Điều kiện tự nhiên  
05/11/2008 18:57 
 

1. Vị trí địa lý kinh tế:

Huyện Thạnh Hóa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An, cách thị xã Tân An 36 Km về phía Bắc theo quốc lộ 62, diện tích 46.826 ha, dân số (2007) là 55.214 người, Mật độ dân số bình quân là 117 người/km2

Tọa độ địa lý được xác định như sau:

*  Từ 10o 34’30” đến 11o 34’30” vĩ độ Bắc

*  Từ 105o 2’10” đến 106o 20’ 15” kinh độ Đông

Ranh giới hành chính huyện Thạnh Hóa được xác định:

+ Phía Bắc giáp CamPuChia.

+ Phía Đông Bắc  giáp huyện Đức Huệ.

+ Phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang.

+ Phía Tây giáp huyện Mộc Hóa

+ Phía Tây Nam giáp huyện Tân Thạnh.

+ Phía Đông giáp huyện Thủ Thừa.

Tuyến biên giới với CampuChia dài 9 Km (chiếm 6,4% tổng chiều dài biên giới của tỉnh Long An), được xem là vô cùng quan trọng về mặt quốc phòng.

Các quốc lộ 62, N1, N2, kết nối với QL22 (đường xuyên Á) và các cơ sở hạ tầng khác sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thị trường ở Thạnh Hóa phát triển, nhất là lĩnh vực công nghiệp, khả năng giao lưu trao đổi hàng hóa giữa huyện và các vùng khác thuận lợi và nhanh chóng hơn.

2. Đơn vị hành chính:

STT

Đơn vị

Diện tích

(ha)

Dân số

Mật độ dân số (người/km2)

01

TT Thạnh Hóa     

1.172,21

5.283

454

02

Xã Tân Đông

3.200,88

6.327

199

03

Xã Tân Tây

3.752,61

5.151

137

04

Xã Thủy Đông

4.005,34

5.918

134

05

Xã Thủy Tây

3.148,41

4.472

141

06

Xã Thạnh Phú

3.066,78

4.690

156

07

Xã Thuận Nghĩa Hòa

3.595,42

6.414

173

08

Xã Thạnh Phước

7.909,67

7.961

101

09

Xã Thuận Bình

5.661,10

2.832

49

10

Xã Tân Hiệp

4.369,39

3.881

86

11

Xã Thạnh An

6.489,32

2.285

35

Tổng số

46.837,28

55.214

117

3. Đặc điểm tự nhiên:

3.1 Địa hình :

Thạnh Hóa mang đặc điểm chung của vùng ĐTM là thấp trũng và khó thoát nước. Quá trình phủ của trầm tích xảy ra không hoàn chỉnh tạo nên địa hình đồng bằng có xu thế thấp dần từ Đông Bắc – Tây Nam. Cao nhất là khu vực giáp biên giới CamPuChia từ  0,7 - 0,9m (Tân Hiệp), thấp nhất là 0,5m ở (Thạnh Phước, Thủy Tây).

Với địa hình như trên Thạnh Hóa có nhiều thuận lợi trong việc sử dụng nguồn nước ngọt lấy từ sông Tiền qua kênh Dương Văn Dương, kênh 61 và sông Vàm Cỏ Tây để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, về mùa lũ sẽ bị ngập sâu, rút chậm, thời gian ngập dài (3 – 4 tháng), gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất cũng như xây dựng và bảo vệ các công trình cơ sở hạ tầng.

3.2 Địa chất:

Đất đai của huyện Thạnh Hóa hình thành từ hai loại trầm tích : (i) Trầm tích phù sa non trẻ Holocene và trầm tích cổ (ii) Pleistocene; trong đó chủ yếu  là trầm tích phù sa non trẻ Holocene có chứa vật liệu sinh phèn.

- Trầm tích Holocene bao phủ khoảng 90% DTTN của huyện, nó phủ trùm lên trầm tích phù sa cổ. Đặc trưng cơ bản của đơn vị trầm tích này là sự có mặt của Sulfidic, vật liệu chủ yếu hình thành đất phèn.

- Trầm tích phù sa cổ bao trùm khoảng 5%, trầm tích không phân chia khoảng 5% DTTN. Vì vậy, khi xây dựng công trình vĩnh cửu cần chú ý đến nền móng để đảm bảo an toàn và bền vững tuyệt đối.

3.3 Khí hậu – thời tiết:

Khí hậu huyện Thạnh Hóa  mang tính chất đặc trưng nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá lớn và phân bố theo mùa.

Theo số liệu quan trắc của trạm Mộc Hóa, nhiệt độ bình quân năm là : 27,2oC, tháng 5 là tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình : 29,3oC và tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất: 25oC. Biên độ nhiệt trong năm dao động khoảng 4,3oC và biên độ nhiệt ngày và đêm dao động cao (từ 8oC đến 10oC). Tổng tích ôn: 9.786oC/năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, đặc biệt là cây lúa, ngô, rau đậu thực phẩm.

Lượng mưa trung bình năm khá lớn (1.447,7 mm/năm) và phân bố theo mùa rõ rệt. Tổng lượng mưa trong mùa mưa thực sự : 1.332 mm (chiếm 92% tổng lượng mưa cả năm), bắt đầu khoảng cuối tháng V và kết thúc vào cuối tháng X (kéo dài 164 ngày). Mùa mưa trùng với mùa lũ gây ngập úng, cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

3.4 Chế độ thủy văn:

* Ngập lũ :

+ Ngập lũ là quy luật thường niên của ĐBSCL, trong đó Thạnh Hóa được xếp vào một trong những huyện chịu ảnh hưởng nặng. Lũ lớn đang có xu thế rút ngắn chu kỳ từ 12 năm xuống còn 6 năm và 3 năm (1961, 1978, 1984, 1991, 1994, 1996, 2000) trong đó lũ lịch sử năm 2000 đã gây thiệt hại rất nặng nề cho Thạnh Hóa.

Theo báo cáo tổng hợp thiệt hại do lũ lịch sử năm 2000 gây ra cho huyện Thạnh Hóa của UBND tỉnh Long An (số: 2013/UB - 07 tháng 11 năm 2000) như sau:

- Về sản xuất : Diện tích lúa bị ngập: 3.335 ha, trong đó mất trắng: 884 ha, hoa màu và cây ăn trái bị ngập : 30 ha, DT ao cá mất trắng 36 ha, đàn heo giảm 1.725 con, gia cầm giảm 6.652con, 300 nghìn cây lâm nghiệp bị chết.

- Kết cấu hạ tầng: Trụ sở hư hỏng : 3 cái, trạm xá bị ngập 11 trạm, trường học  bị ngập : 57 điểm trường (287 phòng học), 883 bộ bàn ghế bị hư hỏng. Toàn bộ hệ thống giao thông trong huyện bị ngập, gây sạt lở, 74 cầu bị cuốn trôi. Hệ thống kênh mương thủy lợi bị sạt lở và bồi lắng : 0,48 triệu m3, cống bị hỏng 01 cái.

- Dân cư : Tổng số hộ bị ngập 10.350 hộ (chiếm 96,42% tổng số hộ) số nhà ở bị sập 80 căn, hư hỏng nặng 523 nhà, hư hỏng từ 30 – 50% có 5.693 nhà. Số hộ có nguy cơ bị đói: 3.227 hộ, số người bị chết 6 người (trong đó trẻ em: 03).

Đây thực sự là một tổn thất nặng nề mà nhiều năm sau huyện Thạnh Hóa mới có thể khắc phục được (tổng thiệt hại ứơc : 57,76 tỷ đồng)

+ Tuy nhiên lũ mang đến lượng phù sa đáng kể tăng thêm màu mở cho ruộng đồng, thau chua rữa phèn, tăng nguồn lợi thủy sản, vệ sinh môi trường.

*  Ảnh hưởng của phèn - mặn:

+ Ảnh hưởng của phèn - chua: Theo dõi diễn biến của phèn - chua trên các sông, kênh rạch vùng ĐTM cho thấy Thạnh Hóa bị ảnh hưởng chua phèn khá nặng. Thời điểm nước trên kênh rạch bị chua là khoảng 10 ngày sau khi bắt đầu mưa, vấn đề chua có thể giải quyết nhanh chóng khi đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi.

Thạnh Hóa thuộc khu vực bị chua nặng, nhất là khu Bắc Đông. Nguyên nhân làm nước trong kênh rạch bị chua là vì vào mùa khô (tháng III, IV và V), tầng sinh phèn bị oxy hóa, khi gặp mưa, các loại muối oxy hóa được hòa tan theo nước mặt chảy vào kênh rạch và các nơi đất trũng, làm pH giảm < 4,0, đặc biệt là ở các vùng đất mới khai hoang. Do đó, chua ở Thạnh Hóa rất khó giải quyết bởi địa hình trũng khả năng tiêu thoát kém.

+ Ảnh hưởng mặn: Mặn 4 g/l trên sông Vàm Cỏ Tây bình quân nhiều năm chỉ ngang hoặc qua Tuyên Nhơn 5 - 10 Km về phía thượng lưu. Song, vào các năm 1992, 1993 mặn đã ảnh hưởng sâu hơn và nồng độ mặn cũng lớn hơn bình quân nhiều năm. Giới hạn mặn 1 g/l đã đến Vĩnh Hưng (1992). Đỉnh mặn trên sông Vàm Cỏ Tây tùy từng nơi cao hơn bình quân nhiều năm từ 1 - 3 g/l.

Như vậy, độ mặn trên kênh rạch của huyện Thạnh Hóa có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đặc biệt là cây lúa ở vụ Hè Thu. Mặt khác, cũng cần phải lưu ý là mặn thường đi đôi với hạn, trong khi thủy lợi chưa hoàn chỉnh dễ làm chết cây trồng hoặc phải bỏ hóa đất đai, nhất là ở những vùng mới khai hoang.

 

 

 

Các tin khác
(12/12/2008)
(18/11/2009)
(21/12/2010)
(17/07/2009)
Cây trái miền nam
Cây trái miền nam
Đại hội TDTT huyện Thạnh Hóa lần thứ 3 năm 2009
Đại hội TDTT huyện Thạnh Hóa lần thứ 3 năm 2009