Go Search
Đức Huệ, huyện giải phóng đầu tiên ở Khu 8 
23/02/2012 8:46 
 

Đức Huệ vào cuối thế kỷ XIX là vùng đất thuộc huyện Thuận An, rồi Cửu An của phủ Tân An, đầu thế kỷ XX thuộc quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Sau cách mạng tháng 8-1945, chính quyền kháng chiến lập khu Đông Thành, rồi huyện Đông Thành thuộc tỉnh Chợ Lớn, đến năm 1951 nhập với huyện Đức Hòa thành huyện Đức Hòa Thành, thuộc tỉnh Gia Định Ninh, sau 1954 cắt lại thuộc quận Thủ Thừa. Năm 1959, quận Đức Huệ chính thức được thành lập (Sắc lệnh 48/NV-VNCH, ngày 3/3/1959), gồm 3 xã của quận Đức Hòa, 5 xã thuộc đất Đông Thành. Năm 1963, Đức Huệ cùng với Đức Hòa, Trảng Bàng và Củ Chi lập thành tỉnh Hậu Nghĩa (Sắc lệnh 12/NV-VBCH ngày 15/10/1963). Sau ngày giải phóng 1975, Đức Huệ trở vể thuộc tỉnh Long An đến ngày nay.

Là vùng đất kiên cường trong hai cuộc kháng chiến và trong cuộc chiến tranh bảo vệ vùng đất biên cương phía Tây Nam Tổ quốc, nói đến Đức Huệ, không thể không nói đến chiến công là huyện được giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8 trong kháng chiến chống Mỹ.

Khu trù mật điển hình ở Nam Bộ

 Nhân dân Đức Huệ phá khu trù mật trở về vườn cũ.

Đức Huệ là địa bàn có vị trí quan trọng đối với cả ta và địch trong kháng chiến chống Mỹ. Là nơi tiếp giáp giữa miền Đông với miền Tây Nam Bộ và phía Đông Campuchia, cách Sài Gòn 40 km đường chim bay, Đức Huệ là bàn đạp quan trọng tấn công vào đầu não của ngụy quyền ở Sài Gòn, và là hành lang cho cả mặt trận Tây Nam thành phố.

Chính vì vậy, từ năm 1957, trong chương trình thực hiện quốc sách Dinh điền mà đế quốc Mỹ đã tài trợ 11 triệu đô la, chính quyền Diệm đã chọn Quéo Ba, xã Mỹ Quý (nay thuộc xã Mỹ Quý Tây) để xây dựng khu trù mật vào loại điển hình ở Nam Bộ, nhằm cô lập quần chúng nhân dân với lực lượng cách mạng ở đây- một mô hình chống Cộng mà địch rút kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến tranh ở Malayxia. Giới chóp bu của địch vì thế mà rất quan tâm đến khu trù mật Quéo Ba. Đằng sau những lời lẽ mỵ dân để che đậy ý đồ thâm độc của chính sách dinh điền, khu trù mật, tỉnh trưởng Long An Mai Ngọc Dược lên Đức Huệ ba hoa rằng: “Ý nghĩa khu trù mật là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng bác ái, đồng tiến xã hội trong một nước kém mở mang”. Để xây dựng khu trù mật Quéo Ba, Mỹ-Diệm bắt dân 8 quận trong tỉnh có lúc lên đến hàng vạn người đi làm lao công ở đây, đồng thời lập thêm 3 khu gom dân lớn ở Giồng Bò, Giồng Bún, Tràm Bà Giang, tạo thành một hệ thống kềm kẹp 8.000 dân Đức Huệ. Địch đưa bộ máy ngụy quân, ngụy quyền cấp quận về đóng ở Mỹ Quý gồm 3 đại đội Bảo An nhiều đại đội dân vệ do quận trưởng Huỳnh Khương An cầm đầu. Kết hợp với từ 1 đến 2 tiểu đoàn lính biệt kích và chủ lực thường xuyên có mặt ở Đức Huệ, chúng hoạt động trên 4 xã trọng điểm là: Mỹ Quý Đông, Mỹ Quý Tây, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Bắc; riêng ở xã Mỹ Quý Tây lúc nào cũng có 5 trung đội Bảo An, 6 trung đội thanh niên chiến đấu với số quân gần 400 tên. Sau 3 năm nỗ lực hoàn thành ý đồ, địch đánh giá khu trù mật Quéo Ba trong bản phúc trình ngày 5/10/1959 của trung tá Nguyễn Hữu Phước và Thiếu tá Phạm Ngọc Thảo gởi Tổng giám đốc Nha Kiến thiết của chính quyền Diệm, như sau: “... Chẳng những về phương diện chiến thuật đối với tỉnh Long An mà về phương diện chiến lược đối với miền Đông và miền Tây, khu trù mật Đức Huệ sẽ có tác dụng tranh thủ nhân tâm để phối hợp lực lượng quân sự, hạn chế sự giao thông liên lạc giữa lực lượng của Việt cộng ở miền Đông và miền Tây”.

Bản phúc trình cho thấy Mỹ-Diệm coi trọng và hy vọng ở khu trù mật Quéo Ba như thế nào. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã đề ra Nghị quyết và chỉ đạo huyện Đức Huệ phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quần chúng, tấn công, bao vây liên tục, đi đến bức hàng, bức rút quân địch ở khu trù mật Quéo Ba để giải phóng hành lang quan trọng này.

“Quéo Ba” là địa danh nay đã thành tên ấp, ấp Quéo Ba, do nơi đây xưa kia có 3 cây quéo cổ thụ (một loại xoài hoang dại, trái nhỏ, hột to) mọc chung một chỗ. Tên gọi Quéo Ba gắn liền với vùng đất này qua từng giai đoạn lịch sử: khu trù mật Quéo Ba, chi khu Quéo Ba. Di tich lịch sử ghi dấu giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ, 18-10-1964 mang tên “Khu vực Quéo Ba”(Quyết định số 1659/QĐ.UB, ngày 22-8-1994). Tháng 10-1994, kỷ niệm 30 năm sự kiện trên, huyện Đức Huệ xây dựng tại địa điểm lịch sử này bia truyền thống mang tên Bia chiến thắng Quéo Ba. Khu vực này còn có ngôi mộ tập thể Quéo Ba, là di tích lịch s ghi dấu tội ác thảm sát của thực dân Pháp năm 1948.

Vùng lên từ Đồng khởi rồi giải phóng huyện

 Bia chiến thắng Quéo Ba, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ

 Sau khi có Nghị quyết 15 Trung ương Đảng và nhận được chỉ đạo của Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ về xây dựng lực lượng 03 thứ quân để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, ngày 6-1-1960, Tỉnh ủy Tân An triệu tập hội nghị mở rộng ở Giồng Ông Tưởng (xã Bình Thành, huyện Đức Huệ) để bàn kế hoạch triển khai nghị quyết.

Ở Đức Huệ, đồng chí Nguyễn Văn Tân (Sáu Thành), Bí thư Huyện ủy sau khi dự hội nghị về đã xây dựng lực lượng chiến đấu ở huyện và trực tiếp chỉ huy, gồm: một trung đội địa phương quân, mỗi xã có một chi bộ từ 3 đến 4 đảng viên, một tiểu đội du kích và khoảng 15-20 cơ sở nòng cốt trong quần chúng. Sau khi Tỉnh ủy cho phát đi Bản nhật lệnh kêu gọi khởi nghĩa (25/1/1960), từ năm 1960-1961, được hỗ trợ của mũi vũ trang, nhân dân Đức Huệ vùng lên mạnh mẽ, phá tan khu gom dân ở Giồng Bún, sau đó cùng với bộ đội tỉnh đánh những trận lớn ở Tho Mo diệt hàng trăm lính biệt động của Tiểu đoàn Trần Lệ Xuân. Ngày 12/12/1961, tại bến phà Đức Huệ, ta diệt một đại đội chủ lực của Sư đoàn 7 ngụy. Trận Giồng Nhỏ sau đó tiếp tục diệt một đại đội Bảo An. Cuộc chiến đấu lâu dài để giải phóng Đức Huệ bắt đầu bằng việc vây ép các tua vòng ngoài là Giồng Bún, Giồng Bò, Tràm Bà Giang, rồi phá banh 3 khu gom dân ở đây giải phóng 3.000 dân, cô lập khu trù mật Quéo Ba-nơi đặt chi khu Đức Huệ. Sau 3 đợt đồng khởi, Đức Huệ đã được giải phóng gần hết trừ khu đầu não của chúng ở Quéo Ba. Mũi đấu tranh chính trị cũng phát triển mạnh, những cuộc biểu tình, đấu tranh do phụ nữ tổ chức đã thu hút hàng trăm, hàng ngàn chị em tham gia. Kết hợp với đấu tranh chính trị, các trận đánh, các cuộc đột nhập khu trù mật để diệt ác của lực lượng vũ trang do huyện ủy, các chi bộ xã lãnh đạo, cùng với mũi đấu tranh binh vận liên tục đã tạo thành một thế trận đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần. Ngày 3/11/1962, thiếu tá Nguyễn Viết Thanh, tỉnh trưởng Long An vội đệ trình lên Ngô Đình Diệm một kế hoạch mở mang khu trù mật Đức Huệ với kinh phí 6.600.000 đồng để củng cố tình hình.

            Sang năm 1963, phong trào đấu tranh bằng ba mũi giáp công ở Đức Huệ theo đà ấy tiếp tục đi lên và phát triển rất mạnh, nhất là từ sau trận chiến thắng Hiệp Hòa 23/11/1963 mở đầu cho cao trào phá ấp chiến lược trên toàn tỉnh. Bước sang năm 1964, ta mở liên tiếp các đợt tiến công trên cả hai hướng Bắc và Nam lộ 4, lực lượng bình định chủ yếu của địch lúc này ở Long An là Sư đoàn 25 ngụy phải căng lực lượng ra để chống đỡ. Trong tình hình ấy, địch điều Trung đoàn 46 từ Hậu Nghĩa về Cần Đước, Cần Giuộc để tái chiếm lại địa bàn ta mới giải phóng, một trung đoàn giữ lộ 4 và một trung đoàn về Củ Chi. Ở Đức Huệ, lực lượng địch rất mỏng, trong khi khu trù mật Quéo Ba bị ta bao vây và ngày càng siết chặt, địch phải tiếp tế cho chi khu Đức Huệ bằng máy bay. Chớp thời cơ, Ban chỉ huy Tỉnh đội điều Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 263 về Đức Huệ tiến công chi khu Quéo Ba. Để thực hiện tiến công mục tiêu quan trọng này, tỉnh sử dụng Tiểu đoàn 1 đánh đồn Đức Lập và Sò Đo ở huyện Đức Hòa để nghi binh kéo địch về hướng này, không cho chúng ứng cứu lẫn nhau, hỗ trợ cho cuộc bao vây cô lập và tấn công khu trù mật Đức Huệ. Trước sự vây ép ngày càng gia tăng của ta, quận trưởng Đức Huệ Lê Đăng Sĩ phải bỏ trốn khỏi Mỹ Quý Tây. Đêm 16/10/1964, quân và dân Đức Huệ với sự hỗ trợ của Tiểu đoàn 263 đã bao vây, tấn công chi khu Đức Huệ, sẵn sàng đánh quân địch bỏ chạy hoặc quân tiếp viện. Cùng lúc ấy ta cũng tấn công địch ở Sò Đo, Đức Lập và nhiều nơi khác ở tỉnh Long An.Trước cuộc tấn công đồng loạt và dũng mãnh của quân và dân ta, địch hết sức hoang mang, đến ngày 18/10/1964, toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở khu trù mật Quéo Ba rút chạy. Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân Đức Huệ đã tràn vào san bằng khu trù mật, thu toàn bộ vũ khí gồm 200 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược, giải phóng toàn bộ dân chúng bị địch kềm kẹp lâu nay về nhà làm ăn. Đức Huệ trở thành huyện giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8.

            Đập tan khu trù mật lớn vào loại điển hình ở Nam Bộ, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ là kết quả của quá trình chiến đấu lâu dài, liên tục, là sự kết hợp tuyệt vời của 3 mũi giáp công và nắm bắt thời cơ kịp thời để làm nên một trong những chiến công tiêu biểu nhất của quân dân Long An trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Việc giải phóng huyện Đức Huệ có ý nghĩa quan trọng: Hành lang chiến lược Đức Huệ được khai thông tạo điều kiện cho quân dân Long An vượt lên đánh quỵ Sư đoàn 25 ngụy, mở rộng vùng giải phóng trên phạm vi toàn tỉnh vào giữa cuối năm 1965, làm tiền đề cho cuộc chiến đấu với quân Mỹ trong giai đoạn tiếp sau ./.

                                                                               Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc