Tìm kiếm
Di tích đình Tân Chánh và lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn - Những giá trị lịch sử - văn hóa 
07/03/2012 15:16 
 

1. Nhân vật và vùng đất lịch sử

Trước đây, đình Tân Chánh, Lăng mộ và nhân vật Nguyễn Khắc Tuấn đã được nhắc đến trong tài liệu cũ là Địa phương chí tỉnh Chợ Lớn (Monographie de la province de Cho Lon) của De Bascher (Tỉnh trưởng phụ trách dân sự tỉnh Chợ Lớn). Quá trình tiếp cận và nghiên cứu giúp chúng tôi giải mã thêm một số vấn đề.

Cần Đước xưa thuộc huyện Phước Lộc, phủ Tân Bình rồi sau đó thuộc phủ Tân An, là vùng đất được lưu dân người Việt khai phá sớm trong công cuộc mở cõi về đất phương Nam. Ngược dòng lịch sử vào giữa thế kỷ XVII, lưu dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng, theo con đường biển đến cửa Soài Rạp rồi ngược lên sông Vàm Cỏ, đặt chân lên vùng đất Tân Chánh, Cần Đước khai phá, định cư, xây chợ, dựng đình miếu…, tạo dựng cuộc sống trên vùng mới. Đình Tân Chánh đã ra đời trong bối cảnh lịch sử ấy để đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng làng xã ở vùng đất này.Trong dòng chảy Nam tiến ấy, Nguyễn Khắc Tuấn (còn có tên là Nguyễn Phúc Xuân, Nguyễn Hầu Xuân) sinh năm Đinh Hợi (1767) thời Kiến Hưng nhà Lê, trong một gia đình của dòng họ Nguyễn định cư ở làng Nhơn Hòa (nay thuộc xã Tân Chanh) đã hai đời trước đó. Năm Cảnh Hưng thứ 51 (1791), ông đầu quân theo Nguyễn Ánh và được phong chức Cai đội. Sau khi Nguyễn Ánh lập ra Triều Nguyễn, Ông trông coi việc quân ở Bắc Thành, đến thời vua Minh Mạng, giữ chức vụ Khâm sai, Chưởng cơ thống quản trung quân trấn định thập cơ, tước Xuân Quang Hầu. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), ông giúp Triều Nguyễn quản lý trong coi việc đắp thành trấn Hưng Hóa.Trong thời gian ở Bắc Thành, Nguyễn Khắc Tuấn lập được nhiều công trạng trong việc dẹp giặc, giữ yên bờ cõi.

 Sắc phong Minh Mạng năm thứ 4 (1823) phong Nguyễn Khắc Tuấn chức  Khâm sai Chưởng cơ thống quản Trung quân, Chấn Định Thập Cơ

Nguyễn Khắc Tuấn mất vào lúc 4 giờ khuya, ngày mùng 7 tháng 2 năm Quý Mùi, Minh Mạng thứ 4 năm 1823. Nhà vua hết sức thương tiếc, trực tiếp ra lệnh cho bộ Lễ truy tặng chức Thống chế, cấp tơ lụa, vàng bạc, quan tiền cho gia quyến, tổ chức an táng trọng thể, ban nhiều đạo sắc phong và rất nhiều văn bản, giấy tờ khác, giao cho đình Tân Chánh lưu giữ cho đến ngày nay. Năm 1824, vua cho xây lăng mộ theo qui cách trọng thần và đích thân tặng hai câu đối:

“Tích nhậm Bắc Thành quân dân mông thiệt huệ

Kim quy cố thổ thiên địa giám cô trung”

Tạm dịch nghĩa:

“Xưa trấn nhậm cõi Bắc Thành, quân dân chịu trọng ơn.

Nay về quê cũ, có đất trời soi rõ tấm lòng trung”.

Nếu như đình Tân Chánh và lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn  là chứng tích vật chất cụ thể thì cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Khắc Tuấn chính là hình ảnh phản ánh đất và người của vùng đất này trong lịch sử khai mở và dựng nghiệp trên vùng đất phương Nam. Từ ấy đến nay, trong suốt cuộc hành trình khai mở, tạo dựng và bảo vệ thành quả của cha ông, Đình Tân Chánh và lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn đã luôn gắn bó như là một bộ phận không thể tách rời trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, mà bài vị trong Đình tôn thời Nguyễn Khắc Tuấn như một vị thần đã nói lên điều đó.

2. Một di tích có nhiều giá trị

Lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn có quy mô khá lớn, gồm lăng và mộ, dài 13m, rộng 7,2m, chất liệu đá ong (laterit) và vữa tam hợp. Đây là một trong những công trình kiến trúc lăng mộ điển hình của tầng lớp quan lại phong kiến còn lại ở Long An. Liên quan đến Nguyễn Khắc Tuấn còn có ngôi mộ thân mẫu của ông tại ranh giới hai xã Tân Ân và Tân Chánh, mà những thông tin bằng chữ Hán trên bia mộ cho biết mộ được lập vào tháng giêng, ngày tốt, năm Bính Dần (1806). Người quá cố họ Lê-vợ chánh của quan đại phu thuộc dòng họ Nguyễn. Hai con Nguyễn Phúc Nghị và Nguyễn Phúc Xuân đồng lập mộ.

Đình Tân Chánh hiện còn lưu giữ 3 sắc phong có niên đại Minh Mạng thứ 3 và thứ 4 (1822 và 1823) và 170 trang văn bản có dấu ấn triện triều Gia Long (1803) và Minh Mạng (1821). Đây là lần đầu tiên, một khối lượng lớn tư liệu gốc bằng chữ Hán được tìm thấy ở Long An. Dù chưa kịp dịch thuật nhưng chắc chắn có liên quan đến Nguyễn khắc Tuấn và vùng đất Cần Đước trong lịch sử mà trong Monographie de la province de Cho Lon có nhắc đến. Tất cả đều có giá trị hiện vật gốc và giá trị tư liệu.

Đình Tân Chánh và lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn với những hiện vật gốc như bia đá, các sắc phong và văn bản cổ là cứ liệu khoa học về niên đại, khẳng định lịch sử khai phá vùng đất Cần Đước từ rất sớm của lưu dân người Việt trong cuộc hành trình mở cõi đất phương Nam.

Di tích với các lễ hội Kỳ yên, Hạ Điền, Thượng điền, Cầu bông diễn ra hàng năm, là nơi bảo lưu những giá trị truyền thống văn hóa tâm linh, hướng về cội nguồn, chuyển giao văn hóa, liên kết cộng đồng.Yếu tố thiêng của nhân vật Nguyễn Khắc Tuấn và tín ngưỡng dân gian của cộng đồng cư dân nông nghiệp có sức cộng cảm, trở thành nét văn hóa xóm làng, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương.

Sau thời gian nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị, đình Tân Chánh và lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn đã được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa tại Quyết định số 395/QĐ.UBND, ngày 06/02/2012. Ngày 27/2/2012 (nhằm ngày mồng 6 tháng 2 năm Nhâm Thìn), việc tổ chức lễ đón nhận bằng di tích, quảng bá, phát huy giá trị di tích này là sự thể hiện trách nhiệm trước lịch sử trong việc phát huy di sản của tiền nhân, tạo động lực từ quá khứ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội ngày nay, mà cụ thể là xây dựng xã Tân Chánh trở thành xã nông nông thôn mới, góp phần đưa Cần Đước trở thành huyện điểm điển hình về văn hóa mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng./.

Nội dung bia mộ Nguyễn Khắc Tuấn: “Hoàng Việt Khâm sai Chưởng cơ thống quản Trung quân Chấn Định thập cơ tước Nghiêm Oai tướng quân Thượng Hộ quân thống chế thụy Tráng Nghị Nguyễn Hầu mộ. Giáp Thân niên … (một chữ bị mất không đọc được) nguyệt cốc nhật. Chánh thất Trương Thị Huy. Từ điệt Nguyễn Khắc Uẩn phụng lập”. Những thông tin trên bia cho biết mộ được lập vào năm Giáp Thân (năm 1824) có ghi tước hiệu ông là “Khâm sai Chưởng cơ thống quản Trung quân Chấn Định thập cơ tước Nghiêm Oai tướng quân Thượng Hộ quân Thống chế thụy Tráng Nghị”, bà Trương Thị Huy-vợ chánh Nguyễn Khắc Tuấn và cháu ông là Nguyễn Khắc Uẩn cùng phụng lập mộ. 

                                                                               Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc