Go Search
Nhà thơ Hoài Vũ với những tác phẩm viết về Long An trong kháng chiến chống Mỹ 
16/10/2012 8:19 
 

Long An trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là chiến trường nơi cửa ngõ Sài Gòn ác liệt và nóng bỏng nhưng đầy tình  thương yêu,  không ngẫu nhiên có sức hút kỳ lạ đối với văn nghệ sĩ cách mạng. Hiện thực phong phú, giàu chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tấm lòng kiên trinh, nồng hậu của đồng bào và những thủ đoạn tàn bạo của địch ở nơi đây là chất liệu quý báu đối với người sáng tác. Tiêu biểu trong những văn nghệ sĩ ấy, gắn bó sâu sắc nhất với Long An là nhà thơ Hoài Vũ.

Hoài Vũ tên thật là Nguyễn Ðình Vọng, sinh ngày 25-8-1935 tại Quảng Ngãi, nhưng sự nghiệp văn chương cách mạng của Hoài Vũ hoàn toàn gắn với Nam bộ, đặc biệt là Long An. Với tư cách là Ủy viên thường trực Hội văn nghệ “R”, Hoài Vũ có mặt xuyên suốt ở chiến trường Long An từ cuối 1963, lúc mà phong trào văn nghệ kháng chiến ở địa phương chuyển biến và lớn mạnh lên theo phong trao cách mạng cho đến ngày thắng lợi 1975, đã đặt chân lên hầu khắp Long An, từ vùng bưng trấp Đồng Tháp Mười đến miền hạ “chân trời bát ngát”, từng trải qua những thời điểm gian khổ, ác liệt nhất, đã sống, chiến đấu và dành những tình cảm tốt đẹp nhất để ngợi ca mảnh đất “trung dũng kiên cường” của hai sông Vàm Cỏ. Trong suốt thời gian ấy, những tác phẩm của Hoài Vũ đã lần lượt ra đời mà như ông thổ lộ, đó là sự kết tinh  từ những tấm lòng và vốn sống thực tế. Vốn sống và tấm lòng của chính ông, của đồng đội và của nhân dân ngay trên chiến trường Long An khắc nghiệt đầy đầy nghĩa tình này.
 

Nhà thơ Hoài Vũ 

Bài nhạc Vàm Cỏ Đông và chữ ký của Nhà thơ 


Về thơ, trong 4 tập thơ đã xuất bản là Vàm Cỏ Đông, Anh ở đầu sông em cuối sông, Đi trong hương tràm, Chia tay hoàng hôn, phần lớn là thơ viết về Long An. Và tên của những tập thơ này đều lấy tên của những bài thơ nổi tiếng viết về Long An và đã được phổ nhạc như Vàm Cỏ Đông (Trương Quang Lục phổ), Anh ở đầu sông, em cuối sông (Phan Huỳnh Điểu phổ), Đi trong hương tràm, Chia tay hoàng hôn (Thuận Yến phổ) đã góp phần động viên đồng bào, chiến sĩ Long An và miền Nam nói chung, ngoan cường chiến đấu giải phóng quê hương.

Về văn, phần lớn các tập truyện như Tiếng sáo trúc, Rừng dừa xào xạc, Quê chồng, Bông sứ trắng, Vườn ổi... qua mục đọc truyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam, cuộc sống chiến đấu ác liệt, đầy gian khổ nhưng rất hào hùng của quân dân Long An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được bạn nghe đài là đồng bào, chiến sĩ cả nước biết đến, theo dõi và có nhiều ấn tượng sâu sắc.

Đặc biệt, trong mảng văn thì bút ký là thể loại được nhà thơ Hoài Vũ thể hiện nhiều nhất do yêu cầu bức xúc của chiến trường, phải nêu ngay những người thật, việc thật, những tấm gương, những đơn vị anh hùng từ thực tế ác liệt của chiến tranh để phục vụ kháng chiến. Toàn bộ bút ký Bên Sông Vàm Cỏ (gồm 10 bút ký), nhà thơ đã phản ánh cuộc sống, sinh hoạt và chiến đấu của quân dân Long An. Từ Anh kỹ sư giải phóng (viết về liệt sĩ Nguyễn Văn Lớn ở Đức Huệ, chuyên sản xuất vũ khí tự tạo, thường gọi là Kỹ sư lớn) cho đến những cô Gái Lương Hoà đánh giặc như việc chặt mía, trồng thơm; hay hai cha con ông già ở Bến Lức 3 tháng liền ròng rã Đường ra tiền tuyến; hình ảnh những cô gái mười tám đôi mươi cười trong gian khổ, lạc quan trước cả cái chết trong Nữ pháo binh thành phố hay Cánh én trong vườn thơm, và câu chuyện về đội thiếu niên du kích bí mật với những người đội trưởng tuyệt vời như trong Chim Quyên... đều là những hình ảnh của cuộc chiến tranh nhân dân ở Long An thu nhỏ lại.

Ngoài ra còn hơn 50 bút ký viết về Long An, trong đó rất nhiều tác phẩm đã gửi ra miền Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và đăng trên các báo Nhân Dân (Làng hầm, Vàm Cỏ Tây dậy sóng), Thống Nhất (Sấm sét trên lộ Đông Dương, Con đê đánh Mỹ, Du kích Đức Tân) ...

 Nói đến những tác phẩm của Hoài Vũ viết về Long An không thể không nhắc đến bài thơ Vàm Cỏ Đông, một trong những bài thơ tình hay nhất trong nền thơ chống Mỹ, có sức sống mãnh liệt qua thời gian, trở thành biểu tượng hào hùng và lãng mạn của mảnh đất “trung dũng kiên cường”. Một đêm, Hoài Vũ cùng Giang Nam qua sông Vàm Cỏ Đông trong sự rập rình của tàu địch, về nằm giấu mình trong một chòi vịt của dân ở giữa đồng thuộc xã Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ. Đêm ấy, Giang Nam viết bài thơ Qua sông Vàm Cỏ, còn Hoài Vũ đã hoàn thành bài thơ Vàm Cỏ Đông. Bài thơ Vàm Cỏ Đông không lâu sau đó được Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trên cả nước. Năm 1966, vào thời kỳ không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, trong một đêm khuya mùa hè, nhạc sỹ Trương Quang Lục (cũng là người Quảng Ngãi, khi ấy đang là kỹ sư hóa chất của Nhà máy Super photphat Lâm Thao), chợt nghe trong buổi Tiếng thơ của Đài tiếng nói Việt Nam giọng của ai đó (nghệ sĩ Trần Thị Tuyết ) đang ngâm bài thơ Vàm Cỏ Đông của nhà thơ Hoài Vũ từ miền Nam gửi ra, lời thơ và giọng ngâm thật tha thiết. Ông xúc động, miên man suy nghĩ. Lên giường nằm, trước khi ngủ ông giở tờ báo Văn Nghệ vừa mới nhận được lúc chiều, lại chợt thấy đăng bài thơ Vàm Cỏ Đông. Ông ngồi bật dậy, đọc đi đọc lại, vừa đồng cảm lại vừa tâm đắc vì ở tận miền Bắc xa xôi lại có người gợi lên một dòng sông xanh mát quanh năm ở tận miền Nam với tất cả tấm lòng tha thiết, thủy chung cùng ý chí kiên cường chống giặc... Và ca khúc Vàm Cỏ Đông ra đời chỉ sau hơn một tiếng đồng hồ ngay trong đêm hôm ấy. Bằng giai điệu giàu chất trữ tình và sâu lắng, bài thơ Vàm Cỏ Đông sau khi phổ nhạc càng được phổ biến rộng rãi và có sức lay động lớn góp phần thôi thúc thanh niên ra trận. Nhà thơ Vĩnh Mai trong một bài viết trên báo Văn Nghệ, cho rằng Vàm Cỏ Đông có chất “ma mị” nên có sức thu hút lớn. Nhà thơ Nguyễn Trọng Oánh mở đầu bài thơ nổi tiếng Ra quân trên chiến trường miền Đông bằng cảm hứng từ Vàm Cỏ Đông:

Ôi câu thơ tự lâu rồi ta nhắc:

“ Quê hương anh cũng có dòng sông”

Dòng sông ấy ngày đêm ta thao thức:

“ Vàm Cỏ Đông, ơi Vàm Cỏ Đông”. 

Sau hiệp định Pa- ri năm 1973, các nhà báo Nguyễn Đức Giáp, Hoàng Lượng, Đinh Phong, Cao Kim, Lê Văn Duy, Đình Lập, Hữu Phước, Hoài Vũ ... được cử vào đoàn nhà báo Giải Phóng làm việc trong Ban trao trả tù binh. Cô Ba Thi đã chỉ đạo chọn một băng nhạc thật hay để phát. Và bài Vàm Cỏ Đông của nhạc sỹ Trương Quang Lục phổ thơ Hoài Vũ là một trong những bài hát được chọn phát khi làm việc.

Trên đây cũng chỉ là những tác phẩm tiêu biểu trong hầu như toàn bộ tác phẩm của Hoài Vũ đều viết về Long An. Trong một cuộc gặp nhà thơ vào tháng 3 năm 2005 để lấy tư liệu viết lịch sử ngành Văn hóa-Thông tin tỉnh Long An, tác giả được nghe ông thổ lộ rằng Long An là quê hương thứ hai của mình, nơi đã cung cấp nguồn sáng tạo vô tận cho trang viết của ông.

Có thể nói rằng, mảnh đất Long An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được cả nước biết đến, được cả nước mến yêu hơn, có một phần qua chất thơ văn lãng mạn, chân thật và đầy sâu lắng của Hoài Vũ./.

                         Nguyễn Tấn Quốc