Hướng chuyển dịch chính là đẩy mạnh đầu tư phát triển nuôi trồng thuỷ sản-xem đây là ngành mũi nhọn tạo bước phát triển đột phá trong khu vực nông nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, phát triển nhanh đàn gia cầm (khi đã thật sự kiểm soát dịch bệnh), sản xuất lúa gạo có chất lượng cao, rau quả và cây công nghiệp ngắn ngày, phục vụ tốt nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Qui hoạch vùng sản xuất nông nghiệp:
1. Vùng lúa: Vùng lúa năng suất cao, diện tích 230.000 ha phần lớn tập trung ở các huyện thuộc vùng Đồng Tháp, cung cấp các sản phẩm cho ngành công nghiệp xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm,… với sản lượng 2 triệu tấn vào năm 2010.
+ Khai thác tối đa diện tích có khả năng trồng các giống lúa đặc sản ở các huyện phía Nam như lúa Nàng Thơm Chợ Đào - Cần Đước, vùng lúa nếp ở huyện Thủ Thừa và Châu Thành, Tân Trụ…
+ Kết hợp nuôi thủy sản nước lợ và thủy sản nước ngọt, tập trung nuôi thủy sản trong mùa lũ.
2. Vùng nguyên liệu mía tương đối ổn định khoảng 17.000 ha, phân bố ở các huyện Bến Lức, Thủ Thừa, Đức Hòa, Đức Huệ.
3. Vùng đậu phộng 11.000 ha phân bố thuộc huyện Đức Hòa, Đức Huệ,
4. Vùng rau màu: Phân bố chủ yếu ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Bến Lức, khu vực thị xã Tân An, trồng luân canh, xen canh các cây rau màu.
5. Vùng cây ăn quả: Chú trọng phát triển cây thanh long ở địa bàn huyện Châu Thành, cây dứa (thơm) tập trung ở huyện Bến Lức, Thủ Thừa.
6. Vùng nguyên liệu đay phân bố chủ yếu ở huyện Mộc Hóa và Thạnh Hóa, dự kiến ổn định khoảng 15.000 ha ở năm 2010 và 2020.
7. Phát triển vùng sản xuất cây hoa kiểng, cá cảnh khu vực vành đai thành phố HCM.
Chú trọng phát triển theo hướng chất lượng và hiệu quả, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khai thác tối ưu tiềm năng đất, nước, lao động hiện có nhằm tăng năng suất, xây dựng những cánh đồng đạt 25 triệu đồng/ha/năm giá trị tăng thêm như: cánh đồng tôm sú luân canh nuôi tôm càng xanh, cá nước ngọt, luân canh lúa ở các huyện vùng Hạ; cánh đồng chuyên rau thực phẩm ở các xã vùng thượng huyện Cần Đước, Cần Giuộc; cánh đồng thanh long ở huyện Châu Thành; cánh đồng cây có múi như: chanh, bưởi… xen canh rau màu, kết hợp chăn nuôi, thủy sản ở một số xã vùng ven sông Vàm Cỏ Đông ở các huyện Đức Hòa, Đức Huệ; cánh đồng luân canh cây trồng cạn như: bắp lai, đậu phộng, rau màu, kết hợp chăn nuôi gia súc trâu, bò; vùng đay nguyên liệu giấy vùng Đồng Tháp Mười….
b) Trọng điểm có tính chất đột phá là công tác giống cây con và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá; đổi mới hoạt động của hệ thống khuyến nông, lâm, ngư, thú y, bảo vệ thực vật,… nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và khắc phục dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi; từng bước xã hội hóa trong lĩnh vực này theo hướng gắn với lợi ích của nông dân.
Tăng cường công tác khuyến nông, lâm, ngư và công tác thông tin, quảng bá chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ vào sản xuất, nhất là khâu giống mới. Tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống … cung cấp giống cây trồng; xây dựng mạng lưới sản xuất giống từ tỉnh đến cơ sở theo hướng xã hội hoá; đầu tư trang thiết bị cho các trạm trại.
c) Phát triển hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Tổ chức, bố trí lại dân cư, từng bước hình thành các thị tứ ở khu vực nông thôn. Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các cụm, tuyến dân cư vượt lũ, tập trung xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng các cụm, tuyến dân cư để đưa dân vào ở ổn định; xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng đối với một số cụm khó khăn trong việc thu hút dân vào ở. Phấn đấu đến cuối năm 2007 cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư.
Huy động mọi nguồn lực xã hội phát triển mạnh hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, ngân sách nhà nước đầu tư hệ thống kênh trục, cống đầu mối, hạ tầng phục vụ CNH, HĐH nông thôn. Vốn nhà nước và nhân dân cùng làm đầu tư các công trình trình thuỷ lợi nội đồng, trạm bơm, hạ tầng phục vụ phát triển thủy sản.
Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi:
- Xây dựng, mở rộng, nạo vét các công trình đầu mối tạo nguồn nước tưới như các kênh: 79, 61, 12, Bảo Định, Hồng Ngự, Tân Thành – Lò Gạch,… để tăng khả năng cung cấp và năng lực chuyển tải nguồn nước.
- Hoàn chỉnh các hệ thống công trình ngăn mặn, giữ ngọt ở các huyện phía Nam tỉnh như: hệ thống Nhật Tảo – Tân Trụ, hệ thống đê ven các sông, rạch lớn.
- Sửa chữa, cải tạo lại các công trình đầu mối xuống cấp nặng, trong đó, ưu tiên các cống ngăn mặn, chống lũ ven sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ, Rạch Cát.
Phấn đấu đến năm 2007 xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đường giao thông đến trung tâm các xã bằng nguồn vốn Trung ương. Thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đề từng bước hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn; đa dạng hóa các hình thức xã hội hóa, huy động tốt các nguồn lực trong nhân dân để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, giao thông liên xóm, liên ấp, hệ thống chợ nông thôn…
Tiếp tục thực hiện điện khí hoá nông thôn, phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99%.
d)Tổ chức lại sản xuất: Chú trọng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, hợp tác xã và kinh tế trang trại. Phấn đấu đến năm 2010 có trên 50% hộ nông dân tham gia vào các loại hình kinh tế hợp tác.
Phát triển các mô hình sản xuất chuyên canh, tập trung nhằm vừa nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của nông sản hàng hoá vừa bảo vệ môi trường, bước đầu tạo tiền đề để hình thành và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.
Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp và hoạt động dịch vụ ở nông thôn; tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm tại chỗ, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ.
Tăng cường các hoạt động giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho nông dân, nhất là các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, phát triển hạ tầng giao thông, xây dựng các khu đô thị mới.
Khuyến khích thu mua tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, liên kết chặt chẽ “5 nhà” nhằm tạo chu trình sản xuất và tiêu thụ liên hoàn.
e) Các chương trình trọng tâm: chương trình ứng dụng tiến bộ sinh học vào công tác giống, chương trình phát triển thuỷ sản, chương trình phát triển hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, chương trình đăng ký, quảng bá thương hiệu nông sản, chương trình xây dựng nông thôn mới (từng xã)...
2- Phát triển công nghiệp thực hiện mục tiêu CNH, HĐH:
Khẳng định vai trò động lực, chủ đạo mang tính đột phá của công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế. Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hoá. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp cơ khí - điện tử (sản xuất các sản phẩm phụ trợ cung cấp cho các khu công nghiệp kỹ thuật cao), phát triển công nghiệp bổ trợ như: sản xuất linh kiện, phụ kiện, sửa chữa, bảo dưỡng,… Phát huy lợi thế về đất và tiềm năng lao động, đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế nhằm khai thác có hiệu quả nguồn vốn và công nghệ mới.
Chuẩn bị điều kiện thuận lợi về đất đai, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực để ưu tiên tiếp nhận các dự án đầu tư công nghệ cao, các dự án có giá trị xuất khẩu lớn.
Trên quan điểm phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, tỉnh ưu tiên tiếp nhận những DN có quy trình công nghệ tiến tiến, ít gây ô nhiễm môi trường.
2.1- Mục tiêu phát triển:
Tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế, tiếp tục nâng cao tốc độ tăng trưởng ngành.
Phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm khu vực công nghiệp-xây dựng đạt 23% và chiếm 43% trong tổng giá trị tăng thêm của tỉnh. Riêng ngành công nghiệp tăng trưởng 23,8%/năm, trong đó công nghiệp chế biến tăng cao 24,5%/năm và chiếm tỷ trọng khoảng 86% trong ngành công nghiệp.
- Luồng đầu tư vào tỉnh sẽ tăng rất nhanh khi Việt Nam gia nhập WTO và quỹ đất phát triển công nghiệp của các tỉnh khu nhân trong vùng kinh tế trọng điểm hạn chế. Tập trung đầu tư các khu, cụm công nghiệp, đầu tư hoàn thiện hạ tầng ngoài hàng rào và nhất là các tuyến giao thông nối kết với TP.HCM được thông suốt.
- Ổn định quy mô diện tích đất phục vụ phát triển công nghiệp: Phấn đấu đến năm 2010 tổng diện tích có đủ điều kiện hạ tầng tăng thêm giao cho nhà đầu tư là hơn 5.000 ha (chiếm hơn 55% diện tích đã giao cho nhà đầu tư hạ tầng). Giao đất cho nhà đầu tư trực tiếp sản xuất với diện tích trên 3.500 ha.
Phấn đấu đến năm 2010 thu hút đầu tư lấp đầy một số khu công nghiệp trọng điểm như: Đức Hòa I, Tân Đức, Thuận Đạo, Long Hậu; lấp đầy 50% đối với các khu công nghiệp: Xuyên Á, Đức Hòa III, Long Định-Long Cang,…
2.2- Hướng phát triển một số ngành lớn:
- Công nghiệp chế biến nông sản:
+ Công nghiệp xay xát: Tập trung đổi mới công nghệ, thiết bị, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng gạo đáp ứng nhu cầu thị trường HCM và xuất khẩu. Lượng gạo xuất khẩu trên 300 ngàn tấn năm.
+ Công nghiệp mía đường: Cải tiến công nghệ, thiết bị đẩy mạnh sản xuất sản phẩm sau đường như ván ép, cồn, rượu,... để giảm giá thành sản phẩm đường và khép kín quy trình sản xuất từ cây mía. Giữ sản lượng đường mía bình quân từ 110-120 ngàn tấn/năm. Tiếp tục duy trì và phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đủ cung ứng cho nhà máy. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nông dân ký hợp đồng mua bán nguyên liệu, đảm bảo sản xuất phát triển ổn định cả nhà máy và nông dân trồng mía.
+ Hạt điều nhân xuất khẩu: tiếp tục phát triển thị trường trong và ngoài nước, chú trọng tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm. Quy hoạch cụm công nghiệp sản xuất hạt điều nhân xuất khẩu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý sản xuất và kiểm soát tốt về môi trường.
+ Chế biến thức ăn gia súc: hướng tới là nâng cao chất lượng sản phẩm, tiếp tục củng cố thị trường hiện có và mở rộng thị trường; xây dựng mối gắn kết với người chăn nuôi, tạo quy trình sản xuất, tiêu thụ khép kín.
+ Thủy sản chế biến: đầu tư mở rộng quy mô và tăng tỷ trọng sản phẩm tinh chế, phấn đấu đến năm 2010 đạt lượng sản phẩm xuất khẩu 16-20 ngàn tấn/năm.
- Ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may: nhanh chóng thành lập cụm công nghiệp dệt may để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức sản xuất.
+ Công nghiệp dệt: khuyến khích tạo mặt hàng mới đồng thời nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, đẩy mạnh thâm nhập thị trường nước ngoài, phát huy lợi thế của sản phẩm.
+ Công nghiệp may mặc: Khi gia nhập WTO ngành may mặc có điều kiện phát triển hơn, đây là ngành giải quyết nhiều việc làm, hứa hẹn là ngành phát triển mạnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả cần tăng dần tỷ trọng mua nguyên liệu, bán thành phẩm nhằm tăng giá trị gia tăng.
+ Ngành giày xuất khẩu: dự kiến sản lượng tăng gấp đôi năm 2010.
- Công nghiệp sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy: thị trường còn rất lớn và tỉnh có nguồn nguyên liệu giấy nên tiếp tục đầu tư phát triển mạnh. Đưa Nhà máy bột giấy Phương Nam công suất 100.000 tấn/năm, đi vào hoạt động năm 2008.
- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện: tiếp tục đầu tư các công trình nguồn và lưới điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, sản lượng điện thương phẩm tăng bình quân trên 15%/năm.
- Công nghiệp cơ khí: Tạo điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị, hiện đại của các thành phần kinh tế; từng bước trang bị máy móc cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu xuất khẩu.
- Công nghiệp vật liệu xây dựng: nhu cầu sản phẩm còn lớn, tiếp tục phát triển, tăng cường mở rộng thị trường.
2.3- Nhiệm vụ, giải pháp:
a) Đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp có tiềm năng:
Rà soát lại các khu công nghiệp đã được quy hoạch, đảm bảo quy mô diện tích 10.500 ha; tránh quy hoạch tràn lan làm lãng phí nguồn lực, làm ảnh hưởng đến đời sống người dân; thu hồi chủ trương đối với những khu công nghiệp không đi vào hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả. Tập trung đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong các KCN, cụm công nghiệp. Quan tâm hơn nữa đến nhà ở công nhân, và các công trình phúc lợi công cộng.
b) Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp:
- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông ngoài hàng rào khu, cụm công nghiệp, tập trung cho những khu công nghiệp trọng điểm như: Đức Hoà I, Tân Đức, Xuyên Á, Đức Hoà III, Long Định – Long Cang, Long Hậu, ..; phối hợp chặt chẽ với thành phố HCM khai thông đồng bộ các tuyến giao thông trục kết nối (ĐT 823, 824, 825, HL8), bố trí đầu tư đường nối khu công nghiệp Đức Hòa III-Xuyên Á, đường Tân Lập-Long Hậu, đường Tân Kim-Long Hậu, đường dọc sông Vàm Cỏ Đông (Bến Lức-Cần Đước)…
Tập trung đầu tư xây dựng cảng Long An, hoàn thiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kết nối, nạo vét thông luồng sông Soài Rạp. Xem đây là giải pháp mang tính đột phá trong phát triển công nghiệp-dịch vụ trên địa bàn tỉnh từ nay đến năm 2010.
- Về cấp, thoát nước: Khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước cho toàn Vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, trong đó chú ý đến khả năng khai thác nước mặt.
Xây dựng một số hệ thống cấp nước mới có tổng công suất khoảng 176 ngàn m3/ngày; nâng công suất hệ thống cấp nước ở các khu đô thị hiện có, xây dựng mới hệ thống cấp nước ở những khu đô thị mới. Liên kết với TP HCM và kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy cấp nước (nhà máy nước Kênh Đông - phục vụ khu vực Đức Hòa, nhà máy nước Cần Đước, Cần Giuộc, Bến Lức…).
Hoàn thành hệ thống thoát nước mưa đảm bảo không bị úng ngập trong các khu đô thị; nước thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn Việt Nam 5945-95 trước khi thải ra kênh rạch. Phối hợp với TP HCM xây dựng hệ thống xử lý chất thải.
- Về cấp điện: đầu tư hệ thống điện đi trước một bước, đảm bảo đủ điện cho nhu cầu. Tốc độ tăng trưởng điện năng bình quân 28,8%/năm; đầu tư các trạm hạ thế đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm.
c) Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư:
Tăng cường, củng cố cơ quan trực tiếp thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đảm bảo đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, chú ý những địa bàn trọng yếu, nhiều dự án (Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Thạnh Hóa). Đổi mới phương thức, qui trình, thủ tục nhằm rút ngắn thời gian thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tránh tình trạng dự án triển khai thực hiện kéo dài.
Ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng các khu tái định cư tập trung (kể cả nghĩa trang) phù hợp quy hoạch và gắn kết với phát triển đô thị, đảm bảo ổn định đời sống của người dân trong vùng dự án; kiên quyết không cho triển khai các dự án khi chưa có phương án bố trí tái định cư. Huy động các nguồn lực để xây dựng các khu tái định cư; trước mắt trong năm 2007 bố trí đầu tư từ ngân sách xây dựng các khu tái định cư tập trung để phục vụ tái định cư chung cho nhiều dự án trong cùng khu vực, sau đó thu hồi lại vốn từ nghĩa vụ của nhà đầu tư và người tái định cư. Hỗ trợ đào tạo nghề cho dân vùng dự án.
d) Cải thiện môi trường đầu tư:
Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Theo dõi, quản lý xuyên suốt vòng đời của dự án (từ công tác tiếp xúc, kêu gọi dự án đến đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động) để hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án nhanh nhất, có hiệu quả nhất.
- Vận dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, tiếp tục tập trung vào cải cách thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch…
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, gia tăng việc huy động các nguồn vốn từ mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để các dự án sớm đi vào hoạt động; xây dựng chương trình nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); thực hiện cơ chế «tập trung đầu mối», “Liên thông” ở các ngành và địa phương có liên quan, tăng cường kiểm soát quá trình cung cấp dịch vụ công nhằm tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch.
- Xây dựng cơ chế cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời về môi trường đầu tư, về chính sách đầu tư, về các dự án đầu tư liên quan, về cách thủ tục đầu tư... cho các nhà đầu tư.
- Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư, thông qua các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam để vận động, lôi kéo các nhà đầu tư khác tham gia đầu tư. Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư và cụ thể hoá thành các kế hoạch xúc tiến hàng năm gắn với các chương trình dự án khả thi.
- Phân cấp quản lý đầu tư cho các huyện thị đối với những dự án có quy mô nhỏ, ít ô nhiễm môi trường.
e) Xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực cho từng giai đoạn, trong đó tập trung vào các chính sách hỗ trợ:
- Hỗ trợ về xúc tiến thương mại, phát triển thị trường.
- Hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, sở hữu công nghiệp.
- Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực.
f) Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến tinh, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, các ngành có lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại.
- Đẩy mạnh việc vận động và xúc tiến đầu tư, đảm bảo quản lý xuyên suốt từ khâu tiếp nhận dự án đến khi dự án đi vào hoạt động hiệu quả. Trong đó tập trung hướng thu hút vào các tập đoàn lớn, có tiềm lực về vốn, công nghệ, thương hiệu... hướng đầu tư vào các ngành nghề như cơ khí chế tạo, công nghiệp điện điện tử, lĩnh vực công nghệ cao, vật liệu mới.
Tham gia chương trình vào các chương trình xúc tiến có tính vùng, chủ động tiếp nhận các nguồn vốn bên ngoài.
- Xây dựng danh mục dự án cần tập trung xúc tiến kêu gọi đầu tư, tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể.
g) Đẩy mạnh phát triển công nghiệp tại địa bàn nông thôn:
- Để đẩy mạnh việc phát triển công nghiệp tại địa bàn nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy nội lực, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, hình thành quỹ khuyến công từ nguồn ngân sách nhà nước và huy động sự đóng góp của của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước... tạo điều kiện hỗ trợ các hoạt động phát triển công nghiệp trên địa bàn nông thôn.
- Củng cố và phát triển lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, xây dựng hệ thống giải pháp hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, vốn chuẩn bị đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, tiếp thị, phát triển thị trường... từ các nguồn quỹ khuyến công.
- Phát triển cơ khí phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Tăng cường chính sách hỗ trợ đầu tư sản xuất máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp. Chính sách hỗ trợ về vay vốn và thị trường. Chính sách về khuyến khích, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ mới phục vụ chế tạo thiết bị cơ khí nông nghiệp và chế biến nông, lâm sản.
2.4- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển đô thị:
- Khu đô thị cũ: trọng tâm tại khu vực này là cải tạo, chỉnh trang kết hợp với xây dựng mới. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng; xây dựng mạng lưới các công trình phúc lợi công cộng; giải tỏa các khu nhà lụp xụp trên kênh rạch và khu phố.
- Khu đô thị mới phát triển: xây dựng theo hướng hiện đại, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo môi trường sống với chất lượng cao, đặt nền tảng cho phát triển đô thị bền vững trong tương lai. Mở rộng và phát triển chủ yếu ở phía Tây và phía Nam thị xã Tân An, dự kiến hoàn thành nâng cấp thị xã Tân An lên Thành phố Tân An (đô thị loại III) vào năm 2007; mở rộng và phát triển về hướng Đông và Tây đối với thị trấn Mộc Hoá để đảm bảo đạt tiêu chí đô thị loại 4 vào năm 2007; mở rộng Thị trấn Bến Lức theo trục Quốc Lộ 1, Đường Cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương; xây dựng khu đô thị mới nối liền Thị trấn Hậu Nghĩa và Thị trấn Đức Hoà hình thành khu đô thị loại 4 vào năm 2010; vùng hạ thuộc huyện Cần Giuộc, Cần Đước phát triển khu đô thị mới (khu đô thị cảng, đô thị theo trục quốc lộ 50). Phát triển đô thị ở tất cả các thị trấn, thị tứ theo quy hoạch được duyệt.
Tổng diện tích dành cho phát triển đô thị là 20.000-22.000 ha.
Về định hướng phát triển không gian hệ thống đô thị, chọn các cực phát triển như Tân An, Bến Lức, Cần Giuộc, Đức Hòa và Mộc Hoá; các hành lang như Quốc lộ IA, Quốc lộ 50, Quốc lộ 62.
Chức năng chung đô thị Long An là đô thị vệ tinh của thành phố HCM, xen giữa các đô thị là các khu vực đệm sinh thái, làng nghề, làng nông nghiệp hiện đại, các khu nghĩ ngơi an dưỡng.
3. Ngành xây dựng:
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư, nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và cơ cấu ngành xây dựng trong tổng thể nền kinh tế. Riêng lĩnh vực đầu tư XDCB do nhà nước quản lý đầu tư có trọng điểm, tránh dàn trải, nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư từ khâu quy hoạch, quyết định đầu tư, dự án, thiết kế dự toán, triển khai thi công và đưa vào vận hành sử dụng.
Tiếp tục thực hiện liên kết với TP HCM trong việc xúc tiến mời gọi đầu tư, liên kết đầu tư hạ tầng.
4. Phát triển ngành dịch vụ:
4.1- Phương hướng, mục tiêu:
Tốc độ tăng trưởng khu vực khoảng 14,2% và chiếm tỷ trọng 31% trong tổng thể nền kinh tế.
Thu hút đầu tư phát triển một số Trung tâm thương mại, siêu thị qui mô nhỏ, vừa tại Thị xã Tân An và các khu công nghiệp. Phát triển chợ gắn các điểm dịch vụ cung ứng vật tư sản xuất, mua, bán nông sản, thực phẩm. Nâng cấp những chợ hiện hữu và đầu tư phát triển chợ vùng sâu, vùng xa. Huy động các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước để đầu tư kết cấu hạ tầng, nhằm khai thác đạt hiệu quả các tuyến, điểm du lịch đã quy hoạch. Phát triển mạnh các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa gắn với việc bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, khu bảo tồn thiên nhiên.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng ở các khu công nghiệp, đô thị và nhu cầu của nhân dân, nhất là dịch vụ ngân hàng, viễn thông, vận tải, bảo hiểm, y tế, đào tạo, … đặc biệt là dịch vụ cảng biển; phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống nông thôn. Tiếp tục phát triển nhanh mạng lưới xe buýt theo quy hoạch, phát triển mạng lưới vận tải đường thủy nội địa. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ nhà ở, dịch vụ giải trí, văn hoá cho công nhân.
Tổ chức tốt công tác thông tin thị trường, giá cả, quảng cáo. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư. Thành lập quỹ xúc tiến thương mại.
4.2- Phát triển các ngành dịch vụ chính:
a) Thương mại và xuất nhập khẩu:
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng bình quân khoảng 18%/năm.
Tiếp tục triển khai công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, chú trọng đến thị trường nông thôn, tạo thêm việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Phát triển các trung tâm thương mại quy mô lớn (Khu đô thị tổng hợp TP.HCM - Tây Ninh và Long An); đầu tư nâng cấp các trung tâm thương mại, các chợ đầu mối tại các trung tâm của tỉnh; xây dựng các chợ xã, cụm xã, chợ theo cụm dân cư. Xây dựng khu kinh tế cửa khẩu chính Bình Hiệp.
Mở rộng và hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia thị trường. Tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý HTX mua bán.
- Đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu, tăng bình quân hàng năm khoảng 25%, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu theo hướng hàng có hàm lượng giá trị tăng thêm cao. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: gạo bình quân năm xuất 300-350 ngàn tấn, hạt điều nhân 20 ngàn tấn, vải thành phẩm 80 triệu mét, hàng may mặc xuất 170 triệu USD, bình ắc qui 35 triệu USD, sản phẩm đóng hộp 30 triệu USD.
- Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm khoảng 15%, tập trung vào vật tư nguyên liệu và máy móc, thiết bị đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất. Sản phẩm chủ yếu là phân bón, hoá chất, hạt nhựa, nguyên liệu may mặc, thiết bị máy móc...; tăng dần tỷ trọng nguồn nguyên liệu thay thế sản xuất trong nước.
Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu:
Nâng cao chất lượng và giá trị mặt hàng xuất khẩu, tập trung đầu tư phát triển các mặt hàng chủ lực, đảm bảo khả năng cạnh tranh: gạo, điều nhân, hàng may mặc, giày da, thủy sản và một số hàng công nghiệp chế biến khác.
Triển lãm, giới thiệu thiết bị chuyên ngành, cung cấp thông tin để doanh nghiệp lựa chọn thay mới thiết bị hiện đại. Khai thác sử dụng các thiết bị có thể sản xuất trong nước nhằm tiết kiệm ngoại tệ.
Xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối cho sản phẩm xuất khẩu. Hình thành các đại lý bán hàng tại các nước bằng cách chọn một số Việt Kiều có uy tín để hình thành đại lý tại các thị trường trọng điểm. Hình thành chiến lược tiếp thị của tỉnh, trong đó có chương trình xúc tiến xuất khẩu.
b) Dịch vụ du lịch:
Dự kiến khách du lịch đến Long An tốc độ tăng bình quân là 15%/năm, doanh thu tăng 18%/năm.
Đầu tư hoàn thành các dự án Làng Nỗi Tân Lập, Lâm Viên Thanh Niên, Khu Láng Sen, Khu bảo tồn sinh thái rừng tràm...; khai thác có hiệu quả du lịch vào mùa nước lũ ở Đồng Tháp Mười... Chú trọng đến thu hút khách du lịch quốc tế qua các cửa khẩu. Liên kết với các địa phương, nhất là TP HCM, tổ chức du lịch lữ hành.
Kết hợp xây dựng các tour du lịch sinh thái, du lịch văn hoá;
Kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực như: xây dựng khách sạn quốc tế, xây dựng khu vui chơi giải trí, các quần thể du lịch lớn...
Huy động cộng đồng dân cư địa phương cùng nỗ lực tham gia phát triển du lịch toàn diện, tạo việc làm cho cư dân.
Phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch, từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ.
c) Dịch vụ tài chính ngân hàng:
Tăng trưởng huy động vốn bình quân 25%/năm, tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 20%/năm, tỷ trọng đầu tư trung, dài hạn đạt trên 40% tổng dư nợ.
Giải pháp:
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn căn cứ vào các chương trình kinh tế xã hội của tỉnh để mở rộng và tăng trưởng tín dụng hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện cho tín dụng ngân hàng mở rộng và tăng trưởng.
Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, tăng cường các hoạt động tiếp thị để phục vụ khách hàng tốt hơn.
Phát triển các hoạt động dịch vụ tiện ích ngân hàng hiện đại, đưa các dịch vụ ATM vào hoạt động rộng rãi…
Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý ngân hàng. Tổ chức tốt các hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành.
Kêu gọi các ngân hàng thương mại cổ phần các nơi mở chi nhánh ở các khu công nghiệp của tỉnh, những khu vực phát triển kinh tế của tỉnh, huyện.
Liên kết, hợp tác trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam về phát triển các hoạt động dịch vụ ngân hàng, theo hướng chuyển giao công nghệ, hoặc phối hợp phát triển dịch vụ.
d) Dịch vụ Bưu chính viễn thông
Xây dựng, phát triển mạng lưới bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin rộng khắp theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng; Ứng dung rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông trong các ngành, lĩnh vực. Nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông, nâng tỷ lệ người sử dụng điện thoại trên 100 dân đến năm 2010 đạt 35-40 máy (trong đó điện thoại cố định 14-16 máy/100 dân); thuê bao Internet đạt từ 8-10 thuê bao/100 dân (trong đó có 30% là thuê bao băng rộng); tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 30-40% dân số.
e) Dịch vụ giao thông vận tải:
Đầu tư hoàn thành hệ thống giao thông theo kế hoạch, nâng cao năng lực vận tải phát huy lợi thế đường thuỷ nội địa, tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng phương tiện vận tải đường bộ. Tốc độ tăng trưởng vận chuyển hành khách đạt trên 17%/năm, khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 20%/năm; tốc độ luân chuyển hành khách đạt 22%/năm, khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 25%/năm.
Tiếp tục phát triển các ngành dịch vụ đa dạng: khai thác dịch vụ cảng, phát triển các ngành dịch vụ có doanh thu cao như kinh doanh hạ tầng, bảo hiểm, nhà nghĩ, dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp...
5. Tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: mở rộng quyền tự chủ, lành mạnh hoá, minh bạch hoá và công khai hoá tài chính của doanh nghiệp. Hỗ trợ sau sắp xếp, đổi mới để ổn định và phát triển sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
- Đối với kinh tế tập thể: Phát triển KTTT với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, nồng cốt là HTX, trọng tâm là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, gắn với tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Tổng kết, nhân rộng các mô hình kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình làm ăn có hiệu quả. Xây dựng ở mỗi huyện từ 1 đến 2 HTX điển hình có hiệu quả, thành lập mô hình HTX kiểu mới ở các huyện, thị có điều kiện.
Đến năm 2010 có trên 50% hộ nông dân tham gia vào các loại hình KTHT.
Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX, cán bộ tài chính, kế toán nhất là cán bộ tuyến cơ sở. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò Liên minh HTX, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với kinh tế tập thể.
- Đối với kinh tế tư nhân: khuyến khích phát huy các nguồn lực trong nhân dân, khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để phát triển doanh nghiệp lớn.
- Đối với kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: tạo chuyển biến cơ bản, hướng mạnh hơn vào những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
6. Giáo dục, đào tạo; phát triển và nâng cao rõ rệt chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH:
Tiếp tục nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân tài theo hướng giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, tri thức và thể chất, tạo lợi thế so sánh động về nguồn lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.
Củng cố vững chắc thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, nhất là vùng sâu, vùng xa; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2007; những nơi có điều kiện phấn đầu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học phổ thông.
Bảo đảm chuẩn đào tạo, đẩy mạnh xã hội hoá vực này. Khuyến khích phát triển hình thức giáo dục ngoài công lập. Tiếp tục chuẩn hoá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.
Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010:
- Tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuổi đi học nhà trẻ đạt 18%.
- Tỷ lệ trẻ em học mẫu giáo trong độ tuổi (3-5 tuổi) 75%.
- Tỷ lệ học sinh học tiểu học đúng độ tuổi đạt 99%.
- Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đúng độ tuổi đạt 90%.
- Tỷ lệ học sinh Trung học phổ thông trong độ tuổi: 50%.
- Tỷ lệ tuyển vào lớp 10 đạt 80% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở. Số còn lại vào học trung học chuyên nghiệp, học nghề, lao động sản xuất.
* Đào tạo lao động đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, chú ý phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số ngành mũi nhọn gửi đào tạo nước ngoài 45 thạc sĩ và 10 tiến sĩ. Đào tạo nhân lực cho thanh niên nông thôn để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.
Mở rộng quy mô và hình thức đào tạo; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt 40%. 100% xã có Trung tâm học tập Cộng đồng
Huy động các nguồn lực tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học theo hướng chuẩn quốc gia. Tăng cường thiết bị dạy và học cho các trường học, đẩy mạnh việc đưa công nghệ thông tin vào nhà trường. Đầu tư hoàn thành hệ thống cơ sở dạy nghề, đảm bảo cung ứng đầy đủ trang thiết bị học tập, thực hành.
Tiếp tục đầu tư chuẩn hoá trường học các cấp. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nhất là đối với giáo dục mầm non. Xây dựng các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp ở Long An, đầu tư mới, mở rộng và nâng cao chất lượng dạy và học các trường dạy nghề của tỉnh.
- Giáo dục mầm non: Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 30% năm 2010.
- Giáo dục phổ thông: Tác trường tiểu học có quy mô trên 30 lớp và các trường cấp 1-2 để đủ điều kiện giảng dạy. Thành lập mới các trường THPT ở những nơi có nhu cầu và đủ điều kiện, ưu tiên phát triển các trường tư thục. Phổ cập bậc trung học phổ thông ở các huyện vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống các trường ngoài công lập ở cấp mầm non và trung học phổ thông.
- Giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp:
Tăng cường năng lực và đa ngành hóa trường CĐSP Long An, kêu gọi đầu tư xây dựng các trường đại học tư thục, trường cao đẳng.
- Giáo dục thường xuyên, dạy nghề:
Từng bước đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng lưới trường dạy nghề,... Đến năm 2007-2008 đầu tư hoàn thành trung tâm giáo dục lao động xã hội, trường trung cấp nghề Đức Hòa, Bến lức, Đồng Tháp Mười; Trường Cao đẳng nghề Long An, và các trung tâm dạy nghề các huyện theo quy hoạch.
Đầu tư nâng cấp, củng cố hoạt động hệ thống các trung tâm Giáo dục Thường xuyên và Kỹ thuật Tổng hợp - Hướng nghiệp; trung tâm học tập cộng đồng.
7. Phát triển văn hóa xã hội, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc; nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân; xây dựng kết cấu xã hội bền vững:
(1) Xây dựng “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo”. Giải quyết nguyên nhân căn cơ của nghèo đói. Phát triển thị trường lao động trong và ngoài nước, chú ý đến đào tạo và xuất khẩu lao động. Tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, trong đó nòng cốt là các ban ngành đoàn thể dưới sự hỗ trợ của ngân hàng chính sách. Tiếp tục đầu tư hỗ trợ cơ sở hạ tầng các xã nghèo, vùng nghèo. Khuyến nông cho người nghèo, hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề, tín dụng hộ nghèo, xây dựng các xã mô hình, thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở,...
Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh lao động kỹ thuật. Tăng lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm lao động nông lâm ngư. Lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm 42%, lao động trong lĩnh vực công nghiệp - XD chiếm 31%, lao động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 27%.
(2) Nâng cao sức khoẻ và thể lực của nhân dân. Giảm tỷ lệ mắc bệnh. Không để các dịch bệnh lớn xảy ra. Cải thiện các chỉ tiêu sức khỏe, tuổi thọ trung bình 74 vào năm 2010.
Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; Tiếp tục ưu tiên đầu tư trang thiết bị và nâng cấp bệnh viện tuyến huyện với quy mô phù hợp; Đầu tư mới các trung tâm y tế dự phòng huyện và đầu tư nâng các các trạm y tế xã. Đầu tư nâng cấp, mở rộng các bệnh viện các tuyến tỉnh. Nâng trường Trung học y tế lên thành trường Cao Đẳng y tế. Xây dựng mới một bệnh viện phụ sản. Kêu gọi đầu tư các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa kỹ thuật cao có tính chất vùng.
Tăng cường liên kết với TP HCM trong việc hỗ trợ, chuyển giao kỹ năng, công nghệ khám chữa bệnh, phối hợp vùng trong phòng ngừa dịch bệnh.
Phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân; tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2010; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn dưới 18%.
Khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư phát triển các dịch vụ y tế, mở rộng các hình thức chăm sóc sức khoẻ tại nhà; đảm bảo 100% xã có y tế ấp theo Chỉ thị 06 của Ban Bí thư TW. Phát huy khả năng y tế của các lực lượng vũ trang trong việc kết hợp quân - dân y để chăm sóc sức khoẻ nhân dân cấp cơ sở, đặt biệt vùng sâu, vùng xa và biên giới.
Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công; bảo trợ xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động này thông qua xây dựng các quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; quỹ “Vì người nghèo”; chăm sóc các đối tượng yếu thế từ cộng đồng; xây dựng xã, phường vững mạnh, phòng chống tệ nạn xã hội. Làm tốt công tác quy tập hài cốt liệt sĩ.
(3) Tiếp tục triển khai thực hiện chiến lược gia đình (2004-2010) kết hợp với xây dựng mô hình “gia đình ít con, khoẻ mạnh, ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.
Tăng cường giáo dục nhận thức giữa dân số và phát triển, đưa chỉ tiêu bình đẳng giới vào kế hoạch hàng năm. Tiếp tục thực hiện mục tiêu nâng cao chất lương cuộc sống cho phụ nữ trên mọi lĩnh vực, bảo đảm các điều kiện cơ bản để phụ nữ được tham gia mọi lĩnh vực. Trên lĩnh vực chính trị vai trò phụ nữ tham gia lãnh đạo: cấp ủy 20%, Đại biểu quốc hội 36%, HĐND cấp tỉnh 30%, cấp huyện 25%, cấp xã 20%, Tham gia lãnh đạo các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội 30%...
Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thanh niên phát huy vai trò xung kích trên mọi mặt trận từ phát triển kinh tế - xã hội đến giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ tổ quốc.
(4) Đẩy mạnh công tác xây dựng xã phường trong sạch vững mạnh, kiểm soát chặt chẽ tệ mại dâm; giải quyết vấn đề cai nghiện theo hướng dựa vào công đồng; Quản lý chặt chẽ sau cai nghiện, gắn trách nhiệm gia đình và chính quyền cơ sở trong quản lý và tạo việc làm cho các đối tượng này.
(5) Phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đầu tư các công trình như công viên, khu vui chơi giải trí, thư viện... Xây dựng xã hội trên nền tảng văn hóa và văn minh với bề dày truyền thống của dân tộc, đấu tranh bài trừ các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh chính trị.
Đưa các hoạt động văn hóa thông tin về cơ sở; phát động phong trào toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, gia đình, xóm ấp văn hóa. Huy động được các nguồn lực từ nhân dân, khuyến khích xã hội hoá trong đầu tư phát triển ngành.
Hoàn thiện hệ thống phủ sóng phát thanh, truyền hình. Phát triển và hiện đại hóa mạng thông tin đại chúng, khai thác mạng lưới Internet. Từng bước chuyển sang phát thanh, truyền hình kỹ thuật số để nâng cao chất lượng và phạm vi phủ sóng và mở rộng dịch vụ; Chú trọng phát thanh, truyền hình đến khu vực biên giới.
Các chỉ tiêu đến năm 2010:
- 99% hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa.
- Mỗi huyện, thị có ít nhất 1 xã văn hoá.
- 100% xã, phường có ấp (khu phố) đạt chuẩn văn hóa cấp tỉnh, số ấp (khu phố) đạt chuẩn văn hoá cấp tỉnh là 500.
- 10% xã có trung tâm văn hoá, thể thao (ít nhất mỗi huyện có 01 trung tâm).
- 100% xã, phường có khu vui chơi trẻ em.
- 100% các huyện, thị có nhà văn hóa trung tâm, nhà văn hoá thiếu nhi.
- 100% hộ nghe được đài tiếng nói Việt Nam.
- 100% hộ xem đài truyền hình.
Về đầu tư cơ sở hạ tầng của ngành: Đầu tư hoàn thành Công viên thị xã Tân An, di tích Vàm Nhật Tảo, di tích lịch sử Cách mạng Đức Huệ, khu du lịch làng nổi Tân Lập, Cụm tượng đài Long An trung dũng kiên cường, di tích lịch sử Cách mạng Đức Hoà giai đoạn 2, thư viện tỉnh, di tích Nguyễn Thông, trung tâm Thông tin triển lãm tỉnh, ... từng bước đầu tư đầu tư thiết chế văn hóa cơ sở.
Tạo bước chuyển biến trong các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng. Quan tâm đầu cơ sở vật chất của ngành, nhất là tuyến cơ sở. Từng bước đầu tư xây dựng sân vận động đáp ứng nhu cầu phát triển; thực hiện XHH trong đầu tư phát triển TDTT.
Các chỉ tiêu đến năm 2010:
- Tỷ lệ số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên chiếm 22%.
- Tỷ lệ hộ gia đình được công nhận gia đình TDTT là 17%.
- Tỷ lệ trường có chương trình giáo dục thể chất là 100%.
- Số xã, phường có sân, bãi tập TDTT là 100% (sân chơi: cầu lông, bóng đá mini, bóng chuyền).
- 100% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể.
- 100% trường học có sân bãi, dụng cụ TDTT.
8. Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ:
Tổ chức thực hiện tốt chương trình công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chế biến nông sản…
Tiếp tục phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đảm bảo đủ khả năng lựa chọn và làm chủ được công nghệ tiên tiến.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, nhất là công tác giống cây trồng, vật nuôi nhằm tăng năng suất, hiệu quả trên đơn vị diện tích. Chú trọng đổi mới thiết bị công nghệ.
9. Phát triển vùng lãnh thổ trên cơ sở phát huy những lợi thế của từng vùng và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động:
- Vùng kinh tế trọng điểm: Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp, hệ thống giao thông liên vùng, hệ thống cảng và hệ thống đô thị hiện đại gắn kết với phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ các khu công nghiệp. Phát triển mạnh hệ thống đào tạo nghề phục vụ cho CNH. Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn.
- Vùng Đồng Tháp Mười: Đầu tư hoàn chỉnh và nhựa hoá hệ thống giao thông đến trung tâm các xã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội; Tiếp tục hoàn thiện chương trình dân sinh vùng lũ, hoàn thiện hệ thống hạ tầng cụm tuyến dân cư và bố trí dân vào sinh sống ổn định. Hỗ trợ đầu tư cơ giới hoá nông nghiệp. Phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại. Nhân rộng các mô hình kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình có hiệu quả.
Chuyển giao khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh phát triển thuỷ sản nước ngọt; Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi theo hướng chất lượng, hiệu quả; Phát triển các mô hình kết hợp, khép kín nhằm gia tăng hiệu quả trên đơn vị diện tích. Khai thác các mặt thuận lợi do lũ mang lại. Phát triển du lịch sinh thái.
- Vùng hạ: Tiếp tục phát triển thuỷ sản theo hướng gia tăng nuôi công nghiệp, bán công nghiệp với tỷ lệ thích hợp; Phát triển vùng rau an toàn, thu hút các dự án đầu tư nông nghiệp công nghệ cao. Phát triển nền nông nghiệp ven đô, hoa cây cảnh,... Phát triển công nghiệp, xây dựng cảng và dịch vụ cảng. Tập trung nâng cao mặt bằng dân trí, đẩy mạnh đào tạo nghề, chuyển đại bộ phận lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
10. Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng an ninh kết hợp với phát triển kinh tế xã hội:
Xây dựng QHTT phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, quy hoạch các ngành kinh tế xã hội và quy hoạch các huyện, thị xã phải gắn với chiến lược phát triển an ninh, quốc phòng. Các dự án phát triển kinh tế xã hội, QH phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn phải có ý kiến của cơ quan quân sự.
Củng cố hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc theo tinh thần Chỉ thị 56/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ); triển khai các đề án thực hiện Nghị quyết TW 8 của Tỉnh uỷ:
1. Xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vũng chắc ở khu vực biên giới:
- Xây dựng hệ thống chính trị ở các xã ấp, biên giới; nâng cao cảnh giác cách mạng.
- Tổ chức dân cư đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở khu vực biên giới tỉnh.
- Tổ chức bố trí lực lượng vũ trang đáp ứng nhu cầu quản lý bảo vệ biên giới.
- Xây dựng cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật, công trình kỹ thuật phục vụ yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
2. Đấu tranh chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa:
- Nâng cao giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của địch.
- Phát huy mạnh mẽ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, ý chí tự cường...
3. Bảo vệ an ninh kinh tế tỉnh Long An trong tình hình mới:
- Bảo vệ an ninh kinh tế, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đảm bảo an ninh công nhân.
- Bảo vệ bí mật kinh tế, thông tin, phòng chống các hoạt động tình báo phá hoại.
- Phòng chống các loại tội phạm liên quan đến tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại.
- Chú trọng bảo vệ đội ngũ các bộ quản lý kinh tế, phòng ngừa và đấu tranh với kẻ địch và bọn tội phạm làm thoái hóa, biến chất đội ngũ cán bộ kinh tế...
- Theo dõi chặt chẽ và ngăn chặn kịp thời việc sản xuất và lưu hành tiêu thụ tiền giả, rửa tiền, chuyển khoản...
4. Thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh Long An:
- Xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, hình thành thế trận an ninh nhân dân rộng khắp có chất lượng nhằm bảo vệ vững chắc độc lập; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ chế độ XHCN, giữ vững sự ổn định chính trị,... để không xảy ra điểm nóng, tình hình đột xuất bất ngờ.
- Tiếp tục xây dựng lực lượng đủ mạnh làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh tổ quốc.
5. Phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc đảm bảo an ninh nông thôn trong tình hình mới.
- An ninh nông thôn: Các thế lực thù địch, phần tử xấu, bọn tội phạm triệt để lợi dụng, kích động gây mất ổn định ở nông thôn Việt Nam. Đề cao cảnh giác nhất là nơi có tình hình diễn biến phức tạp, dễ nảy sinh điểm nóng.
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 14/2003/CT-TTg (thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng ĐBSCL thời kỳ 2001-2010) và các chủ trương liên quan đến quốc phòng an ninh.
Thực hiện lồng ghép các yêu cầu về AN-QP vào các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và các qacung hauy hoạch dài hạn về phát triển kinh tế - xã hội các cấp.
Đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng:
Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống đường ra các đồn trạm biên giới, hệ thống đồn trạm biên phòng và các khu vực phòng thủ, các khu dân cư gắn với bảo vệ biên giới.
Phần thứ tư: KẾT LUẬN
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Long An 5 năm 2006-2010 được xây dựng trên cơ sở khai thác các lợi thế so sánh, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên. Trọng tâm của giai đoạn này là chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều rộng kết hợp với chiều sâu, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế tạo bước đột phá trong tăng trưởng. Đồng thời chuẩn bị đầy đủ hơn về nguồn lực, kết cấu hạ tầng, công nghệ và thiết bị....phục vụ cho giai đoạn phát triển cao hơn.
Trên cơ sở kế hoạch này, các ngành, các huyện thị phải hoàn thiện kế hoạch 5 năm của mình và cụ thể hóa vào kế hoạch hàng năm, vào các chương trình dự án. Trong quá trình thực hiện những bất hợp lý, tồn tại vướng mắc, phát sinh, UBND tỉnh sẽ xem xét và điều chỉnh, bổ sung kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, của vùng và cả nước.
Mục tiêu tăng trưởng đặt ra trong giai đoạn này là khá cao, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo xuyên suốt, kịp thời của các cấp lãnh đạo; xác định công tác tổ chức điều hành thực hiện kế hoạch là vô cùng quan trọng, phải bám sát mục tiêu phát triển, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, tranh thủ các nguồn lực đầu tư trên địa bàn để phát triển nền kinh tế; dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm, đề xuất những biện pháp năng động, linh hoạt, sáng tạo “đi tắt đón đầu” để phát triển toàn diện các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh.
(Nguồn: Quyết định số 07/2007/QĐ-UBND ngày 05/02/2007 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2006-2010) của tỉnh Long An)