Tài nguyên thiên nhiên 
05/11/2008 18:56 
 
 

Tài nguyên thiên nhiên 

1. Đất đai: Diện tích tự nhiên: 50.106,1 ha. Diện tích nông nghiệp: 37.082,17 ha. Diện tích lâm ngư nghiệp: 6.193,61 ha. Diện tích khác: 6.830,32 ha

Thị xã Kiến Tường có 2 nhóm đất:

- Nhóm đất xám: Có 4 loại, đất xám điển hình, đất xám có tầng loang lỗ đỏ vàng, đất xám Gley, đất xám nhiễm mặn. Nhóm đất xám phân bố ở hầu hết các xã trong thị xã (Phường 1, Phường 2, Phường 3, các xã: Thạnh Trị, Thạnh Hưng). Nhóm đất xám có diện tích 29.183 ha chiếm 58% diện tích tự nhiên, đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì nhiêu nhìn chung thấp kể cả các số đạm, mùn, lân và kali. Tuy nhiên, nhóm này thường được canh tác lúa, đay ở những nơi có địa hình thấp, còn những nơi có địa hình cao, thoát nước tốt, có thể trồng các cây hoa màu cạn hoặc luân canh lúa - màu 2 ¸ 3 vụ/năm.

- Nhóm đất phèn: có 20.484 ha chiếm 40,8% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu dọc theo sông Vàm Cỏ Tây và các xã phía Nam thị xã (Phường 1, Phường 2, Phường 3, xã:Thạnh Hưng).

Nhóm đất phèn nhìn chung có độ phì nhiêu cao kể cả mùn, đạm, kali, nhưng lại có độ PH rất thấp, hàm lượng SO4 cao, đặc biệt có các Fe+++ và Al+++ gây độc hại cho cây trồng. Khả năng sử dụng nhóm đất phèn tùy thuộc vào khả năng cung cấp nước ngọt nên cần có hệ thống thủy nông tốt, tháo rửa phèn kết hợp với việc sử dụng giống, phân bón, bố trí mùa vụ hợp lý và kỹ thuật canh tác tốt, mang lại hiệu quả kinh tế nông nghiệp.

2. Khí hậu

Thị xã Kiến Tường nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, chia làm 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung cao nhất vào tháng 9 và tháng 10, với lượng mưa chiếm 92 ¸ 94% tổng số lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.300mm ¸ 1.600mm. Những năm có lũ lớn, lượng mưa trong tháng 9 lên tới 366mm (năm 1984) và tháng 10 đến 533mm (năm 1996).

- Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4  năm sau.

+ Nhiệt độ trung bình 27,3°C, thấp nhất 16°C, cao nhất 38°C.

+ Số giờ nắng khoảng 2.622 giờ/năm, trung bình 7,2 giờ/ngày. Bức xạ mặt trời cao, ổn định, tổng lượng bức xạ từ 156 ¸ 160 Kcal/cm2/năm.

+ Độ ẩm trung bình 81%, cao nhất 85% và thấp nhất 76%.

+ Gió thịnh hành trong năm là gió mùa Tây Nam, từ tháng 5 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc từ tháng 1 đến tháng 4, tốc độ gió trung bình 2 ¸ 2,5m/s.

3. Thủy văn

- Sông Tiền, nằm về phía Tây Nam thị xã, lưu lượng mùa kiệt 270m3/s, mùa lũ 16.500m3/s, có nguồn nước ngọt dồi dào, nhưng do nằm xa huyện nên chất lượng nước không cao, ít phù sa và vào đầu mùa mưa hay bị chua.

- Sông Vàm Cỏ Tây cắt ngang qua trung tâm huyện theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, lưu lượng mùa kiệt 93m3/s, mùa lũ 580m3/s. Đây là sông về mùa lũ là trục tiêu chính cho toàn khu vực, về mùa khô là trục dẫn nước do sông Tiền bổ sung qua rạch Cái Cỏ, kênh Hồng Ngự. Ngoài ra, trên địa bàn thị xã còn có một mạng lưới kênh, rạch khá dày đặc, nhằm thoát lũ trong mùa mưa và cấp nước trong mùa kiệt.

- Nước mặt thừa trong mùa lũ và thiếu nước tưới trong mùa kiệt, nguồn nước mặt phụ thuộc vào 2 nguồn chính là nước mưa và nước sông, kênh, rạch.

- Nước ngầm có chất lượng tốt ở tầng thứ 2, cách mặt đất từ 150m ¸ 200m, giá thành khai thác cao. Ở tầng 1, độ PH của nước ngầm nhỏ hơn 4, nên có vị chua, nhiều chất sắt, không sử dụng được cho sinh hoạt.

Bonsite, cây cảnh
Bonsite, cây cảnh
Cửa khẩu Quốc tế Bình Hiệp
trong ngày khai trương
Cửa khẩu Quốc tế Bình Hiệp trong ngày khai trương
Nghi thức tế văn tại lễ giỗ Đốc Binh Kiều
Nghi thức tế văn tại lễ giỗ Đốc Binh Kiều
Cây trái
Cây trái