồng lúa

12.232

6.957

5.275

1.2

Đất trồng cây lâu năm

5.364

3.336

2.028

1.3

Đất rừng sản xuất

2.954

1.394

1.560

1.4

Đất nuôi trồng thủy sản

336

197

139

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

 

 

2.1

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất lâm nghiệp

2.077

1.373

704

2.2

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

59

 

59

2.3

Đất rừng sản xuất chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

10

 

10

(Vị trí các loại đất trong quy hoạch sử dụng đất được thể hiện trên Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tỷ lệ 1/100.000 dỦy ban nhân dân tỉnh Long An xác lập ngày 15 tháng 01 năm 2013).

Xét duyệt kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của tỉnh Long An với các chỉ tiêu sau:

1. Phân bổ diện tích các loại đất trong kỳ kế hoạch:

Đơn vị nh: ha

STT

Chỉ tiêu

Hiện trạng năm 2010

Diện tích đến các năm

Năm 2011*

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

 

TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN

449.235

449.235

449.235

449.235

449.235

449.235

1

Đất nông nghiệp

361.637

360.243

357.070

354.507

351.445

344.663

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

258.602

257.800

256.603

255.059

253.655

250.283

 

Trong đó: đất chuyên trồng lúanước (2 vụ trở lên)

232.499

232.052

233.694

235.166

236.749

237.669

1.2

Đất trồng cây lâu năm

17.138

16.933

16.220

15.559

14.706

13.039

1.3

Đất rừng phòng hộ

1.617

1.617

2.066

2.615

3.089

3.834

1.4

Đất rừng đặc dụng

2.000

2.000

2.297

2.647

2.997

3.347

1.5

Đất rừng sản xuất

40.253

40.200

39.547

39.743

40.026

40.650

1.6

Đất nuôi trồng thủysản

8.451

8.462

8.473

8.484

8.396

8.463

2

Đất phi nông nghiệp

87.598

88.992

92.165

94.728

97.790

104.572

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

2.1

Đất xây dựng TSCQ, CTSN

381

414

441

484

519

614

2.2

Đất quốc phòng

329

329

336

475

516

868

2.3

Đất an ninh

477

477

1.947

1.973

1.987

2.015

2.4

Đất khu công nghiệp

8.370

8.370

8.343

8.879

9.472

11.057

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

-

Đất xây dựng khu công nghiệp

6.911

6.911

6.911

7.219

7.537

7.893

-

Đất xây dựng cụm công nghiệp

1.459

1.459

1.432

1.660

1.935

3.164

2.5

Đất cho hoạt động khoáng sản

205

205

 

 

 

 

2.6

Đất di tích danh thắng

117

117

227

227

227

962

2.7

Đất xử lý, chôn lấp chất thải

1.822

1.823

1.846

1.862

1.909

1.925

2.8

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

234

234

234

234

234

240

2.9

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

1.080

1.084

1.088

1.092

1.094

1.217

2.10

Đất phát triển hạ tầng

29.354

30.048

30.772

31.772

33.006

35.402

 

Trong đó

 

 

 

 

 

 

-

Đất cơ sở văn hóa

1.110

1.132

1.159

1.198

1.267

1.344

-

Đất cơ sở y tế

71

71

77

83

123

140

-

Đất cơ sở giáo dục - đào tạo

809

840

885

1.039

1.214

1.351

-

Đất cơ sở thể dục - thể thao

295

309

329

379

424

531

2.11

Đất ở tại đô thị

3.159

3.159

3.365

3.531

3.704

4.009

3

Đất chưa sử dụng

0

0

0

0

0

0

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

0

0

0

0

0

0

3.2

Diện tích đưa vào sử dụng

0

0

0

0

0

0

4

Đất đô thị

20.065

657

20.820

21.575

22.330

23.086

5

Đất khu bảo tồn thiên nhiên

 

 

 

 

 

5.230

6

Đất khu du lịch

 

 

 

 

 

385

Ghi chú: * Diện tích kế hoạch năm 2011 là số liệu ước thực hiện đến ngày 31 tháng 12 năm 2011

2. Kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất:

Đơn vị tính: ha

STT

Chỉ tiêu

Diện tích chuyển MĐSD trong kỳ

Diện tích đến các năm

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

1

Đt nông nghiệp chuyn sang đt phi nông nghiệp

17.128

1.394

3.173

2.563

3.121

6.877

1.1

Đất trồng lúa

6.957

791

995

1.245

1.129

2.797

1.2

Đất trồng cây lâu năm

3.336

205

563

511

653

1.404

1.3

Đất rừng sản xuất

1.394

53

928

129

84

200

1.4

Đất nuôi trồng thủy sản

197

 

 

 

158

39

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

 

 

 

 

 

2.1

Đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất lâm nghiệp

1.373

 

266

369

319

419

 

Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An có trách nhiệm:

1. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt; việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất chặt chẽ từ cấp tỉnh đến cấp xã; có giải pháp cụ thể để huy động vốn và các nguồn lực khác để thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Tỉnh;

2. Xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng cần bảvệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực giữ nhiều đất trồng lúa; khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm bù lại phần diện tích đất nông nghiệp do bị chuyển mục đích sử dụng;

3. Chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch, trong đó cần phải thu hồi cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để tạo nguồn vốn cho phát triển, tạo quỹ đất đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội; đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật. Đẩy mnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;

4. Quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng; giám sát chặt chẽ quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch nhằm ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các trường hp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng;

5. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật đất đai để người dân nắm vững các quy định của pháp luật, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững;

6. Định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân Tỉnh có báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để Chính phủ tổng hợp báo cáo Quốc hội.

 

17/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Di tích lịch sử "Vàm Nhựt Tảo" Di tích lịch sử "Vàm Nhựt Tảo"
Là nơi giao hội giửa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, Vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nước phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nhưng vào ngày 10/12/1861, vàm Nhựt Tảo đã dậy sóng căm hờn nhấn chìm tàu L' Espérance của quân xâm lược Pháp. Người đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là ''oanh thiên địa'' ấy chính là người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực.

 Ông sinh năm 1839 tại xóm Nghề, làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, ông đã tham gia vào đội nghĩa binh kháng chiến dưới quyền chỉ huy của Trương Định và được cử về hoạt động chống Pháp trên địa bàn phủ Tân An.  

Được sự giúp đở của hương chức làng Nhựt Tảo ông đã bố trí một kế hoạch táo bạo, thông minh để đánh tàu L' Espérance, một tiểu hạm chủa Pháp đang hoành hành trên vùng sông nước huyện Cửu An.Sáng ngày 10/12/1861, sau khi bố trí lực lượng phục kích trên bờ và dụ cho một bộ phận địch rời khỏi tàu, Nguyễn Trung Trực đã cùng 59 nghĩa quân lên 5 chiếc ghe giả làm ghe buôn lúa tiến sát tàu địch.

Vàm Nhựt Tảo
Vàm Nhựt Tảo

​     Trong lúc trình giấy thông hành, ông đã bất ngờ giết tên lính Pháp rồi cùng nghĩa quân tấn công lính Pháp trên tàu L' Espérance. Không kịp trở tay, toàn bộ địch trên tàu bị tiêu diệt ( chỉ có 5 tên chạy thoát). Nghĩa quân dùng dầu và đồ dẩn hỏa đốt cháy tàu L' Espérance. Ngọn lửa bốc cao từ từ nhấn chìm tàu xuống đáy sông sâu. Tin chiến thắng Nhựt Tảo bay đi làm nức lòng quân dân cả nước. Triều đình Huế đã thăng Nguyễn Trung Trực lên chức Quản Cơ, hậu thưởng cho nghĩa quân, cấp tử tuất và hổ trợ tiền cho làng Nhựt Tảo (bị quân Pháp triệt hạ).      
     Thực dân Pháp cũng hết sức bàng hoàng vì chúng không thể ngờ rằng nghĩa quân có thể gây cho chúng tổn thất lớn như thế. Để ghi dấu kỷ niệm ''đau thương'' này, Thực dân Pháp đã cho xây dựng một bia tưởng niệm bên bờ sông Nhựt Tảo .Thời gian lặng lẽ trôi, vàm Nhựt Tảo vẫn còn đó như gợi lại trong lòng khách vãng lai một niềm hoài cổ. Tàu L' Espérance sau gần 120 năm nằm yên dưới đáy sông sâu đã được khai quật. Tổng số hiện vật thu được là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 hiện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu như cong đà, be, lườn, cột buồm. Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhưng tàu L' Espérance vẩn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã được bảo quản và trưng bày tại Bảo Tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ.
     Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhựt Tân, du khách sẽ được ngắm nhìn vùng sông nước hữu tình vàm Nhựt Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nước trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dưới rặng dừa nước và một số loài cây hoang dại như vẹt, bần, đước, mắm. Cách vàm 200m là chiếc cầu treo bắc qua sông Nhựt Tảo nối liền 2 xã An Nhựt Tân và Bình Trinh Đông. Những buổi bình minh đứng trên cầu treo nhìn ra vàm sông ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp như tranh nơi đây. Sương tan là đà trên mặt sông dài như được nhuốm hồng bởi ánh bình minh, đó đây văng vẳng tiếng hò khoan dìu đặt của người dân chài lưới. Gần vàm là ngôi chợ khá lâu đời, hiện vẩn còn 2 dãy phố lợp ngói khá cổ kính. Đối diện chợ là trụ sở ủy ban nhân dân xã An Nhựt Tân. Khuôn viên ủy ban có bia kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo được xây dựng năm 1980. Nói chung dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- người đầu tiên duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lược bằng mưu trí và lòng dũng cảm dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những người ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lược. 135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó. Một dự án tôn tạo di tích quy mô đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và bước đầu thực hiện. Trong tương lai, đền thờ, tượng đài anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực và những hạng mục công trình khác sẽ được xây dựng bên bờ vàm Nhựt Tảo, sẽ làm cho vùng sông nước nên thơ này không những có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị tham quan du lịch.

18/12/2014 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/nhattao.JPG
Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến
Ngả Tư Rạch Kiến là giao lộ 18 và 19 tại trung tâm xã Long Hòa, huyện Cần Đước.Nơi đây, trong không gian khoảng 1km2,đây đó những sân bay dã chiến,bãi pháo, câu lạc bộ sĩ quan, khu trại quân sự ... của căn cứ Mỹ gợi lại một thời gian khổ và hào hùng trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến - một thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo thể hiện ý chí và sáng tạo của Đảng bộ và quân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1965 chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của địch bị phá sản hoàn toàn. Để ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn,Mỹ dấn sâu một bước can thiệp, trực tiếp đỗ quân vào miền Nam thực hiện ''chiến tranh cục bộ''. Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 sư đoàn 9 bộ binh Mỹ ồ ạt đổ quân lập căn cứ tại Rạch Kiến gồm: 1 tiểu đoàn bộ binh; 1 tiểu đoàn pháo binh có 4 khẩu cối 106,107mm, 4 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu pháo 57mm; một đại đội công binh cùng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như xe ủi đất, máy dò mìn; một đại đội trinh sát, 4 đại đội máy bay trực thăng; 1 chi đoàn xe bọc thép gồm 20 chiếc M113 và M118. 
     Căn cứ được bố trí dọc 2 bên lộ 18 (nay là tỉnh lộ 826) từ ngả ba đài chiến sĩ (Long Hòa) đến Cầu Đồn (Tân Trạch). Khu vực chính nằm ở hướng Đông Ngã Tư Rạch Kiến gồm hơn 20 doanh trại, phía Tây là trận địa pháo với những bệ bằng bê tông đúc sẳn, phía Bắc là sân bay dã chiến. Khu căn cứ được phòng thủ bằng 6 lớp rào đủ loại xen kẻ với 3 tuyến bãi mìn loại vướng nổ, đạp nổ, điều khiển bằng điện. Toàn bộ khu căn cứ chiếm diện tích khoảng 160.000 m2. Về mặt qui mô, căn cứ Rạch Kiến được xem như một mục tiêu quân sự lớn của Mỹ ở Nam Sài Gòn - nó không thua kém gì căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 25 Mỹ ở Bắc Sài Gòn.

Bia Rạch Kiến

​     Về vị trí chiếc lược đây là mắc xích q​uan trọng , vị trí trung gian giữa Cát Lái - Nhà Bè với Bình Đức - Mỹ Tho hình thành tuyến phòng thủ từ xa về mặt Nam Sài Gòn. Căn cứ Rạch Kiến còn nhằm triệt phá các căn cứ lõm và khu giải phóng ở Nam lộ 4 (Cần Giuộc-Cần Đước ) -địa bàn có vị trí bàn đạp đe dọa trung tâm đầu não Sài Gòn     

    Về phía ta,dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thế trậnVành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được hình thành với phạm vi 12 xã gồm: Long Hòa, Tân Trạch, Long Trạch, Long Khê,Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy(Cần Đước) và Phước Lâm, Thuận Thành ( Cần Giuộc). Ban chỉ huy vành đai là đồng chí Đoàn Văn Nguyễn - bí thư huyện ủy,Nguyễn Văn Nam - chính trị viên C315 và Lê Văn Được (Đô Lương ) - chỉ huy trưởng C315. ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến''  chia làm 3 tuyến với nhiệm vụ cụ thể: tuyến 1 gồm 2 xã có căn cứ Rạch Kiến là Long Hòa và Tân Trạch, du kích bám sát căn cứ gài lựu đạn, cắm chông; phong tỏa các ngã đường ra vào, theo dõi và báo cáo tình hình về Ban chỉ huy Vành đai; tuyến 2 gồm các xã giáp ranh Long Hòa, Tân Trạch, bộ đội địa phương và du kích phân tán đánh nhỏ, lẻ khắp nơi bắng nhiều hình thức, rút nhanh tránh thương vong; tuyến 3 ngoài cùng, bộ đội tỉnh và du kích xã làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc  bằng mọi hình thức chông mìn, ong vò vẻ. Phương châm hoạt động của Vành đai là vừa diệt địch vừa duy trì thế hợp pháp, phối hợp triệt để 3 mũi giáp công : quân sự, chính trị, binh vận duy trì thế bao vây cô lập  căn cứ Mỹ.
    Đánh Mỹ theo kiểu vành đai không phải là mới mẻ. Đó là những kinh nghiệm ở Chu Lai (Đà Nẵng ), Trảng Lớn (Tây Ninh).Nhưng ở những nơi ấy ta dựa vào địa hình rừng núi với lực lượng chủ yếu là du kích.Nét đặc biệt ở vành đai Rạch Kiến là sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của 3 mủi giáp công cùng sự tham gia đánh giặc của đông đảo  quần chúng nhân dân. Dồn mọi nỗ lực,hy sinh vào Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, Đảng bộ và quân dân Cần Đước- Cần Giuộc đã đưa phong trào toàn dân đánh giặc ở đây lên đến đỉnh cao, trở thành ngọn cờ đầu của tỉnh trong thời kỳ này. Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến đã gây tổn thất nặng nề và cô lập căn cứ Mỹ ở Rạch Kiến,làm thất bại hoàn toàn âm mưu triệt phá vùng giải phóng của ta ở Nam lộ 4 để nơi đây trở thành bàn đạp quan trọng ta tấn công vào Sài Gòn năm 1968. Chiến công của quân dân Cần Đước đã được tạc bằng chữ vàng trên bia đá ở di tích Ngã Tư Rạch Kiến để đời sau ghi nhớ:

     ''Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 9 quân viễn chinh Mỹ đánh chiếm Rạch Kiến lập căn cứ. Quân dân 2 huyện Cần Đước- Cần Giuộc với lực lượng vũ trang tỉnh lập nên ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến'' . Gần 1000 ngày chiến đấu dũng cảm, hy sinh gian khổ, quân dân ta tiêu diệt hơn 2000 tên giặc Mỹ, 17 máy bay, 20 xe thiết giáp, thu nhiều phương tiện chiến tranh. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Cần Đước- Cần Giuộc trên ''Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến'' là
đỉnh cao của chiến tranh nhân dân ở Long An góp phần đánh bại chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của Mỹ ở miền Nam-Việt Nam.''Năm 1996 ''Ngã Tư Rạch Kiến'' được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa (1460 QĐ-BT/28-6-1996).

19/12/2014 10:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-12/rachkien.JPG
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030  Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 1390/QĐ-UBND ngày 23/4/2013, với những nội dung chủ yếu sau:

1. Tên quy hoạch: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

2. Chủ đầu tư: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

3. Đơn vị thực hiện: Viện Du lịch Bền vững Việt Nam.

4. Quan điểm phát triển

- Phát triển du lịch Long An nhanh, tương xứng với tiềm năng, nguồn lực phát triển du lịch của tỉnh;

- Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội;

- Phát triển du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững;

- Phát triển du lịch dựa trên sự phát huy nội lực, sức mạnh tổng hợp của các ngành, các thành phần kinh tế, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho ngành du lịch nhằm phát huy các tiềm năng, lợi thế  của tỉnh;

- Phát triển du lịch có trọng tâm trọng điểm, chú trọng hiệu quả gắn với xây dựng thương hiệu, nâng cao tính chuyên nghiệp và năng lực cạnh tranh của du lịch Long An;

- Phát triển du lịch gắn với gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc;

- Phát triển du lịch Long An phải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển du lịch các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là mối quan hệ với thành phố Hồ Chí Minh nhằm tạo nên những sản phẩm du lịch đặc thù hấp dẫn khách du lịch.

5. Mục tiêu phát triển

a) Mục tiêu chung:

Phấn đấu đến năm 2020, du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng của Long An và Long An trở thành điểm đến du lịch vệ tinh hàng đầu của thành phố Hồ Chí Minh ở vùng du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long với hình ảnh đặc trưng là sông Vàm Cỏ trên nền cảnh quan sinh thái Đồng Tháp Mười và thiên đường vui chơi giải trí.

b) Mục tiêu cụ thể:

- Đến năm 2015: đón 12 ngàn lượt khách quốc tế; 540 ngàn lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 34 triệu USD; tỷ lệ đóng góp du lịch trong tổng GDP của tỉnh đạt 5,29%; tạo việc làm cho gần 7.000 lao động;

- Đến năm 2020: đón 45 ngàn lượt khách quốc tế; 1,0 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt 100 triệu USD; tỷ lệ đóng góp du lịch trong tổng GDP của tỉnh đạt 8,23%; tạo việc làm cho trên 15.000 lao động;

- Đến năm 2030: đón 180 ngàn lượt khách quốc tế; 2,0 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch đạt gần 300 triệu USD; tỷ lệ đóng góp du lịch trong tổng GDP của tỉnh đạt 7,43%; tạo việc làm cho gần 40.000 lao động.

6. Các định hướng phát triển chủ yếu

a) Định hướng phát triển thị trường:

- Thị trường nước ngoài gồm: thị trường các nước khu vực ASEAN, Tây Âu, Úc, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

- Thị trường trong nước gồm: thị trường khách du lịch từ thành phố Hồ Chí Minh và khách quá cảnh từ thành phố Hồ Chí Minh đến Đồng bằng Sông Cửu Long.

b) Định hướng phát triển sản phẩm du lịch:

- Các sản phẩm du lịch đặc thù:

+ Du lịch đường thủy sông Vàm Cỏ với trọng tâm là sông Vàm Cỏ Đông.

+ Du lịch sinh thái điển hình vùng Đồng Tháp Mười với trọng tâm là du lịch Láng Sen.

+ Du lịch vui chơi giải trí với trọng tâm là khu du lịch “Happy Land”.

- Các sản phẩm du lịch chính:

+ Du lịch cuối tuần (khu du lịch Phước Lộc Thọ, sân golf, Lâm viên Thanh niên, v.v...).

+ Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng.

+ Du lịch nông thôn (trang trại, làng nghề).

- Các sản phẩm du lịch bổ trợ:

+ Du lịch quá cảnh với trọng tâm du lịch qua cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp.

+ Du lịch tham quan mùa nước nổi với trọng tâm vùng trũng Đồng Tháp Mười.

+ Du lịch tham quan nghiên cứu với trọng tâm là di tích khảo cổ Bình Tả.

c) Tổ chức không gian lãnh thổ du lịch:

* Các không gian phát triển du lịch chính:

-  Không gian du lịch TP. Tân An và phụ cận -  thị trấn Cần Đước với trung tâm du lịch là TP. Tân An.

Tập trung phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch vui chơi giải trí gắn với tham quan cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông; Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa;Du lịch tham quan làng nghề; Du lịch tham quan nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn; Du lịch tham quan trang trại - miệt vườn.

- Không gian du lịch Mộc Hóa - Tân Hưng với trung tâm du lịch là thị trấn Mộc Hóa:

Tập trung phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch sinh thái và tham quan cảnh quan hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười; Du lịch quá cảnh qua cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp; Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa; Du lịch tham quan cảnh quan sông Vàm Cỏ Tây.

- Không gian du lịch Đức Hòa - Đức Huệ với trung tâm du lịch là thị trấn Đức Hòa:

Tập trung phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch tham quan các di tích lịch sử cách mạng, di tích văn hóa; Du lịch tham quan cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông; Du lịch vui chơi giải trí cuối tuần; Du lịch tham quan nghiên cứu di tích khảo cổ.

* Các địa bàn trọng điểm du lịch đóng vai trò động lực phát triển du lịch:

- Thành phố Tân An - thị trấn Bến Lức.

- Khu vực Tân Lập - cửa khẩu Bình Hiệp.

- Khu vực khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen.

- Khu vực thị trấn Đức Hòa và phụ cận.

* Các điểm du lịch chính:

- Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế: Tổ hợp vui chơi giải trí du lịch ”Happy Land”; Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen; Khu sinh thái Làng nổi Tân Lập; Khu di tích lịch sử Cách mạng Long An; Khu phế tích kiến trúc khảo cổ Bình Tả; Khu thương mại du lịch cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp.

- Các điểm du lịch có ý nghĩa vùng và địa phương: Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười;Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức; Bảo tàng Long An; Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự); Đình Vĩnh Phong; Chùa Tôn Thạnh; Chùa Linh Sơn; Khu di tích Vàm Nhựt Tảo; Khu di tích Căn cứ xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ; Nhà Trăm Cột; Đồn Rạch Cát; Khu di tích Ngã tư Đức Hòa; Khu vui chơi giải trí Hồ Khánh Hậu; Núi Đất - Mộc Hóa.

* Các tuyến du lịch chính:

-  Tuyến du lịch nội tỉnh:

+ Tuyến TP. Tân An - Mộc Hóa - Láng Sen;

+ Tuyến TP. Tân An - Đức Hòa - Đức Huệ;

+ Tuyến TP.Tân An - Cần Đước - Cần Giuộc;

+ Tuyến du lịch đường sông: dọc theo sông Vàm Cỏ Đông (đoạn từ Đức Hòa - Hiệp Hòa và từ Bến Lức - Tân Trụ) và Vàm Cỏ Tây (đoạn từ Tân Lập - Mộc Hóa - chùa Nổi).

- Tuyến du lịch liên tỉnh:

+ Tuyến TP. Tân An - TP. Hồ Chí Minh;

+ Tuyến TP. Tân An - Cần Thơ - các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long;

+ Tuyến TP. Tân An - Tây Ninh.

- Các tuyến du lịch quốc tế qua cửa khẩu Bình Hiệp: đây là tuyến du lịch quan trọng  nhằm không chỉ đưa khách du lịch Việt Nam đi du lịch Campuchia và qua đó đến các nước ASEAN bằng đường bộ mà ngược lại thu hút khách du lịch quốc tế, trước hết là khách du lịch Campuchia, Thái Lan, ASEAN đến với Long An và Việt Nam.

d) Định hướng phát triển hệ thống các công trình cơ sở vật chất du lịch:

- Phát triển hệ thống lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 1-2 sao trên các địa bàn trọng điểm du lịch gắn với các trung tâm du lịch. Các khách sạn trung và cao cấp từ 3 đến 5 sao chủ yếu tập trung gắn với các khu vui chơi giải trí cao cấp “Happy Land” (Bến Lức), khu du lịch Phước Lộc Thọ và sân golf Đức Hòa.

- Phát triển hệ thống các cơ sở vật chất phục vụ du lịch MICE như trung tâm hội nghị, hội thảo, triển lãm, ... tại khu vực thành phố Tân An và khu du lịch “Happy Land” (Bến Lức).

- Phát triển hệ thống cơ sở vui chơi giải trí - thể thao tại các khu vực đô thị lớn như thành phố Tân An, thị trấn Đức Hòa.

- Phát triển hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị, hệ thống cửa hàng, khu chợ đêm và khu ẩm thực tại khu vực thành phố Tân An, thị trấn Bến Lức, Mộc Hóa dọc quốc lộ 1A, quốc lộ 62, ... phục vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch.

đ) Định hướng đầu tư du lịch:

- Lĩnh vực ưu tiên đầu tư:

+ Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng, đặc biệt là giao thông phục vụ phát triển du lịch.

+ Đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù.

+ Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở lưu trú, các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao và mua sắm phục vụ du lịch.

+ Đầu tư tu bổ, tôn tạo và bảo vệ các di tích văn hóa - lịch sử và phát triển các làng nghề truyền thống phục vụ du lịch.

+ Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch.

- Các nguồn vốn đầu tư:

+ Vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư các hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, các dự án tu bổ tôn tạo di tích, tuyên truyền quảng bá chung...

+ Nguồn vốn ngoài ngân sách (vốn tích luỹ của các doanh nghiệp du lịch, vốn vay ngân hàng, vốn đầu tư tư nhân, vốn đầu tư FDI, ODA) là nguồn vốn chính đầu tư phát triển du lịch Long An.

7. Một số giải pháp chủ yếu

a) Giải pháp về tăng cường công tác quản lý quy hoạch:

Rà soát, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các quy hoạch du lịch chi tiết, các dự án du lịch đã được phê duyệt; tiếp tục xây dựng quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch đã được lựa chọn, xác định và cắm mốc chỉ giới phạm vi sử dụng đất, quản lý và thực hiện có hiệu quả việc đầu tư theo quy hoạch.

Các sở, ban, ngành chức năng khi xây dựng quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực cần tính đến các yếu tố hỗ trợ phát triển du lịch. UBND các huyện và thành phố Tân An trên cơ sở quy hoạch này xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch trên địa bàn.

b) Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch:

Tập trung vốn ngân sách đầu tư đồng bộ có trọng tâm, trọng điểm để kích thích xã hội hoá đầu tư du lịch. Trước mắt ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng tại các khu, điểm du lịch trọng điểm du lịch của tỉnh.

Thực hiện xã hội hoá đầu tư phát triển du lịch, tạo các điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, dịch vụ hỗ trợ đầu tư để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch. Mở rộng các hình thức thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước như hình thức BT, BOT, BTO,...

c) Giải pháp về chính sách phát triển du lịch:

Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng nghiên cứu hoàn thiện và áp dụng hệ thống các cơ chế chính sách đặc thù trong các lĩnh vực về thuế, về đầu tư, về đào tạo nhân lực, thị trường,...nhằm tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Long An

d) Giải pháp về xúc tiến, tuyên truyền quảng bá:

Tăng cường công tác xúc tiến, tuyên truyền quảng bá. Xây dựng thương hiệu và hình ảnh du lịch Long An theo chủ đề: Du lịch sông nước Vàm Cỏ và Thiên đường giải trí. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức du lịch trong cộng đồng dân cư. Triển khai thực hiện đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền quảng bá, các kênh quảng bá đến các thị trường du lịch trong và ngoài nước, trước mắt là thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Lồng ghép hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch với các sự kiện văn hoá, thể thao lớn của tỉnh. Xây dựng hệ thống các trung tâm hướng dẫn và cung cấp thông tin về du lịch tỉnh ở những đầu mối giao thông quan trọng, ở các trọng điểm du lịch. Nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của Trung tâm xúc tiến du lịch Long An. Đặt văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm trong và ngoài nước.

đ) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực:

Rà soát và bồi dưỡng đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có, thực hiện chính sách thu hút nhân tài trong lĩnh vực du lịch. Từng bước áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam. Khuyến khích các doanh nghiệp du lịch tham gia các chương trình đào tạo bồi dưỡng nhân lực. Tư vấn, hướng dẫn, bồi dưỡng cộng đồng dân cư nghiệp vụ làm du lịch. Xây dựng và thu hút đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo du lịch hoặc có ngành nghề du lịch. Hướng đến lồng ghép bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch trong các chương trình giáo dục phổ thông của tỉnh. Trước mắt ưu tiên tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng hình thành đội ngũ hướng dẫn viên tại các điểm di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng trọng điểm.

e) Giải pháp về liên kết, hợp tác về du lịch:

Mở rộng, tăng cường hợp tác liên kết phát triển du lịch với các địa phương trên cả nước, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong phát triển du lịch Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) và với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để phát triển du lịch trên tuyến du lịch xuyên Á qua thành phố Hồ Chí Minh. Tăng cường hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi để các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đầu tư phát triển du lịch Long An, trước mắt là các đối tác đã và đang đầu tư vào khu du lịch quốc gia “Happy Land” trên địa bàn tỉnh Long An.Thường xuyên đối thoại với doanh nghiệp du lịch để cùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động kinh doanh với việc thực hiện tốt các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực du lịch.

g) Giải pháp về bảo vệ môi trường:

Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ môi trường chung của tỉnh với môi trường du lịch. Cụ thể hoá Luật du lịch, Luật bảo vệ môi trường và quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Có nội quy công khai và phương tiện bảo vệ môi trường từng điểm đến. Tăng cường nhận thức về bảo vệ môi trường tới cộng đồng dân cư. Kiện toàn và tổ chức bộ máy quản lý môi trường du lịch từ tỉnh đến cơ sở. Có cơ chế khuyến khích áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào bảo vệ môi trường. Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế trong việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ bảo vệ môi trường chung cũng như môi trường du lịch nói riêng của tỉnh.

20/08/2013 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-07/langnoi.jpg
Tài nguyên nước mặn, nước ngầm Tài nguyên nước mặn, nước ngầm
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt của tỉnh Long An nối liền với sông Tiền và hệ thống sông Vàm Cỏ là các đường dẫn tải và tiêu nước quan trọng trong sản xuất cũng như cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư.

Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ Campuchia, qua tỉnh Tây Ninh và vào địa phận Long An: diện tích lưu vực 6.000 km2, độ dài qua tỉnh 145 km, độ sâu từ 17 - 21 m. Nhờ có nguồn nước hồ Dầu Tiếng đưa xuống 18,5 m3/s nên đã bổ sung nước tưới cho các huyện Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức và hạn chế quá trình xâm nhập mặn của tuyến Vàm Cỏ Đông qua cửa sông Soài Rạp. Sông Vàm Cỏ Đông nối với Vàm Cỏ Tây qua các kênh ngang và nối với sông Sài Gòn, Đồng Nai bởi các kênh Thầy Cai, An Hạ, Rạch Tra, sông Bến Lức.
     Sông Vàm Cỏ Tây độ dài qua tỉnh là 186 km, nguồn nước chủ yếu do sông Tiền tiếp sang qua kênh Hồng Ngự, đáp ứng một phần nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân cư.
     Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu thành sông Vàm Cỏ dài 35 km, rộng trung bình 400 m, đổ ra cửa sông Soài Rạp và thoát ra biển Đông.
     Sông Rạch Cát (Sông Cần Giuộc) nằm trong địa phận tỉnh Long An dài 32 km, lưu lượng nước mùa kiệt nhỏ và chất lượng nước kém do tiếp nhận nguồn nước thải từ khu vực đô thị -TP Hồ Chí Minh, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư.
     Nhìn chung nguồn nước mặt của Long An không được dồi dào, chất lượng nước còn hạn chế về nhiều mặt nên chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống.
     Trữ lượng nước ngầm của Long An được đánh giá là không mấy dồi dào và chất lượng không đồng đều và tương đối kém. Phần lớn nguồn nước ngầm được phân bổ ở độ sâu từ 50 - 400 mét thuộc 2 tầng Pliocene - Miocene.
     Tuy nhiên tỉnh có nguồn nước ngầm có nhiều khoán chất hữu ích đang được khai thác và phục vụ sinh hoạt dân cư trên địa bàn cả nước.
     Khi gặp mưa lớn hoặc lũ về, kết hợp với triều cường thường gây ngập lụt ở khu vực ven sông nhất là vùng hạ. Để khai thác có hiệu quả tài nguyên nước mặt ở Long An, ngoài giải pháp mở rộng kênh tạo nguồn, cần thiết phải xây thêm hồ chứa nước phụ ở những khu vực thiếu nguồn.
     Trong tương lai cần phải xác định rỏ trữ lượng nguồn nước ngầm, địa bàn phân bổ, khả năng tái tạo để có kế hoạch khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững.

28/11/2014 4:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hệ thống cấp điện Hệ thống cấp điện
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng điện, quy hoạch phát triển điện cần tính toán hạ thế các lưới trung thế hiện hữu và xác định rõ lộ trình xóa điện kế tổ để phục vụ tốt cho nhu cầu nhân dân. Đồng thời, quy hoạch cần quan tâm đến cải tạo lưới điện hiện hữu nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng

Mạng lưới điện :

Lưới điện cung cấp cho tỉnh Long An gồm các trạm biến áp trung gian và cụm phát điện như sau :

  • Trạm Tân An:Trạm Tân An 1: 110/22/15KV(40 MVA); Trạm Tân An 2: 110/22/15 KV(40MVA)
  • Trạm Bến Lức: (65MVA)
  • Trạm Mộc Hóa: 110/22/15 KV(25 MVA).
  • Trạm Cần Đước ( 16MVA)
  • Trạm Đức Hòa: 110/22/15(40MVA)
  • Trạm Phú Lâm: điện thế 110/15 KV, dung lượng 40 MVA cung cấp cho thành phố và một phần cho huyện Cần Giuộc.
  • Trạm Cai Lậy: điện thế 66/15 KV, dung lượng 10 MVA cung cấp cho tỉnh Tiền Giang và một phần cho các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh và Thạnh Hóa.
  • Trạm Trảng Bàng: điện thế 66/15 KV, dung lượng 12,5 MVA cung cấp cho Tây Ninh và một phần cho huyện Đức Hòa và Đức Huệ.

     

  • Trạm Diesel: gồm có diesel đặt tại thành phố Tân An có công suất 565 Kw.

     

    Ngoài ra còn có những đơn vị lớn tự đầu tư trạm riêng như: Cty TNHH Giày Ching Luh(có công suất: 25 MVA); Cty TNHH Formosa Taffeta Việt Nam(có công suất 10 MVA); Cty Vina-Chung Shing(có công suất 25MVA).

     

    Nhìn chung, các trạm biến áp của tỉnh đều trong tình trạng thừa tải, các nguồn diesel dự phòng chỉ có thể đáp ứng một phần nhu cầu điện năng cho các hộ sử dụng điện ưu tiên trong lúc mất điện .

  • Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2015 có xét đến 2020 với các chỉ tiêu chủ yếu sau:

    I. Phụ tải điện

    Phụ tải điện được tính toán dự báo nhằm đáp ứng đủ nhu cầu điện cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An với tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn 2011 - 2015 đạt 14,0%/năm; Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,3%/năm.

    - Năm 2015: Dự báo công suất cực đại Pmax= 772,3MW, điện thương phẩm 4507,9 triệu kWh. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2011-2015 là 20,2%/năm.

    - Năm 2020: Dự báo công suất cực đại Pmax=1528,0MW; điện thương phẩm 9.428,8 triệu kWh. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2016 - 2020 là 15,9%/năm.

    II. Khối lượng xây dựng

    Khối lượng xây dựng tính toán trong đề án chỉ bao gồm lưới điện xây dựng trên địa bàn các huyện, thành phố tỉnh Long An

    1. Lưới 220, 110kV:

    a- Giai đoạn 2011 - 2015:

    - Đường dây 220kV:

    + Xây dựng mới 70,7km đường dây

    + Cải tạo 144,0km đường dây

    - Trạm 220kV:

    + Nâng công suất trạm 220kV Long An 2, (2x250)MVA

    + Xây dựng mới trạm Đức Hòa 2 - (2x250)MVA

    +  Xây dựng mới trạm Bến Lức 2 - (1x250)MVA.

    + Xây dựng mới trạm Cần Đước - (1x250)MVA.

    - Đường dây 110kV:

    + Xây dựng mới 15 tuyến đường dây với tổng chiều dài 82,5km.

    - Trạm 110kV:

     + Xây mới 15 trạm biến áp tổng dung lượng 923MVA (trong đó có 5 trạm khách hàng với tổng dung lượng là 305MVA, gồm: trạm Lê Long: 40MVA, trạm khu công nghiệp Xuyên Á: 2x40 MVA, trạm Vĩnh lộc 2: 40 MVA, khu công nghiệp Thuận Đạo 40+25MVA và khu công nghiệp Phú An Thạnh: 2x40MVA).

    + Cải tạo lắp máy 2, nâng công suất cho 5 trạm biến áp với tổng dung lượng 145MVA.

    b- Giai đoạn 2016 - 2020:

    - Đường dây 220kV:

    + Xây dựng mới 2 tuyến đường dây chiều dài 32km.

    - Trạm 220kV:

    + Lắp máy 3 trạm 220kV Đức Hòa 2  thành (3x250)MVA.

    + Lắp máy 2 trạm 220kV Bến Lức 2  thành (2x250)MVA.

    + Lắp máy 2 trạm 220kV Cần Đước  thành (2x250)MVA.

    + Xây dựng mới trạm 220kV Bến Lức 3 - (2x250)MVA.

    - Đường dây 110kV:

    + Xây dựng mới 11 tuyến đường dây với tổng chiều dài 167,5km.

    - Trạm 110kV:

     + Xây mới 8 trạm biến áp tổng dung lượng 664MVA

     + Cải tạo lắp máy 2, nâng công suất cho 10 trạm biến áp với tổng dung  lượng 710MVA

    2. Lưới phân phối:

    a- Giai đoạn 2011 -- 2015:

    - Đường dây 22kV:

    + Xây mới: 779,4 km

    + Cải tạo: 505,5 km

    - Trạm biến áp 22/0,4kV:

    + Xây mới: trạm biến áp tổng dung lượng 588.572,5kVA

    - Hạ thế:

    + Xây mới 1.260 km; lắp đặt  89.386 công tơ

    b- Giai đoạn 2016 - 2020:

    - Đường dây 22kV:

    + Xây mới: 541,3 km

    + Cải tạo: 252,7 km

    - Trạm biến áp 22/0,4kV:

    + Xây mới trạm biến áp tổng dung lượng 353.143,5kVA

    - Hạ thế:

     + Xây mới 756 km; lắp đặt 28.931công tơ

    III. Vốn đầu tư

    Giai đoạn 2011 - 2015 tổng vốn đầu tư cần huy động là: 6.847.737 triệu đồng

    Trong đó:

    Lưới điện 220kV:  3.809.470 triệu đồng

    Lưới điện 110kV: 1.851.100470 triệu đồng

    Lưới điện 22kV: 938.322 triệu đồng

    Lưới điện hạ thế: 248.845 triệu đồng

    Tổng cộng: 6.847.737 triệu đồng

    - Để nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng điện, quy hoạch phát triển điện cần tính toán hạ thế các lưới trung thế hiện hữu và xác định rõ lộ trình xóa điện kế tổ để phục vụ tốt cho nhu cầu nhân dân. Đồng thời, quy hoạch cần quan tâm đến cải tạo lưới điện hiện hữu nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng.

    - Hàng năm, UBND tỉnh trình Thường trực HĐND tỉnh thông qua việc cho tạm ứng vốn ngân sách tỉnh cho ngành điện (không tính lãi) để đáp ứng phần nào nhu cầu cải tạo, phát triển lưới điện trung và hạ thế khu vực nông thôn.

    - Việc đầu tư xây dựng lưới điện là một trong các kết cấu cơ sở hạ tầng quan trọng, là điều kiện tiên quyết để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện đời sống người dân. Vì vậy, việc huy động nguồn lực đầu tư cho dự án quy hoạch phát triển điện lực của tỉnh là cần thiết và cấp bách.

28/11/2014 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2014-11/image-upload-1.jpg
Tài nguyên rừng Tài nguyên rừng
     Năm 1976 diện tích đất rừng của tỉnh Long An là 93.902 ha, chủ yếu là rừng tràm tạo nên hệ cân bằng sinh thái cho toàn khu vực Đồng Tháp Mười. Đến năm 1999 diện tích rừng còn lại là 37.829 ha, chiếm 8,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Trong đó : rừng tự nhiên là 1.553 ha, rừng trồng là 36.276 ha tập trung chủ yếu là các huyện Đồng Tháp Mười (Tân Hưng 13.731 ha, Tân Thạnh 5.540 ha, Mộc Hóa 4.581 ha, Vĩnh Hưng 3.035 ha, Thạnh Hóa 2.850 ha, Đức Hòa 1.243 ha và Đức Huệ 1.072 ha).
     Năm 2000 diện tích rừng là 44.481 ha. Cây trồng chủ yếu là cây tràm, cây bạch đàn. Theo điều tra đến tháng 6/2003 tổng diện tích rừng trồng tập trung 64.462 ha.Tổng trữ lượng rừng khoảng 71.715 m3 gỗ bạch đàn và 29, 77 triệu cây cừ tràm. Ngoài ra Long An là một trong những địa phương có phong trào trồng cây phân tán rất mạnh. 
     Nguồn tài nguyên động thực vật của hệ sinh thái rừng tràm trên đất trũng phèn ở Long An đã bị khai thác và tàn phá nặng nề. Từ đó đã tạo ra những biến đổi về điều kiện sinh thái, gây ra ô nhiễm môi trường, những đổi thay môi trường sống tự nhiên của sinh vật, tác động đến quá trình phát triển bền vững. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc giảm sút rừng là do quá trình tổ chức và khai thác thiếu quy hoạch, phần lớn diện tích đất rừng chuyển sang đất trồng lúa. 
     Trong tương lai tỉnh cần có chủ trương khôi phục dần hệ sinh thái rừng tràm . . .Đồng thời cố gắng duy trì một số khu vực bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên.

05/11/2008 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2014-08/TaiNguyenRung.jpg
1 - 30Next

​CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LONG AN​​

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND tỉnh.

​​Chịu trách nhiệm chính: Chánh Văn phòng​​​ UBND tỉnh

​Địa chỉ: 61 Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An, Long An.

Email: webmaster@longan.gov.vn – ĐT: 02723. 552.489.

​​​Giấy phép số: 01/GP.TTĐT-STTTT ngày 03/3/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông.​​

​​ ​